Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du - Tập 3 - Bắc Hành Tạp Lục Bài 29, 30 Và 31

 


THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU - TẬP 3: BẮC HÀNH TẠP LỤC BÀI 29, 30 VÀ 31
Thầy Dương Anh Sơn

THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU
TẬP 3 : BẮC HÀNH TẠP LỤC

Bài 29 

QUẾ LÂM CÙ CÁC BỘ                                                           桂林瞿閣部

Trung nguyên đại thế dĩ đồi đường,                                           中原大勢已頹唐,
Kiệt lực cô thành khống nhất phương.                                       竭力孤城控㇐方。
Chung nhật tử trung tâm bất động,                                            終日死中心不動,
Thiên thu địa hạ phát do trường                                                 千秋地下髮猶長。
Tàn Minh miếu xã đa thu thảo,                                                  殘明廟社多秋草,
Toàn Việt sơn hà tận tịch dương                                                全越山河盡夕陽。
Cộng đạo Trung Hoa thượng tiết nghĩa,                                    共道中華尚節義,
Như hà hương hỏa thái thê lương.                                             如何香火太凄涼。

Dịch nghĩa:

Sức mạnh to lớn của Trung Nguyên đã tàn lụi rồi!, - Vẫn đem hết sức mình giữ vững thành trì lẻ loi ở một phương trời. – Cả ngày dẫu phải đứng trước cái chết nhưng trong lòng (ông) vẫn không lay động, dời đổi! – Ngàn thu dưới lòng đất, mái tóc (của ông) vẫn còn để dài. (c.1-5)
Chốn thờ phụng của nhà Minh đã tàn phai ,cỏ thu nhiều khắp nơi, - Non sông toàn đất Việt sao lại nhuốm khắp nơi bóng trời chiều sắp tối ?! – Nhiều người nói nước Trung Hoa đề cao lòng trọng nhân nghĩa ,khí tiết, - Sao hương khói lại quá buồn bã vắng tanh như thế này?! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

ÔNG CÙ CÁC BỘ Ở QUẾ LÂM

Suy tàn thế lớn Trung Nguyên!
Một phương hết sức giữ gìn thành côi.
Suốt ngày dẫu chết không dời!
Tóc dài dưới đất ngàn đời còn đây.
Minh tàn,cỏ miếu thu đầy!
Khắp non sông Việt nhuốm bày tà dương.
Trung Hoa nghe trọng nghĩa trung?!
Sao mà vắng lạnh khói hương thế này?

Chú thích:

- Quế Lâm 桂林: nằm phía đông bắc tỉnh Quảng Tây 廣西, miền nam Trung Hoa, có con sông Lý Giang 灕江 chảy qua, phong cảnh hữu tình ,được xem là “Quế Lâm sơn thủy giáp thiên hạ 桂林山水甲天下”(Quế Lâm núi sông thuộc hàng đầu trong thiên hạ). Trong bài này ,với tinh thần kiên cường của Cù Thức Trĩ ráng sức giữ thành lẻ Quế Lâm cuối cùng là biểu tượng của tinh thần anh hùng của thời vãn Minh trước khi hoàn toàn bị nhà Mãn Thanh xâm chiếm!
- Cù Các Bộ 瞿閣部: tức Cù Thức Trĩ, người đời nhà Minh bên Trung Hoa đỗ tiến sĩ. Ông được bổ nhiệm làm Tuần phủ Quảng Tây, rồi vào kinh làm trong nội các thăng chức Đông Các đại học sĩ ( thường được gọi là “Các bộ”) tước Quế Lâm bá.
Khi nhà Mãn Thanh từ Mãn Châu xâm chiếm Trung Hoa, vua Minh chạy sang Vân Nam. Cù Thúc Trĩ ở lại giữ thành Quế Lâm rồi chết theo thành sau một thời gian bị vây hãm.
- Trung Nguyên: 中原 chỉ vùng đồng bằng trung lưu của Hoàng Hà .Đây là một khái niệm vừa mang ý nghĩa lịch sử lại vừa có ý nghĩa chính trị, văn hóa và địa lý ăn sâu vào tư tưởng người Hán. Trung Nguyên được xem là cái nôi làm thành nền văn minh Hoa Hạ nói riêng và của Hán tộc nói chung. Về mặt địa lý, Trung Nguyên bao gồm các địa phương như Hà Nam 河南, Sơn Tây 山西, Sơn Đông 山
东, Thiểm Tây 陕西 và Hà Bắc 河北. Các kinh đô lớn của các triều đại lớn xưa kia luôn xoay quanh Trung Nguyên như Lạc Dương 洛陽, Khai Phong 開封, Trường An 長安. Cho nên người Hán luôn coi Trung Nguyên như là “trung tâm của thiên hạ”, nơi phát sinh ra nền văn minh ,văn hóa và chế độ quân chủ của Trung Hoa.
Mặt khác, người “Trung Nguyên” và ngay cái tên “Trung Hoa” hay người Hán luôn tự cao về vùng đất của mình, cho mình là trung tâm của thiên hạ và xem các nước chung quanh xa gần là “man di 蠻夷” (các nước phía nam như nước Việt, Lào, Thái... v.v... họ kiêu ngạo gọi là “man”. Còn đối với các dân tộc phía đông như Hải Nam, Mãn Châu, Triều Tiên... v.v... họ gọi là “di”). Còn các bộ tộc phía tây như Mông Cổ, Hồ, Hồi Đột... v.v... họ gọi là “nhung 戎” nghĩa là mọi rợ, không có nền ”văn minh“ như họ, còn phía bắc họ gọi là “địch 狄” hay rợ địch với nghĩa là bọn mọi rợ và thù địch gọi chung là “nhung địch 戎狄“!... Trong câu 1 của bài thơ, Tố Như đã cho thấy rõ sự suy tàn của nhà Minh từng xâm lược nước ta là hiện thân của một thế lực đến hồi suy tàn trước sức mạnh của một thế lực bên ngoài mới nổi lên là Mãn Thanh....
- đại thế 大勢: thế lực lớn lao ,sức mạnh to lớn... (được dặt đối lập với mấy “cô thành”, mấy thành trì lẻ loi còn lại của nhà Minh như Quế Lâm!)
- đồi đường 頹唐: suy đồi chán nản, yếu kém, mất tinh thần...
- phát do trường 髮猶長: tóc vẫn còn để dài. Người Hán ở Trung Nguyên bên Trung Hoa thường để tóc dài cả nam lẫn nữ. Khi người Mãn Châu đánh bại nhà Minh, chiếm được Trung Nguyên và toàn bộ Trung Hoa đổi tên nước là Mãn Thanh, họ đã bắt dân chúng ăn mặc theo y phục xứ của họ và chỏm tóc phía trước cạo trọc, tóc dài phía sau còn lại quân đuôi sam. Cù Các Bộ tiên sinh đến chết vẫn giữ tóc dài kiểu Hán ,không chịu khuất phục nhà Thanh....
- Toàn Việt 全越: bao gồm hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây hay còn gọi là Lưỡng Việt 兩越. Đây là vùng đất trên ngàn năm trước từng là của các bộ tộc Bách Việt, trong đó có tổ tiên người Việt chúng ta thời cổ đại. Do sự bành trướng của các bộ tộc người Hán ,rất nhiều vùng đất đai của người Bách Việt ở Trung Nguyên bị xâm chiếm đẩy các bộ tộc Việt dạt về phía nam và đông nam. Và rồi sự bành trướng xâm lược của người Hán khiến tổ tiên chúng ta phải xuôi về đồng bằng sông Hồng sinh sống lập nên nước Văn Lang từ thời Hùng Vương. Nhiều tài liệu cho thấy các bộ tộc thuộc “Bách Việt 百越” như “Âu Việt 甌越” ở Chiết Giang 浙江 ”Mân Việt 閩越” ở Phúc Kiến 福建, ”Dương Việt 陽越” ở Giang Tây 江西, ”Nam Việt 南越” ở Quảng Đông 廣東, “Lạc Việt 駱越” ở vùng vùng sông Hồng và núi non chung quanh... Sử sách Trung Hoa và người dân của họ vẫn có lối nói quen thuộc là vùng “Toàn Việt” hay “Lưỡng Việt” như là một minh chứng về lãnh thổ của cha ông chúng ta bị chiếm đoạt bởi người Trung Hoa từ thời trước Bắc thuộc và sau đó....!
- tiết nghĩa 節義: lòng dạ ngay thẳng, luôn trọng nhân nghĩa, biết lẽ phải, trọng đạo lý làm người theo lễ giáo... v...v...
- thê lương 凄涼: vắng vẻ, buồn sầu...

Bài 30

TRIỆU VŨ ĐẾ CỐ CẢNH                                                        趙武帝故境

Bạo Sở cường Tần tương kế tru,                                                暴楚強秦相繼誅,
Ung dung ấp tốn bá nam tu (tưu).                                              雍容揖遜霸南陬。
Tự ngu tẫn khả xưng hoàng đế,                                                  自娛儘可稱皇帝,
Lạc thiện hoàn năng khuất thụ nhu.                                           樂善還能屈豎儒。
Bách xích cao đài khuynh Lĩnh Biểu,                                        百尺高臺傾嶺表,
Thiên niên cổ mộ một Phiên Ngu (Ngung).                               千年古墓沒番禺。
Khả liên thế đại tương canh điệt,                                               可憐世代相更迭,
Bất cập man di nhất lão phu.                                                      不及蠻夷㇐老夫。

Dịch nghĩa:

Nước Tần, nước Sở hùng mạnh và tàn bạo cùng nối theo nhau bị dẹp tan rồi! – Ông cứ thong dong nhún nhường, tránh đi và chiếm giữ nơi xa xôi hẻo lánh phía nam cho mình! – Khi vui vẻ thích chí tự mình có thể xưng là hoàng đế! – Rồi ông vui vẻ làm lành quay về và thuận theo, chịu sự khuất phục của anh học trò hèn mọn! (c.1-4)
Đài cao trăm thước ông cho dựng ở ngoài vùng Ngũ Lĩnh cũng đã đổ
rồi! – Ngàn năm ngôi mộ ở vùng Phiên Ngu đã bị chôn vùi! – Thương thay cho đời nọ tiếp sang đời kia lần lượt đổi thay! – Nhưng không bằng được một ông già chốn “man di” mọi rợ này!

Tạm chuyển lục bát:

BỜ CÕI XƯA CỦA TRIỆU VŨ ĐẾ.

Sở, Tần cường bạo dẹp rồi!
Thong dong nghiệp bá tránh người xó nam!
Khi vui “hoàng đế” xưng tràn!
Làm lành ,chịu khuất anh chàng hèn nho!
Đài cao ngoài Lĩnh ngã trơ!
Ngàn năm mộ cổ Phiên Ngu chôn vùi.
Thương thay dời đổi lần hồi,
“Man di một lão” không người bằng ông!

Chú thích:

- Triệu Vũ đế 趙武帝: tức Triệu Đà 趙佗, được bổ làm quan úy dưới quyền của Nhâm Ngao ở vùng Phiên Ngu, Nam Hải. Gặp khi nhà Tần tan rã, Nhâm Ngao mất, Triệu Đà khởi binh chiếm vùng Tượng Quận và Quế Lâm tức vùng Lĩnh Nam (207 TCN) xưng là Nam Việt vương (vua nước Việt ở phương Nam). Sau đó , ông mở mang bờ cõi, chiếm Trường Sa rồi tự tôn mình làm “Nam Việt Vũ đế”. Đến thời Hán Văn đế (195 TCN), đất của Triệu Đà bao gồm vùng Phiên Ngu (Ngung) trong đó có Quảng Đông và Quảng Tây (trước đây của Bách Việt) cùng vùng Âu Lạc của nước Văn Lang ta. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên cùng các triều đại trước kia của nước Việt vẫn xem Triệu Đà tuy là gốc người Hán nhưng độc lập và chống lại nhà Hán nên thuộc loại triều đại chính thống kế tục Hùng Vương, An Dương Vương. Từ thế kỷ 19 và 20 và nhất là sau 1954, các nhà nghiên cứu sử đã đánh giá lại, chỉ xem Triệu Đà là ông vua ngoại lai người Hán xâm chiếm bờ cõi Âu Lạc của người Việt làm giang sơn của mình. Nói khác hơn, Triệu Đà được xem là kẻ bước đầu xây dựng chính quyền Bắc thuộc kéo dài cả ngàn năm cho đến khi Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán lên ngôi vua, giành độc lập cho nước ta. Cách đánh giá này đã rõ ràng chứ không lập lờ như các sử gia thời quân chủ xưa kia..... Riêng trong bài thơ này, Nguyễn Du (1813-1814), trong tư cách là một sứ thần của triều Nguyễn Gia Long nước Việt Nam (1804) cũng cho chúng ta thấy rõ thái độ coi thường, bỡn cợt và cười nhạo “hoàng đế” Triệu Đà, không xem ông vua này là chính thống như các vị vua khai sinh và gắn bó với dân tộc Việt, đáng cho con cháu kính trọng....
- ấp tốn 揖遜: nhún nhường, khiêm tốn...
- bá 霸: kẻ chiếm giữ, cát cứ một khu vực làm giang sơn cho riêng mình, kẻ hay hiếp đáp người yếu hơn... v.v...
- nam tưu (tu)南陬: nơi xó xỉnh, nơi xa xôi hẻo lánh, hoang vu ( tu,tưu) ở phía nam...
- ngu tẫn 娛儘: vui vẻ thích chí, vui hết sức ...
- lạc thiện hoàn năng 樂善還能: vui vẻ làm lành (lạc thiện) quay về và thuận theo (hoàn năng)...
- khuất thụ nhu 屈豎儒: chịu khuất phục anh nhà nho (nhu) hèn kém, nhỏ nhoi. (thụ) .... Năm 196TCN, Hán Cao tổ sai Lục Giả , một viên quan tầm thường trong triều Hán sang Phiên Ngu phong cho Triệu Đà làm Nam Việt vương. Về sau, nhân khi Hán Cao tổ Lưu Bang qua đời (195 TCN), Lữ Hậu chuyên quyền không cho giao tiếp với Nam Việt, Triệu Đà đã dấy binh chiếm thêm một số vùng ở Trường Sa rồi xưng là Nam Việt Vũ Đế. Đến khi Lục Giả được Hán Văn đế kế ngôi đưa chỉ dụ cử sang khuyên lơn, Triệu Đà xin rút lại làm phiên thần trấn
giữ vùng Lĩnh Biểu cho nhà Hán Trung Hoa!
- Lĩnh Biểu 嶺表: bên ngoài (biểu) của dãy núi Ngũ Lĩnh là năm ngọn núi lớn của Trung Hoa bao gồm những phần đất của bộ tộc Bách Việt trước kia như Quảng Đông, Quảng Tây và Lĩnh Nam (vùng đất sau này bị bọn Hán xâm lược gọi là Giao Chỉ hay An Nam...!
- Phiên Ngu 番禺: hay còn đọc là Phiên Ngung ở vùng Quảng Châu là nơi Triệu Đà đóng đô xưng là Triệu Vũ Đế...
- điệt 迭: thay đổi dần dà...
- nam di nhất lão phu 蠻夷㇐老夫: là câu chữ trong biểu tạ tội của Triệu Đà đưa Lục Giả mang về dâng cho Hán Văn đế cho rằng mình chỉ là “ông già mọi rợ quê mùa ở phía nam” thôi! (xem thêm chú thích “Trung Nguyên” bài 30 bên trên về chữ “man di”)

Bài 31

DƯƠNG PHI CỐ LÝ                                                                 楊妃故里

Sơn vân tước lược ngạn hoa minh,                                            山雲削略岸花明,                       
Kiến thuyết Dương Phi thử địa sinh.                                         見說楊妃此地生。
Tự thị cử triều không lập trượng,                                               自是舉朝空立仗,
Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành.                                        枉教千古罪傾城。
Tiêu tiêu Nam Nội bồng hao biến,                                             簫簫南內蓬蒿遍,
Mịch mịch Tây Giao khâu lũng bình.                                        寞寞西郊丘隴平。
Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ,                                                    狼藉殘紅無覓處,
Đông phong thành hạ bất thăng tình.                                         東風城下不勝情。

Dịch nghĩa:

Mây núi thưa thớt, những khóm hoa sáng rỡ bên bờ, - Nghe nói vùng đất này là nơi Dương Quý Phi đã sinh ra. – Bởi cả triều đình đứng trơ ranhư phỗng, - Nên ngàn năm khiến cho (Quý Phi) phải chịu tội oan uổng là dùng sắc đẹp làm cho” nghiêng thành đổ nước”! (C.1-4)
Hiu hắt buồn bã nơi cung Nam Nội với những đám cỏ bồng dại hay loại cỏ hao đầy khắp chốn! – Cánh đồng Tây Giao vắng tanh, gò mã đã bị san phẳng. – Đám phấn hồng tàn tạ không biết tìm chốn nào? – Cơn gió đông dưới thành khiến tình cảm (của ta) dâng lên dạt dào không nguôi! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

QUÊ CŨ CỦA DƯƠNG PHI 

Mây non, hoa bến sáng ngời!
Dương Phi nghe nói ra đời chốn đây.
Triều đình đứng phỗng cả bày,
“Nghiêng thành” oan uổng tội rày ngàn năm!
Cỏ dày Nam Nội lạnh căm,
Mả gò bằng phẳng lặng thầm Tây Giao.
Hương tàn,phấn nát chốn nào?
Gió đông tình cảm nao nao dưới thành!

Chú thích:

- Dương Phi 楊妃: tức Dương Ngọc Hoàn 楊玉環, quê ở làng Hoàng Nông, huyện Thu Hương sau đổi tên là Hòa Âm,Thiểm Tây, cạnh Hoàng Hà, Trung Hoa. Từng đươc con thứ 18 của Đường Huyền Tông 唐玄宗 ( trị vì 712-756 ) tức Đường Minh Hoàng 唐明皇 là Thọ Vương Lý Mạo 李瑁 chọn làm vợ. Do nhan sắc tuyệt đẹp của Ngọc Hoàn được Huyền Tông để ý cho vào nội cung rồi về sau được phong làm Quý Phi. Dân gian vẫn gọi là Dương Quý Phi 楊貴妃. Khi loạn An Lộc Sơn 安祿山 nổi lên, Đường Huyền Tông phải lánh vào đất Thục. Nhưng khi đến đèo Mã Ngôi, vùng Tây Giao, phía nam kinh đô Trường An, quân lính hộ giá đòi phải giết anh Quý Phi là tể tướng Dương Quốc Trung và buộc Dương Quý Phi phải thắt cổ tự vẫn mới chịu đưa vua vào đất Thục. Quân lính đã kết tội Quý Phi làm cho vua mê muội sắc đẹp và tin dùng anh là Quốc Trung khiến nước nhà phải loạn ly...
- cố lý 故里: làng xưa ,quê hương cũ....
- tước lược 削略: giản lược bớt, thưa thớt, gọt bớt đi...
- kiến thuyết 見說: thấy hay nghe nói rằng....
- cử triều 舉朝: tất cả triều đình..
- không lập trượng 空立仗: đứng trơ ra như bù nhìn ,như hình phỗng .Do chữ “lập trượng mã 立仗馬” chỉ nghi vệ cùng quân mã đều phải đứng yên khi đón vua.
Nguyễn Du đã đề cập một giai đoạn lịch sử của đời “vua Đường sáng suốt” (Đường Minh Hoàng, Trung Hoa) khiến cả triều đình không dám can ngăn nhà vua khi lập Dương Ngọc Hoàn làm Quý Phi và anh ruột là Dương Quốc Trung làm tể tướng khiến tướng An Lộc Sơn bất mãn làm loạn...
- uổng giao: khiến cho phải chịu oan uổng...
- khuynh thành 傾城: thành ngữ Trung Hoa có câu “ khuynh thành khuynh quốc 傾城傾國” (nghiêng thành, lật nước) chỉ sắc đẹp của Dương Quý Phi đã làm cho thành trì, nước non phải nghiêng ngã...
- tiêu tiêu 簫簫: ý nghĩa tương tự “tiêu tiêu 萧萧 “ có bộ thảo: lạnh lẽo ,vắng vẻ...
- Nam Nội 南內: cung điện của Đường Minh hoàng (Đường Huyền tôn) cùng Dương Quý Phi ra ở chơi .Còn có tên là cung Hưng Khánh...
- hao 蒿: cỏ hao một loại cỏ ngải dùng làm thuốc được có tên là “đồng hao 茼蒿” với nhiều loại như “thanh hao 青蒿”, ”mẫu hao 牡蒿”, ”bạch hao 白蒿”, ”nhân trần hao 茵陳蒿”...v.v...; nghĩa khác: khí bốc lên ngùn ngụt, tiêu hao, hoang phí...v.v...
- mịch mịch 寞寞: vắng vẻ, lặng lẽ, vắng ngắt...
- Tây Giao 西郊: cánh đồng phía tây Trường An, nơi có Mã Ngôi Dịch 馬嵬驛 (trạm ngựa Mã Ngôi) hay còn gọi là Mã Ngôi Pha 馬嵬坡(gò đồi Mã Ngôi), nay thuộc tỉnh Thiểm Tây, là nơi Dương Quý Phi bị quân lính hộ giá Đường Huyền tông buộc thắt cổ tự vẫn...
- vô mịch xứ 無覓處: không biết tìm kiếm (mịch) ở nơi nào (xứ)...
- bất thăng tình 不勝情: tình cảm dâng trào không nguôi, tình cảm dạt dào....

Dương Anh Sơn
(Lần đến: BẮC HÀNH TẠP LỤC của Nguyễn Du – Bài 32, 33 và 34)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét