Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - GS NGUYỄN TUYẾT LỘC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - GS NGUYỄN TUYẾT LỘC. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2016

Bể Dâu (Phần 2)

GIỚI THIÊU
Xin hân hạnh giới thiệu đến quý Thầy Cô, quý Đồng Môn và quý Thân Hữu
Bài BỂ DÂU Phần 2 của tác giả Nguyễn Tuyết Lộc. Tốt nghiệp Cử Nhân Triết Đại Học Đà Lạt. Cựu Giáo Sư trường Trung Học Phan Châu Trinh và Cao Đẳng Sư Phạm Đà Nẵng.
Trân trọng giới thiệu.
NHHN



Năm 1975

Lý lịch của tôi có hai anh ở nước ngoài, một ở Pháp và một ở Mỹ, lẽ ra tôi bị “mất dạy” ngay khi Ty giáo dục tiếp quản trường lớp. Nhưng có anh Hòa, nên họ xét lại.

Tôi nhờ đài phát thanh đưa tin tìm anh Hòa, đồng thời viết thư ra Đại học Giảng Võ Hà nội nhờ trường tìm giúp, họ cho biết anh Hòa đã đổi vào làm Hiệu phó trường Cao Đẳng Sư phạm Quảng Bình. Cuối cùng hai anh em đã gặp nhau ở Đà nẵng, thức suốt đêm nói chuyện. Lòng tôi hớn hở như ngày mở hội. Anh Hai, Anh Thạch đã đi không biết bao giờ gặp lại nay có anh Hòa trở về tôi xem như mình có chỗ dựa tinh thần. Tôi lục tục dẫn anh đi mua sắm áo quần, mua một lần hai chiếc xe đạp một cho chị một cho anh và quà cáp để anh đem ra Quảng Bình cùng chiếc radio cassette để anh nghe nhạc.

Ba Mẹ tôi vẫn ở Huế trong ngôi biệt thự cũ. Mẹ đã bỏ vườn hoa xây thêm một nhà nhỏ khá khang trang dùng làm nơi thờ tự. Biệt thự của anh Hai thì ông chủ tịch quân quản tiếp thu. Hàng rào hoa ti gôn đã héo úa thay vào đó ông chủ tịch cho trồng khoai sắn.

Ngày nào Mẹ tôi cũng ra đường mong ngóng anh Hòa, trông đứng trông ngồi. Theo Mẹ, thì anh Hòa khi chia tay 17, 20 tuổi như thế nào, bây giờ trong trí nhớ của Mẹ, anh vẫn vậy không lớn lên, không già đi tí nào. Cho nên người đi qua kẻ đi lại, cao gầy, mặt mày sáng sủa, là mẹ nhìn họ chăm chăm, họ nhìn lại thì bà nghi trong bụng hay đây là thằng Hòa? Nhưng nó đâu biết mình ở đây? Cứ thế, cho đến ngày tôi đưa anh ra Huế, không báo trước. Mẹ tưởng là mơ, nhìn con trai từ đầu đến lưng rồi khóc, rồi kể chuyện anh Hai, anh Thạch, Thanh Tịnh và tôi. Anh Hòa chưa biết Tịnh. Ngày anh đi Tịnh chưa có mặt trên đời. Cuộc gặp gỡ tưởng chừng như không bao giờ có thể xảy ra nhưng nó đã xảy ra không cần phép mầu nào cả.

Chỉ hai tháng sau anh Hòa được chuyển vào làm hiệu phó Cao đẳng Sư phạm Huế, giảng dạy bộ môn triết và đưa gia đình vào luôn. Chị Hòa làm ở phòng căng tin trường. Tất cả vào sống cùng nhà với Ba Mẹ.


 Trường Cao Đẳng Sư Phạm Huế

Khổ nổi anh Hòa tôi một chút sợ tổ chức đảng phê bình, hai chút sợ đồng chí có ý kiến. Ở với Mẹ cạnh nhà anh Hai chứ không phải ở nhà anh Hai, vậy mà anh vẫn không an tâm, sợ ảnh hưởng đến đường thăng tiến của mình, anh xin vào ở tập thể. Khu tập thể giảng viên Cao Đẳng Sư Phạm là trường Jean D’arc cũ. Tịnh học môn Anh Văn ở Đại học Huế anh cũng không bằng lòng, vì học tiếng Anh e rằng “người ta’’ cho là bộ môn phản động. May mà tôi bị chuyển sang môn Địa lý “vô thưởng vô phạt’’. Anh chỉ có cái  “bệnh sợ phê’’ và cái gì dính líu đến “ngụy quân ngụy quyền’’ đều là phản động.

Gia đình anh nhập chung hộ khẩu với Ba Mẹ, mỗi lần Ba Mẹ cầm hộ khẩu lãnh quà của anh Hai hay anh Thạch anh cũng “sợ’’. Ngoài “bệnh sợ’’ đó ra, anh rất thương em út và Ba Mẹ. Nói thật, vào thời kỳ đó ai mà không sợ, chỉ cần diễn đạt không đúng đường lối là bị đi học tập “mút mùa Lệ Thủy’’ luôn.  Tôi biết một giáo viên đang hồ hởi chuẩn bị kết nạp đảng vô tình gọi Tổng Thống Sài Gòn là “Ông’’ Nguyễn Văn Thiệu, kể từ đó không cầm được thẻ đảng trong tay. Một chị bạn đồng nghiệp có chồng là trung úy hậu cần của quân đội Sài Gòn vừa khăn gói đi học tập trên núi, ngay ngày hôm sau sợ không được đi dạy, trước micro cô chưởi “ngụy quân’’ không còn manh giáp.

Ty giáo dục cho tôi ra Hà Nội học triết Mác Lênin 6 tháng mới được tiếp tục dạy, đồng nghiệp nói đùa là tôi đi “học tập cải tạo’’. Vì tôi làm chủ nhiệm lớp tốt nên Trung Ương Đoàn mời báo cáo chuyên đề về cách chủ nhiệm một lớp đạt hiệu quả. Thấy tôi viết sách Địa lý địa phương Quảng Nam Đà Nẵng, chưa ai làm việc nầy nên Viện Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục mời báo cáo về  “Phương pháp tiến hành viết Địa Lý Địa Phương’’ như thế nào để đưa vào chương trình giảng dạy Địa Lý Địa Phương cho cấp hai, ba. Hoặc những lần Đại học Giảng Võ mời thuyết giảng về chuyên đề… Tất cả những lần ấy tôi phải “nhảy tàu’’ ngay ra Huế “thụ giáo’’ anh Hòa tôi trước khi bay đi Hà Nội. Anh tôi dạy triết Mác Lênin rất hay, rất dễ hiểu. Tôi thích lắm. Như vậy, có hai thứ triết chảy trong tôi, khi dạy học hay khi thuyết trình cứ đem ra so sánh, dẫn chứng, bài thuyết trình trở nên phong phú, sống động. Tôi có tính làm việc gì thì làm đến cùng, không cần biết trong nhà còn gạo hay đã hết, nhịn đói mà làm. Nói “cường điệu’’ vậy thôi chứ đâu đến nổi. Từ đó dạy lớp thì ít mà “bỏ lớp’’ đi dạy mẫu thì nhiều. Cũng có thể cảnh tôi cứ “bay’’ lung tung, cứ đi tìm kiếm “danh ảo’’ trong thời điểm giáo viên Miền Nam chân trong chân ngoài vừa dạy học vừa đi xe ôm, đạp xích lô kiếm tiền cho gia đình, đã góp một phần làm không khí gia đình buồn bả u ám. Nhưng thiệt tình, có một điều làm tôi căng thẳng, ray rức hơn cả chuyện riêng là sự bình an của Ba Mẹ tôi ở buổi xế chiều có chỗ bất như ý. Cuối cùng tôi quyết định “tự giải phóng’’ bỏ nhà cửa, ôm cha mẹ, em út chạy vào Sài Gòn dạy luôn.

Còn Thanh Tịnh?

Tính của Tịnh ai làm gì thì làm không để ý chuyện người khác, lại nhỏ tuổi nhất trong nhà, nên hai anh ít để ý trò chuyện. Đôi khi có phần thiệt thòi so với tôi. Anh Hai đặt cho tôi là “Mụ O nhọn mồm”. Người Huế vẫn thường nghĩ em chồng hay kiếm chuyện với bà chị dâu, đâm vào thọc ra nên gọi em chồng bằng chữ “mụ O nhọn mồm”.

Đàn guitar

Nói thế không có nghĩa là hai anh bỏ bê Tịnh. Anh Thạch lo cho Tịnh ăn học khi Ba Mẹ đi đây đó. Đến tuổi quân dịch anh Hai gửi bạn bè cho Tịnh khỏi ra chiến trường. Nhưng Tịnh thích làm những gì mình muốn. Tịnh xin gia nhập đội phóng viên chiến trường. Tính cậu rất nghệ sĩ. Vừa tốt nghiệp Đại học Anh văn ở Huế Tịnh vào ngay Đà Nẵng đưa tôi một tập thơ mới hoàn tất và bảo tôi bỏ tiền ra in.

 – Chị Lộc in cho Tịnh đi, khi nào có tiền Tịnh trả cho chị Lộc gấp đôi.

“Phương Đuối Mộng”, là tập thơ đầu tay của Tịnh. In xong, hai chị em đợi tối khuya đi dán quảng cáo ở các gốc cây, ngày thì tôi mang theo vào lớp “dụ” học trò mua. Giờ nghĩ lại, thật buồn cười. Bài thơ Tịnh ghi: Tặng Anh Nguyễn Văn Hai có câu đầu tiên: “Trên đỉnh núi cao ta vén quần đứng đái”, anh Hai chưa đọc hết đã la lên : Thơ với thẩn, viết tầm bậy tầm bạ. Tịnh cho rằng bài đó muốn nhắc đến tính kiêu ngạo của anh Hai.

Anh Hai học “dễ sợ”, học “kinh khủng”, học giỏi thiệt, và người ta đã gán cho anh Hai là “nhà học phiệt”. Ở miền Nam vào thời điểm những năm 60, chỉ anh Hai có bằng Tiến sĩ Toán học đầu tiên, lại tốt nghiệp danh dự ở Đại học Sorbonne, đại học nổi tiếng nhất nước Pháp. Mấy năm sau, ông Trần văn Tấn ở Đại học Sài Gòn mới có bằng Tiến sĩ Toán. Anh Hai có phần kiêu ngạo là vì thế. Nhưng anh lại rất có tấm lòng. Sinh viên nghèo, học giỏi, anh giúp đỡ. Những ngày bộ đội sắp tràn vào Sài Gòn, một số sinh viên đang học năm thứ tư là năm cuối Đại học Huế gặp anh Hai ở Sài Gòn, anh đã ký bằng tốt nghiệp cho họ. Đến nay gặp tôi, họ vẫn còn nhắc chuyện đó và rất nhớ ơn anh Hai.

Khi Tịnh vào Đại học muộn màng là lúc anh Hai đã định cư ở Mỹ. Vào Sài Gòn Tịnh theo em họ Nguyễn Bá Nghiêm xuống Vũng Tàu làm việc. Dạy tiếng Anh cho Nghiêm, dạy guitar, sáng tác nhạc… nên Tịnh được Nghiêm xem là “thần tượng”. Nhưng Nghiêm chuyên xây dựng, Tịnh không thích hợp nên về lại Sài Gòn ở với Ba Mẹ và tôi. Nói là ở chung, chứ ít khi thấy Tịnh. Tịnh được nhận vào dạy các trung tâm ngoại ngữ, rồi mở lớp dạy riêng cho người xuất cảnh… rất bận rộn, với chiếc xe đạp cộc kệch, ngày càng cũ kỹ đến nỗi lấy chân mà thắng, nhưng đi đâu cũng đến. Tịnh chơi Guitar rất điêu luyện, biểu diễn với bạn bè hay sinh viên ở Trung Tâm Văn Hóa Phú Nhuận, tiền làm ra bao nhiêu cũng mua sách, mua đàn “xịn”, đổi xe cà rịch nầy, mua xe cà tàng khác, tóc để dài, ăn mặc lôi thôi lếch thếch. Tịnh là người đi hỏng chân trên mặt đất. Anh Thạch gửi tôi hai thùng thuốc tây, thì Tịnh cũng có một thùng, nhưng chỉ một tuần là về xin, mượn. Có lần Tịnh từ đâu chạy rần rật lên tận lầu ba, miệng gọi lớn:

- Chị Lộc ơi Tịnh  tìm được cây đàn violon của Nhật rồi. Đẹp lắm.

Rồi ôm tôi hôn lia lịa nói tiếp:
Có violon Tịnh sẽ kéo bản Tristesse của Chopin cho chị Lộc nghe. Cho Tịnh mượn tiền đi. Anh Thạch, anh Hai gửi về Tịnh bao nhiêu Tịnh cho chị Lộc hết luôn.

Rầy la Tịnh nhưng cũng thấy thương em. Vì thật ra tính tôi cũng bốc đồng như Tịnh. Cả nhà ai cũng mong Tịnh lấy vợ để bớt cái tính lang bang và có người thông dịch cho một văn phòng luật sư Mỹ, tiền lương khá cao, có cả bảo hiểm nhân mạng theo tiêu chuẩn quốc tế. May mắn cho Tịnh, sau khi chia tay với Phú Tịnh gặp Thúy một cô giáo rất hiền, nhất là làm rễ một gia đình có nề nếp đạo đức từ Bắc di cư vào năm 54. Bố của Thúy tốt nghiệp đại học sư phạm Toán, đại học Luật, có nhiều bằng cấp khác của Mỹ và Pháp. Ông giỏi tiếng Pháp và Anh. Ông là kiểm soát viên không lưu hàng không dân dụng. Sau 75, nhà nước đã giữ ông lại làm việc, dạy cho cán bộ ngành Hàng Không. Mấy anh chị em của Thúy trước 75 đều học trường Pháp. Lọt vào gia đình đó Tịnh chẳng giống ai nhưng lại được họ thương mến vì tính… nghệ sĩ. Cái chết bất ngờ của Tịnh trong một chuyến đi chơi với nhóm Bác sĩ Dương Đình Hùng tại Long Hải đã làm anh Hai, anh Thạch bị “sốc”. Và tôi, ngoài Tịnh ra không còn ai ruột thịt của mình ở Việt Nam nữa. Tuy Tịnh đã mất, nhưng gia đình Thúy vẫn giữ mối quan hệ mật thiết với tôi. Riêng tôi rất thương yêu Thúy, xem Thúy cũng như gia đình Thúy là chỗ dựa tinh thần của tôi.

Đàn Violon

Trở lại lúc đang ở nhà anh Hai, cứ đến 7 giờ tối sau giờ ăn cơm chị Lãnh hỏi ba anh em muốn ăn chè gì? đậu ngự hay hột sen, hay đậu xanh… Có đêm anh Hai và anh Thạch thức đến gần sáng mới đi ngủ. Anh Hai nói về đạo Phật về những sách anh viết như “Duyên Khởi”, “Trung Quán Luận”, “Nhân Quả và Đồng Thời”, “Nhận thức và Không tánh”… Anh Thạch thì nói về Thiên Chúa Giáo, cách kiến trúc của Tòa Thánh Vatican… Hai anh nói thao thao bất tuyệt, đưa ra vấn đề rồi say mê tranh luận, bên hỏi, bên đáp… Tôi nằm kê đầu trên chân anh Thạch nghe rồi ngủ lúc nào không biết. Đêm nào không nói về triết lý thì cả nhà xem phim. Những phim của Đài Loan sản xuất từ thập niên 60, Minh Hà, con gái đầu của anh chị Hai tìm mua gửi cho anh Hai xem. Nhất là những phim dựa theo cốt truyện Quỳnh Giao: “Hải Âu Phi Xứ”, “Mùa Thu lá Bay”… Ai ngờ anh Hai lại “mê” truyện Quỳnh Giao như thế.

Đêm cuối ở Louiseville

Một tháng trôi qua rất nhanh đối với ba anh em tôi sau 27 năm xa cách. Cuộc hội ngộ nầy như một phép mầu, làm sống lại quãng đời đẹp, thơ mộng và bình an nhất của tôi dưới sự đùm bọc thương yêu của Ba Mẹ và hai anh trong một mái nhà. Tôi cảm thấy mình vẫn còn bé bỏng, được nũng nịu, yêu chiều. Sáng nay, anh Hai chu đáo lấy hết tiền lẻ của tôi lên ngân hàng đổi thành tiền chẵn, mệnh giá 100 đô. Anh nói ở Việt Nam tiền 100 hay 50 đô mới có giá và đưa tôi một phong bì:
- Số tiền anh cho em vào ngày cuối là để em về Việt Nam tiêu. Những ngày vừa rồi đã có anh chị lo. Còn đây là tiền các cháu gửi biếu O Lộc. Việt Châu nhờ anh nói lại, khi nào O Lộc muốn sang Mỹ, Việt Châu sẽ lo mọi thứ. Mấy đứa nó làm việc nhiều tiền, trong số đó Việt Châu giàu nhất O Lộc đừng ngại. Ở Mỹ mà chúng nó học hành nên anh cũng mừng lắm. Nhà mình có phước mới được vậy.
Bữa cơm tối bình thường như mọi hôm không có vẻ gì gọi là tiệc chiêu đãi chia tay, vẫn cười nói vui vẻ nhưng trong lòng ba anh em ai cũng bùi ngùi. Giọng anh Hai bỗng chùng xuống nghiêm nghị:

- O Lộc từ nhỏ đến lớn chỉ biết ăn học vui chơi, chưa bao giờ lo lắng chuyện chi, rứa mà em đã làm được một việc lớn, đó là đổi một giá rất đắt cho cuộc sống riêng tư thay anh chị chăm sóc Ba Mẹ. Anh chị là con trưởng, lẽ ra hầu hạ chăm sóc Ba Mẹ lúc tuổi già đau yếu, là bổn phận của anh chị chứ không phải để em một mình vừa lo Ba Mẹ vừa lo con cái, nhất là vào Sài Gòn đất lạ quê người.


Thành phố Louiseville

Người ta nói: thân gái dặm trường rất đúng với hoàn cảnh em bấy giờ. Tôi chưa kịp nói thì anh Hai tiếp, giọng càng lúc càng nghẹn lại:

- Trong thư anh gửi cho em sau khi Ba Mẹ vừa mất anh có viết: anh quỳ xuống lạy em một lạy, đền ơn em đã thay anh báo hiếu Ba Mẹ. Và cho dù còn hay không còn Ba Mẹ, anh vẫn tiếp tục lo cho em.

Nói đến đó anh bỗng òa khóc thật lớn như bị ức chế từ lâu:

- Ba Mẹ tha thứ cho con tội bất hiếu không được nhìn Ba Mẹ, ở cạnh Ba Mẹ lúc lâm chung. Anh Thạch ôm lấy anh Hai khóc, và tôi quỳ xuống dụi đầu vào lòng các anh tôi khóc theo.

- Anh ơi, anh đừng nghĩ rứa. Lo cho Ba Mẹ cũng là trách nhiệm của em khi không có hai anh bên cạnh mà.

Khi cơn đau buồn nhớ thương Ba Mẹ, thương em út lắng xuống anh Hai nói:

- Em đã lo tang lễ cho Ba Mẹ rất chu đáo trang nghiêm. Bên nầy, anh xem hình mà không tưởng được. Nhân đây cho anh kính gửi lời đến Ôn Trí Quang. Anh luôn ghi nhớ ơn đức Ôn  đối với gia đình mình.

Khuya lắm hai anh chuẩn bị ngủ. Tôi chạy sang phòng anh Thạch, anh đang cầu kinh:

- Anh ơi em vào được không?
- Lộc đó hả? Em vào đi.

Tôi quỳ mọp xuống chân anh:


- Anh ơi, anh tha thứ cho em đã làm anh luôn lo lắng. Em đâu biết anh phải qua Châu Phi dạy để có nhiều tiền gửi cho Ba Mẹ và chúng em.

Anh vuốt đầu tôi:

- Không, em không có lỗi chi hết. Anh mới có lỗi đã để em một mình chịu bao nhiêu cơ cực. Anh thương em lắm. Anh sẽ về thăm em bất cứ khi nào có thể. Còn anh Hai chắc không về Việt Nam được vì anh đã trên 80 rồi. Hai anh em mình phải gắng thu xếp để sang thăm anh thôi, em hí. Sáng mai anh đi sớm, 5 giờ đã có mặt ở phi trường. Em 7 giờ phải không? Như rứa là cả nhà phải dậy từ 3 giờ sáng để anh Hai đưa anh đến terminal của anh rồi mới sang terminal của em. Em ngủ đi, đừng nghĩ ngợi chi nữa nghe. Anh luôn ở bên em. Ba Mẹ sẽ phù hộ cho mấy anh em mình mà.

Từ ngôi nhà ấm cúng 6 & 8 Lê đình Dương Huế, Ba Mẹ, anh em quấn quít sum họp mỗi ngày, chỉ trong nháy mắt Ba Mẹ, anh Hòa rồi Tịnh về phương trời khác, ba anh em còn lại mỗi người lưu lạc mỗi nơi. Từ ước mơ ngày nào đó gặp lại các anh cùng dưới một mái nhà, giấc mơ đã thành hiện thực và giờ đây hiện thực như mơ đó không còn nữa, nhớ thương nhau đành thông qua con đường ảo của máy móc điện tử. Đường xa vạn dặm, tuy biết có tiền là mười mấy tiếng đồng hồ sẽ nhìn thấy nhau nhưng sao khó khăn quá để thực hiện một giấc mơ khi càng ngày lực càng bất tòng tâm!

Sông Hương

Tôi và các anh chợt im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Dòng đời như dòng sông có sóng có mạch ngầm. Chỉ có điều chúng tôi không ngờ rằng có lúc những con sóng lăn tăn, khá bình lặng của dòng Hương Giang lại dâng cao, phá bờ ngập tràn gần như tất cả. Không phải chỉ tuổi thơ bị đánh cắp ở Quảng Bình mà khu vườn mộng mơ một thời tuổi xuân của Huế cũng chịu bao tang thương dâu bể. Nhưng anh em chúng tôi còn may mắn, nhờ cái gien Phật Pháp Ba Mẹ chúng tôi để lại với lời dạy « Vạn pháp giai không » và phần nào có lẽ cái ngành triết mà tôi theo đuổi trước 75, thấm thía cái ý thức về thân phận không thể chối từ của những kẻ bị lưu đày mà lòng dù muốn dù không cũng dần dịu lại.

Một ước mơ không ngăn nổi về một ngày mai «người biết yêu người» sau chừng đó bi thương tan nát khi đã chứng kiến và nếm trãi những chất ngất khổ đau, bi kịch cho cả một đất nước, đồng bào họ tộc… và cùng với hy vọng mơ hồ đó là ký ức rưng rưng về một dân tộc đã bao đời cứ hễ âm thầm ươm được một giấc mơ là vội kèm theo thất vọng có khi là tuyệt vọng. Nhưng biết nói gì hơn được, con người vẫn phải sống cùng với tuyệt vọng và những giấc mơ.
  
Nguyễn Tuyết Lộc


Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016

Bể Dâu (Phần 1)

GIỚI THIỆU
Xin hân hạnh giới thiệu đến quý Thầy Cô, quý Đồng Môn và quý Thân Hữu
Bài BỂ DÂU của cô Nguyễn Tuyết Lộc, cựu giáo sư trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Bài này hơi dài nên chia làm 2 phần (được sự đồng ý của tác giả). Xin quý vị vui lòng đọc tiếp Phần 2 (kỳ tới) để theo dõi "trọn vẹn" câu chuyện. Xin chân thành cám ơn.
Trân trọng giới thiệu.
NHHN


Năm 1997

Đây là lần đầu tiên tôi đi Mỹ thăm anh Hai tôi sau 22 năm xa cách kể từ 75.

Vào thời điểm nầy, không dễ dàng gì lấy được visa vào nước Mỹ. Thời Việt Nam đã “đổi mới” nhưng những ngăn trở, nghi ngại ở cả hai phía đối phương cũ chưa thể xóa nhòa. Những người vượt biên trước đây được xóa án, thậm chí được tiếp đón nồng hậu khi trở về thăm quê nhà với danh xưng rất đẹp: Việt kiều yêu nước. Mà họ yêu nước yêu dân thật sự đấy chứ. Thứ nhất, hầu hết ra đi vì bế tắc kinh tế và mối lo cho tương lai học hành nghề nghiệp của con cái chứ không hẵn vì chính trị chính em gì, vì những con em trong gia đình có người thân làm cho “ngụy quân, ngụy quyền”, hay thuộc diện “học tập cải tạo” (Ở tù không biết ngày về) – không được đến trường. Thứ hai, họ cũng lao động hết sức mình nơi quê người để kiếm tiền gửi cho thân nhân, đỡ một phần đất nước phải gánh vác.

Những năm 80 - 90, khi đưa tiễn thân nhân sang Mỹ theo diện HO hay ODP đoàn tụ gia đình người ta khóc lóc thảm thiết, đôi khi ngất xỉu. Họ nghĩ rằng sẽ không bao giờ còn thấy được người thân. Người ngoài, người trong, cách nhau chỉ một lằn vạch đỏ 5cm mà như xa muôn trùng, như ở hai thế giới khác nhau.

Anh chị Hai tôi đón tôi ở phi trường Kentucky, không có màn ôm nhau khóc hu hu, không mừng mừng tủi tủi, một phần tính anh Hai nghiêm khắc, phần khác hai anh em cách nhau hơn 20 tuổi, nhưng nhìn cách anh chuẩn bị đón em út rất chu đáo cũng biết là anh thương em lắm. Anh Hai cho biết anh Thạch cũng đang trên đường từ Paris bay qua New York rồi từ New York về thành phố nầy, chiều  mai anh Thạch sẽ đến, ba anh em sẽ được ở chung một nhà như hồi tôi còn nhỏ. Thích quá. Cuộc hội ngộ nầy chỉ có trong giấc mơ.

Trên đường về anh Hai lái xe “ngon lành” lắm, viu viu như thanh niên lái vậy. Tôi nhìn anh, nhìn chị. 22 năm! Tóc anh nhuốm màu muối tiêu, anh gần tám mươi tuổi rồi. Bỗng dưng mắt tôi hoe hoe đỏ, mũi tôi phập phồng, có cái gì đó chặn nghẹn cổ tôi. Tôi muốn khóc òa lên nhưng không dám khóc. Tôi thương anh tôi quá. Một thời vang bóng, năng động, sôi nổi nay sống nơi quê người chỉ hai vợ chồng già, con cháu mỗi người một bang chỉ gặp nhau trên điện thoại. Anh Hai tốt nghiệp tiến sĩ toán với bằng danh dự tại đại học Sorbone, tiến sĩ giáo dục học tại Mỹ.

Hình minh họa

Đây rồi xe dừng trước số nhà 2408 - Calm Lane – Louiseville, địa chỉ  mà tôi thường thấy trên những bức thư anh Hai tôi viết gửi về cho tôi với nét chữ thân thương. Không bao giờ anh viết thư cho tôi bằng vi tính, anh viết bằng bút máy mực đen. Anh chị dẫn tôi đi một vòng quanh nhà rồi bảo tôi lên phòng nghỉ ngơi.

Phòng anh chị ở basement, ba phòng ngủ tầng trên thì hai phòng dành cho tôi và anh Thạch. Anh Hai đã tự tay thay drap giường sạch sẽ tươm tất. Chuyến bay thật xa, mệt, tôi chỉ trông chui vào phòng để ngủ một giấc thẳng cẳng cho sướng cái đời, nhưng trăn qua trở lại ngủ không được.

Đêm Louiseville thật yên tĩnh, mọi người chung quanh đang chìm trong giấc ngủ. Trời se lạnh. Tôi choàng mền ngồi xem truyền hình bỗng thấy ngoài sân có tia sáng chớp chớp xanh đỏ. Tôi chồm người khỏi ghế nhìn ra cửa sổ. Cách nhà anh Hai một căn, chiếc xe cấp cứu to giống xe cứu hỏa, ba chiếc xe nhỏ của cảnh sát giống xe taxi, cảnh sát chạy lui chạy tới điện đàm, một người nằm trên chiếc băng ca được người ta đẩy vào xe cấp cứu, cô gái tóc dài mặc đầm ngắn, quàng khăn ấm chạy theo sau. Tôi vội xuống basement báo anh Hai biết, anh nói mở kênh địa phương xem lằn tin tức dưới ti vi thế nào họ cũng đưa tin, ở đây có chuyện gì xảy ra tivi đưa tin nhanh chóng lắm, dân địa phương thường theo dõi để kịp thời đối phó như sắp có mưa đá, lốc xoáy…

Đúng như anh Hai nói, tivi cho biết tại nhà 2412 Calme Lane, Louiseville, một thanh niên 37 tuổi chích ma túy quá liều rồi dùng súng bắn vào thái dương tự sát.

Đó là đêm đầu tiên tôi ở Mỹ.

Gần 12 giờ trưa thức dậy, tôi mở cửa đi bộ vòng vòng quanh nhà. Tất cả đều im ắng bình thường như không có chuyện đêm qua một người đã tự tử xảy ra. Rất nhiều cây xanh trồng thành hàng ngăn nắp. Nhà nầy biệt lập với nhà kia bằng những khoảng sân cỏ rộng không có hàng rào ngăn cách, trước nhà là đường một làn dành cho xe hơi, sau lưng nhà nào cũng có một khoảng vườn lớn, người thì dùng khoảng đất trống nầy để dựng hồ bơi di động, hình dáng đủ kiểu thật đẹp mắt được lắp ráp bằng những thanh gỗ, keo gắn kết, dây kẽm to bảng niềng lại rồi bơm nước vào, vườn nhà anh chị Hai thì để cỏ mọc hoang. Cuối biên vườn là rãnh sâu như con rạch nhỏ.

Thành phố Seatle, tiểu bang Washington

Tiếng lao xao gọi nhau trước sân nhà, khoảng năm sáu trẻ em độ chừng mười lăm tuổi, da đen có da trắng có, cả da vàng nữa đang chơi bóng chuyền, tôi cũng gia nhập, cũng hò hét. Bỗng tiếng anh Hai gọi:

- Tuyết  Lộc, vô ăn sáng rồi đi mall.

 Tôi ngồi vào bàn ăn nghe anh dặn tiếp:

- Chiều ni cả nhà đi đón chú Thạch, tối mới về. Ở đây O không nên lang thang ngoài đường gặp bọn da đen kiếm chuyện nó đánh. Da trắng kỳ thị lắm, thấy da vàng hay đen nó khinh, cũng kiếm chuyện. O không được vào nhà người lạ cho dù họ có mời vào mình cũng đừng vào. Mình vào rồi họ đóng cửa lại gọi police tới, bảo mình đã vô nhà họ bất hợp pháp là O bị còng tay dẫn đi ngay. Tóm lại, muốn đi đâu O nói với anh, anh đưa đi. Nghe O và chú Thạch  qua, anh đã lên chương trình cho ba anh em rồi, nơi nào cần đi anh sẽ dẫn đi để biết về văn hóa ở đây. O biết không, ở đây nhiều thứ căng thẳng lắm, ví dụ như trời đang nắng, ti vi báo sắp có mưa đá là mình phải lo tìm chỗ trú ẩn ngay. Vừa rồi anh được bảo hiểm đổi chiếc xe mới toanh vì trần xe của anh bị mưa đá làm lủng hết. Nhà phần nhiều làm bằng thứ dễ cháy chất liệu nhẹ, nếu cháy thì phải nhanh chóng thoát thân trước chứ ham lấy của cải thì cháy luôn cả người, cũng vậy nếu có lốc xoáy thì tìm góc nào đó dưới basement ngồi niệm Phật, nhưng không may lốc đã đến nhà thì chỉ có cách cuốn theo nó mà thôi, Phật không kéo lại nổi. Mưa cũng vậy, O thấy nhà cửa đẹp đẽ sang trọng ri chứ mưa lớn một trận là như lũ, nước tràn cả xuống tầng hầm, nước rút đi anh chị phải múc nước tát ra ngoài. Ống nước hư hay đường dây điện có vấn đề anh chị phải gọi người tới sửa chữa, tốn kém đã đành mà rất phức tạp khi thấy họ tháo banh mọi thứ ra, khi họ đi mình dọn dẹp cực lắm. Lúc còn trẻ, mình chịu được, lớn tuổi rồi cái chi cũng thấy mệt nên anh chị dùng đồ đạc phải rất cẩn thận, không hà tiện cũng như người hà tiện. Những ngày O và chú Thạch ở đây chị sẽ nấu cho cả nhà ăn, vì chỉ có chị dùng bếp ga, hỏng đâu chị biết đó. Tuyết Lộc đừng đụng vào bếp ga. Áo quần cũng để chị, cứ hai ngày chị bỏ máy giặt một lần, O rửa chén bát, anh làm tài xế nếu ngày đó anh không đi dạy, chú Thạch ưa cắt cỏ với anh thì cắt… Cỏ ở khu vườn sau nhà lên cao lắm rồi, anh chờ chú Thạch qua cắt đó.

Anh lên chương trình xong cả nhà cùng lên xe đến mall gần nhất. Mỗi người mua chi tùy thích. Anh nói đi chợ một lần để ăn hai ngày.

Anh Thạch vừa ra khỏi máy bay là đã có anh chị Hai và tôi đứng đón. Chị Hai cầm máy ảnh chụp lia lịa, tác nghiệp như nhà báo. Chị chụp nhiều kiểu để bảo đảm ba anh em Nguyễn văn Hai nhà tôi có ảnh đẹp lưu niệm, tôi luôn dành đứng giữa. Trên xe hai anh bỏ rơi tôi và chị Lãnh, hỏi chuyện nhau không ngớt. Anh Thạch cũng phải 25 năm mới gặp lại anh Hai. Anh là tiến sĩ vật lý đại học Toulouse. Từng  giảng dạy ở đại học Huế và khoa trưởng khoa học đại học Cần Thơ. Năm 1972 anh Thạch từ Đại học Cần Thơ đi tu nghiệp ở Pháp đến 1975 không về được phải làm giấy tờ bảo lãnh vợ con, 10 năm sau chị Ngọc Bích, tiến sĩ hóa và ba cháu qua Pháp định cư.

Tối đến cả nhà xúm nhau kể chuyện – chuyện cũ ôn lại là chính – rồi khóc cười với nhau, mà cũng không cần chuyện đời dâu bể loạn lạc, cứ nhớ tới ngày Ba Mẹ tôi ra đi cách nhau có 7 tháng, và nhìn mái tóc bạc của hai anh sau 20 năm xa cách, tôi không cầm được nước mắt.

Thành phố Louiseville, tiểu bang Washinton

Tôi nhắc lại chuyện chạy giặc năm 75 ở Đà Nẵng cho hai anh nghe. Bấy giờ chỉ còn thành phố và phi trường, quân đội Miền Bắc chưa tiếp quản. Các gia đình công chức đổ xô vào sân bay. Binh lính tự động tan hàng tùy nghi di tản. Dân chúng bỏ nhà cửa mang theo đồ đạc chạy xuống bến tàu. Người chạy đằng nầy kẻ chạy đằng khác, chạy lui chạy tới chứ không biết chạy đâu. Sự hỗn loạn đến với Đà Nẵng nhanh không thể tưởng, cướp bóc như rươi. Quân thất trận, dân lánh nạn từ các nơi đổ về đây chật cả đường sá. Đà Nẵng giống như lòng chảo nằm chịu trận.

Tôi và Tịnh, em trai út của tôi, đưa Ba Mẹ đến nhà anh Ngô Đồng, viện trưởng Viện Đại học Quảng Nam Đà Nẵng, nhưng chị Thanh Châu vợ anh Ngô Đồng bảo anh bị kẹt trong sân bay từ tối hôm qua, pháo kích “rát” quá anh không ra ngoài được, cả nhà đang chuẩn bị lên xe cam nhông do một trung úy binh vận quen biết cho quá giang  xuống bến tàu. Cả nhà tôi cùng gia đình chị xuống sông Hàn. Tại đây nhiều xà lan đã chất người quá tải nhưng họ vẫn chen nhau xuống. Xà lan theo đợt sóng giao động, xáp vào rồi dạt ra. Có người đang bước qua, hay đang chuyền con trẻ, gặp lúc xà lan dạt ra, người rơi xuống sông, xà lan xáp vào lại thế là họ bị kẹp ở giữa hai xà lan mà chết. Không ai để ý đến ai cứ thế đạp lên nhau tìm đường sống. Có người nói tướng lên cứ cắt dây là xà lan tự động trôi ra biển sẽ có hạm đội của Mỹ vớt. Họ đâu nghĩ rằng ngay cả lính Mỹ ở Đà Nẵng còn không kịp “xa chạy cao bay”, mặc quần tà lỏn mà chạy, nói gì chuyện chờ người Mỹ lo cho dân “An Nam” nhà mình.

Xà lan trôi thật nhưng trôi qua cảng Tiên Sa bên kia sông Hàn. Chúng tôi phụ nhau cõng Mẹ rời xà lan đi khoảng 2 cây số thì vào một trường học, ở đây dân đứng rất đông ngoài sân, hai tay đưa lên đầu, mặt mày tái xanh không còn chút máu. Chúng tôi cũng líu ríu tấp vào, vội vã đưa hai tay lên đầu … hàng. Trước mặt chúng tôi là hai chiếc xe tăng đang trờ đến.

- Trời ơi, Việt Cộng! Trốn Việt Cộng bên kia lại gặp Việt Cộng bên nầy.

Một bà hoảng hốt kêu lên.

Hai nòng súng xe tăng từ từ quay về hướng chúng tôi. Thế là hết đời, tôi hoảng hốt nghĩ và bỗng ớn lạnh cả xương sống, chân tay run lẩy bẩy muốn khụy xuống, miệng mồm méo xệch, nước đái chảy cả quần, liếc qua thấy Ba Mẹ vẫn thản nhiên không chút sợ hãi. Một vị chỉ huy xe tăng chạy lên phía trước nhìn đám đông, giọng Quảng  Nam:

- Các mẹ các chị, đồng bào đừng sợ, chúng ta đã hoàn toàn chiến thắng. Các em học sinh tình nguyện sẽ đưa gạo, sữa cho đồng bào rồi ai ở đâu thì về đó trình diện địa phương.

Đêm đó tiếng pháo kích không còn, tiếng súng chỉ lác đác xa xa. Chúng tôi vào trường học sau khi dùng tạm mấy gói cơm ăn liền, kê ghế sát nhau mà ngủ.

Dọc theo Tiên Sa người chết nằm la liệt, nhiều binh lính sĩ quan quân đội Sài Gòn cởi trần chỉ mặc chiếc quần đùi, ngồi bệt giữa đường, nét mặt thất thần. Hai chị em tôi thuê được một chiếc xe lam với giá cắt cổ đưa Ba Mẹ về lại nhà. Cửa nhà bị mở toang hoang nhưng trong nhà chẳng mất gi. Việc đầu tiên của tôi là đến trường Phan Châu Trinh trình diện. Còn Ba Mẹ tôi và Tịnh chờ nghe tin Huế im tiếng súng mới dám về lại Huế. Huế nói riêng và miền Nam Việt Nam đã thực sự sang trang.

Hai anh tôi ràn rụa nước mắt khi nghe tôi kể lại đoạn cả gia đình không biết sống chết thế nào cũng theo người ta nhảy đại lên xà lan chạy giặc. Theo lời anh Hai kể thì những ngày cuối cùng ở Sài Gòn cũng như Đà Nẵng mọi người nhốn nháo chạy xuôi chạy ngược. Anh phải lên Bộ Giáo dục ở đường Lê Thánh Tôn nhờ anh Tôn Thất Thứ là học sinh cũ trường Bán Công Huế làm việc tại Bộ, lục tìm bằng Tiến sĩ tốt nghiệp tại Mỹ của anh. Bằng cấp học vị của một người bấy giờ được xem như tờ giấy bảo lãnh, một điều kiện để người Mỹ “bốc” đi bằng máy bay. Và anh Hai đã đi cùng với gia đình bay đến đảo Guam bằng phi cơ vận tải quân sự.

Đảo Guam

Theo anh Hai kể lại thì Đảo Guam là chặng dừng chân đầu tiên trước khi chính phủ Hoa kỳ đồng ý cho định cư ở một nơi nào đó trên đất Mỹ. Khi đến Guam, mọi người đều dồn vào trại tị nạn dựng quanh phi trường gọi là “Thành phố lều” (Tent city), được phát áo quần của các hội từ thiện gửi đến cho, đủ màu sắc, đủ kiểu, rộng thùng thình mặc vào chẳng giống ai.

Anh chị và mấy cháu được ở trong một căn nhà dài, hẹp, cùng với những người khác. Hai bên kê hai dãy ghế bố, mỗi người một cái, giữa là lối đi. Gia đình ai nhiều người thì đặt ghế bố gần nhau, muốn che chắn kín đáo thì dùng màn. Sáng, trưa, mọi người đến điểm phát thức ăn, cầm bát sắp hàng dài dưới cái nắng gay gắt của đảo mỗi ngày hai buổi, đồ ăn được cung cấp rất đầy đủ. Ai có tiền thì vào quán. Nhiều người mang theo đô la, nhưng họ không biết mình sẽ ở đây bao lâu nên xài rất dè sẻn. Tối nào cũng chiếu phim trên bãi biển. Có báo in tại đảo bằng tiếng Việt, không dấu, nhưng chỉ đưa tin sinh hoạt, đời sống của người tị nạn chứ không có tin thế giới, làn sóng điện ở đây không bắt được đài VOA hay BBC.

Người nào muốn định cư ở Pháp, Úc, Canada, Đức, Mỹ… thì đăng ký. Ai có thân nhân ở các nước đó bảo lãnh thì đi nhanh hơn. Nhiều người đăng ký cả tháng vẫn chưa nghe gọi đến tên mình. Có người  chờ quá lâu, mà ở trại lại thiếu thốn tiện nghi nên họ nghĩ chẳng thà đi khỏi đây, đến được đất liền của Mỹ rồi ưa đi đâu thì đi. Có người chọn ở lại, gầy dựng cuộc sống mới tại Guam.

Người di tản đến đây ngày càng đông bằng thuyền hay bằng máy bay. Ca sĩ Kim Vui đóng trong phim Chân trời tím, lấy chồng Mỹ, định cư ở đây từ lâu. Cô làm tờ báo “Chân trời mới”. Anh Hai cũng gặp nhạc sĩ Phạm Duy di tản đến Guam bằng máy bay. Anh Hai không chịu nổi nắng gắt nên bị đau, bị kiết lỵ, người ốm tong teo tưởng chết ở Guam rồi, may sao hôm các cháu đưa anh lên trạm xá cấp cứu, một sĩ quan người Việt nhận ra anh Hai trước đây là thầy cũ của ông ta nên Ông  hứa lo cho anh Hai định cư sớm. Một gia đình đạo Tin Lành ở Mỹ đứng ra bảo lãnh gia đình anh Hai. Sau khi phỏng vấn xong chính quyền Guam cấp cho gia đình anh Hai mỗi người một tấm thẻ nhỏ I-94.  Anh bảo đây là bùa hộ mạng duy nhất cho người tị nạn Việt Nam được cấp khi vào Mỹ tạm trú, ai có tấm thẻ nầy là có thể xin việc làm nhanh chóng. Nhưng không chỉ có người tị nạn Việt Nam từ Việt Nam qua đâu, mà có cả người Việt Nam từ Lào qua Thái lan, rồi từ Thái Lan qua Guam.

Máy bay đáp xuống phi trường quân sự Eltoro, Nam Cali. Mỹ cũng đã mở cửa một số trại binh trong đất liền để đón người tị nạn. Vài hôm sau, gia đình người bảo lãnh đến đón gia đình anh Hai. Việc đầu tiên khi đến Mỹ là anh Hai gấp rút đi nộp bằng cấp xin dạy các trường Đại học, bất cứ bang nào. Anh Hai nói, gia đình người Mỹ theo Tin Lành nầy rất tốt, họ lo đầy đủ mọi thứ, chỉ có việc làm anh Hai lúng túng là sáng nào họ cũng dẫn anh đến nhà thờ Tin Lành gần đó, hoặc để cầu nguyện hoặc để gặp gỡ các vị chức sắc. Chỉ một tuần sau Đại Học Kentucky nhận anh Hai vào dạy. Cả gia đình anh bay sang Louiseville ngay không chần chờ nữa, một là tránh khỏi áp lực việc họ giúp đỡ mình để muốn mình phải theo đạo của họ, hai là ổn định việc học hành cho các cháu, Minh Hà, Minh Phương, Hoài Nhơn, Việt Anh, Minh Huyền. Còn Việt Sơn, du học từ 1970, đã xong Tiến sĩ Kinh tế và Việt Châu đang soạn luận án Tiến sĩ. Việc học hai cháu lớn xem như mỹ mãn.

Thời điểm anh em tôi gặp gỡ nhau sau 22 năm các cháu đã lập gia đình, có công ăn việc làm, có con cái hết. Anh Hai nói Việt Sơn lấy vợ người Mỹ, nó ăn rồi thích ở nhà chơi đàn piano, chứ không ưa đi làm. Anh phàn nàn mỗi lần anh chị đến thăm nó không biết rót ly nước mời cha mẹ. Ngược lại, vợ nó lại rất hồn hậu biết chăm sóc cha mẹ chồng. Còn Việt Châu, giàu nhất trong bảy anh chị em. Dưới quyền Việt Châu, Giám đốc sản xuất linh kiện máy tính các loại, có khoảng 125 nhân viên. Châu hiện đang ở và làm việc ở Silicon Valley, có vợ người Mỹ. Việt Châu hiếu thảo với cha mẹ, nhưng vợ Việt Châu theo anh mô tả không cần biết cha mẹ chồng là ai. Tôi định đùa với anh là “Thế gian được vợ mất chồng, được chồng mất vợ” như các cụ xưa hay nói, nhưng sợ anh nghĩ tôi muốn bênh cháu, lại nghĩ bụng có khi kiểu sống Đông Tây không dễ gì gặp nhau như ông nhà văn Kipling từng cảnh báo nên thôi không dám có ý kiến. Minh Phương xinh đẹp nhất nhà, tươi vui, dí dỏm là Giám Đốc một công ty lớn, mỗi lần hai đứa con của Minh Phương học piano, Minh Phương đưa con qua Canada, thuê khách sạn ở vài hôm rồi về lại Mỹ, mỗi tháng hai ba lần như vậy. Hoài Nhơn ít nói nhất nhà, tốt nghiệp ngành dược và làm ở phòng thí nghiệm, hằng ngày tiếp xúc nghiên cứu toàn những chất độc nên tiền lương rất cao nhưng luôn bị stress. Việt Anh áp út chỉ học hết cử nhân. Minh Huyền là út, tốt nghiệp hạng ưu Đại Học Havard bác sĩ khoa tim mạch nên được giữ lại trường giảng dạy. Xem ra dù với anh chị vẫn là cảnh “đất khách quê người”, nhưng còn hơn bao nhiêu gia đình trong nước, ngoài nước, anh chị thấy được sự trưởng thành, thành công của con cái.

Trường Luật, đại học Havard

Chị Hai kể: có lần nửa đêm chị mệt tim, anh Hai đưa cấp cứu bệnh viện thành phố Louiseville, bang Kentucky và báo cho Minh Huyền biết. Minh Huyền vội điện thoại gửi gắm mẹ cho Bác sĩ chuyên khoa tim mạch tại đây. Vì cùng ngành với nhau nên bác sĩ rất quan tâm. Bác sĩ bảo chị Hai ngồi trên xe đạp, đạp thật nhanh đến khi nào quá mệt không thể đạp nổi nữa thì nghỉ, lúc ấy họ sẽ kiểm tra nhịp đập của tim. Anh Hai thấy chị xanh mét mặt mày, còn mệt hơn khi chưa vào bệnh viện nên xin bác sĩ cho về. Bác sĩ không cho về bảo là còn kiểm tra nhiều thứ nữa, phải đúng nguyên tắc y khoa. “Một lần cho tởn tới già” hễ đau thì ráng chạy chữa ở nhà chứ không “dại” gì nhờ con cái gửi gắm đồng nghiệp vào bệnh viện nữa, càng quen biết càng bị hành hạ thân xác, đau nhẹ thành nặng thêm. Từ đó chị Hai không “dám” đau tim nữa.

Còn anh Hai, anh là người sợ bác sĩ nhất chỉ khi nào đau chịu không nổi mới tìm đến bác sĩ. Anh thường cẩn thận đọc toa thuốc, mở mạng xem tác dụng phụ của thuốc rồi bớt đi những thứ không cần thiết. Thuốc có hiệu quả ngay mà để lại hậu quả lâu dài, anh không uống. Kèm theo toa thuốc là một tờ giấy ghi danh sách dài lòng thòng các thứ không được ăn, thứ gì cũng”độc hại”, phải ăn những thứ bác sĩ cho phép. Anh bảo cử hết thì còn gì để ăn, cứ ăn, không sợ. Tụi bên nầy vậy đó. Hôm nay nó bảo Tylenol là độc dược, ngày mai Tylenol uống được không sao. Hôm nay cấm ăn đậu phụng, ngày mai nói đậu phụng tốt… Ui chao, đừng tin nhiều vào mấy cha bác sĩ bên nầy, họ chỉ hơn bên mình ở chỗ máy móc hiện đại thôi. Máy móc hổ trợ cho bác sĩ nhiều thứ lắm, chứ khám bệnh và cho thuốc, có khi lại thua bác sĩ Việt Nam.

Tôi cười, nói với anh Hai, anh đừng vội khen bác sĩ ở Việt Nam. Không phải ai mang danh xưng bác sĩ cũng giỏi, cũng có tâm giống nhau đâu. Tôi nhớ hồi đó đang đứng trên bục giảng bài thì lên cơn đau dạ dày dữ dội, đau tái mặt, mồ hôi lạnh vã ra. Học sinh đưa vào cấp cứu ở Bệnh Viện C Đà Nẵng. Bác sĩ Tưởng giám đốc bệnh viện, tốt nghiệp y khoa tại Liên Xô cũ, chẩn đoán tôi đau vùng thượng vị, phải chụp quang tuyến. Nhìn những tấm phim để trong khung đèn, bác sĩ Tưởng lấy cây bút và tờ giấy vẽ hình bao tử rồi cười nói với tôi:

- Không có gì để cháu lo. Cái bao tử của cháu chỉ cần cắt bỏ một phần ba thôi. Chú sẽ đục một lổ nhỏ bên hông, nối ruột già vào đó để cháu có thể đi cầu, tức là là hậu môn giả. Bây giờ là 11giờ trưa, cháu về thu xếp việc nhà chiều đầu giờ đến đây, tự tay chú sẽ giải phẫu cho cháu. Bây giờ hiện đại lắm, mổ ruột như cắt cổ gà không cần gây mê, chỉ chích thuốc tê vùng cần thiết. Chú mổ phần dưới bụng, cháu vẫn có thể trò chuyện được. Cháu đừng để lâu, đau lên đau xuống, mặt mày nhăn nhó, mất hạnh phúc gia đình.Tôi bị “sốc” khi nghe bác sĩ nói vậy, chỉ trong chốc lát, người tôi rệu rã, không còn chút sức sống nào nữa.


Bệnh viện C Đà Nẵng

Trên đường về tôi nghĩ mọi cách, cuối cùng tôi quyết định trốn qua Bệnh Viện Đa Khoa, nơi chuyên khám cho cán bộ công nhân viên, gặp Bác sĩ Thưởng là giám đốc bệnh viện. Tôi đưa hết mấy tấm hình X quang vừa chụp tại Bệnh Viện C cho bác sĩ xem. Bác sĩ Thưởng bảo tôi phải chụp X quang lại cho rõ ràng hơn rồi ký giấy cho tôi đi thử phân. Sau khi hội đủ giấy tờ xét nghiệm, phim ảnh dạ dày, bác sĩ Thưởng gọi hết bác sĩ khoa nội vào họp đột xuất. Ông chỉ từng tấm hình và nói:

- Nè, mấy anh xem nè, cái dạ dày của con người ta không bị chi hết mà chẩn bệnh trên lâm sàng xong, bảo đem con người ta lên bàn mổ. Làm ăn kiểu ni là chết con người ta còn chi. Thấy chưa.

Các bác sĩ vừa theo dõi phim vừa hỏi:

- Ai vậy thưa bác sĩ Giám đốc?
- Hừ, anh Tưởng tui coi bên Bệnh viện C chứ còn ai vô đây nữa.

Mọi người trố mắt nhìn nhau, lắc đầu không dám có ý kiến.

Bấy giờ tôi mới biết, hai vị bác sĩ Giám đốc hai bệnh viện lớn nhất Đà Nẵng, Tưởng và Thưởng là hai anh em ruột.

Quay sang tôi, Bác Thưởng nói:

- Cái dạ dày của cháu không đau chi hết, không mổ xẻ chi hết. Cháu bị con sán móc nó hành, bây giờ chỉ xổ sán là xong!

Ba anh em trò chuyện đến hơn 2 giờ sáng mà trời ngoài kia còn ánh nắng như mới 5 giờ chiều. Louiseville mùa nầy ngày dài hơn đêm. Anh Thạch xem bộ đã thấm mệt vì phải đổi qua mấy chuyến bay, hai mí mắt tôi cũng trĩu nặng. Chúng tôi chia tay về phòng ngủ.

Đến 12 giờ trưa cả nhà mới bắt đầu dậy. Thay vì ăn sáng chị Hai sửa soạn bữa ăn trưa luôn. Anh Hai lên chương trình ăn xong sẽ đi ngân hàng đổi tiền lẻ cho chú Thạch. Ngày mai chủ nhật, anh Hai sẽ chở  anh Thạch đến nhà thờ làm lễ lúc 5 giờ sáng. Anh Thạch rất cảm động khi thấy anh Hai chu đáo lo cho em từng cái nhỏ. Đến nhà thờ, nơi nào cũng vậy, người ta đi quyên tiền từng dãy ghế với cái túi vải có cần dài, con chiên kín đáo bỏ tiền vào đó tùy hảo tâm. Nhà thờ ở đây không lớn lắm giống Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng Sài Gòn, nhưng khung cảnh chung quanh rộng, thoáng, nhiều cây xanh rất đẹp, yên tĩnh. Vài ba người Việt đi lễ, còn hầu hết là dân bản xứ, thành phố nầy ít người Việt sinh sống. Trong nhà tôi chỉ mình anh Thạch theo đạo Thiên Chúa. Từ 75 anh qua dạy ở Côte D’Ivoire vì ở đây họ  trả tiền cho giáo sư thỉnh giảng về các môn khoa học cao hơn. Vào thời điểm đó anh Thạch cần nhiều tiền vừa để gửi về cho Ba Mẹ, hai em, vừa để phụ chị Thạch nuôi mấy cháu đang học Trung học, mặc dù chị Thạch vẫn tiếp tục dạy ở Đại học Cần Thơ từ ngày đất nước thống nhất. Khi chị qua Pháp, chị được nhận vào giảng dạy tại Đại học Paris ngay, anh Thạch cũng nghỉ dạy ở Côte D’Ivoire trở về dạy tại Pháp. Đến tuổi hưu trí, chị thường xuyên đi làm việc đạo. Ngoài Tiến sĩ khoa học, anh Thạch còn có tiến sĩ Thần học. Anh được cử làm Thầy Sáu có nhiệm vụ đến thăm nhà giáo dân nào đang cần sự giúp đỡ tinh thần, đôi khi anh ngồi lắng nghe họ nói giờ nầy qua giờ khác, rồi động viên an ủi tinh thần họ.


Đại học Ecole Polytechnique ParisTech

Anh Thạch kể:

- Có một bà lớn tuổi chồng vừa mất, Anh được cử đến đó để an ủi, chia xẻ nỗi đau của bà. Vừa bước chân vào nhà anh Thạch tự giới thiệu mình, chưa kịp ngồi xuống bà đã không ngừng kể lể, bao nhiêu tính xấu của ông bà khai vanh vách, chưởi ông không ra gì như muốn trút hết cơn giận ông vào anh Thạch. Ngày nào anh cũng đến chỉ để ngồi im nghe hằn học nói. Khi nào quá mệt bà không chưởi nỗi nữa thì thôi, anh về rồi mai lại đến nghe bà chưởi tiếp. Một tuần trôi qua, tật xấu của chồng bà kể đã hết, chưởi ông cũng đã chưởi quá nhiều rồi không còn gì để chưởi nữa, bà bắt đầu dịu giọng:

- Thầy ơi, lúc còn sống ông ấy tệ bạc với tôi lắm nên khi ông ta chết, tôi tức quá mới nặng lời. Ngày nào không whisky không được, ông ấy uống say nhèm, nôn ọe cả nhà rồi đập bàn xô ghế. Uống đến nổi bị xơ gan cổ trướng. Tôi chịu hết nổi. Chỉ có cái tật đó thôi chứ nghĩ đi nghĩ lại ông ta lo cho tôi nhiều thứ lắm. Khi tôi đau ông lái xe đi chợ một mình, rồi tự tay nấu cho tôi ăn. Tôi muốn gì ổng cũng chìu. Nghĩ lại mà thương ông, tội nghiệp ông lắm thầy ơi.

Bà bắt đầu khóc khi nhắc đến những kỷ niệm  đẹp hơn bốn mươi năm chung sống - Tôi nói thật với Thầy, nếu bây giờ còn sống, ông ấy cứ say mèm tôi cũng chịu còn hơn lẻ loi một mình tôi biết sống với ai? Con cái ở xa, nó có gia đình riêng của nó, lo cho gia đình nó còn không đủ nữa làm sao lo cho tôi.Anh Hai nghe vậy quay qua nói với chị Lãnh:

- Đó, mụ thấy chưa. Mụ cứ cằn nhằn tui hoài. Nè, có chú Thạch với O Lộc đây anh mới nói. Chuyện cha mẹ hai bên trong lúc trà dư tửu hậu, sắp đặt cho anh với cô Diệu hứa hôn lúc anhcòn nhỏ anh đâu có biết. Rứa mà mấy chục năm ở với mụ, có 7 đứa con mụ vẫn còn ghen. Có hôm 2 giờ sáng, anh đang ngủ ngon, ngày mai phải dậy sớm đi dạy rứa mà mụ không để anh ngủ yên, mụ nằm một bên rền rền, lí nha lí nhí. Chú Thạch biết rồi đó, mùa đông tuyết đóng băng lái xe phải rất chậm, rất cẩn thận không thì xe trượt, xe quay mòng mòng rồi lật mà chết. Anh tức quá dậy choàng áo ấm lái xe đi, mụ chạy ra đứng giữa tuyết gọi anh ơi ới. Anh phải ra khỏi nhà mụ mới thỏa bụng. Mà dạy ở bên nầy không giống bên mình, phải đúng giờ không được viện lý do nào đến lớp trễ. Chỉ cần sinh viên phàn nàn là họ cho nghỉ ngay. Sở dĩ đến tuổi nầy anh còn được mời dạy vì bộ môn của anh khó, ít người dạy, sinh viên rất thích anh dạy nhưng không vì thế mà để chúng muốn làm chi thì làm. Anh từng đuổi con của ông viện trưởng vì nó vào học mà miệng nhai kẹo cao su, ngồi gác chân lên bàn. Không được. Phải dạy cho chúng biết lễ độ với người đang đứng trên bục cao hơn chúng. Giữa cái bục ông thầy đứng và cái bàn chúng ngồi học có một khỏang cách, đó là khoảng cách Thầy và Trò. Sau chuyện nầy, ông viện trưởng cám ơn anh rối rít. Ông còn nói, chưa có giáo sư nào như anh Hai vừa dạy học vừa dạy tư cách làm người giữa một đất nước nổi tiếng tự do như nước Mỹ. Nhìn anh Thạch mặt mày nghiêm trang, tôi cũng làm bộ nghiêm nhưng vẫn lạ về vụ giận hờn của anh chị ở tuổi 80.

Chị Lãnh được dịp trút hết “bầu tâm sự” mà từ lâu chị chẳng có thể nói với ai:- O Lộc với chú Thạch biết giùm cho chị. Từ khi các cháu lập gia đình mỗi đứa ở mỗi bang khác nhau, nhớ con cũng không đi thăm được. Vì anh bận dạy lại không biết nấu cơm nước, ăn uống lại khó khăn, nấu ngon ăn nhiều, anh nói chị “ác”, muốn anh mập lên cho mau chết, mà nấu dỡ thì anh không ăn, vừa đói anh đã run tay run chân rồi.

Anh Hai chen vào cải chính:
- Tại mụ bắt anh phải ăn hết không được để thừa. Cái bụng của anh đâu phải thùng rác!

Chị tiếp tục:

- Từ khi ở với anh, anh cứ đi hoài. Hết đi công tác thì du học, học với học. Ở nhà không lúc nào tay anh rời cuốn sách và cây bút. Chị chỉ biết sinh con, chăm con, giữa hai vợ chồng chỉ nói chuyện về con, rồi thôi. O Lộc đã từng thấy rồi đó, trong chén cơm có lẫn một hột thóc là anh lùa từ đầu bàn tới cuối bàn rồi đứng dậy bỏ vào phòng, chị phải cúi xuống lượm từng mảnh vụn. Con cái thường ăn cơm với nước mắt. Qua đây, hằng ngày anh đi dạy chị ở nhà, lui tới, lên xuống như một bóng ma, trở thành người tịnh khẩu. Gọi điện thoại cho đứa nầy thì nó đang ngủ, không dám gọi, gọi cho đứa khác, nó đang làm việc. Mình thụ động chờ đứa nào gọi thì trả lời chứ không dám gọi. Cái nhà nầy, O Lộc, chú Thạch không biết rồi trách chị, mỗi lần có bạn hay học trò cũ gọi cho anh, anh mừng tíu tít cứ như là con nít gặp mẹ đi chợ về. Anh bảo họ cúp máy để anh gọi lại. Anh sợ người ta tốn tiền gọi mình, không nói lâu dài, thoải mái, để họ trả lần sau họ không gọi nữa mình biết nói chuyện với ai, chơi với ai. Mỗi tháng chỉ tiền điện thoại thôi cũng ngán rồi. Với con cái thì anh bảo để chúng gọi, chúng còn trẻ làm có tiền. Vừa nghe anh bệnh, vợ chồng giáo sư Nguyễn Văn Trường và Hồ Đắc A Trang, vợ chồng anh cựu viện trưởng Viện Đại học Huế Lê Thanh Minh Châu và Tăng Thành Trai, vài cặp vợ chồng khác nữa hẹn nhau cùng bay qua thăm anh. Họ quý mến nhau lắm.

Chưa hết mô, con cái đến thăm phải ở khách sạn. Anh sợ mệt, sợ  mất tự do với cháu với dâu hay với rể. Khi chúng đến phải báo trước giờ giấc xem anh có tiếp được hay không. Còn bạn, anh mời bạn đến ở lại chơi. Với chị không răng hết, ở mấy tuần mấy tháng cũng được miễn anh vui, nhưng anh đuổi chị ngủ phòng khác để bạn nằm với anh trên cái giường của hai vợ chồng, ai mà chịu được. Anh bảo lâu ngày gặp bạn hiền, nói chuyện cả đêm cho đã. Anh quý bạn còn hơn quý vợ.
Chị nói thật, anh có chuyện gì chị còn ở với con cái không đứa nầy thì đứa khác hay về Việt Nam ở với em út, gia đình của chị được, chứ chị đi trước anh, chắc anh vào nhà dưỡng lão đó. Nghe chị nói, tôi cảm thấy bồi hồi. Thương anh chị quá.

Ngoài anh Hai ở Mỹ, anh Thạch ở Pháp, tôi có một người chị đầu xuất gia lúc 7 tuổi tu tại chùa Sư Nữ Huế, pháp danh Thích Nữ Vi Diệu, chị đã mất. Một người anh ở Huế, và một em trai nữa ở Sài Gòn.Sau chị Vi Diệu và anh Hai, là anh Hòa tôi.

Trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng

Ngày đầu tiên quân đội tiếp quản Đà nẵng tôi đang dạy ở trường Phan Chu Trinh. Nhìn các chú bộ đội khoác tấm áo mưa bằng nilon tôi nhớ đến hình ảnh anh Hòa ngày tôi còn nhỏ, ở Mỹ Lộc, Lệ Thủy - Quảng Bình. Tôi và Mẹ theo Ba chuyển công tác từ Huế ra Mỹ Lộc – huyện Lệ Thủy. Anh Hòa và anh Hai đều cùng đi Vệ Quốc Quân theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp, rồi anh Hai về thành tiếp tục học trường Lycée Khải Định Huế, trường Polytechnique Hà Nội. Không biết anh Hòa đóng quân ở đâu mà thỉnh thoảng tôi thấy anh về nhà thăm Ba Mẹ khi trời chập choạng tối. Dáng anh cao, gầy, nét mặt thư sinh, mặc áo quần bộ đội, nón tai bèo, mang dép đen quai chéo gọi là dép Bình Trị Thiên. Anh lẩn quẩn bên tôi, Ba Mẹ một lát rồi đi, mang theo thức ăn và tiền Mẹ cho, quàng vội chiếc áo tơi bằng lá dày, mưa bên nào quay bên đó. Nụ cười hiền hòa, anh kể chuyện huyên thuyên, luôn là chuyện vui, không bao giờ nghe anh kể chuyện buồn khổ, khó khăn. Anh về chỉ một ít thời gian hạn hẹp mà trong nhà như ấm hẵn lên, như vui hẵn lên. Mẹ biết con mình thoát ly đi kháng chiến là trăm bề thiếu thốn, gần gủi với cái chết của bom đạn. Mẹ không nói ra nhưng Mẹ lo ngày lo đêm, nhất là mỗi khi nghe tiếng súng Tây bắn qua, Việt Minh bắn lại. Cậu Nguyễn Ngọc Lễ cũng hay về thăm. Cậu là em nuôi của Mẹ, con nhà nghèo Mẹ đem về nuôi cho ăn học. Cậu đi lính Khố Xanh Khố Đỏ rồi mang lon trung úy - sau nầy là trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ, người vợ đầu tiên chính thức của cậu Lễ do Mẹ đứng ra lo cưới hỏi là em gái của Ông Võ Nguyên Giáp - Có khi lính Tây và bộ đội Việt Minh gặp nhau trong một nhà, ăn cơm chung một mâm, ngồi chung một chiếu, chuyện nổ như bắp rang, xưng hô cậu cậu cháu cháu thân mật. Cậu còn đùa:

- Khi mô hành quân thấy người nào lùn, đen thùi lùi là cậu đó, con đừng bắn cậu nghe chưa?
- Còn con thì răng ? Anh Hòa cười. Bộ đội đứa nào cũng còm cỏi như con làm răng cậu nhận ra con mà chừa không bắn? Rứa thì cậu thấy bộ đội, cậu tránh đừng bắn bộ đội hí. Lần về cuối cùng anh Hòa không còn vui như trước. Khi chia tay anh  ôm Mẹ mếu máo khóc, bồng tôi ngồi trên chân anh, ôm chặt tôi, giọng nghẹn lại:

- Anh thương em lắm. Ở nhà nghe lời Mẹ hí, mai mốt anh về.

Từ đó tôi không còn thấy anh, anh Hòa không về nhà nữa cho đến 30 năm, sau hai cuộc chiến tranh chống Pháp rồi chống Mỹ.

Những năm anh Thạch du học Pháp, liên lạc được với anh Hòa biết anh đã tập kết ra Bắc được nhà nước cho đi học triết ở Mátxcơva, về dạy Đại học Hà Nội. Thời đó thư từ giữa Pháp và Hà nội không khó lắm nên anh Thạch thường gửi carte-postale cho biết tin tức Ba Mẹ, gia đình nhưng tuyệt đối không nhắc anh Hai vì anh Hòa là đảng viên, vấn đề lý lịch rất khắt khe đã đành mà liên lạc với “người trong đó’’ càng khắt khe hơn nữa nhất là anh Hai khi ấy giữ những chức vụ lớn trong chính quyền Ngô đình Diệm. Anh Thạch báo tin lại Ba Mẹ. Ba Mẹ rất vui mừng biết con mình còn sống và cũng ở trong ngành giáo dục. Anh Thạch còn cho biết anh Hòa đã có vợ, hai con khi tập kết vào Quảng Ngãi nhưng khi ra Bắc thì mất liên lạc với vợ. Anh Hòa cho anh Thạch địa chỉ tại Quảng Ngãi nhờ gia đình giúp đỡ tìm vợ con. Khi anh Hai ứng cử dân biểu quốc hội Bình Định, nhờ người tìm em dâu và hai cháu, nhưng hai con anh Hòa bị bệnh thương hàn, không thuốc men đã chết. Còn chị Hòa được anh Hai đưa về ở với Ba Mẹ khoảng ba năm. Ba Mẹ cho chị đi học may rồi chị xin phép về quê sinh sống. Biết tin vợ quá trễ, anh Hòa chuyển công tác dạy Quảng Bình, đã lập gia đình với một chị hoạt động ở Lào.  Anh chị có ba người con.

Nguyễn Tuyết Lộc

(Xin đón đọc Phần 2 vào kỳ tới - Xin chân thành cám ơn)


Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Cố Họa Sĩ Bửu Chỉ

GIỚI THIỆU
Họa sĩ Bửu Chỉ sinh ngày 08 tháng 10 năm 1948. Tốt nghiệp Cử Nhân Luật, Đại Học Huế. Tự học vẽ, chuyên về sơn dầu. Là một họa sĩ thành danh, triển lãm tranh ở nhiều nơi trong nước và hải ngoại.
Qua đời ngày 14 tháng 12 năm 2002. Hưởng dương 54 tuổi.
Trân trọng giới thiệu.
NHHN


Họa sĩ Bửu Chỉ
(Hình trong bài lấy từ Net)
(Xin click vào tất cả hình để xem rõ)

Khi nói đến Bửu Chỉ tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Từ khi Chỉ còn là một cậu bé hay khi Chỉ đã trưởng thành qua bao sự cố đời riêng và thăng trầm lịch sử, hay tập trung vào những năm cuối đời? Quan hệ của Chỉ và tôi là một mối thâm tình, lâu dài, xuyên suốt. Tuy có những đoạn đời vắng nhau, nhưng thông tin về Chỉ thì không thiếu.
Bửu Chỉ là em trai út của chị dâu tôi, Công Tằng Tôn Nữ Hà Lãnh, cũng là em ruột của Hồng Vân, Hồng Thủy, bạn trang lứa với tôi. Suốt thời gian từ mẫu giáo đến trung học Chỉ đều ở lại nhà tôi để ăn trưa, nghỉ ngơi, đợi tối mới cùng các chị về lại nhà riêng ở tận mãi Vỹ Dạ.

Mỗi chặng đường của Chỉ đều có một ý nghĩa và những thú vị riêng, nhưng tôi vẫn thích nhắc đến tuổi thơ của Chỉ, nhắc đến một cậu bé nhỏ nhắn, mái tóc đen rậm, và đôi mắt không mấy lớn mà vẫn căng hết sức muốn thu cả thế giới vào. Tuổi thơ Chỉ song hành cùng tuổi thơ tôi, đó là thời gian thơ mộng nhất, đẹp nhất của tôi ở Huế.
Nhà Ba Mẹ và nhà anh Hai tôi, tức anh rể Bửu Chỉ, ở số 6 - 8 Lê Đình Dương, ngay góc đường Lê Lợi. Con đường nhỏ, ngắn, dẫn đến bờ sông Hương tuyệt đẹp, lại cách Đài Phát Thanh Huế và cầu Tràng Tiền thêm một con đường ngắn với hàng cây đoát cũng dọc bờ sông Hương mà một số bạn thân của tôi bấy giờ đặt đùa theo tên tôi: “Giang sơn Tuyết Lộc”.

Cùng hai chị Hồng Vân, Thanh Thu đang học Đồng Khánh, Bửu Chỉ thường ở Vỹ Dạ đi bộ đến nhà tôi từ sáng sớm, nhập bọn với các cháu tôi, Minh Hà, Minh Phương, Việt Sơn, Việt Châu... gọi Chỉ bằng cậu. Niên khóa này rồi niên học khác, hình thành cái đuôi sắp hàng một, theo chị Hà-Lãnh qua Trương Định tới trường tiểu học Lê Lợi. Lúc còn học lớp ba, Chỉ khoảng bảy, tám tuổi, nhưng tính tình khác bạn cùng lớp, không năng động, chạy nhảy, đùa cợt quá mức. Về nhà, ăn cơm xong Chỉ lấy trong túi quần hai viên bi, lum khum đào một lỗ nhỏ rồi chăm chú bắn bi hàng giờ liền. Hết chơi bắn bi thì lấy bút chì, tập giấy ngồi vẽ. Vẽ hình nào ra hình đó, đường nét rõ ràng, bố cục chặt chẽ. Vừa nhìn con chó nằm ngủ mơ màng trên bực thềm, Chỉ vừa phác họa, vài nét thôi là giống hệt, từ dáng nằm thoải mái, cho đến cái mõm chuồi ra, đôi mắt khép hờ với hậu cảnh là bức tường thấp trước nhà tôi, phủ đầy hoa ti gôn xinh xắn. Cũng vào năm Chỉ học lớp ba, bức tranh màu “Hai con gà trống chọi” do Chỉ vẽ được giải nhất trong cuộc thi tranh nhi đồng toàn quốc, triển lãm tại Sài Gòn.

Họa sĩ Bửu Chỉ

Tuổi thơ có những cái hồn nhiên thật… hết biết. Có lần, Chỉ thấy o Thí, người giúp việc trong nhà tôi, vội vã đi ra vườn sau, Chỉ lật đật chạy theo. Bỗng nghe tiếng o Thí cằn nhằn um sùm. Tưởng có chuyện gì, tôi cũng chạy sau Chỉ. Chỉ nằm xổm như con ếch, nghiêng đầu sát đất nhìn o Thí… tè. Tôi lật đật thối lui, bụm miệng cười. Vài ngày sau, đi học về, Chỉ kéo tôi ra một góc vườn và rút tờ giấy vẽ hình chi chít màu đen:
 Đố chị Lộc, Chỉ vẽ cái chi?
Như thường lệ, vẽ xong tranh nào Chỉ cho tôi xem để bình luận màu sắc, nội dung, nhưng lần này tôi không đoán ra nổi.
 – Vẽ chi một đống sợi bùi nhùi rứa, ai mà đoán được.
Chỉ lên giọng đắc thắng:
 Thua chưa! Hến o Thí đó!
 Trời! – Tôi la lên – Tầm bậy tầm bạ, xé đi. Anh Hai thấy thì chết. Xé mau đi.
Chỉ lẫy:
– Mắc mớ chi mà xé. Cái hến cũng như cái miệng cái mũi, có chi ốt dột mà xé. Chị mới tầm bậy tầm bạ đó.
Chịu lý của công tử họ Bửu thôi, và đó là lý do dù rất cân nhắc, tôi quyết định giữ lại chi tiết độc đáo này sau khi đã tẩy xóa bản thảo mấy lần, không khỏi thầm nghĩ có khi đây là phát tiết một quan niệm hiện thực nào đó về nghệ thuật của chàng họa sĩ bé con sau này chăng – không rõ có liên quan chi tới trường phái hiện thực xã hội chủ nghĩa hay không!

Sau lưng nhà tôi là vườn hoa, hòn non bộ chính tay mẹ tôi chăm sóc, tạo dáng, chiết cành, tìm tòi mang về, phần lớn “kỳ hoa dị thảo” đều do chú tôi, ông Nguyễn Văn Yến (Morin Nguyễn Văn Yến) mang biếu, có một cái chõng tre lớn để mỗi chiều chiều Ba ngồi uống trà, Mẹ ngâm thơ hay đàn tranh những bài Bà vừa sáng tác cho Ba nghe.
Bửu Chỉ thích ngồi im lặng một góc nào đó trong vườn hàng giờ liền không biết chán, đôi khi tay chống cằm như “ông cụ non”, đôi khi hai tay bó gối, Chỉ im lặng và im lặng. Lạ lùng thật với độ tuổi hiếu động đó! Không hiểu trong cái đầu bé nhỏ kia đang suy nghĩ điều gì ghê gớm, bí mật, làm tôi không khỏi tò mò, nhưng cậu ta chẳng bao giờ thổ lộ với ai, dù với bạn bè hay anh chị.
Đó là một cậu bé cô đơn. Rất cô đơn!

Ám ảnh thiện và ác

Có những chiều thứ bảy, chủ nhật, tôi lại xuống tận nhà Chỉ ở Vỹ Dạ để chơi với Hồng Vân, Hồng Thủy. Nhà tôi chỉ có bốn anh em trai, riêng tôi là gái, không có chị nên tôi thường hay chơi với Hồng Vân, Hồng Thủy từ khi gia đình tôi ở đường Âm Hồn và nhà Chỉ còn ở đường Bộ Học, Thành Nội. Chúng tôi chơi nhảy dây, ô làng, múa hát. Tính Hồng Vân rất hiền, người mủm mỉm tròn quay, tóc búp bê. Tôi vẫn gọi Hồng Vân là Hột Mít. Ngay cả khuôn mặt của Hồng Vân cũng “tròn vành vạnh như cánh tía tô”, nhưng nổi bật nhất trên khuôn mặt luôn thơ ngây đó là đôi mắt bồ câu, tròn đen như hai viên bi lóng lánh và nụ cười tươi với chiếc răng khểnh rất duyên. Cho đến sau này, lúc đang dạy ở trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng, mỗi lần về Huế gặp Hồng Vân đang dạy ở trường Quốc học, tôi vẫn gọi “Ê, Hột Mít!”, chiếc răng khểnh lại lộ ra, nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ, và đôi mắt đen... chớp chớp. Hồng Thủy là chị Hồng Vân, “tửng tửng”, cô nàng lẽo đẽo theo chúng tôi, nhìn chúng tôi chơi, tủm tỉm cười một mình. Cô nàng không tham gia, cũng không trò chuyện, chỉ cười và cười! So với hai chị em bạn này thì tôi nhiều tài vặt hơn, giúp vui cho cả nhóm. Tôi khoái múa hát và biết cả làm thơ. Ngay từ năm đệ thất, đệ lục, tập tễnh làm thơ, đệ ngũ, tôi đã gửi thơ đăng báo Văn Hóa Ngày Nay của nhà văn Nhất Linh, báo Văn Nghệ Tiền Phong, Phổ Thông của Nguyễn Vỹ. Có bài thơ nào mới ra lò, tôi đọc cho Chỉ nghe, cậu ta cũng chăm chú tỏ vẻ hiểu... Ôi! Ai mà biết trong cái đầu đang gật gù đó, cậu ta thực sự nghĩ gì!

Bửu Chỉ là con trai út trong một gia đình mười bốn người con, nhưng từ nhỏ đến lớn Chỉ ít trò chuyện, gần gũi hay tâm sự với anh chị trong nhà. Tôi có cảm tưởng trong gia đình có tiếng bề thế này, mỗi người là một thế giới riêng. Bửu Chỉ cô đơn trong một khu vườn rộng lớn, cây cối um tùm bên bờ sông Hương. Những căn phòng thường xuyên cài chặt cửa. Tất cả đều khép kín. Mỗi bước chân gần như rón rén. Mọi lời trao đổi đều thì thầm. Với tuổi thơ tôi, ngôi nhà Chỉ như có điều gì u uất, bí ẩn. Và Chỉ thường lang thang hay ngồi vẽ trong bầu không khí tĩnh mịch đến lạnh lùng đó.

Một hôm, đang chơi ngoài sân với Hồng Vân và Hồng Thủy, tôi bỗng nghe tiếng cười lanh lảnh, kỳ lạ, rờn rợn cả người từ bên trong căn phòng luôn khép kín vẳng ra. Tôi hoảng hốt níu tay Vân hỏi:
– Chi rứa Vân?
Vân tỉnh bơ:
– Có chi mô mà sợ, mấy chị đánh lộn nhau đó. Ngày mô cũng rứa, giành ăn rồi nắm tóc nhau mà đánh.
Tôi mở to mắt:
– Hả? Răng lạ rứa? Tụi mình vô coi đi.
Vân nói nhỏ:
– Chú Mạ (anh chị em Chỉ gọi cha mẹ là “chú mạ”) không cho ai vô đó mô. Mấy chị bị… điên.
Tôi giằng tay Vân:
– Cho mình dòm một chút xíu thôi rồi ra.
Vân kéo tay tôi:
 – Không được. Chú mạ thấy tụi mình vô đây là chết.
Tôi đi giật lùi, không buồn ép bạn nữa. Cái chi tiết bi kịch bất ngờ và khuôn mặt ngây thơ, bộc bạch của Hồng Vân tương phản một cách lạ kỳ, và hằn sâu mãi trong ký ức thiếu nữ của tôi.

Tranh sơn dầu của họa sĩ Bửu Chỉ

Mùa hè năm 72 mà có người gọi là mùa hè đỏ lửa, người dân bỏ Huế bằng mọi phương tiện: xe đò, xe hơi nhà, xe đạp, xe gắn máy, gánh gồng đi bộ vượt đèo Hải Vân chạy vào Đà Nẵng, họ đi ngày đi đêm khi nghe ở Quảng Trị hai bên quân Miền Bắc và Miền Nam đang giao tranh ác liệt. Người ta sợ như hồi Mậu Thân, không kịp chạy thoát.
Anh chị Hai và mấy cháu vào trước cả mười ngày tại nhà tôi ở Đà Nẵng. Riêng anh Hai đến khu nhà Nguyễn Hiền, nơi dành cho những quan chức cao cấp thời đó, có lính canh gác cẩn mật. Gia đình Bửu Chỉ vào sau. Tôi phải lấy thêm phòng ở khách sạn OK, ngay trước nhà để gia đình Chỉ ở. Nghe mạ của Chỉ kể, giọng còn thất thần:
– Người ta đạp lên nhau mà chạy, mà chết, có người, có xe, rơi từ đèo Hải Vân xuống vực mà chết. Tui chưa thấy chiến tranh mô mà chết lạ lùng như ri hết, nhìn thôi cũng đủ giảm thọ chị ơi.
Anh Bửu Kỉnh kể chi tiết hơn:
– Khi tỉnh Quảng Trị bị Việt Cộng chiếm một phần, dân ngoài Quảng Trị ào ào chạy vô Huế theo quốc lộ 1. Việt Cộng pháo liên tục trên con đường này làm dân chết quá trời. Người ta gọi đây là Đại lộ kinh hoàng.
Anh Bửu Kỉnh rùn vai, lè lưỡi rồi kể tiếp:
– Dù chết họ cũng chạy vô Huế. Tuyết Lộc biết không, đoạn đầu của đoàn người ở cửa An Hòa là cửa phía Bắc của Huế thì đoạn cuối của đoàn người này ở tận Phong Điền giáp ranh tỉnh Quảng Trị. Việt Cộng lại pháo vào Huế từng giờ một. Không biết bao nhiêu là kiểu chết: chết đạn lạc, chết bom rơi, chết pháo canon, chết cháy, chết xe cán, chết vì xô đẩy nhau rớt đèo, rớt tàu. Huế không còn chính quyền nữa. Huế loạn cả lên, dễ sợ lắm Lộc ơi. Gia đình chú mạ anh theo những người chạy giặc băng qua Dạ Lê, Phú Lương, Phú Bài, Truồi, Cầu Hai, Phú Lộc, Lăng Cô vượt đèo Hải Vân vô đây, tưởng đã bỏ mạng dọc đường.

Gia đình Chỉ mười mấy người. Tôi cẩn thận dặn dò người giúp việc lo cơm nước tươm tất cho gia đình ông bà cụ. Trưa hôm sau, ông bà vừa chuẩn bị dùng cơm, tay chưa kịp cầm đũa thì vợ anh Kỉnh từ ngoài chạy xộc vào bất ngờ nhảy tót lên, ngồi ngay trên mâm cơm. Quá kinh hoàng trong chuyến “chạy giặc” từ Huế vào, chị Kỉnh “lên cơn” luôn! Ngày nào chị cũng thuê xe xích lô ra phố, bảo chú xích lô dừng trước các cửa hàng bán quần áo, chị vào chỉ chỏ và bảo người ta lấy áo quần ra thử, xáo hết vải vóc hàng hóa của người ta rồi lên xe đi tiếp. Đến gần tối chị về lại khách sạn và gọi ông bà ra trả tiền xe.


Tranh về phụ nữ

Bửu Chỉ ra trường Đại học Luật năm 1971, cũng là năm phong trào chống chiến tranh lên cao trong khi hai phía chính quyền Bắc, Nam đang tiến đến ký kết hiệp định Paris. Người thì gầy ốm, chẳng cao bao nhiêu mà giọng nói lại sang sảng. Chiếc mũ bê-rê luôn gắn lệch trên đầu, Bửu Chỉ hăng hái, say mê đứng vẽ tranh biếm họa dọc tường của trường Đại học Khoa học và trường Đại học Văn Khoa, tức khu Morin cũ, hay cùng các bạn sinh viên xuống đường, tổ chức những đêm không ngủ hô hào chống chiến tranh. Chỉ thường nói “Khi bạo lực còn tồn tại, thì đấu tranh chống bạo lực vẫn còn tiếp diễn.

Năm 72 là năm Bửu Chỉ bị bắt cùng một số sinh viên tranh đấu khác. Chính thời gian 4 năm trong tù – từ 1972 đến 1975 – là thời gian Bửu Chỉ dùng bút sắt, mực đen để vẽ tranh, những bức tranh mô tả tù nhân tuy đã bị xiềng xích nhưng vẫn mạnh mẽ vung cao tay hô hào phản chiến. Các loại tranh này đã làm Chỉ nổi tiếng không những trong mà cả ngoài nước. Sau này, Chỉ tập hợp những tranh vẽ bằng bút sắt lại thành một tập, đặt tên là “Mặt trời tự do”, cũng để ghi dấu bốn năm trong nhà tù.

Việc một số người bị bắt được thả ra sớm, trong khi Bửu Chỉ vẫn bị giam giữ hơn bốn năm, đã phần nào nói lên tính khí, thái độ bất khuất và đầy thách đố của Chỉ. Bốn năm! Vậy mà chưa bao giờ tôi nghe Chỉ kể lể, vẽ vời tự hào gì về thành tích đấu tranh và những ngày đắng cay trong nhà tù của nền đệ nhị cọng hòa. Và có lẽ câu nói “độc đáo” đúng phong cách Bửu Chỉ “Moi là thằng luôn khinh bỉ quá khứ” (trích dẫn lại từ bài viết “Kẻ thách đố chính mình” của Nguyễn Thanh Văn - “Tranh Bửu Chỉ”, nhà xuất bản Trẻ và Công ty Văn Hóa Phương Nam 2003) nói rõ thái độ sống minh bạch, nhất quán của Chỉ: không ăn theo và ngủ quên trên dĩ vãng. Thực khác xa những trò bịa đặt công trạng, tô vẽ quá khứ, cả hiện tượng cướp công của đồng đội đồng chí, chưa nói tới một ngàn lẻ một chuyện của đám người mà dân chúng gọi bằng cái tên khinh bỉ là các nhà “cách mạng 30”.

Năm 75, gia đình cha mẹ Bửu Chỉ từ Vỹ Dạ chạy xuống biển Thuận An, lúc bộ đội đã kiểm soát gần hết thành phố Huế. Người ta tìm đường di tản bằng thuyền, tàu, ghe, họ xô nhau, đạp lên nhau tìm đường sống. Bãi biển Thuận An đầy đồ đạc, xe cộ, tủ lạnh… Người ta cố mang theo được cái gì thì mang, cuối cùng thì bỏ của chạy lấy người. Lại thêm một bi kịch cho gia đình Bửu Chỉ: hai người chị bị tâm thần của Chỉ vì chạy chậm nên thất lạc và mất tích luôn. Điều tình cờ là trong hai cuộc chạy loạn của gia đình, Bửu Chỉ đều không có mặt vì vào 1972 Chỉ bị bắt và vào năm 1975 Chỉ đang ngồi tù.


Nghĩ về thời gian

Nhiều người thuộc thế hệ sau và anh chị em miền Bắc – đặc biệt là những người nhìn vấn đề dưới nhãn quan tuyên truyền “chính thống” – khó hiểu được hành trạng và thái độ xã hội của nhiều trí thức ở các đô thị miền Nam. Thật ra trong phong trào đấu tranh ở đô thị và miền Nam nói chung có sự đóng góp nổi bật của tầng lớp trí thức ưu tú đến từ nhiều nguồn. Họ có văn hóa cao, tri thức hiện đại, tiếp cận tư tưởng dân chủ, đấu tranh cho dân quyền và nhân quyền, không chỉ khẩu hiệu cơm áo, người cày có ruộng… Tất nhiên họ hoàn toàn đồng cảm, đồng tình những yêu cầu thiết thực này của đồng bào lao động của mình. Đa phần có mức sống sung túc từ dịch vụ trí thức chuyên môn của họ. Nếu không phải là tất cả, thì phần lớn không có gì phải xấu hổ với lương tâm, không việc gì phải “sám hối”, “đền tội”. Đấu tranh chống độc tài và quân phiệt của hai nền đệ nhất và đệ nhị cộng hòa với họ là một hoạt động công khai, tiến bộ, tất nhiên và tất yếu của một công dân có ý thức, có “niềm tin cộng hòa” chân chính và cũng với ý thức và niềm tin trong sáng, “thuần túy’ này – không vì quyền lợi cá nhân hay ý chí áp đặt chủ nghĩa, tín điều cực đoan lên ai – nên không có gì ngạc nhiên cũng chính họ đã bày tỏ công khai thái độ không ủng hộ giáo điều chính trị và chính thể độc đảng sau 1975. 

Họ – dĩ nhiên tôi muốn nói tới những người trung thực và xuất sắc nhất, nói riêng nhóm bạn thân mà tôi trực tiếp biết và hiểu rõ – không phải là hạng người không có nguyên tắc chính trị và không “trung thành’ với lý tưởng của họ, mà ngược lại theo tôi chính họ mới là người có nguyên tắc – tiếp tục đấu tranh cho giấc mơ dân chủ cộng hòa chân chính, phổ quát. Và chính họ mới thật sự trung thành với lý tưởng công dân của mình – trung thành với nhân dân và đồng bào, không phải với giáo điều và lý tưởng độc tài từ bất cứ phe phái nào!
Sự chọn lựa dường như phức tạp của Bửu Chỉ là một ví dụ!

Cụ Ưng Thuyên thân sinh của Chỉ là một họa sĩ nghiệp dư, tuy cụ không viết sách, làm thơ như ông anh ruột là cụ Ưng Bình Thúc Dạ Thị, nhưng tài vẽ tranh của cụ được nhiều người biết và thích. Cụ thường vẽ chân dung con gái, tĩnh vật và cũng là người đặt lời ca Huế, nam ai, nam bằng, lưu thủy, hành vân. Đối với tôi việc Bửu Chỉ sau này trở thành họa sĩ nổi tiếng không có gì đáng ngạc nhiên vì có thể nói Chỉ đã biết vẽ ngay từ trong bụng mẹ qua dòng máu tài hoa của thân phụ.

Lớn lên trong một gia đình có những điều kiện thuận lợi hơn những người khác để phát triển tri thức và tài năng, đồng thời Chỉ cũng phải chia sẻ một bầu không khí có thể nói rất ảm đạm, Chỉ không muốn ai tìm hiểu gia đình mình và cách sống cũng khá khép kín trừ những quan hệ thân thiết. Chỉ nổi loạn trong sáng tạo, chính trị, tình yêu, tình dục, hay đấu tranh cho một lý tưởng xã hội – dù đúng đắn hay cực đoan – cũng không có gì khó hiểu. Chỉ đã nổ bùng từ tài năng đến tính khí là một logic tất nhiên. Tài năng ắt phải hình thành từ năng khiếu, công phu hơn người, và một tính cách quyết liệt – từ mà Bửu Chỉ thường dùng – hẳn phải gắn xa gần với một số phận dữ dội nào đó của bản thân hay họ tộc. Nói lên những nét tối trong bối cảnh lớn lên của Bửu Chỉ – có thể sẽ chạm vào tình cảm những người từng gần gũi với tôi – không phải để bỏ sót những thuận lợi, những điểm sáng Chỉ nhận từ họ tộc, mà chỉ để lý giải thêm những mặt độc đáo, khác người tronrg tính cách Bửu Chỉ.

Nghiệp chướng

Tất cả đổi thay như một chuỗi giấc mơ. Sau 75, tôi rời Đà Nẵng vào Sài Gòn, trở thành người “mất dạy”. Tôi dùng thời gian vừa chăm sóc cha mẹ già, vừa viết cho các báo và tạp chí. Trước đó khi nghe tin Chỉ ra tù vào năm 1975, tôi rất mừng, lại càng mừng hơn khi biết tin chàng ta đã rục rịch sáng tác trở lại, dù trong lòng có ý e ngại không rõ không khí sáng tạo trong chế độ mới có phù hợp với con người đầy cá tính như Chỉ hay không.

Và bỗng nhiên không hẹn trước, Chỉ xuất hiện ở phòng khách nhà tôi, 61 Bến Chương Dương, Sài Gòn lúc 11.30 đêm, tháng 9. 1988. Vai mang ba-lô nặng trĩu, chiếc mũ bê-rê – vật bất ly thân của Chỉ – cầm ở tay, mái tóc rậm đen bồng bềnh thời trai trẻ mỏng dần, vầng trán trở nên cao hơn, nhưng khuôn mặt lầm lì không thay đổi.
– Trời, Chỉ! Đi mô mà khuya rứa? Từ Huế vô hả? Răng biết chị ở đây? Tôi kinh ngạc hỏi dồn.
– Tuyết Lộc ơi, từ từ mà hỏi. Chỉ vừa thoát khỏi chuyến tàu hỏa kinh hoàng.
– Hả? Vô đây. Vô đây. Tôi kéo Chỉ, ấn vai ngồi xuống ghế.
– Chỉ phải nhảy tàu để kịp chuyến bay đi Pháp ngày mai. Toa mô cũng heo gà. Bọn con buôn chất cả bột mì, văng tung tóe lên đầu khách. Thôi, vô đây được là mừng lắm rồi. – Chỉ thở phào.
Tôi vừa lấy nước vừa hỏi Bửu Chỉ:
 Đi Pháp? Cụ thể là răng? Nói mau đi, chậm như rùa.
– Tóm lại là... vui. Chỉ đang vui. Lòng Chỉ đang mở hội. Nhưng nì, dẹp nước non đi. Trong túi Chỉ có 100 đô. Đi. Đi. Hai đứa ra chợ Bến Thành đổi tiền rồi ăn hột vịt lộn. Chỉ thèm hột vịt lộn quá trời. Tuyết Lộc ưa ăn chi Chỉ chiêu đãi. Cứ xài hết 100 đô cho đã.
Nói thì chậm rãi, lối nói các mệ, kéo dài như kẹo kéo, nhưng hành động thì nhanh như hỏa tiễn, xem ra bốc đồng không thua gì Tuyết Lộc.

Bến Thành về khuya vẫn rộn rịp người, xe. Một thành phố không ngủ, sức sống thật mãnh liệt, muốn ăn chi cũng có, muốn ngủ đâu cũng được, có tiền thì khách sạn 2, 3 sao, không tiền thì khách sạn ngàn sao. Đây là Thành Phố Phật ôm tất cả con cái từ Bắc, Trung, Nam vào lòng!
Vừa ăn bún bò, tôi vừa nôn nóng:
– Nì, ai mời Chỉ rứa? Triển lãm hay rong chơi?
 Chỉ có vẻ tự hào:
 “Nhà Việt Nam” mời.
– Trời ơi. Chỉ ơi là Chỉ, tưởng Paris đại diện nước Pháp mời, ai ngờ cái nhà nhỏ tí tẹo mà làm như ghê lắm. Nè, nhiều người đi về “gáy” to lắm nghe. Nào nước Mỹ mời, nào nước Pháp mời… Có người nán bên bờ sông Seine năm phút mà đã “nổ” như từng dạo chơi mỗi chiều ở đó, hoặc đang ngồi ở phi trường muốn thót cả tim vì sợ nghe thông báo không hiểu kịp mà cho in cả loạt bài thơ kèm ghi chú “Phi trường Orly ngày…” hoặc “Một góc phi trường Charles-de-Gaulle ngày…”.Coi chừng “gáy to”, người biết chuyện họ cười cho thúi đầu. Về đến nhà, báo chí hỏi thì đừng dại miệng “gáy” nghe chưa.
– Tầm bậy tầm bạ – Chỉ nghiêm mặt – “Nhà Việt Nam” ai không biết là nhỏ tí tẹo nhưng quanh “Nhà Việt Nam” thì mở ra cho Chỉ chân trời bao la. Không dễ mô Tuyết Lộc ơi, cầm vé trên tay chưa chắc đi được, cầm vé trên tay, ngồi trên máy bay, cột dây an toàn đàng hoàng rồi mà máy bay chưa cất cánh cũng chưa chắc đi được. Đến khi mô máy bay đáp xuống phi trường của Tây mới chắc đó. Chỉ đã từng bị một vố đau về chuyện ni rồi. Trò vu khống, thọc gậy bánh xe, cướp cơ hội của người tử tế là đặc sản xã hội chủ nghĩa đó, Tuyết Lộc biết không. Anh em trí thức nghệ sĩ Hà Nội đã kể cho Chỉ khối chuyện. Ê! Chỉ nhớ không lầm thì Tuyết Lộc đi Pháp hồi đậu xong đệ nhất cấp? Rồi thất tình với anh họ của Chỉ, nên thi xong tú tài bị hai bác và anh Hai “đẩy” qua Paris học, nửa chừng đòi về vì nhớ người yêu. Đúng chưa? Chỉ biết hết.
– Đúng, nhớ rứa là giỏi, là có quan tâm đến Tuyết Lộc. Đó là phần thưởng sau mấy năm ngồi ghế đệ nhất cấp, một vòng châu Âu chứ bộ. Điện Louvre là nơi Tuyết Lộc đặt chân tham quan đầu tiên ở Pháp trước khi đi vòng vòng châu Âu.
– Đó. Đó. Tuyết Lộc đi rồi thì biết. Với Tuyết Lộc, đó là những chuyến du lịch cưỡi ngựa xem hoa, chứ với những nghệ sĩ như Chỉ, đi một ngày đàng phải lo mà học một sàng… hay, mới, lạ của người ta.
Tôi lắc đầu:
– Nhưng mà trong túi chỉ có 100 đô, học cái nổi chi. Thôi, cất 100 đô đó đi. Chị Lộc trả cho tối ni.
Bửu Chỉ phản ứng ngay:
– Lại nói tầm bậy tầm bạ nữa. Trước hết, Tuyết Lộc cỡ tuổi Hồng Vân, Hồng Thủy chị của Chỉ thôi. Chừ Chỉ lớn rồi, cũng có gia đình sự nghiệp như ai, thì cho Chỉ đứng ngang hàng đi, với lại, trông Tuyết Lộc còn trẻ hơn Chỉ nữa, Chỉ sắp hói hết tóc rồi nè. Còn cái ni nữa, Tuyết Lộc đừng coi thường Chỉ. Bây giờ Chỉ có 100 đô, vào đất Tây Chỉ sẽ có vô số… đô. Ăn uống, đi đứng, ngủ nghỉ, người ta lo hết. Mình chỉ việc bán tranh, và hốt… tiền!
Bửu Chỉ cười lớn, giọng cười sảng khoái. Chưa bao giờ tôi nghe được tiếng cười đó thoát ra từ cổ họng bé nhỏ của Bửu Chỉ từ ngày cậu còn là một đứa trẻ cho đến nay là một họa sĩ thành danh.
Nhìn Chỉ đang ăn hột vịt lộn ngon lành, tôi hỏi:
– Nghe nói khi ra tù năm 75, Chỉ làm ở Hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên phải không? Vậy là oai phong lắm rồi. Khối người chỉ mong có được cái ID card xã hội chủ nghĩa để trồi lên “làm người”!


Tưởng cậu ta vui mừng kể lể, ai ngờ Chỉ bỏ ngay hột vịt lộn đang ăn dở chừng xuống bàn, buông một câu nặng nề bất ngờ:
– Đụ mạ, oai phong chi mà oai phong! – chợt nhớ gì đó Chỉ luống cuống nói – Xin lỗi Tuyết Lộc, Chỉ quen miệng… thiệt tình mà nói, khi rời nhà tù, khấp khởi trở về quê nhà mong cùng anh em cũ mới làm được chuyện gì ý nghĩa, ai ngờ cũng từ cảnh tù nhỏ ra cảnh tù lớn hơn thôi, Tuyết Lộc ơi. Số tạp chí Văn Nghệ Bình Trị Thiên đầu tiên ra mắt năm 1976, Chỉ vẽ cái nhà máy không có khói, liền bị bọn hươu nai đó đem ra mổ xẻ một cách thô bạo, cho rằng Chỉ ám chỉ nhà máy xã hội chủ nghĩa không hoạt động nên mới không có khói. Cũng vì cái khói này mà chúng moi móc, chì chiết kể tội Chỉ, làm như hù dọa được thằng Bửu Chỉ ni. Nhưng chúng nó nhầm…
Ngưng một ít lấy hơi, Chỉ tiếp:
– Toàn một lũ ngu! Nghệ thuật sáng tạo phải tự do chứ, sáng tạo là phải có sự trung thực và dũng cảm ở người nghệ sĩ. Có một trăm cách sáng tạo, một ngàn lối tượng trưng, biểu tượng. Ai đời có thằng ví nhà máy Chỉ vẽ với lô cốt của thực dân Pháp. Thằng khác bảo xe lửa đi trên mấy khúc đường ray gãy khúc kiểu ni thì có mà tai nạn, lật tàu! Toàn một đám thần kinh có vấn đề…
Nhìn bộ mặt giận dữ bất ngờ của Chỉ và thấy một vài người ngồi bàn cạnh tò mò nhìn về phía chúng tôi, tôi vội vỗ về:
– Biết rồi cậu tướng, cậu mà sợ ai, đã sợ thì không mang thân vào chốn lao tù.
Mà quả thật thế, có lần Chỉ vẽ một hình người không đầu và đưa lên báo văn nghệ địa phương dành cho bạn đọc giải thích, ai giải thích được sẽ có quà của họa sĩ Bửu Chỉ. Nhưng có người nói “không đầu” tức là “vắng thủ”, nói lái là Vũ Thắng, tên của Chủ tịch Thừa Thiên - Huế thời đó. Hình như vụ đố hình này kết thúc trong yên lặng.


Tranh "Người không đầu" (Vắng thủ)

Sau lần Bửu Chỉ đi “Nhà Việt Nam” về, tôi không ở trong ngành hội họa nên không đánh giá được là tranh Bửu Chỉ có nâng lên phần nào về chuyên môn hay có gì độc đáo hơn những tranh đã vẽ trước khi đi Pháp? Nhưng điều tôi chắc chắn nhất, thế nào cũng có một luồng gió mới mát lành thổi vào tâm hồn, truyền sức sống nóng hổi vào những nét chấm phá của Chỉ. Chỉ cho tôi thấy những bức tranh Chỉ vẽ ở Paris và triển lãm tại đó năm 1989, nét vẽ rất phóng khoáng, được chụp ảnh lại, làm thành một album. Chỉ ghi ngoài tập hình câu của Tagore: “Hôm nay một con chim đã vạch cho tôi con đường, dẫn tôi ra khỏi khu rừng đến những bến bờ đại dương niềm vui. Bỗng nhiên tâm hồn tôi rộng mở”.
Và đúng thế, túi Chỉ từ đó luôn luôn rủng rỉnh tiền đô! Nghe đồn anh em văn nghệ sĩ ở Huế đặt thêm cho Bửu Chỉ một biệt danh mới “Bửu Lượng”.

Một ngày kia, được giấy mời dự triển lãm tranh Bửu Chỉ tại Liễu Quán, Huế tôi vội đáp máy bay về Huế để ủng hộ. Tranh trên bố của Chỉ được khách nước ngoài ưa thích. Trông Chỉ có vẻ hài lòng, pha một chút trịnh trọng nữa là khác. Tôi thật sự mừng cho người bạn một thời niên thiếu, người đang tiếp tục đâm đầu vào một con đường vô định vô lường mang tên Nghệ Thuật. Tôi cứ nghĩ khi hạ bút viết hai câu lục bát “Ma đưa lối quỷ đưa đường – Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi” không rõ cụ Nguyễn Du có liên tưởng tới việc trước tác của mình và của người đời sau hay không. Rồi tôi tự an ủi, thôi cũng mừng cho chàng hoàng tử bé đa sự đa đoan của tôi, không phải đi theo cái phận số “lưu dung” – một từ khá hỗn xược và thất nhân tâm của phe chiến thắng – nhạt nhẽo, buồn thảm trong bốn bức tường lớp học hay con đường chính trị thư lại – vốn phù hợp với tính cách người Châu Ô, Châu Rí – không mấy ai thiện cảm, và đặc biệt bất lợi cho nghiệp sáng tác vốn xem Tự Do là trên hết.

Một lần khác, tôi ra thăm con gái đang học ở Đại học Sư phạm Huế tình cờ thấy Bửu Chỉ cắm đầu cắm cổ đạp xe từ Vỹ Dạ lên, trên đầu Chỉ vẫn chiếc bê-rê lệch một bên, áo măng-tô kem (chắc mang từ Pháp về). Mặc măng-tô mà đi xe đạp, trông luộm thuộm, buồn cười, chi bằng đi bộ thấy còn “sang” hơn, tôi cười thầm cậu em tài hoa có thừa của mình. Đứng trước cổng trường Đại học Sư phạm, tôi gọi lớn:
– Chỉ! Bửu Chỉ! Tuyết Lộc nè.
Chỉ quay xe lại, đầu cúi xuống không nhìn tôi, không vui vẻ hớn hở như hôm nào ở Sài Gòn.
– Chỉ đi mô mà mặt mày buồn rứa?
– Chỉ bận tí việc. Có hẹn mà trễ rồi. Gặp Tuyết Lộc sau hí.

Mưa phùn xứ Huế càng làm tăng thêm cái buốt tận xương tủy. Tôi vội kéo cổ áo len lên cao hơn, lòng bâng khuâng: “Phải có chuyện chi xảy ra với Chỉ rồi!”. Tôi nhìn theo dáng lật đật của Chỉ, lòng lo lắng. Sau này tôi mới rõ ngoài nỗi thất vọng – nói là tuyệt vọng cũng không sai – mang sắc thái chính trị xã hội, Chỉ đang dính vào một số rắc rối tình cảm, tạo nhiều dư luận phức tạp ở địa phương, mà vì lý do tế nhị tôi không nói rõ ở đây.

Mỗi lần gặp Bửu Chỉ ở trong một tâm trạng khác nhau và lần cuối cùng ở cà-phê 27 Nguyễn Thị Diệu. Đây là quán cà-phê nơi một số anh em văn nghệ sĩ gặp gỡ chuyện trò, trao đổi mọi thứ trên đời. Thêm vào đó, cô Út chủ quán là mẫu người tế nhị, chu đáo, biết “tỏng” tính nết mỗi khách, nên ai cũng có cảm tình, thích đến thường xuyên. Dáng Bửu Chỉ tay xách nách mang từ phi trường Tân Sơn Nhất về thẳng cà phê 27, miệng tủm tỉm cười “Moi đi tị nạn Festival Huế” còn đọng lại trong tâm trí tôi và nhóm bạn thân.


Họa sĩ Bửu Chỉ ngoài cùng bên phải (cầm điếu thuốc)
(hình chụp trước khi qua đời 5 tháng)

Dạo đó bụng Chỉ bắt đầu “phệ” ra, đó là hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi sau những năm không gặp. Cả nhà Chỉ ai cũng nhỏ thó, mình hạc xương mai. Chỉ mập, dáng đi nặng nề hơn. Chắc kể từ ngày trở thành “Bửu Lượng”, chàng ta sinh ra nhậu nhẹt; bây giờ không nhậu ba xi đế với cóc ổi, đậu phụng rang nữa, mà Whisky, Martin mới nặng đô, đúng điệu. Chỉ ngồi, bụng phưỡn ra, hai chân trườn dài, thiệt tình trông hơi chướng… Tôi chưa kịp phê bình, Chỉ đã nói:
– Chà, Tuyết Lộc trông vẫn đẹp như xưa, lại mặc áo lụa Hà Đông, quần lãnh đen, nõn nà lắm. Chỉ sẽ vẽ chân dung Tuyết Lộc.
– Cám ơn cám ơn, nói là giữ lời nghe chưa. Năm thì mười họa mới gặp lại trông Chỉ “bệ vệ” quá.
– Ui chao, bệ vệ chi mô, bệnh quá trời bệnh, tiểu đường, tim mạch, huyết áp... ai có bệnh chi là Chỉ có bệnh đó.
 Nè, trưa ni Chỉ về nhà Tuyết Lộc ăn cơm hí.
 Chỉ ở xa lắm, tận Thanh Đa. Trưa rồi, lo chi, Chỉ còn nợ Tuyết Lộc một chân dung mà.
 Chà, cô nào ở Thanh Đa nữa há? Răng nhiều người yêu dữ rứa?
 Nói thiệt, đời Chỉ làm chi có chuyện lụy đàn bà. Thời buổi này, kiếm tiền nuôi miệng, lo cái ăn cái học cho con đã thở không kịp, yêu với đương chi. Còn nếu lỡ dại có thêm con ngoài luồng thì ráng nuôi, không răng hết. Đời ngắn lắm Tuyết Lộc ơi. Chỉ là người thích những cảm giác lạ, nếu quá đạo đức quy tắc thì đừng bày đặt làm nghệ sĩ, sáng tác. Đôi khi Chỉ thấy chán ngán chính bản thân mình. Trong tình trường nếu Chỉ mà nói trắng trợn ra hết, e không đẹp chút mô mà Tuyết Lộc nghe chưa xong đã co giò chạy mất.

Tranh biếm họa "Cáo"

Không lâu sau bất ngờ tôi nghe tin Chỉ mất. Nguyễn Quốc Thái, Lê Khắc Cầm báo tin và nói: – Tụi mình làm chung một vòng hoa, rồi Thái, Cầm đại diện đi Huế. Tuyết Lộc đi được thì đi.
Tuyết Lộc không đi được. Rất buồn. Vì Bửu Chỉ như một thành viên ruột thịt của gia đình, là một phần kỷ niệm đau đáu, khó nguôi ngoai một thời của bản thân tôi. Nhưng có khi cũng là một quyết định đúng đắn, Chỉ ơi. Chứng kiến chỉ thêm nặng lòng!

Hình như khi sinh thời, nguồn năng lượng trong Bửu Chỉ quá thặng dư, quá mãnh liệt, mà hội họa không dùng hết được đến mức nó phải ào ạt tràn ra, phá vỡ mọi ranh giới. Và Chỉ, trong cơn khủng hoảng với số phận và tính cách phức tạp của chính mình, có lúc đã lãng phí nguồn năng lượng bẩm sinh đó vào nhiều lĩnh vực khác. Tôi tin rằng trong thẳm sâu những cuộc dấn thân từ chính trị tới nghệ thuật, cho đến ái tình và nhục dục có lẽ đều xa gần có nguồn gốc từ mạch trào vô thức vô lường mà Bửu Chỉ cũng phải trôi dạt, thăng trầm không cưỡng lại được. Thậm chí Bửu Chỉ đã có lần tâm sự với tôi muốn bỏ tất cả để đi buôn trở thành doanh nhân chuyên nghiệp thật sự. 

Bạn tôi, Lê Khắc Cầm, từng ngậm ngùi tiết lộ có lúc quá tuyệt vọng Chỉ đã từng có ý định tự tử. Ngoài họa sĩ Đinh Cường và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Chỉ coi Lê Khắc Cầm là chỗ tri âm. Những người bạn có khoảng cách về tuổi tác nhưng đối xử và thậm chí xưng hô bình đẳng, vừa rất mực tôn trọng nhau. Giữa một Bửu Chỉ khi trưởng thành lại khá xô bồ, to tiếng và một Lê Khắc Cầm trầm tư, gần như khắc kỷ lại có một tình bạn thân thiết và sâu lắng cũng là chuyện khá độc đáo, độc đáo cả trong lời vỗ về, động viên bạn của Cầm với Chỉ: Tự tử không phải là chuyện riêng của toi. Moi đã từng xem xét hành động này một cách nghiêm túc. Nhưng theo ý moi, toi nên tạm gác lại. Chúng ta còn dịp trở lại đề tài này”.


Thủ bút của họa sĩ Bửu Chỉ

Một số người không đồng ý với một số nét trong lối sống mà họ cho là có phần buông thả, phóng túng của Bửu Chỉ. Rất có thể họ có lý của họ. Nhưng một nghệ sĩ sáng tác với cuộc sống nội tâm dữ dội, vừa sâu sắc vừa sauvage – với những thành tựu nghệ thuật được thừa nhận – thì chỉ cần một cú “phi nước đại” là Bửu Chỉ có thể vượt qua tất cả mọi rào chắn, ranh giới, luật lệ cổ hủ từ nghìn xưa để lại cho Huế nhỏ bé một cách dễ dàng, một cách rất là “Bửu Chỉ”. 
                                                  
Đã có nhiều bài viết của những người thân sơ đề cập đến Bửu Chỉ thời kỳ phong trào sinh viên trí thức đấu tranh, hay phê bình về tranh vẽ... mà quên đi một mảng quan trọng, đó là tuổi thơ của Bửu Chỉ. Chính nỗi cô đơn với một dạng “Tuổi thơ dữ dội” đã góp phần tích tụ năng lượng, hình thành nên con người Chỉ sau này: đầy năng động, đầy sáng tạo và đầy phá phách nữa, như cố dùng cho hết nguồn năng lượng cuồn cuộn, ức chế trong cơ thể và tâm hồn mình.

Bửu Chỉ đã nằm xuống. Hình hài vay mượn của cõi thế gian vô thường cũng đã rữa nát. Cho dù Chỉ ở độ tuổi 20, 50 hay 60 đi nữa, thì cái còn lại của Chỉ trong tôi vẫn là một cậu bé như đang 7 tuổi, sau giờ học ngồi bó gối, lặng lẽ cô đơn trong khu vườn u uẩn tựa như đang chiêm nghiệm cuộc đời ở thì hiện tại và cả thì tương lai... Không rõ trong cõi bí mật riêng tư đó, hoàng tử bé của tôi có cảm nhận hết sự vô lường mà số phận sẽ dành riêng cho mình dữ dội đến mức nào hay không!

N. T. L.