Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - TRẦN HOÀNG PHƯỚC HẬU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - TRẦN HOÀNG PHƯỚC HẬU. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2020

Giấc Mơ Trên Biển Vắng





GIẤC MƠ TRÊN BIỂN VẮNG
Trần Hoàng Phước Hậu 

Nó có mơ ước được hẹn hò để cùng em đi trên những bãi cát của trên vùng biển quê hương. Vùng biển ấm như hơi thở của mẹ và dạt dào như tình cha. Vùng biển mà có tiếng sóng nghe như tiếng thì thầm hòa cùng hơi thở của người yêu dấu.

Nó đã thèm như thế từ lâu! thèm thịt ghẹ luộc trắng phau, thèm con ốc nhảy, mực nang và thèm ly nước dừa ngọt lịm tựa môi em. Thèm được ngồi trên bờ cát để hát tình ca và nhìn tóc em bay bay trong gió. Thèm được dựa vai em để cùng đếm sao trời và tìm nhau trong vì sao tốt số, “cho chúng ta?” “vâng cho chúng ta!”

Nó thèm được nghe mùi khai trong túi áo bên ngực trái khi người yêu bắt đầu trêu nó. Đời nó buồn nên cần những lúc vui như thế ấy. Nó thèm được ngồi cạnh người ấy, bên nồi cơm bốc khói, tô canh rau và dĩa cá kho đậm tình chân quê. Nó thèm trái xoài xanh và chén mắm đường. Nó thèm được nhìn con đường nhỏ trước nhà, buổi chiều thoáng người lại qua… Nó thèm tất cả!

Rồi nó mơ một ngày, dành những điều thật bất ngờ cho người nơi ấy, khi người lãng tử lang thang trở về cố quận. Nó cố vẽ lên một hình ảnh mà nó cho là độc đáo, đầu óc nó bắt đầu tiểu thuyết, nó thấy mình thật nhỏ bé trước không gian ngập đầy những viễn ảnh của nơi sẽ hội ngộ, nhưng nó có đủ niềm tin. Nó đã tin và thật tin vào điều nó sẽ được. Nó mỉm cười và nghe lòng mát rượi.

Nó thấy mình về quê hương, lang thang hỏi thăm nhà em, rồi đến trước cửa nhà. Em nhìn nó, chưa gặp mặt một lần mà sao em rơi lệ, tay em run và chân không vững, nó mỉm cười tinh nghịch. Và ngực nó đón nhận những cái đấm nghe thình thịch nhưng rất êm đềm. Nó thấy tay mình vòng qua lưng nhỏ bé như một lời xin lỗi chân tình, mắt nó cũng sẽ nhòa trong dòng nước mắt mừng vui. Nó sẽ được em bắt đền nhiều thứ lắm! và nó hạnh phúc.

Nó sẽ cùng em, được cùng em trải những bước chân trần trên bờ cát mịn, mịn như đôi má em. Nó sẽ được nghe tiếng em giữa trời biển vắng, từng tiếng rót vào tai khúc chiết ngọt ngào. Bãi dài, bãi tây và cả bãi giếng… nơi đã từng đi qua và cũng có nơi chưa một lần đến, nó sẽ cùng em để lại những chốn này với bao là kỷ niệm sắt son.

Và nó rất thèm được cùng em đi khắp mọi miền đất nước, để được nghe, và được nhìn những khát khao của những người mang cùng dòng máu Tiên Rồng…; để chia sẻ, cảm thông cho những mảnh đời bất hạnh và những ưu tư cho cuộc sống.

Một tiếng sét trên không, nó giật mình, trời sắp đổ cơn mưa? một cơn mưa bất ngờ sẽ cuốn trôi đi cái mộng mơ của nó? Mưa là do ông trời! nó nào có biết có hay! "giật mình tỉnh dậy thấy mình tay không", giấc mộng Nam Kha? Nó sẽ ngã gục?

Nhưng nó vẫn dặn lòng: Ai cấm mình mơ tiếp giấc mơ mình về chốn ấy, cho dù ngày mai có phải xa rời thế giới hôm nay?

(trần hoàng phước hậu)


Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2020

Tình Yêu Lan Tỏa

GIỚI THIỆU
"Cha" luôn là chỗ dựa vững chắc và an toàn cho con tiến bước trên cuộc đời. 
Hôm nay là ngày Lễ Từ Phụ. Xin mời quý Thầy Cô, quý Đồng Môn và Thân Hữu thưởng thức:
Đoản văn TÌNH YÊU LAN TỎA - Tác giả: Trần Hoàng Thân
Nhạc ÁNH MẮT CỦA CHA - Sáng tác: Minh Châu
Trân trọng
NHHN



Xin mời quý vị thưởng thức nhạc phảm ÁNH MẮT CỦA CHA



Thứ Năm, 30 tháng 4, 2020

30-4 Ngày Quốc Hận!





TƯỞNG NIỆM NGÀY QUỐC HẬN 30-4-1975
Trần Hoàng Phước Hậu

Khi nói đến chiến tranh là phải có sự chết chóc, có tràn ngập đau thương. Khi chiến tranh đã kết thúc, con người vượt qua được giai đoạn kinh hoàng của khổ đau. Bên thắng, bên thua, tất nhiên phải có.

Nhưng sau một cuộc chiến vì chủ nghĩa mà sinh ra "cốt nhục tương tàn, nồi da xáo thịt"... "Một viên đạn xuyên qua một thân hình, bất cứ bên nào, cũng là xuyên qua trái tim của một người mẹ..." (TT Lincoln HK). Vậy có gì đáng để tự hào và ăn mừng trên xác chết của đồng loại và trên những giọt máu trong tim của những người mẹ đang nhỏ xuống quanh mình? - Hãy cho con cháu chúng ta thấy cái bình yên hướng về tương lai hơn là khơi dậy và truyền cho chúng cái hận thù của quá khứ.

Ngày nào còn có những khẩu hiệu và tiệc tùng ăn mừng 30-4, còn lải nhải những bài diễn văn cũ rích chứa đầy những lời lẽ khát máu và hận thù thì đừng bao giờ đứng lên kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc, hãy làm con người phát triển và văn minh của thời đại mới, đừng làm thân trâu bò chỉ biết nhai lại! - Bởi, chiến tranh súng đạn đã dứt gần nửa thế kỷ, bên thắng cuộc đã chiếm hết đất, nhưng lòng người thì vẫn còn cách biệt giữa hai bên, đó là thực tế! Hãy để vết thương của giai đoạn 21 năm (1954-1975) nó lành và tương lai dân tộc có cơ hội leo lên nền của đời sống xán lạn.

Súng đạn của Nga, Tàu và Mỹ đã giết dân mình bằng chính những ngón tay bóp cò của chúng ta, có đau lắm không mà giờ đây lại ăn mừng...? Hãy coi ngày 30-4 là ngày đau buồn nhất của dân tộc, dù là ở bên thắng hay thua.

Trần Hoàng Phước Hậu - Tháng Tư 2020



Thứ Hai, 27 tháng 4, 2020

Tản Mạn Ngôn Ngữ Việt





TẢN MẠN NGÔN NGỮ VIỆT 

Ở miền nam nước Việt sau 1975,  chúng ta hay nghe, thấy chữ "Căn Hộ" trên phương tiện truyền thông hay khi trò chuyện với nhau, đại loại: "Chúng tôi cần bán hoặc mua một căn hộ". "Trong khu này những căn hộ mới xây đẹp". "Tôi mới mua hoặc bán một căn hộ". v.v.

Thật ra là nên nói "chúng ta mua hoặc bán một căn nhà". "Người ta đang xây những căn nhà đẹp trong khu này"...

Bây giờ chúng ta thử bàn sơ qua sự khác biệt giữa "căn nhà" (house) và "căn hộ" (home).

Căn nhà (House) là một thực thể vật chất được xây lên để cho một hay nhiều gia đình tá túc. Ví dụ: "Căn nhà" này có 2 "hộ" (gia đình) đang sinh sống trong đó... (There are 2 families (Hộ) living in this house (nhà)...

Hộ (gia đình) gồm cha mẹ và con cái hoặc có thêm ông bà là những người máu mủ ruột thịt với nhau. Nếu chúng ta nói "căn hộ" (home) thì phải hiểu rắng là một căn nhà có những thành viên của một gia đình sống trong đó, vun đắp tình thương yêu, chia ngọt xẻ bùi...

Chúng ta mua một "căn nhà" (We buy a house)
Chúng ta xây dựng một "căn hộ" (We build a home)

Chúng ta mua một "căn nhà" dễ dàng, chỉ bỏ tiền ra mua, một "căn nhà" có nền, có vách, có mái có cửa..., có vườn xung quanh; nhưng làm sao bỏ tiền để mua được một mái ấm ("căn hộ" - home)? Vâng có những "căn hộ" (home) chúng ta không thể mua bằng tiền, dù bất cứ là bao nhiêu, vì ta không thể mua cái giá trị tinh thần mà gia đình đó đã dày công dựng nên trong "căn nhà" của họ.

Tôi đưa vấn đề này ra là để cầu mong chúng ta, những người đang sử dụng tiếng mẹ hàng ngày, dùng cho đúng với ý nghĩa của nó chứ không phải hễ báo, đài nhà nước nói, quan quyền nhà nước nói là tất cả đều đúng, chúng ta cần mạnh dạn sửa cái không chính xác lại cho đúng, giữ cho "Ngôn Ngữ Mẹ" được dùng một cách đúng đắn, không thể "pha trộn" cẩu thả, hay đổ thừa cho một thói quen sai bét khi sử dụng, mà làm mất đi cái phong phú, tuyệt vời của chữ nghĩa nước nhà!

Đây hoàn toàn là một góp ý rất chân tình chứ không phải lên lớp dạy đời; Góp ý nên có thể có người thông cảm, có người không. Chúng ta nên luôn tôn trọng sự khác biệt! - We respect the diversity!

Mến chúc tất cả vui vẻ, bình an! Hẹn gặp ở các đề tài tới.

Trần Hoàng Phước Hậu - April 2020.



Thứ Tư, 15 tháng 4, 2020

Mưa Đầu Mùa



MƯA ĐẦU MÙA 
Trần Hoàng Phước Hậu


Mây trôi trong giá lạnh, nước trời trút xuống những cơn mưa đầu mùa, địa cầu, nửa bên này bắt đầu mùa giá, nửa bên kia sẽ là nắng cháy, hai mặt đối lập của một hành tinh; và em yêu, em đang đứng bên nào của trái đất?

Dù ở đâu, chắc em cũng đang cần một vòng tay ôm cho ấm đời mình, để biết rằng em sẽ không bao giờ cô đơn giữa vùng trời rất mênh mông. Em cần gió lộng của Y Lệ Viên, nước mát ở suối Duy Hòa, và em cũng rất cần hơi ấm ở Suối Nâu...

Mưa đầu mùa ở đây hơi khác ở quê mình, mưa làm người ta sờ sợ, nhất là cái lạnh của cuối thu và cái buốt của mùa đông. Ở đây thiếu mưa rào của miền nam, chẳng có mưa rả rích của miền trung, và không đủ mưa phùn của miền bắc như ở quê mình. Mưa là lạ, mưa buồn và mưa rét mướt. Người lưu vong vẫn nhớ dạt dào những cơn mưa trên xứ mẹ thủa nào. Ước gì mình được cùng nhau bay về quá khứ để tắm mưa, đùa nước ở quê hương!

Con người chưa đoán được tương lai toàn vẹn nhưng không dễ gì quên những quá khứ buồn vui... Em và anh cũng thế, dễ gì, phải không em?

Mưa đầu mùa, dường như cũng mang theo những áp lực cuộc đời mà mình sẽ đối diện, cũng đầy những lạnh lùng đáng thương! và mình, sẽ ngẩng cao đầu để sẵn sàng băng qua thử thách ấy, có vậy thì đời mới vui, cuộc sống có thêm sức, và tình thương yêu có thêm mãnh lực. "Sống tức là chiến đấu", luôn luôn là thế, vậy thì, chúng ta sẽ luôn là những chiến sĩ gan dạ của cuộc đời. Thắng hay bại, chúng ta vẫn là những chiến sĩ chưa hề bỏ cuộc, bỏ nhau.

Mưa đầu mùa, bắt đầu trong cái lạnh đất trời và len dần vào hồn người, thấm thía. Bất chợt nhận ra mình run lên từng cơn, bất chợt nhớ vô vàn những gì thân thương nhất, yêu mến nhất. Những cái nhất không dễ tìm thấy khi con người chưa thật tình với nó, và anh, như nhờ vào một thiêng liêng, đã tìm được nguồn yêu chân thật và tự nhiên nhất, ắt hẳn nó cũng đã nằm trong em?

Mưa đầu mùa, thật dài, không lớn, không nhỏ, chỉ đủ cho vừa  nhớ nhau. Hạt mưa rơi mang nhiều tình tự, tình yêu đôi lứa, tình thương nhớ quê xa và tình người chưa hờ hững.

Ðứng giữa một không gian trống vắng, cái lạnh càng làm cho mình thêm thèm được ấm tay ôm. Hãy ôm nhau và cho nhau hơi ấm lúc mưa về, hãy cho nhau nồng nàn như mẹ ôm con, như người dân hiền hòa được ôm vào lòng đất mẹ. Hãy cho nhau tình yêu như tình cha lai láng gởi đến con mình. Và, hãy chân thành sống thực với những gì mà mình đã nghĩ, đã có, và đã gửi gấm cho nhau.

Cơn mưa đầu mùa chưa dứt, vẫn còn, và mình sẽ mãi mãi vẫn còn... để về với mẹ với cha.

(Trần Hoàng Phước Hậu)


Thứ Ba, 14 tháng 4, 2020

Nội Tôi



NỘI TÔI
Trần Hoàng Phước Hậu

Nếu không có di ảnh thì tôi không tài nào nhớ được khuôn mặt hiền từ của bà nội, người mà trong đời tôi chỉ gặp được vài lần khi còn rất bé. Bà nội qua đời ở tuổi chỉ ngoài sáu mươi, và tôi mới bắt đầu vào tiểu học.

Bà nội có tới mười hai người con, ba tôi là kế út, thế nên khi nội ở tuổi về chiều thì tôi mới bắt đầu vào tuổi cắp sách. Hầu hết những gì mà tôi biết về nội là do mẹ kể lại thôi. Bà nội tôi là một Phật Tử rất sùng đạo. Bà lấy ông nội, là một người học cao hiểu rộng, và là xã trưởng một thời của thuở xa xưa ấy. Bà nội thì giỏi buôn bán, có lẽ vì thế mà tôi có hai ông bác theo nghề bà, rất thành công trên thương trường. Còn ba tôi thì đi lính.

Nhà tôi (ba mẹ xây nhà ở quê ngoại, Tuy Hòa) cách nhà nội chỉ có 53 cây số (Sông Cầu), thế mà thời chiến tranh khốc liệt ấy, tôi chẳng có mấy khi được về thăm nội, khi bà còn sống.

Tôi nhớ có một lần bà nội vào Tuy Hòa thăm cháu, lúc tôi chừng năm, sáu tuổi, bà đèo theo mấy khối đường và ít trái dừa, những thứ này thì ở chỗ tôi rất hiếm. Anh em chúng tôi mừng vui đón nội và nhận quà của bà. Lúc đó mùa đông, trời lạnh, tối đến mẹ tôi chuẩn bị một chậu lửa than để dưới gầm giường cho nội nằm ấm, thế là tôi xin được nằm ké bên bà, cái ấm của lửa than cũng như cái ấm của tình bà cháu, những câu chuyện cổ tích bà kể…, tôi vẫn còn giữ trong lòng. Bà ở chơi được vài ngày rồi từ giã chúng tôi. Đó là lần duy nhất tôi được ngủ chung với nội.

Về sau có được vài lần ba mẹ dẫn về thăm nội, thăm vườn dừa Phước Lý xanh ngát nằm cạnh bờ biển, từng đêm nghe tiếng sóng lao xao, tận đến bây giờ vẫn dạt dào thương nhớ. Lúc này mắt nội không còn tỏ nữa, nội không còn buôn bán mà ngày đêm chỉ lo Phật sự. Bà sùng đạo lắm. Mẹ tôi kể là bà nội hay dặn dò con cháu, sau này, nếu bà mất thì chỉ cúng chay cho bà, cúng mặn thì bà không về. Con cháu vẫn y lời bà.

Rồi nghe tin nội qua đời, chúng tôi không về nội được vì lúc đó đường sá mất an ninh, VC đào đường, gài mìn đầy dẫy. Chỉ có ba mẹ, cố gắng về chịu tang, rồi mang khăn tang về cho chúng tôi. Trong thời chiến tranh là thế, chắc nội cũng đã tha thứ cho chúng tôi, đã không về tiễn biệt nội một lần cuối; Thế là vĩnh biệt nội kính yêu.

Nội chắc rất gian nan, tảo tần để nuôi một đàn con khôn lớn, tôi không biết là nội có một thời gian nào thảnh thơi cho riêng bà khi còn sống? Nhưng tôi tin là nội đã vãng sanh nơi Tây Phương Cực Lạc vì nội đã tận tâm làm tròn việc đời cho con cháu, và hết lòng với phụng sự đạo mà bà luôn sùng kính.

Trần Hoàng Phước Hậu

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2020

Một Quãng Đời Ngày Xưa



MỘT QUÃNG ĐỜI NGÀY XƯA
Trần Hoàng Phước Hậu

Một Thời Tiểu Học

Tôi hồi nhỏ ở với ngoại từ khi chập chững biết đi cho đến khi gần bắt đầu đi học thì mới được mẹ đón về. Tôi vào thẳng học lớp năm, không qua mẫu giáo, ngày thi vào lớp năm thầy ra bài: viết ba chữ i, u, ư, tôi trúng tủ, làm được, sau đó không biết sao mà thầy lại đổi đề thi kêu viết o, ô, ơ, tôi không biết, coi như rớt. Rồi thầy cho về.

Tôi lì lắm, không chịu, về méc mẹ, kể rõ sự tình. Thấy Tùng hiệu trưởng, là bạn học của mẹ thời trung học, mẹ dẫn tôi đến gặp thầy và khiếu nại, lúc đó (mẹ tôi kể lại) là tôi chạy vào lớp ngồi lì trong đó không chịu về. Cuối cùng thì thầy Tùng đồng ý ai viết được hoặc i, u, ư hoặc o, ô, ơ, đều đậu. Thế là cuộc hành trình trên hoạn lộ của tôi bắt đầu từ đó...

Năm đầu tiểu học, gọi là lớp năm (lớp một sau này)
Hồi đó tiểu học được xếp như sau:
Lớp năm
Lớp tư
Lớp ba
Lớp nhì
Lớp nhất

Trung học đệ nhất cấp:
Đệ thất
Đệ lục
Đệ ngũ
Đệ tứ (xong đệ tứ thì thi tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp mới vào được lớp đệ tam)

Trung học đệ nhị cấp:
Đệ tam
Đệ nhị (thi tú tài bán phần, còn gọi là tú tài một, đậu mới được vào đệ nhất)
Đệ nhất (thi tú tài toàn phần, còn gọi là tú tài hai, đậu thì được vào thi đại học)

Đại học, ngoại trừ đại học Khoa học, Luật khoa và Văn khoa, được ghi danh thẳng vào học, không thi. Các ngành khác thì phải thi.

Đến năm tôi đệ lục thì bộ quốc gia giáo dục đổi hệ thống giáo dục theo kiểu mới, từ lớp một đến lớp mười hai một lèo rồi thi tú tài, tồn tại đến bây giờ.

Trở lại thời gian học tiểu học, mỗi ngày đi bộ chừng hơn nửa cây số là tới trường, mỗi sáng mẹ cho một đồng để ăn sáng, tôi nhớ, một ổ bánh mì thịt lúc đó là năm cắc (năm mươi xu). Một ly đá chanh cũng năm cắc.

Xong lớp năm, tôi học đủ điểm để lên lớp tư. Mùa hè đến, mẹ cho đi học hè hai tháng, còn một tháng là chơi rong quanh xóm; đủ trò, đá dế, lấy đất sét ngoài đồng về nặn hình làm đồ chơi...

Vào lớp tư, mẹ may cho quần áo mới, đồng phục là quần soọc xanh và áo trắng. Sáng nào mẹ cũng chải tóc, sửa soạn cho tôi trước khi đến trường, chắc bà lúc nào cũng muốn con trai đầu lòng mình đẹp nhất lớp hay sao ấy?

Cuối năm lớp tư, tôi bất ngờ được phần thưởng, ngày bế giảng tôi âm thầm đến trường một mình, lên lãnh phần thưởng hạng nhì của lớp, mang về, mẹ tôi ngạc nhiên và hỏi: "sao con không cho mẹ biết để mẹ chuẩn bị quần áo mới rồi cùng mẹ đi dự lễ bế giảng?" tôi trả lời: "quần áo cũ mà có phần thưởng là ngon rồi", mẹ tôi cười nhưng có vẻ tiếc lắm, về sau bà hay nhắc tới kỷ niệm này.

Hè năm lớp tư, mẹ cũng bổn cũ soạn lại, cho đi học hè hai tháng, một tháng tự do rong chơi phá làng phá xóm, hái trộm ổi, lên chùa Khánh Sơn hái trộm trái thị (chùa Khánh Sơn là một ngôi chùa lâu năm nằm trên sườn núi Chóp Chài, đường lên chùa là một dốc đá cao vời vợi (nhưng lúc đó còn nhỏ quá nên trên dốc đá hổng có tình cờ quen nàng nào cả).

Hết lớp ba của bắn bi, hái trộm trái cây, thỉnh thoảng có tổ chức chia phe ra đánh nhau, chuẩn bị vào lớp nhì. Hè cũng thế, học hè, rồi rong chơi, nhưng giờ thì lớn một chút, biết tụ tập ca hát... Tôi có hai người dì biết hát, mua nhiều nhạc lắm, nhà ngoại ở gần nên thỉnh thoảng tôi vào ngủ đêm nhà ngoại, dì tập cho hát các bài "nhạc tình kinh khủng" như Đồi Thông Hai Mộ, Ngày Anh Xa Vắng, Chuyện Tình Lan và Điệp, Trăng Tàn Trên hè Phố, Hoài Cảm.... và trường ca Hòn Vọng Phu.... hễ học hát được bài nào là hí hửng đến lớp, giờ chơi, chỉ lại tụi bạn cùng hát.

Còn hai tháng nữa thì xong lớp nhì, bất ngờ có sự thay đổi lớn.

Ba tôi là lính, rày đây mai đó, anh em chúng tôi ở nhà với mẹ, ba mẹ xây căn nhà ở quê ngoại, Tuy Hòa, ở bấy lâu nay. Năm đó ba lại đổi về làm ở quận Sông Cầu, quê nội, cách Tuy Hòa năm mươi ba cây số về phía bắc. Ba là sĩ quan coi về quân số. Ba muốn gia đình dọn về đó. Lúc đó Việt Cộng đào phá đường quốc lộ 1, gài mìn..., đường bộ coi như tê liệt hoàn toàn, nên mọi di chuyển đều bằng ghe, đường thủy.

Ghe thì nhỏ, sóng thì to, chỉ hơn năm mươi cây số mà đi từ tám giờ sáng tới bốn giờ chiều mới đến nơi, anh em chúng tôi say sóng điếng người, mẹ tôi kể lại là ra khỏi bến ghe chừng ba mươi phút là anh em chúng tôi cứ ói mửa cho đến khi mệt quá thiếp đi, bà thấy các con như thế bà hối hận và trách ba tôi ghê lắm, sao mà lại quyết định dời chỗ ở như thế. Bà cứ "nam mô Quan Thế Âm cứu khổ cứu nạn" suốt trên đường đi..


Đến Sông Cầu, ba đã thuê nhà sẵn. Chúng tôi vào trường mới, mọi thứ chỉ là bỡ ngỡ.
Là quê nội, nhưng ít quen thuộc, trước đó chỉ vài lần về thăm nội khi mà đường sá còn lưu thông. Mất một thời gian dài anh em chúng tôi mới quen cuộc sống ở nơi này.

Học có hai tháng lớp nhì ở đó, nhưng cuối năm tôi cũng có phần thưởng, và cũng cố tật, đi lãnh thưởng một mình, rồi cũng bị mẹ rầy nữa, nhưng bà vui.

Xong lớp nhì, mẹ cũng mò đâu đó ra chỗ cho học hè, lần học hè này vui, vì mỗi cuối giờ, thầy Phạm Xuân Quý kể chuyện Địch Thanh và Thoại Ba Công Chúa (Ngũ Hổ Bình Tây), hết hè mới hết chuyện.

Vào lớp nhất, à có chuyện rất vui, tôi kết được hai thằng bạn thân, đi đâu, làm gì, cũng đủ bộ ba, Dũng và Dìa. Giờ thì Dìa đang ở Gia Nã Đại, còn Dũng thì vắn số, đã về với tổ tiên sau ngày mất nước (1975) vài năm.

Vào lớp nhất, bài nhiều, học nhiều vậy mà chơi cũng nhiều. Bộ ba chúng tôi còn chơi bạo nữa chứ.... chơi trò "cút bắt"… "Bang Bang!"

Ở đó, trường quận, ít học sinh, nam nữ học chung chỉ đủ một lớp. Trong lớp có ba nàng nhỏ xíu nhưng dễ thương, Lan, Liễu và Hà. Lan học giỏi theo kịp tụi húi cua. Hà và Liễu học trung bình, nhưng cả ba đều chăm. Lan thì con nhà khá giả, Hà thì nhà có tiệm tạp hóa nho nhỏ, Liễu thì mẹ bán hàng ngoài chợ. Bộ ba chúng tôi thì nhà Dũng khá giả có tiệm chụp hình, thời đó tiệm chụp hình làm ăn ngon lành lắm. Dìa thì mẹ có gánh chè, ngon hết sẩy, bà cho tụi tôi ăn chè mệt nghỉ, ba Dìa là thủy thủ, còn tôi thì là con của lính. Chúng tôi nghịch lắm (nghe lời mấy ông anh xúi dại), ba thằng theo "tán" ba cô. Tán theo kiểu con nít, nhớ lại, thấy ngồ ngộ và ngu ngơ sao ấy.

Dìa thì to con nên giao nó hộ tống Liễu. Dũng thì môn đăng hộ đối với Lan, cò tôi thì nhỏ con nên đành phải vào tiệm tạp hóa của Hà để có bánh kẹo ăn thêm cho mau lớn.

Năm đó lính Mỹ mới bắt đầu vào Việt Nam. Táo Mỹ, cam Mỹ, kẹo mỹ, nhiều lắm. Cứ vài ngày thì ba chàng "Ngự Lâm Pháo Thủ" chúng tôi phải chắt chiu tiền quà của mẹ cho để mua cam, táo, kẹo Mỹ tặng "người yêu" chưa yêu mình.

Bộ ba chúng chúng tôi hồi đó cũng "sang" ra phết, mỗi thằng có một chiếc xe đạp lỡ 550 (bánh xe có đường kính năm tấc rưỡi), chiều chiều rủ nhau đạp xe đi vòng vòng... "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!". Chuyện Lan, Liễu thì để hai thằng "ông nội" kia lo, tôi chỉ kể chuyện Hà thôi.

Hà một "thiếu nữ" lớp nhất nhỏ nhắn , trắng trẻo và xinh xắn. Cô nàng hay e thẹn, ít nói, chăm chỉ. Chiều chiều đạp xe ngang nhà là thấy cô nàng giúp mẹ trông coi tiệm. Thời đó có giới nghiêm, sau mười một giờ đêm là nhà ai nấy ở, không được ra đường, ngoại trừ có trường hợp khẩn cấp. Mỗi chiều, chúng tôi hay rủ nhau lạng xe qua phố vài vòng rồi về học bài…

Nhớ lần đầu chúng tôi mua được sáu trái cam Mỹ. Mỗi thằng hai trái kéo nhau đi tặng "người".

Chúng tôi tới trước nhà Lan cho Dũng mở màn làm người hùng trước, sau đó ghé nhà Liễu. Rồi đến lượt Hà, gần tới nhà Hà, tôi kêu hai thằng "ông nội" kia về trước, khỏi chờ, để "anh mày" làm Triệu Tử Long, đơn thân xông pha chiến trường. Hai thằng ông nội rút dù. 

Tới trước nhà Hà, tôi hơi ngập ngừng, dũng khí tiêu tan, anh hùng Triệu Tử Long bỗng nhiên chùn bước, nhũn tim (mẹ Hà đang ngồi trước cửa). Cuối cùng, "lấy hết sức bình sinh", lúc mẹ Hà vừa bước vào trong nhà, chỉ có mình Hà đứng trước quầy; thế là, anh hùng thấy tim bớt nhũn tim, đi nhanh vào và tặng nàng hai trái cam. May quá! nàng cười và đón nhận rất chân tình, một cách ngây thơ (cho thì lấy, dại gì!). (Nếu khi đó mà mẹ Hà còn "ngồi lì" trước cửa, chắc tôi đứng ngoài mà bóp nát trái cam như Trần Quốc Toản năm xưa, khi không được vào dự hội nghị Diên Hồng quá!).

Một lần nữa, hình như vào mùa hè, không đi học, tôi rủ Dìa cùng đi và lần mò đạp xe leo qua "con dốc sầu", đến tiệm Hà, giả vờ mua kẹo. Hà ngây thơ, nhưng tôi thì "tinh quái". Nhưng "tinh quái" cỡ nào thì cũng nhũn mà thôi. Lần này không những chỉ nhũn tim mà còn nhũn cả chân tay nữa. Số là khi Hà lấy mấy viên kẹo chanh đưa tôi, vô tình bàn tay nàng chạm mạnh vào tay tôi, và tôi làm rớt mấy viên kẹo! ông nội Dìa thấy được đem đi kể tùm lum, làm tôi "quê" một bận; nhưng vừa "quê" và vừa thích…

Lớp nhất, một năm học nhiệt tình để chuẩn bị cho kỳ thi vào đệ thất, thế mà cũng rán tạo nên một tình yêu tuổi thơ mới ghê chứ?

Ngoại trừ giờ học ra, bộ ba chúng tôi quyết chí hy sinh giảm bớt các thú vui khác, rất ít đi lung tung, chỉ tập trung vào Lan - Hà - Liễu. Tôi rủ bộ ba về nhà nội tôi hái dừa, cũng rán để dành ba trái cho ba nàng; lên vườn ổi, thế nào cũng có ba xâu đem về, ra nhà Dìa hái me, rồi cũng là gói ba bịch để chiều đến lạng qua nhà ba nàng mà làm tin cho biết là "anh yêu nàng..."

Rồi năm lớp nhất qua đi. Cả sáu chúng tôi đều đậu vào lớp đệ thất, bước vào trường trung học, những mối tình tuổi thơ vẫn đó, những bài học mới tràn về, niềm vui thơ ấu như chưa bao giờ tàn trên môi trên mắt, dù ngoài kia chiến tranh mỗi ngày mỗi khốc liệt hơn. Hằng đêm, "tiếng đại bác nghe quen như câu dạo buồn", vẫn đều mỗi ngày như để nuôi lớn thêm tuổi của đời người.

Một khúc quanh nữa cho đời mình. Hoạn lộ vẫn còn dài, chưa biết được ngày mai!


Một Thời Trung Học

Những ngày đầu bước vào trường trung học, bỗng thấy mình oai ra và đẹp trai hơn! (nghe tanh tanh như mùi ốc gạo). Vào lớp đệ thất được cũng quả là một "kỳ công" vì phải vượt qua một kỳ thi. Bạn bè từ lớp nhất cũng vào được gần hết. Sĩ số cần thu nhỏ lại, chúng tôi có hai lớp đệ thất, đệ thất 1 và đệ thất 2 mỗi lớp chưa tới ba mươi học sinh.

Bạn cũ, thầy cô mới, kiểu học thì hoàn toàn mới, mỗi môn học do một thầy hay cô phụ trách. Giờ học thì chia rải rác theo từng môn và theo giờ của giáo sư (thời đó, thầy cô dạy tiểu học được gọi chung là giáo viên, thầy cô dạy trung học được gọi là giáo sư).

Đặc biệt trường này lại có môn âm nhạc dạy cho học sinh từ lớp đệ thất tới đệ tứ do thầy Võ Văn Tồn phụ trách; nhờ thế, mà sau này tôi có dịp "phang" vào lĩnh vực âm nhạc mà không vướng phải sự khó khăn.

Trường chúng tôi nằm cạnh biển, có gió mát quanh năm, trường thật nhỏ chỉ có bốn phòng học và một văn phòng cho thầy cô, chỉ dạy từ lớp đệ thất đến đệ tam. Các lớp đệ nhị và đệ nhất thì phải đi học xa nhà, ra Qui Nhơn hay vào Tuy Hòa, Nha Trang... Trường xây trần đúc bê tông, nhìn cũng sang ra phết.

Bộ ba chúng tôi, những chàng Ngự Lâm Pháo Thủ, vẫn giữ chặt "pháo đài" Lan - Hà - Liễu. Cặp sách thì nặng hơn, thì giờ cho các môn học nhiều ra những vẫn cố dành chút thời gian xông pha "chiến trường" với "vũ khí tối tân" của Mỹ là cam, táo và kẹo Hoa Kỳ. Nhưng sao ấy? chỉ có vậy thôi hà! "chiến trường" vẫn bất phân thắng bại, phe ta "tấn công", phe "người" đón nhận, nhưng nhất định "án binh bất động"; nhưng đó là cái tuyệt vời của cái "thích" trong tuổi ngây thơ, mấy ai có được?

Một năm đầu của trung học trôi qua, không còn hái trộm trái cây hay đá dế, bẫy chim… những "cụ non" đàng hoàng hơn, đi mua mía, mua dưa ở các vườn, quần áo lúc nào cũng "trong thùng" tươm tất. Không còn mang giày sandal mà là giày ba-ta đạo mạo. Mỗi sáng thích đi học sớm để còn đứng dọc hiên trường nhìn những tà áo dài trắng bay lượn trước gió trong sân. Chúng tôi lên lớp đệ lục. Bất ngờ, trường thông báo là từ nay sẽ theo hệ thống giáo dục mới. Thế là lớp đệ lục chúng tôi trở thành lớp bảy, tôi nằm trong lớp 7A (thay vì đệ lục 1). Chương trình học không thay đổi, "bình mới rượu cũ".

Trong thời gian này, có lẽ cũng đã dần biết suy tư, biết tổ chức những lần vui chơi trong lớp, không còn phá phách nữa, "nhớn" rồi đấy! Hè về là biết nhóm lại với nhau chép lưu bút, viết tùm lum. Bộ ba chúng tôi, Ngự Lâm Pháo Thủ, bắt đầu viết thư tạm biệt các "pháo đài", ôi thôi!, đọc lên cũng ướt át lắm, nào là phượng sẽ hồng và tim sẽ tím… toàn là những ngôn ngữ bắt chước đàn anh, đàn chị.

Lớp tám bắt đầu, mỗi đứa chúng tôi cao hơn một chút, tâm hồn mở rộng ra, và con tim chứa đựng thêm tình người và sức sống. Sân trường thấy rộn ràng hơn với những lời chào mừng nhau trong ngày tựu trường. Ba "pháo đài" của chúng tôi cũng khác nhiều, dáng áo dài có khác đi, biết e thẹn mỗi lần nhận "quà làm tin" hay nhận những lá thư xếp gọn gàng của Ngự Lâm Pháo Thủ trao cho. Nhưng vẫn thế, "mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh". Chúng tôi vẫn hồn nhiên coi như "tình là thế" vẫn vui, và mong đợi… 

Ngày Tết đến chúng tôi biết vẽ vời làm thiệp Tết gửi cho thầy cô và bạn bè; hẳn nhiên, thiệp cho các "pháo đài" phải là đặc biệt hơn hết. Lớp tám đang trôi qua thật nhanh, những bài văn, bài toán mỗi lúc một khó hơn, và những lá thư gửi cho "người" cũng dài thêm một chút. Không biết hai "ông nội" kia ra sao? Chứ riêng tôi, thì chưa một lần nào nhận được hồi âm!

Một điều không thể quên trong đời vào mùa hè vừa xong lớp tám! Nỗi buồn vời vợi! Hụt hẫng lạ lùng! Và biết thẫn thờ buồn trong đêm! Chuyện "Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ" với ba "pháo đài" dấu ái đang trên đà mai một!

Sớm quá chăng? Tin Hà sắp lấy chồng, chỉ mới vừa xong lớp tám, cùng lắm là một thiếu nữ mười sáu cái tròn trăng. Nhưng đó là sự thực; thế là, có một "pháo đài bay" và sẽ bay đi xa mãi vào không gian riêng của nó, không bao giờ trở lại chốn này!

Ngày tựu trường lớp chín, "Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ" vẫn trình diện đủ mặt khi điểm danh nhưng "pháo đài" thì chỉ còn có hai. Mọi sinh hoạt trường lớp vẫn thản nhiên, vẫn vui, nhưng có ai biết trong sân trường vui nhộn ấy có một người đang ngậm ngùi xót xa (dù là nỗi xót xa còn non nớt); và ai cũng không hiểu, chỉ một người hiểu!

Tựu trường được vài hôm thì một đêm nghe tiếng đạn pháo kích của VC từ trên núi bắn xuống, một đêm kinh hoàng cho chúng tôi trong thành phố nhỏ "đi dăm phút trở về chốn cũ", một trái pháo trúng ngay nhà của người bạn học cùng lớp, Thuận, làm cho mẹ và một đứa em của Thuận phải từ giã cõi đời trong đêm buồn vô cùng ấy. Rồi nhiều đêm sau đó, thỉnh thoảng có tiếng đạn rơi trên thành phố, có người chết, người bị thương… Nhà chúng tôi cũng làm hầm núp đạn bằng những bao cát nhỏ xếp chồng lên nhau. Nhưng thật khó mà tránh những quả đạn tàn nhẫn đầu tiên rơi xuống thành phố, lúc đó chỉ biết ca bài "Que sera, sera, what will be, will be!".

Chiến tranh, ý thức hệ, ai đúng, ai sai? lịch sử sẽ phán xét! Chứng tích của hoang tàn vẫn còn đấy! Những vết thương đau hằn trên đất mẹ, trên mộ bia của những người nằm xuống trong chiến tranh vẫn còn kia! Chiêu bài chủ nghĩa mị dân vẫn chưa phai! Ai đã mở màn cho cuộc chiến cốt nhục tương tàn? Các Sử Gia ơi! Xin đừng bao giờ thiên vị!

Năm lớp chín đúng là buồn nhiều ít vui, chuyện nước non thương đau vì chiến tranh, và chuyện một "pháo đài" của "ba chàng Ngự Lâm Pháo Thủ" của chúng tôi bị đẩy lui vào dĩ vãng. Bây giờ thì ba chàng "Ngự Lâm" nhưng chỉ còn có hai "pháo đài". Vì thế, tôi trở thành "ban tiếp liệu bất đắc dĩ từ hậu phương" cho hai "ông nội" kia tiếp tục múa may nơi "tiền tuyến" mà mỗi ngày "chiến trường" một gay cấn hơn. Rồi một năm học dài cũng qua đi, chỉ kỷ niệm còn rơi rớt lại bên đời.

Bước vào năm lớp mười với niềm vui chưa hoàn lại; nhưng cũng nhờ năm lớp mười "huyền diệu" này mà tôi cảm được cái hay của văn học Việt Nam qua các tác phẩm bất hủ như Chinh Phụ Ngâm Khúc (Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm dịch Nôm), Cung Oán Ngâm Khúc (Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều), Truyện Kiều (Nguyễn Du), và những vần thơ tuyệt tác của các thi sĩ lỗi lạc thời xưa của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Tế Xương, Tản Đà, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương… Để rồi hồn thơ tôi được nẩy mầm vào năm đó. Nhưng rất tiếc những bài thơ đầu tay của tôi đã không còn nữa, chỉ còn“Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo, đền cũ lâu đài bóng tịch dương”!

Vẫn còn nhiều thần tiên mong đợi nơi thành phố biển thân yêu quê nội, thì ba mẹ lại quyết định trở về căn nhà xưa. Còn vài tháng nữa thì mới hết niên khóa, mẹ và các em nhỏ dọn về Tuy Hòa trước, ba đứa lớn chúng tôi ở lại Sông Cầu để học cho hết năm. Bấy giờ đường sá đã được sửa lại tân kỳ do hãng RMK của Mỹ thực hiện, những con đường rộng rãi, láng o; nhờ vậy mà hàng tuần anh em chúng tôi hay thay phiên nhau về thăm mẹ, năm mươi ba cây số bây giờ chỉ cần cỡ một tiếng đồng hồ là tới nơi.

Hè năm lớp mười, năm của "Mùa Hè Đỏ Lửa" (1972) như nhà văn quân đội Phan Nhật Nam đã viết, Việt Cộng mở một trận chiến đánh điên cuồng vào các cứ điểm của miền nam. Đồng bào ta thật vất vả, người dân chết, lính hai bên chết. Đi đâu cũng là đối diện với hình ảnh tang thương. Người ta bồng bế nhau chạy trốn đạn bom từ những nơi chiến trận đang xảy ra, đi xe, đi bộ, "đại lộ kinh hoàng"… Nhưng sau những trận phản công ác liệt của miền nam, Việt Cộng bị đẩy lui. Người ta lại bồng bế nhau trở về quê hương.

Tôi từ giã thầy cô, bạn bè và ngôi trường thân yêu. Chuyện "Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ" và các "pháo đài" trong tôi chỉ còn là kỷ niệm. Chúng tôi về lại quê ngoại để tiếp tục cho hết những năm còn lại của thời trung học.

Về lại nơi chôn nhau cắt rún, có chút trục trặc về hành chánh, nên tôi phải vào trường tư để học, và học lại năm lớp mười, càng khỏe. Bài vở thì nằm lòng như cháo rồi, tôi có nhiều thời gian để tham gia vào các sinh hoạt của trường. Sau ngày tựu trường, tôi xung phong phụ trách khối văn nghệ, khi cần là ôm đàn tập hát, lo tìm người giúp tập các điệu vũ quê hương… 

Tuy trường mới, thầy cô mới, bạn mới, nhưng lớn rồi, nên không còn bỡ ngỡ nữa. Trường Trung Học Minh Tân này do Hội Khổng Học Tuy Hòa mới thành lập, thầy cô trẻ trung, dạy học rất nhiệt tình nhưng cũng rất "chịu chơi"; nói chung là một môi trường rất thoải mái.


Tuy theo ban toán - lý nhưng tôi lại rất thích văn chương, sách của Tự Lực Văn Đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam), các tập thơ mới của những nhà thơ cận đại, Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Thanh Tâm Tuyền, Huyền Kiêu, Hường Hoa, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Hàn Mặc Tử, TTKH, Hữu Loan, Yên Thao, Lưu Trọng Lư…. được tôi tận tình chiếu cố. Những câu thơ, lời rất giản dị mà đi vào lòng người muôn thuở.

“… Mầm tư tưởng còn nằm trên mái tóc
chửa xuống đầu, mà xuống vội làm chi... (Hường Hoa)

hoặc
“Em chỉ là người em gái thôi
Người em sầu mộng của muôn đời…” (Lưu Trọng Lư)
............................................................

Tất cả đã chinh phục tâm hồn tôi một cách lạ kỳ!

Chưa hết, còn truyện chưởng của Kim Dung do Hàng Giang Nhạn dịch, rồi chuyện của Quỳnh Dao do Liêu Quốc Nhĩ dịch, chuyện Thủy Hử, Hán Sở Tranh Hùng, Nhạc Phi Diễn Nghĩa… Truyện dịch như Chuyện Tình (Love Story), Romeo & Juliet… Tôi tìm đọc với những thích thú vô cùng. Chưa kể là truyện của các văn gia Việt Nam nổi tiếng như Duyên Anh, Mai Thảo, Lệ Hằng, Nhã Ca, Nguyên Vũ, Phan Nhật Nam, Nhật Tiến, Hồ Biểu Chánh…

Lúc này chiến sự tưởng như tạm yên sau khi hai miền nam bắc ký hiệp ước hòa bình Paris, ngày 27 tháng 1 năm 1973 hai bên ngưng bắn… Bất ngờ bắc quân tấn công mạnh vào tỉnh Phước Long, rồi leo thang, nhiều nơi khác. Đồng minh của miền nam là Mỹ đã bắt tay với Trung Cộng, thế cờ thế giới thay đổi, miền nam chịu số phận của nước nhược tiểu bị đồng minh bỏ rơi. Trong khi đó bắc quân vẫn được khối cộng viện trợ đều đều. Đã nằm trong thế thủ, bây giờ miền nam lại càng ở thế bị động hơn nhiều…

Năm học trôi qua cũng có nhiều kỷ niệm, năm "dưỡng già" nên mọi việc trôi qua suông sẻ. Tôi được chọn là học sinh danh dự toàn trường, một điều mà tôi chưa bao giờ dám nghĩ đến, vậy mà nó đến mới ghê chứ? Vẫn nhớ mãi những lần tập và diễn văn nghệ, những lần thuyết trình về thi văn Việt Nam. Cũng không quên những lần rủ nhau đi hái dưa bẻ mía ở nhà bạn bè miền quê. Và những lần cả đám bạn văn nghệ kéo nhau ra quán café, tập làm người lớn, bên tách café đen, phì phà điếu thuốc CAPSTAN mà ai đó đã dùng những mẫu tự (vừa xuôi vừa ngược) làm thành hai câu thơ, đọc nghe cũng nhũn tim: "Cho Anh Phát Súng Tim Anh Nát, Nhưng Anh Tin Số Phận Anh Còn". Có một điều lạ nữa là tôi không nghĩ tới chuyện hăng say làm "Ngự Lâm Pháo Thủ" như thuở trước, không hiểu tại sao?

Vào lớp mười một, bình thường. Ra thanh niên rồi đó nhé! Biết sắm quần áo theo kiểu mới hiện hành. Năm nay lại có cô bạn văn nghệ thân lắm, hay tâm sự và trao đổi chuyện văn chương, cô bạn học hơn tôi một lớp…

Một năm học "lịch sử" mọi người cố gắng để có sinh hoạt cuộc sống bình thường, một nỗ lực phi thường của dân Việt trong một bối cảnh mà ngày đêm nghe tiếng đạn bom nhiều hơn tiếng nhạc. Chiến cuộc leo thang. Đồng minh bỏ rơi. Cơ đồ nghiêng ngả… Những chàng thanh niên mới lớn bắt đầu có những suy tư và cả ưu tư cho con đường tương lai. Những hình ảnh hái hoa bắt bướm, nghịch phá của tuổi học trò vài năm trước đó tự nhiên ra đi biền biệt, mất hút.

Lần đầu tiên trong đời ăn một cái Tết mà sao nó chẳng có vui, mọi người không vui. Phước Long đầy khói súng, Ban Mê Thuột đất đỏ dậy bụi đường vì đạn pháo, Pleiku tin nóng hàng giờ. Đâu đâu cũng chỉ nghe thấy những bàng hoàng lo sợ. Ước mơ hòa bình chợt tắt theo tiếng đạn réo từng đêm. Hàng ngày đến lớp, vẫn học, thầy cô vẫn trấn an học trò bằng những lời thật thân thương, nhưng có ai hiểu được trong lòng các vị ấy không mang một nỗi lo âu vô vàn?

Rồi lệnh di tản ban hành. Dân từ miền cao nguyên tràn về tỉnh lộ 7, được mệnh danh là Tỉnh Lộ Máu, người chết dọc đường, thảm cảnh! Ngoài trung xa xôi, từng đoàn xe tản cư kéo nhau đi lần vào hướng nam. Con đường của tự do dần dần thu ngắn lại. Số phận như đã an bài! Tôi cũng chia tay gia đình, cùng với đứa em họ, "hai thân hai mình" đi về phương nam. Vào đến Cam Ranh được vài ngày thì mẹ dắt díu mấy đứa em tôi cùng với gia đình ông bác cũng chạy vào đây. Đầu tháng tư 1975 mất Tuy Hòa. Chúng tôi kẹt lại Cam Ranh, sau đó đành trở lại quê nhà với hành lý là dẫy đầy sợ hãi. Cả một vùng trời tang tóc!

Rồi tôi lại vào trường, tiếp tục lớp mười một, có vài thầy cô mới từ "ngoài" vào, nói chuyện rất sắc máu và "chém gió" - "chop the wind" đến lố bịch; cũng còn thầy cô cũ , nhưng những con người đã đổi khác, cái gì cũng khác, có thể chỉ là bề ngoài, nhưng tôi đang sống ngay trên xa lạ quê mình! Cuối tháng tư (1975), Sài Gòn thất thủ. Tất cả ra đi, mất hết! Ba tôi lưu lạc đâu đó, chẳng có tin về!

Gần hai tháng cuối của lớp mười một là một chuỗi thời gian của nỗi hụt hẫng kinh hoàng. Một chương trình học như từ cung trăng vừa rớt xuống. Thế nhưng phải học, học, nhưng tâm trí đã thực sự bị hao mòn quá đỗi. Hè lớp mười một không lưu bút ngày xanh, không hẹn nhau đi chơi hè, và dường như cũng sẽ chẳng thấy tương lai!

Ba tháng hè trôi qua với những sinh hoạt quả ư là lạ lùng, học sinh nhận công tác từ trường học là đi làm kiểm kê dân số, chúng tôi bị một số người lớn tuổi ở quê chửi cho một trận, vì hỏi tên và tuổi của họ (ngày xưa người lớn kỵ chuyện hỏi tên họ lắm). Rồi sau đó đi đào mương làm thủy lợi cả tháng trời. Thế là hết mùa "nghỉ hè"(!) của học sinh.


Lớp mười hai, tất cả học sinh tư hay công đều phải thi vào trường cái gọi là trung học phổ thông, Tôi may mắn đậu vào trường Nguyễn Huệ, một trường lớn nhất tỉnh. Những ngày tựu trường buồn tẻ, ngay cả bạn bè với nhau mà chẳng còn ai dám tin ai! Vài bạn khá thân của năm lớp mười một đột nhiên bỏ học, về quê làm ruộng. Buồn!

Tết năm đó tôi bị bịnh một trận nặng kéo dài cả gần hai tháng, tưởng là phải đi tàu suốt về thăm ông bà! May nhờ chữa đúng thuốc nên mới còn mạng. Sau cơn bệnh, trở lại trường, cố gắng lắm để theo kịp bài vở. Suốt năm học chẳng thân với ai, chẳng có những sinh hoạt gì để mà sau này làm kỷ niệm cho năm cuối cùng của thời trung học. Gần đến ngày thi tốt nghiệp, tôi học ngày đêm, mỗi ngày chỉ ngủ được chừng ba bốn tiếng…

Rồi cũng xong, năm 1976, tôi đậu tốt nghiệp trung học phổ thông với số điểm khá cao, nhưng ích gì? vì đang mang một lý lịch không tốt với chế độ?; và dường như trong tôi có cảm nhận rằng: Con đường trước mặt mơ hồ biết đâu là bến đỗ? ("tiền lộ man man vị tri hà vãng?").

(Trần Hoàng Phước Hậu - April 2020)

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2020

Bánh Ướt Quê Mình



BÁNH ƯỚT QUÊ MÌNH
Trần Hoàng Phước Hậu

"Xa rồi cũng mơ ngày trở lại - căn nhà xưa, con ngõ bùn lầy..." 
(Hà Thúc Sinh)

Mưa ròng rã hai ngày, trời mưa lạnh bà con cứ "post" hình thức ăn bánh trái, bánh xèo, bánh hỏi... lềnh khênh trên Facebook, làm cho tui nhớ lại một món của quê nghèo ngày xưa, bánh ướt trơn nóng hổi, chấm với mắm nêm hay xì dầu - vài cái bánh ướt mới ra lò với chén mắm nêm hay chén xì dầu chanh đường ớt tỏi - Trời ơi ngon tuyệt!

Ở quê tui, làng Phước Hậu, cách Tuy Hòa 3 cây số nên còn được gọi là cây số 3, nhà tui ở đó và chung quanh xóm nhỏ, không nhiều chứ ít ra cũng cỡ 5-6 lò bánh tráng, đi dăm phút là tới. Thời đó lò để tráng bánh là lò đắp bằng đất sét và đun bằng trấu (không như sau này có gas có điện, lò được làm bằng xi măng hay kim loại), bánh tráng xong là được trải trên các vỉ đan bằng tre dài chừng 3 mét, ngang chừng 5 tấc, và phơi trong vườn nhà hay ngay trên những con lộ trong làng (không như bây giờ có máy sấy). Bởi phải lệ thuộc vào ông mặt trời.; bánh tráng từ sáng sớm, khi mặt trời vừa lên, đến chừng 8-9 giờ là phải xong thì mới kịp nắng, 3-4 giờ chiều bánh khô, đem vào gỡ ra khỏi vỉ, chất thành chồng rồi đem bán... Trời đang nắng ngon lành mà bất chợt cơn mưa "em từ đâu đến em" giữa ngày, là coi như hôm ấy bánh khô không kịp, sượng trân, chỉ có bỏ đi hay tiếc thì để đó, rán mà ăn cho lại cái vốn.

Muốn có bánh ướt dân gian thì buổi sáng, khi mà lò còn tráng thì ghé qua mua bánh ướt mới có, chứ đợi tới trưa thì coi như hôm ấy "khô mỏ"! Bánh tráng chín xong, họ gấp chiếc bánh ướt tròn bình thường có đường kính chừng 4 tấc thành cái bánh ướt vuông vức cho mình, một người ăn chừng 3 cái là "okay" cho bữa sáng. Ở quê mà đâu có gì, mua vài cái bánh ướt mang về, làm chén mắm nêm hay chén xì dầu với chanh đường ớt tỏi, đơn giản là lấy bánh chấm vào mà "xực phàn", thêm chén trà ướp sói nóng nữa, thế là xong phần "điểm tâm thịnh soạn" của con nhà miệt vườn. Còn khá hơn chút nữa thì chiều hôm trước ghé nhà bà làm bánh bèo, bánh hỏi mua ít tôm chấy hay nhưn đậu xanh (mua ít thôi chứ nhiều là không có đủ tiền trả), cất kỹ, để sáng mai có mà rắc lên bánh ướt ăn cho nó sang như hàng "trưởng giả nhà nông". Bánh ướt ở làng tui thường là chỉ như vậy thôi.


Sau này lớn lên tui có dịp ghé vài nơi xa nhà thì mới biết là bánh ướt ở mỗi nơi làm có khác đi, bánh thì cũng thế, cũng từ bột gạo đun chín mà ra nhưng kích thước và độ dày có khác đi, có thêm phần bổ sung như chả lụa, thịt bằm, bánh tôm... Ghé Thành ở Nha Trang mà ăn bánh ướt mắm nêm thì phải là 30 cái mới bằng 3 cái ở quê tui, tráng cái bánh mỏng như tờ giấy vở, đường kính hơn tấc rưỡi, vậy mà nó ngon hết phản! Rồi vào nam thì tui được ăn bánh ướt họ làm xong cuộn tròn lại có thêm thịt bằm ở trong và tôm chấy rắc lên, thêm vài miếng chả lụa... 

Và ở nơi tui đang cư ngụ, thành phố San Jose, Hoa Kỳ, tui được thưởng thức thêm các món bánh ướt độc đáo của quán Tây Hồ, bánh ướt tôm chấy chả lụa bánh tôm, bánh ướt nhưn thịt thêm hành phi bánh tôm... kèm theo mấy củ kiệu chua nữa chứ! đủ kiểu hết... đúng là không no không "dìa". Còn buồn buồn thì ra mấy lò bánh ướt người Việt Nam mua vài ký, bánh ướt trơn hay bánh ướt tôm chấy (có kèm nước mắm pha sẵn), thêm vài cây chả lụa, mớ giá sống, vài trái dưa leo, bó rau ngò, đem về "tự biên tự diễn" cho cả nhà cùng ăn, cũng ngon ra phết mà lại tiết kiệm được mớ tiền.


Đi nhiều nơi, thưởng thức đủ loại bánh ướt các miền, ở tiệm có, ở nhà bạn bè có... ngon lắm chứ! nhưng từ dạo xa quê tui chưa được ăn lại món bánh ướt dân giã nơi làng mình lần nào cả. Ở đây hẳn là không có vì họ làm bánh ướt theo kiểu truyền thống của họ, bánh trông "sang" và hấp dẫn... Nhưng sao giờ đây tui lại nhớ da diết đến cái bánh ướt quê mình như thế! Có lúc tui nói chuyện về bánh ướt quê tui, mấy đứa con nghe vậy chứ tụi nó chưa tưởng tượng được cái tiến trình để có cái bánh ướt đó ra làm sao.

Vài lần về thăm lại quê nhà, mong ăn được cái bánh ướt như ngày cũ, mong được nuốt vào lòng những hương vị đúng thật cái chân chất của quê hương, đã từng cho tôi một khoảng đời đã sống gắn liền với quê cha đất tổ, vô vàn yêu thương dưới trời tự do dù trong khói lửa khốc liệt của chiến tranh; nhưng những lò bánh tráng quanh xóm không còn nữa, đã từ lâu, họ tìm đường khác làm ăn, chứ làm bánh kiểu như ngày xưa chắc giờ sống không nổi?

Chuyện bánh ướt ở xóm tui gần như chỉ còn là kỷ niệm! "những người muôn năm cũ - Hồn ở đâu bây giờ"!?(Vũ Đình Liên)

(Trần Hoàng Phước Hậu - Tháng tư 2020)