Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - GS HOÀNG HƯƠNG TRANG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - GS HOÀNG HƯƠNG TRANG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2022

Minh Oan Cho Trần Khắc Chung Và Huyền Trân Công Chúa

GIỚI THIỆU

Xin hân hạnh giới thiệu đến quý Thầy Cô, Đồng Môn và Thân Hữu bài viết liên quan đến lịch sử: MINH OAN CHO TRẦN KHẮC CHUNG VÀ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA của cô Hoàng Hương Trang, nguyên cựu giáo sư Trung Học Nguyễn Huệ, Tuy Hòa.

Trân trọng 

NHHN


Cô Hoàng Hương Trang, cố giáo sư TH Nguyễn Huệ, Tuy Hòa

MINH HOAN CHO TRẦN KHẮC CHUNG VÀ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA
GS Hoàng Hương Trang

Từ xưa đa số người Việt mặc nhiên cho rằng Trần Khắc Chung và Huyền Trân công chúa là một mối tình. Họ kể truyền miệng đời này qua đời khác thành ra vô tình đã “Đóng Đinh” đó là một mối tình như có thực. Chính tôi từ mấy chục năm qua cũng tin như vậy. Cứ cho là trước khi đi làm vợ vua Chiêm Chế Mân, Huyền Trân công chúa đã có ý tình dan díu với Trần Khắc Chung, nên khi Chế Mân chết, vua Trần sai Khắc Chung đi cứu con gái khỏi bị hỏa thiêu chết theo chồng theo phong tục của hoàng gia Chiêm Thành, thì hai người “Tình cũ” lại được “tái hợp”. Cuộc cứu hộ công chúa thành công và hai người lênh đênh trên biển một thời gian khá dài có đến hàng năm, mới về tới Thăng Long.

Mãi cho đến khi thành phố Huế xây dựng Trung tâm văn hóa Huyền Trân, mà dân Huế gọi là Đền thờ Huyền Trân công chúa; tôi có dịp đến viếng, tìm hiểu cặn kẽ, đọc kỹ sử liệu và văn bia tại đền thờ, thật sự tôi đã sững sờ, ngỡ ngàng khi biết ra sự thật có trong sử liệu và văn bia tại Đền Thờ do Ban Nghiên Cứu Sử uy tín đã viết lại cho đúng sự thật. Ôi! Một nỗi oan đã kéo dài với thời gian mấy thế kỷ, mà không ai minh oan cho hai người. Theo sử liệu, khi công chúa Huyền Trân còn ở Thăng Long, chỉ mới 13 tuổi, đã được vua cha hứa gả cho Chế Mân. Khi đó, lão tướng Trần Khắc Chung đã rất già, vốn không phải họ Trần, mà là họ Đỗ, vì có nhiều công chiến trận nên được vua cho cải ra họ Trần. Lão tướng ngoài tài trận mạc, còn có tài thêu thùa rất khéo tay, vì vậy các công chúa trong triều được lão tướng dạy cho học thêu thùa. Công chúa Huyền Trân lúc đi lấy chồng mới 15 tuổi, là cháu ngoại của danh tướng Trần Hưng Đạo. Lúc đó, lão tướng Khắc Chung đã già, đã có 3 đời vợ, con cháu đầy đàn, không thể nào lại dan díu với cô công chúa 13 tuổi là cháu ngoại của Trần Hưng Đạo được. Thuở xa xưa trên 700 năm trước đó, một cô gái nhỏ mới 13, 14 tuổi có dám yêu một ông già đã có vợ, con, cháu đầy đàn? Ngay thời đại ngày nay, điều đó cũng khó có thể xảy ra.


Cho đến khi vua Trần sai đi cứu công chúa là vì lão tướng đáng tin cậy, có nhiều mưu kế, từng trải trận mạc, mới có thể cứu được công chúa thoát khỏi lên giàn hỏa thiêu. Lúc này công chúa mới sinh hoàng tử được 2 tháng. Lão tướng Khắc Chung đã tương kế tựu kế, vừa thay mặt vua Trần để phúng điếu với triều đình Chiêm Thành (Chế Mân chết, Chế Cũ lên nối ngôi vua cũng chỉ mới trên dưới 15 tuổi, là con trai của bà Hoàng hậu lớn của Chế Mân, còn con của Huyền Trân là Chế Chí mới sinh được 2 tháng) vừa đề nghị với triều đình Chiêm Thành cho phép công chúa Huyền Trân ra biển Đông để hướng về quê hương bái biệt vua Cha, rồi sẽ trở vào để lên giàn hỏa.

Triều đình Chiêm Thành đã bị mắc mưu của lão tướng Việt Nam, đã bằng lòng cho công chúa Huyền Trân ra biển để bái biệt vua cha. Vừa hay trời phù hộ cho lão tướng, sương mù dày đặc bao phủ cả biển khơi, ba bên bốn bề đều không thấy rõ, nhân cơ hội đó, lão tướng đưa công chúa qua thuyền nhẹ, và dông tuốt về phía Bắc. Trên thuyền chỉ có mấy thủy binh chèo thuyền, thuyền nhẹ đi rất nhanh, sương mù đã che khuất bóng họ. Khi thuyền vào đến vùng biển Quảng Trị thì bị bão lớn, sóng đánh dữ dội suýt chìm thuyền, phải tấp vào bờ. Vùng đất Quảng Trị bấy giờ thuộc hai Châu Ô, Lý là đất mà Chế Mân đã dâng cho vua Trần làm sính lễ để cưới công chúa nhà Trần. Đất đã là của nước Việt, có quan trị nhậm do vua Trần cử đến cai quản. Chính quan cai quản đất mới này đã giấu nhẹm rất bí mật tung tích của lão tướng và Huyền Trân, chờ hết mùa giông bão, sửa chữa thuyền xong mới có thể tiếp tục hành trình ra Bắc. Tại sao phải giấu tung tích? Bởi thủy quân Chiêm Thành rất giỏi thủy trận, đã từng đánh ra tận Thăng Long thời Chế Bồng Nga, do đó họ có thể cho thuyền truy lùng thuyền của Khắc Chung và công chúa. Hai người được vị quan Việt Nam giấu kỹ đồng thời lo sửa chữa thuyền bè đã bị bão làm hư hỏng nặng. Hơn năm sau, hết mùa bão, trời yên biển lặng, quân Chiêm không truy đuổi nữa, thuyền cũng đã sửa chữa xong, họ mới tiếp tục cuộc hải trình ra Bắc.


Tuy được cứu thoát, nhưng công chúa trong tâm trạng mất một đứa con trai đầu lòng mới 2 tháng tuổi, cùng với nỗi đau vừa mất chồng, cùng nỗi sợ hãi vừa thoát lên giàn hỏa thiêu. Thử hỏi trong tâm trạng đau buồn mất chồng, mất con, và lo sợ như thế, còn tâm trạng đâu để dan díu, ngoại tình? Sở dĩ người đời sau thêu dệt nên mối tình Trần Khắc Chung và công chúa Huyền Trân là do họ đồng hóa với mối tình Tây Thi – Phạm Lãi bên Tàu. Sau khi báo thù vua Tàu, Tây Thi đã theo người tình cũ là Phạm Lãi chèo thuyền chu du vào Ngũ Hồ sống với nhau, lênh đênh bềnh bồng trên sóng nước, bỏ lại thế gian sau lưng. Do đó người Việt đời sau cứ thản nhiên đồng hóa mối tình Tây Thi – Phạm Lãi và Huyền Trân – Trần Khắc Chung như là một. Đó là nỗi oan của Lão Tướng Trần Khắc Chung và là nỗi oan của sương phụ Huyền Trân mà ngày nay chúng ta phải hiểu và đánh giá lại cho rõ ràng.

Khi về đến Thăng Long, Huyền Trân lên núi Yên Tử trình diện vua cha là Phật Hoàng Trần Nhân Tông, rồi quy y đi tu, lấy pháp danh là Hương Tràng ni sư. Bà vừa tu hành vừa dạy dân dệt vải và làm thuốc cứu bệnh cho dân. Tôi ước mong rằng người Việt Nam ta ai cũng có dịp đến viếng đền thờ Huyền Trân công chúa ở Huế để có dịp tận tường đọc kỹ văn bia và sử liệu chính thức đáng tin cậy để minh oan cho công chúa Huyền Trân và Lão tướng Trần Khắc Chung. Riêng tôi, sau lần có dịp đến viếng đền thờ và đọc cặn kẽ sử liệu, văn bia. Tôi đã thắp hương cúi đầu chân thành tạ lỗi với người xưa, vì mình đã lầm tưởng mấy chục năm qua chỉ vì hai chữ “tương truyền”, oan cho một người phụ nữ đoan hạnh và một vị lão tướng tài ba.

Hoàng Hương Trang


Thứ Tư, 21 tháng 6, 2017

Góa Phụ Trinh Tiết

GIỚI THIỆU
Xin hân hạnh giới thiệu đến quý Thầy Cô, quý anh chị Đồng Môn và quý Thân Hữu
Truyện ngắn GÓA PHỤ TRINH TIẾT, tác giả Hoàng Hương Trang. Hoàng Hương Trang là bút hiệu của cô Hoàng Thị Diệm Phương, cựu giáo sư Nguyễn Huệ trước 1975. Cô sáng tác và đã phát hành nhiều Tuyển Tập về Thơ, Văn, Nhạc. Được nhiều giải thưởng giá trị về văn học. Cô hiện đang sinh sống tại Saigon. Sức khỏe khá tốt. 
Trân trọng giới thiệu
NHHN


Hình minh họa - Internet

Cuối cùng chỉ còn lại mảnh vườn xơ xác, ngôi nhà rộng thênh thang trống rỗng, và bóng dáng vật vờ của một người đàn bà khô héo, đó là con dâu của cụ Phan.

Cụ Phan người Tàu, nghe đâu chạy lánh nạn từ mạn Quảng Đông sang Việt Nam, rồi định cư luôn, lấy vợ Việt, làm ăn khá giả. Cứ nhìn ruộng vườn nhà cửa của cụ thì rõ.

Tuy cụ lấy vợ Việt Nam, cách ăn nết ở đã hoàn toàn Việt hóa theo vợ, nhưng cũng còn sót lại những nét riêng của người Hoa cụ còn giữ lại, đặc biệt như những món ăn chỉ riêng người Hoa mới có. Ngày Tết đoan ngọ cụ cúng lễ lớn, có chè trứng đỏ, chè phù chúc, thịt quay, bánh bao... là những thứ không có trong mâm cúng của người Việt. Ngày Tết bao giờ trước cửa nhà cụ cũng có đôi câu đối chữ Hán rất đẹp. Cụ còn giữ tục lệ của người Tàu, tặng phong bao giấy đỏ cho bất cứ ai mang quà tặng đến nhà.

Lúc tôi còn nhỏ, mỗi lần nhà có giỗ, mẹ tôi thường sai mang xôi, chè, bánh trái biếu nhà hàng xóm. Bao giờ tôi cũng dành phần bưng sang biếu cụ Phan để được cụ cho một phong bao đỏ.

Cụ làm ăn tấn phát, tậu nhà cửa to lớn, đời sống sung túc nhưng bà Phan chỉ sinh cho cụ có mỗi cậu con trai độc nhất. Cậu cả được nuông chiều rất mực. Nhưng hình như ông Trời bất công, cho hai cụ tiền của phong lưu huy hoắt, nhưng chỉ cho một quý tử yếu ớt, mảnh mai như con gái.

Đến cải tuổi đang ăn học, sung sướng trong cái cơ ngơi giàu có của cha mẹ, bỗng cậu cả lăn đùng ra ốm. Thôi thì đủ thầy đủ thuốc, đủ sâm nhung quế phụ. Hai cụ ngày đêm chăm sóc cho cậu con trai vàng ngọc, hai cụ vẫn thường vái Trời Phật phù hộ độ trì cho mai sau lấy vợ sinh con đàn cháu đống. Cậu cả vốn từ nhỏ đã ốm yếu mảnh khảnh so với lũ trẻ trong xóm, nay lại càng gầy đét xanh xao hơn. Cậu nằm liệt cả tháng trong phòng bệnh, chỉ uống thuốc bắc, ăn cháo loãng. Ông bà Phan rầu rĩ lo lắng hết sức, nghe giới thiệu thầy giỏi ở xa mấy cũng cho người đi rước về chữa bệnh cho cậu cả. Thuốc thang gì quý hiếm mấy cũng đi kiếm cho bằng được, không ngại tốn kém; thế mà cậu cả cũng không bình phục.

Một hôm có ông thầy Tàu từ Hội An ra khám bệnh bốc thuốc. Ông bàn luận suốt cả ngày với cụ Phan, hai người nói toàn tiềng Tàu với nhau. Đã lâu lắm cụ Phan không nói tiếng Tàu với ai cả, nay bàn cãi rất sôi nổi, cuối cùng ông thầy Tàu khuyên cụ:

- Người Hoa chúng ta có tục cưới Xung Hỷ, cưới vợ co con trai nó vui mừng mà khỏi bệnh.

Đã bao năm rồi sống ở dất Việt, lấy vợ Việt, cụ Phan tưởng chừng đã quên hết những tục lệ của quê hương. Nghe nhắc lại tục cưới Xung Hỷ, cụ vui mừng chấp nhận, liền cho bà Phan tìm cách hỏi xem cậu cả đã có tình ý gì với cô gái nào chưa để lo việc cưới hỏi.

Xưa nay vốn hiền lành, chăm lo học hành, ít khi la cà đàn đúm bạn bè, cậu cả chỉ quen một cô bạn gái cùng học chung lớp, nhà nghèo ở bên kia sông. Cha mẹ cô quanh năm lam lũ trồng bắp, trồng khoai ở bãi đất bồi, họ chỉ có cô con gái duy nhất, nên cố gắng cho con ăn học mong sau này đỡ vất vả hơn cha mẹ.

Cậu cả ao ước được sánh duyên cùng cô bạn ấy, nhưng ngại nhà cô nghèo quá, chẳng biết cha mẹ có bằng lòng không? nay nhân dịp mẹ ngỏ ý trước về tục cưới Xung Hỷ theo tục lệ quê nội, cậu vui mừng xin mẹ hỏi xem cô bạn gái bên sông ấy có bằng lòng không?

Ơn trời phù hộ, cha mẹ cô gái đã bằng lòng. Riêng cô gái mười bảy tuổi xinh đẹp, nết na ấy, thật lòng lâu nay cũng có cảm tình tốt với người bạn trai cùng lớp hiền lành, chăm học. Họ chưa hề có tình ý gì với nhau, nhưng cả hai đều có cảm tình và quý mến nhau vì họ cùng là học trò giỏi. Họ cũng đã hiểu nhau khá nhiều, hàng ngày gặp gỡ, chung lớp, chung trường không còn lạ lẫm gì nữa, ở cái tuổi mới lớn, dù chưa có tình ý riêng tư cũng không thể không so sánh, lựa chọn một đối tượng trong những bạn bè...

Đám cưới được tổ chức trọng thể, tuy chỉ có một mình cô dâu mà không có chú rể đang ốm nặng, không thể dự lễ cưới của chính mình được. Sau tiệc tùng, nghi lễ rình rang, lễ hợp cẩn của đôi trẻ chỉ đơn giản có một ly rượu, một chén sâm. Ly rượu do cô dâu uống thay chồng và chén sâm chú rể uống thay rượu hợp cẩn. Và đôi trẻ nên vợ nên chồng trên danh nghĩa. Cô bạn gái bên sông bây giờ là mợ cả lo săn sóc thuốc thang tận tình cho cậu cả. Thỉnh thoảng, giữa những cơn mệt vì bệnh, cậu cả cầm tay vợ, nói thều thào:

- Anh cám ơn em đã bằng lòng làm vợ anh, anh mong cho chóng lành mạnh để thương yêu em đúng nghĩa vợ chồng.

Mợ cả chỉ thẹn thùng đáp:

- Chúng ta còn tương lai dài... anh cứ lo dưỡng bệnh cho mau mạnh khỏe để cha mẹ mừng.

Nhưng trời đã không cho đôi vợ chồng trẻ ấy sống hạnh phúc bên nhau trong cảnh giàu sang của cha mẹ. Lễ cưới Xung Hỷ chưa được bao ngày thì cậu cả đã trút hơi thở cuối cùng trong tiếng khóc nghẹn ngào của người vợ trẻ, của cha mẹ tưởng chừng ngã quỵ trước cái chết tức tưởi của đứa con trai duy nhất.

Tội nghiệp mợ cả, mới 17 tuổi đã thành quả phụ! Cô gái xinh đẹp chưa một lần nếm mùi vị hạnh phúc vợ chồng, đã phải áo tang, khăn chế, âm thầm lặng lẽ phụng dưỡng cha mẹ chồng.

Dễ chừng đã gần 40 năm qua, tôi mới có dịp vế lại quê nhà, ở lại một thời gian khá dài. Những lần trước chỉ đi về vội vàng vài hôm, không kịp thăm viếng những nhà hàng xóm cũ. Lần này lo xong việc nhà, được buổi rỗi rãi tôi la cà tìm thăm lại những nhà quen cũ ngày trước. đa số họ không còn ở con đường xưa ấy nữa. Một vài nhà quen chỉ còn con cháu mới lớn lên, không biết tôi là ai.

Qua xóm Vườn Dâu, thấy cái cổng gạch đồ sộ rêu phong vẫn còn nguyên vẹn, bờ tường xây gạch vồ vẫn đứng vững với thời gian, tôi bất chợt nhớ đến ông bà Phan, thử gõ cửa vào thăm. Một bà lão gầy khô ra mở cổng, trông nét mặt có vẻ quen quen, nhưng tôi không đoán được bà lão này là ai?

- Thưa bác, có phải đây là nhà cụ Phan ngày xưa không?

Bà lão ngước mắt nhìn tôi ngạc nhiên:

- Phải, nhưng các cụ mất lâu lắm rồi, cô là ai mà biết hai cụ tôi hồi xưa?

Tôi không trả lời câu hỏi ấy vội, mà hỏi lại bà lão:

- Thế... bác là gì của ông bà Phan? Ngày xưa tôi không thấy bác ở đây.

- Dạ... tôi là con dâu...

Tôi ngớ ngẩn ra:

- Thế ra bác... à chị... là chị Lan ở bên kia Bãi Bồi, là vợ anh cả con ông bà Phan đây sao? Chị Lan, tôi là hàng xóm của ông bà ngày xưa, hồi đó khi nào kỵ giỗ, mẹ tôi sai bưng xôi, chè, bánh trái sang biếu ông bà, bao giờ cũng được ông lì xì cho một phong bao đỏ. Tôi chỉ kém chị mấy tuổi thôi. Hồi đám cưới anh cả, chị 17, lúc đó tôi khoảng 13, 14 là cùng, còn chạy đi xem đám cưới, rước dâu bằng thuyền từ bên kia sông...

Chị cầm tay tôi, cười móm mém, héo hắt:

- Cô vẫn còn nhớ chuyện xưa? Mời cô vào nhà đã.

Bàn tay lạnh lẽo, gầy xương bám chặt vào tay tôi, tưởng chừng như bàn tay một bà lão vịn tay nhờ tôi dẫn qua đường.

Bộ quần áo nâu nhạt như y trang một bà làm công quả ở chùa, làn tóc bạc thưa thớt búi sau gáy, lưng hơi còng, bước đi chậm chạp, nhẹ như con người bằng sương khói...

Ôi! đó là chị Lan xinh đẹp đám cưới năm 17 tuổi đó sao?
Dạo ấy tôi còn chạy đi xem rước dâu qua sông. Chị dịu dàng trong chiếc áo dài hồng phấn, đứng trê đò, tay cầm dù hoa, mái tóc kẹp nơ nhung sau gáy, cài vòng hoa lấp lánh kim tuyến trên đầu, cổ chị đeo chuỗi ngọc phỉ thúy và dây chuyền vàng, tay đeo xuyến và vòng cẩm thạch. Trông chị đẹp lộng lẫy như một cô tiên hay nàng công chúa từ thủy cung vừa rẽ nước lên bờ.

Trên bến, nhà trai chờ đón sẵn, pháo nổ vang. Chị bước lên xe kéo phủ màn ren đỏ, chiếc xe kéo thuở xưa ấy, người phu xe mặc áo nẹp điều, đội nón quai đỏ, cầm hai càng xe sơn đen bóng, xe chạy chầm chậm, hàng xóm đổ xô ra xem, ai cũng trầm trò khen cô dâu xinh đẹp quá!

Hai cô phù dâu mặc áo dài màu hoa lý ngồi chung trên một xe kéo khác, chạy sau xe chị, rồi họ đàng trai, đàng gái lên xe cả dãy dài.

Đám cưới chị to nhất xóm hồi đó, biết bao cô gái mơ ước có được cái đám cưới sang trọng đẹp đẽ như chị...

Hôm nay, ngôi nhà rộng rãi nhưng sao trống vắng quá, căn giữa là bàn thờ, đầy cả bát nhang, bài vị, chuông mõ. Bộ lư đồng và cặp chân đèn rất lớn đánh bóng sáng loáng, nổi bật những nét chạm tinh vi. Trên bàn thờ, phía trong cùng là bức hình thờ ông bà Phan và cậu cả, phía bàn trước là ảnh tượng Phật Bà Quan Âm, mùi nhang trầm thơn ngát, một nỗi quạnh vắng bao trùm. Tôi hỏi chị:

- Chị ở đây với ai? Các cháu đã lớn cả rồi chứ?

Chị nhìn tôi ngậm ngùi:

- Chắc là cô quên rồi, hồi ấy đám cưới là cưới Xung Hỷ theo tục lệ người Hoa mà thôi. Tôi và anh ấy chưa thành thân thì anh đã qua đời. Rồi tiếp theo cha mẹ chồng tôi cũng lần lượt khuất bóng, thế là tôi ở đây lo thờ phụng cha mẹ anh cả và người chồng chỉ có đám cưới mà chưa hề ăn ở với nhau một lần. Phong tục mình hồi xưa, như thế tôi đã là con dâu nhà họ Phan rồi.

Chị rót nước trà mời tôi. Nhìn chiếc nhẫn trong ngón tay áp út của chị, chiếc nhẫn lỏng lẻo, chị phải quấn bằng chỉ đỏ mặt trong cho đừng tuột ra khỏi ngón tay. Có lẽ đó là nhẫn cưới chị đeo từ ngày ấy. Tay chị đã gầy khô nhưng chị vẫn đeo chiếc nhẫn cũ kỹ quấn thêm chỉ đỏ cho vừa ngón tay. Nhấp hớp trà thơm mùi hoa mộc, tôi thầm nghĩ: "Tội nghiệp chị Lan, một quả phụ vẫn còn trinh tiết!"

Tôi xin phép chị thắp hương trên bàn thờ rồi ra về.

Chị tiễn tôi ra cổng, vẫn bước đi nhẹ nhàng như sương khói. Quay lại nhìn cái dáng gầy như một ngọn lá khô, tôi cầm tay chị thật lâu, nghĩ rằng lần sau trở lại chắc gì đã còn gặp được người quả phụ trinh tiết ấy nữa!

Hoàng Hương Trang

Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2017

Người Mẹ Tật Nguyền

GIỚI THIỆU
Kính thưa quý Thầy Cô, quý anh chị Đồng Môn và quý Thân Hữu
Theo thông lệ, NHHN dành tháng năm cho chủ đề Mẹ để tôn vinh, cảm tạ, và tưởng nhớ đến tất cả các bà mẹ đang còn hiện hữu hoặc đã qui tiên.
Xin hân hạnh giới thiệu đến quý Thầy Cô và quý Anh Chị bài NGƯỜI MẸ TẬT NGUYỀN của nhà văn Hoàng Hương Trang. Hoàng Hương Trang là bút hiệu của cô Hoàng Thị Diệm Phương, cựu giáo sư Nguyễn Huệ Tuy Hòa, Phú Yên trước 1975. 
Trân trọng giới thiệu
NHHN



Lúc tôi còn bé đã thấy mẹ tật nguyền. Mặt mẹ đầy thẹo nhăn nhúm, cổ mẹ bị da kéo vẹo sang một bên. Khi mẹ tắm hay thay áo, tôi thấy lưng mẹ gù, đầy vết nhăn nheo, chỗ nâu, chỗ xám, chỗ đỏ.

Tôi sống với mẹ đã quen nên không sợ, chứ trẻ con trong xóm sợ mẹ lắm, chúng thường gọi mẹ là "Bà gù bán xôi".

Vâng, mẹ gù và đầy vết thẹo như thế, nhưng suốt đời đã gánh xôi đi bán từ sáng tinh mơ đến trưa đứng bóng để kiếm tiền nuôi tôi ăn học.

Lên trung học, tôi bắt đầu xấu hổ khi bạn bè gọi mẹ là "Bà gù bán xôi". Khi nào mẹ bán xôi hết sớm, mẹ lại gánh quang gánh không đến trước cổng trường đón tôi, như hồi tôi còn học mẫu giáo hay tiểu học.

Nhiều lần tôi năn nỉ mẹ đừng đến cổng trường, rồi giận dỗi mẹ, rồi nặng lời với mẹ. Mẹ không đến cổng trường đón tôi nữa, nhưng lại đứng nấp sau gốc cây bằng lăng bên kia đường, chờ cho tôi đi về hướng nhà một đỗi, rồi mẹ thủng thẳng gánh quang gánh đi theo. Có lần mấy đứa bạn đột ngột quay lại, bắt gặp mẹ lẽo đẽo theo tôi như thế, chúng bá vai nhau cười thật to chế nhạo tôi:

- Ồ kìa, bà già gù của mày vẫn cứ theo gót mày kìa!

Tôi xấu hổ và giận mẹ lắm, trưa ấy nhất định không thèm ăn cơm, bắt mẹ phải hứa không được đến trường tôi nữa, tôi khóc lóc:

- Con không muốn mẹ đến đón con ở cổng trường, cũng không muốn mẹ cứ theo lẽo đão như thế, con xấu hổ lắm. Đó, mẹ thấy không, ba mẹ của các bạn con đều đi xe "xịn", ăn mặc sang trọng đến đón con họ. Còn mẹ thì... tật nguyền như thế... lại quang gánh đùm đề như thế... bộ mẹ muốn bạn bè cứ chế nhạo con hoài sao?

Những lần tôi giận dỗi và nặng lời như thế, mẹ chỉ im lặng, cái cổ vốn đã ngoẹo sang một bên, hình như lại ngoẹo nhiều hơn, mẹ chỉ lặng lẽ đưa tay áo lên gạt nước mắt.

Có lúc tôi hỏi 'ba đâu?". Mẹ chỉ lên tấm ảnh trên bàn thờ mà bảo:

- Ba con bị tai nạn ở nhà máy, đã mất từ khi con mới ba tháng tuổi. Trước lúc ba con trút hơi thở cuối cùng, mẹ đã hứa sẽ nuôi con khôn lớn nên người, dù có phải buôn gánh bán bưng cực khổ mấy cũng sẽ cho con ăn học đàng hoàng.

Nhiều lúc tôi hỏ mẹ rất vô tư và độc ác:

- Hồi ba cưới mẹ, mẹ đã xấu xí như vậy sao? Mẹ chỉ cười rất hiền lành để tránh những câu hỏi của tôi. Có điều là tôi luôn nghĩ rằng có lẽ mẹ luôn xấu xí tật nguyền từ nhỏ, chẳng bao giờ tôi hỏi mẹ vì đâu mẹ bị tật nguyền như thế?

Tôi cứ ăn cứ học, cứ vô tư chơi đùa với bạn bè. Mẹ thì cứ lo cho tôi những bữa ăn ngon, cứ lo cho tôi đủ tiền để mua sách vở, quần áo, giày dép không thua kém bạn bè.

Tôi càng lớn càng xin đẹp, trắng trẻo, hồng hào, duy chỉ có một nửa bàn chân có một vết thẹo nhăn nhúm, tôi luôn mang bít tất, đi giày, để che dấu khuyết điểm này.

Năm lên đại học, tôi vừa học vừa đi làm, không phải vì một lý do nào xa xôi cả, mà chỉ là muốn sẽ cố làm cho nhiều tiền, rồi thì không cho mẹ đi bán xôi nữa. Khi nào có đủ tiền rồi, tôi chỉ để mẹ ở nhà nấu cơm, giặt giũ, trông coi nhà cửa là được rồi, như thế mẹ khỏi phải ra đường, khòi ai thấy mẹ tật nguyền.

Hình minh họa (internet)

Tôi cũng đã có vài bạn trai theo đuổi, tán tỉnh. Tôi tự biết mình có nhiều ưu điểm hơn các bạn gái khác, tôi học giỏi, có việc làm, tôi xinh đẹp... Nhưng nhiều khi nghĩ đến sau này, tôi đưa một người bạn trai nào đó về nhà... ôi, tôi không dám nghĩ tiếp... làm sao có bạn trai nào nhìn thấy mẹ tôi mà không dội ngược ra cửa? Chỉ nghĩ đến đó tôi đã vô cùng đau khổ, và tư nhiên... hận mẹ vô cùng... giá không có mẹ... giá mẹ đừng tật nguyền...

Bà Bảy bán bún riêu đầu xóm hớt hơ hớt hải đập cửa:

- Cô Diệp ơi, cô Diệp! Cô có nhà không?

Đang cuẩn bị đi làm buổi tối, tôi không hiểu có chuyện gì mà bà Bảy gọi cửa gấp gáp thế. Tôi vừa mở cửa, bà Bảy đã ập ngay vào nhà, nắm lấy tay tôi:

- Cô Diệp đi mau lên! Bà Hai đang cấp cứu ở bệnh viện, bà bị nặng lắm, nhanh lên kẻo... không kịp gặp...

Tôi bủn rủn cả người:

- Vì sao bà Bảy biết mẹ cháu bị...

- À! tôi đang đi mua mấy món ở chợ, thấy người ta xúm đông xúm đỏ chỗ người bị nạn, chạy lại nhìn thì ra là bà Hai, trời ơi, máu me lênh láng, nằm bất động, họ chở vào bệnh viện rồi... ghê quá! Tôi lay gọi mà bà không biết gì nữa cả, quang gánh văng ra lề đường...

Diệp vớ lấy cái túi xách rồi chạy ra đường thuê xe chở đến bệnh viện cấp cứu. Tâm trạng Diệp lúc này thật hỗn độn. Vừa lo lắng, bồn chồn, nhưng cũng vừa xen lẫn một chút vui mừng... Diệp đã nhiều lần ước muốn... giá không có mẹ đó sao? Mẹ chỉ là một vật cản trước mặt cô, đã bao lần làm cô xấu hổ với bạn bè, đã bao lần cô giận mẹ và tự nhủ "sao mẹ người ta đẹp đẽ thế... còn mẹ mình thì... trông khủng khiếp quá!"

Trước đây còn chưa đi làm kiếm được tiền còn cần đến mẹ, còn giờ đây, cô đã có thể tự lập. Diệp cảm thấy hình như... không cần mẹ nữa!

Trên băng ca, mẹ nằm im lìm, cổ ngoẹo sang một bên, người đẫm đầy máu, mắt mẹ nhắm nghiền...

Diệp cố lay gọi mẹ mà không được. Cô khóc đến nghẹn lời. Khi cô y tá ngang qua, co hỏi:

- Cô ơi, mẹ cháu có sao không? Có tỉnh lại không cô?

Cô y tá không trả lời Diệp mà chỉ nói nhanh:

- Đi đóng viện phí ngay đi, đưa lên phòng mổ cấp cứu bây giờ!

Diệp chạy đi đóng viện phí. Khi trở lại thì họ đã đẩy mẹ vào phòng mổ. Cô đành đứng ở ngoài, lòng nóng như lửa đốt. Cô có cảm giác mình vừa khóc giả dối, mình vừa mong không có mẹ nữa. Thật tình thì mình thương mẹ, nhưng có một người mẹ tật nguyền như thế, làm sao mình còn vươn tới tương lai, hạnh phúc?

Cô nhân viên thu viện phí đi qua bảo:

- Nghe người ta nói bà cụ đi bán xôi phải không?

- Dạ, mẹ cháu bán xôi...

Giọng cô thu ngân thấp xuống:

- Như vậy là thuộc thành phần nghèo, em về đem sổ hộ khẩu ra phường xác nhận là người già nghèo, bệnh viện sẽ cho giảm viện phí, bệnh cụ nặng đấy, có cứu được cũng chữa khá lâu, giảm được viện phí cũng đỡ tốn hơn nhiều... em ạ!

Diệp trở về nhà, cô mở tung mấy hộc tủ để tìm sổ hộ khẩu. Chẳng biết mẹ cất giấy tờ ở đâu? Tìm đến ngăn tủ dưới bàn thờ thì cô bắt gặp một bao đầy những giấy tờ cũ kỹ, ố vàng; vài tấm ảnh rơi ra, Diệp ngồi xuống đất, tò mò lật xem từng tấm ảnh...

- Ai đây? Có phải là ba? Giống ảnh thờ quá! Và bên cạnh là mẹ chăng? Sao mẹ lại đẹp thế này à? Cô lật mặt sau, đúng là có ghi tên ba mẹ và ngày chụp chỉ trước năm sinh của cô một năm.

Cô bồi hồi xúc động tự nhủ, hóa ra trước đây mẹ đẹp thế này sao, lâu nay mẹ không hề cho mình xem những tấm ảnh này.

Cô lần giở thêm một số giấy tờ, một tờ báo cũ văng ra, cô nhặt lên, lẩm nhẩm đọc cái tít lớn trên báo: "Một người mẹ đã hy sinh cả thân mình để cứu đứa con thơ trong trận hỏa hoạn..." bên cạnh đó là tấm ảnh đăng kèm bài viết, trong ảnh, một bà mẹ ôm chặt đứa con, ấp nó vào ngực, lưng bà mẹ còng xuống che chở cho con, và lửa cháy xém cả tấm lưng, tóc của bà cũng bị cháy gần mất cả. Diệp đọc bài báo, nước mắt không cầm được cô run lên:

- Mẹ, mẹ ơi! Chính mẹ đã cứu con khỏi cơn hỏa hoạn, mẹ chịu cho lửa cháy đến tật nguyền suốt đời để cho con được sống, được xinh đẹp, con chỉ bị lửa xém một nửa bàn chân, nếu không có mẹ, có lẽ con đã bị tật nguyền suốt đời... Mẹ ơi, thế mà bao lâu nay con không hề biết, con đã hận mẹ, đã xấu hổ vì mẹ, con đã mong cho... đừng còn mẹ nữa... Trời ơi, con thật tội lỗi, con thật vong ân. Mẹ ơi, nếu mẹ có mệnh hệ nào con sẽ ân hận suốt đời. Diệp lảo đảo đứng dậy, thắp ba nén nhang lên bàn thờ ba rồi cúi đầu khấn nguyện:

- Ba ơi, xin ba phù hộ cho mẹ qua cơn nguy kịch, xin ba cứu mẹ. Ba ơi, nếu mẹ không còn nữa con biết làm sao để tạ lỗi với mẹ? Ba ơi, xin ba thương mẹ, thương con, ba phù hộ độ trì cho mẹ...

Cửa phòng mở rộng, vị bác sĩ bước vội ra hỏi:

- Ai là thân nhân của bà cụ bị tai nạn? Diệp vội vàng thưa:
- Dạ, cháu ạ, mẹ cháu có sao không thưa bác sĩ?
- Bà cụ như được một phép mầu nào cứu sống đấy nhé. Đã qua cơn nguy kịch rồi, nhưng chóng lắm cũng cả tháng nữa mới lấy lại sức khỏe. Tội nghiệp bà cụ, người đã đầy thương tích cũ nay lại thêm thương tích mới.

Diệp nói trong nước mắt:

- Cháu cám ơn bác sĩ đã cứu mẹ cháu. Rồi cô xin phép vào thăm mẹ. Mẹ chưa hồi tỉnh nhưng nhịp thở đã ổn định. Diệp ôm lấy mẹ, thều thào trong nước mắt:

- Mẹ ơi, con đây, con của mẹ đây, con sẽ không bao giờ để cho mẹ phải như thế này nữa ạ.

Trên gương mặt đầy thẹo nhăn nheo, tuy chưa hồi tỉnh hẳn, nhưng hình như bà đã nghe thấy những lời ấm áp chân tình của con gái, hình như bà đang mỉm một nụ cười.

Hoàng Hương Trang




Cô Hoàng Hương Trang

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2016

Đặc Sản Của Loài Người


Xin mời click vào hình trong bài để xem hình lớn
(Hình ảnh lấy từ Net)

Có thể nói tạo hóa ưu ái dành riêng cho loài người một thứ đặc sản mà không một giống loài nào có được, kể cả loài sống trên không, loại lội dưới nước hay loài ở trên mặt đất.

Đó là đặc sản nụ cười!

Chim chóc chỉ biết hót hoặc kêu, con hổ chỉ biết gầm, ngựa thì hí, dê kêu be be, bò thì rống, gà thì gáy, chó thì sủa, chó sói thì tru, mèo thì kêu, ve gào mùa hạ, rắn, rết, cá không kêu, ếch nhái cũng chỉ phát ra tiếng kêu đêm đêm, loài khôn ngoan như linh trưởng, khỉ, dã nhân cũng không biết cười như con người, các loài cá ngoài biển khơi đôi khi có tiếng phát ra đơn điệu để gọi nhau, đa số im lặng, tuyệt đối không cười bao giờ.


Như vậy rõ ràng tiếng cười là đặc sản của tạo hóa dành riêng cho loài người. Dù người ở châu lục nào, ở hoang đảo nào, ở sa mạc nào cũng biết cười, cười từ thuở khai thiên lập địa đến giờ.

Mới sơ sinh bà mụ đã dạy cho đứa trẻ mỉm cười trong giấc mơ. Suốt cuộc đời một con người đã cười muôn - vạn - ức - triệu lần trong mọi tình huống, bất kể giầu nghèo, sang hèn, no đói. Đến khi chết rồi vẫn còn "Ngậm cười nơi chín suối" thật mãn nguyện.

Khi lên voi, người ta hãnh diện cười hô hố. Lúc xuống chó, cũng mỉm một nụ cười an ủi lặng lẽ không muốn cho ai trông thấy.


Khi chuẩn bị lên bàn mổ, bệnh nhân cũng tự ban cho mình một nụ cười hy vọng và trấn an. Khi lành bệnh rồi, cũng cười vì vui mừng còn sống sót. Nữ sĩ thời tiền chiến Ngân Giang đã từng có bài thơ "Khỏi ốm" như sau:

                   Sáng nay ma bệnh lành đi rồi
                   Đứng trước gương xưa bỗng mỉm cười
                   Mắt vẫn lồng sao ngời ngợi sáng
                   Mặt còn khuôn nguyệt dịu dàng tươi
                   Làn môi thắm nở trong son đượm
                   Mái tóc huyền buông trước mái lơi
                   Những tưởng đất đen vùi má phấn
                   Nào ngờ non nước vẫn còn tôi.


Có thể nói không một thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ nào từ xưa tới nay không thể hiện nụ cười trong tác phẩm của mình.

Cụ Nguyễn Du viết:

                   "Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm" (Kiều)

Nụ cười bất hủ của nàng Monalisa trên tranh Tây Phương.

Trong ca dao Việt Nam cũng có:

                   "Miệng cười như thể hoa ngâu
                   Chiếc khăn đội đầu như thể hoa sen"


Hay nhà thơ Phạm Thiên Thư đã viết một cuốn sách dày ngàn trang "Tự điển cười" và đã được xác lập kỷ lục. Tiếng cười Ba Giai Tú Xuất, tiếng cười Bác Ba Phi, tiếng cười trong thơ Hồ Xuân Hương, tiếng cười Tiếu Lâm, kể cả tiếng cười trên báo Tuổi Trẻ Cười ... Khi vui tiếng cười sang sảng vang xa, khi thành công tiếng cười sảng khoái toại nguyện, gặp nhau bên mâm rượu thịt, bạn bè tay bắt mặt mừng, tiếng cười tràn ngập không gian. Người ta chia sẻ cho nhau niềm vui, tiếng cười, do đó người xưa nói:

                   "Cười vui thiên hạ đồng tình
                   Khóc than chỉ có một mình khóc than".

Người ta cười muôn ngàn kiểu, nào cười mỉm, cười mím chi, cười xỏ, cười ruồi, cười ngạo nghễ, cười gượng, cười nửa miệng, cười ha hả, cười hô hố, cười hi hi, cười nịnh, cười tình, cười mỉa mai, cười xòa, cười trừ, cười cầu tài v.v... và biết bao nụ cười khác nữa. Người trẻ cười theo kiểu thoải mái của người trẻ. Người già cười che miệng vì răng sún...

Rõ ràng, dù cười cách gì, kiểu gì, cũng chỉ con người là biết cười mà thôi.

Dù dạy cho con chó cưng cách gì nó cũng chỉ biết nhe răng khi chủ bảo cười chứ không cười ra tiếng được.


Vậy thì loài người phải tự hào là được sở hữu món của quý nụ cười mà không loài nào có được. Suốt cuộc sống từ sơ sinh đến khi nhắm mắt xuôi tay đã từng cười biết bao lần, khi chết còn được tặng câu "Mỉm cười nơi chín suối". Mà cả đến khi đã ra ma, vẫn còn được thiên hạ cho là "ma cười đêm trăng", "tiếng cười liêu trai"...

Biết như vậy ta phải quý món đặc sản nụ cười, phát huy nụ cười, giữ cho nụ cười tươi thắm trên môi, vì "Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ". Nếu ta không trân trọng món của tạo hóa ban cho, một ngày kia ngài giận ta có của không xài, ngài lấy lại thì nguy to!

Hoàng Hương Trang - Xuân 2015
(Trích trong tuyển tập Hoàng Hương Trang)




Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

Học Chữ Nhẫn

GIỚI THIỆU
Xin hân hạnh giới thiệu đến quý Thầy Cô, quý Đồng Môn và quý Thân Hữu
Truyện ngắn "Học Chữ Nhẫn", tác giả Hoàng Hương Trang (cựu GS Hoàng Thị Diệm Phương). Tốt nghiệp Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật thuộc viện Đại Học Huế 1961. Tốt nghiệp Sư Phạm Mỹ Thuật Saigon 1962. Nghiên cứu Mỹ Thuật Á Châu Tokyo 1963. Nguyên giáo sư Văn và Hội Họa các trường: Trung học Nguyễn Huệ Tuy Hòa, Trung học Ngô Quyền Biên Hòa, Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức. Giáo sư trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định trước 1975 và Đại học Mỹ Thuật Saigon sau 1975.
- Giải thưởng Nam Phương Hoàng Hậu (cuộc thi văn thơ học sinh tiểu học 1948 - Huế).
- Giải thưởng cuộc thi vẽ biểu mẫu nhà máy xi-măng Long Thọ - Huế - 1958.
- Giải thưởng viết về Thầy Tôi, báo Thế Giới Mới 1995 (TP Saigon).
- Giải thưởng sáng tác văn học thiếu nhi do UNICEP + Hội Nhà Văn VN tổ chức 2001 tại Hà Nội.
- Giải thưởng Âm Nhạc Việt Nam năm 2004 - Hà Nội (đồng tác giả với nhạc sĩ Quỳnh Hợp).
-  Giải thưởng văn xuôi NS Vô Ưu, thành phố Buôn Mê Thuật - Daklak - 2008.
- Giải thưởng văn học 1000 năm Thăng Long - Báo Giác Ngộ (TP Saigon) - 2010.
Trân trọng giới thiệu.
NHHN



(Kính tặng nhà thơ An Nhiên)

Tôi ở quận Sông Cầu, nhà ngó mặt ra sông, lại gần biển, luôn luôn hưởng luồng gió hào phóng mà đại dương ban tặng. Ở gần sông, gần biển, đôi khi cũng nhiều hệ lụy từ sông, biển ấy đem lại.

Số là mỗi sáng tinh mơ, thuyền cá từ biển về, vào cửa sông, đã có xe bạn hàng tấp nập tới mua. Thuyền chở tới bờ sông trước nhà tôi thì lên hàng, cả trăm sọt cá, tôm, mực ... chuyển từ thuyền lên bờ, rồi từ các xe lớn qua xe nhỏ, để mau mau tỏa về các chợ bán cho kịp buổi sáng.

Cá đã bán hết, xe đã chạy hết, nhưng còn lưu lại hàng chục vũng nước cá hôi tanh. Gió từ sông và biển cứ vô tư thổi thốc vào nhà tôi. Giờ đó các con, cháu tôi đã đi làm, đi học hết rồi, chỉ còn một mình tôi ở nhà chịu trận những cơn gió tanh tưởi hôi hám. Lúc đầu tôi bực tức la rầy và phản đối họ, không ăn thua gì, sau làm đơn nhờ chính quyền địa phương giải quyết, cũng chẳng có động thái gì. Thế là tôi, một ông già vừa điếc tai, vừa mờ mắt, lại đau chân, hằng ngày đành chịu trận cuồng phong xú uế đó.


Vịnh Sông Cầu

Sự đời cũng lạ, đã điếc tai, mờ mắt thì mũi lại càng thính hơn, vậy là có thể tôi bị hưởng mùi tanh hôi gấp nhiều lần hơn người khác. Chẳng lẽ cứ ngồi yên mà hít thở cái không khí bẩn thỉu ấy, hay là đóng chặt các cửa lại, tự giam tù mình trong nhà? Thôi thì đất chẳng chịu trời, trời phải chịu đất vậy. Tôi nghĩ thế rồi ra sân kéo dây nước dài cả vài chục mét qua phía bờ sông, xịt nước cho thật mạnh để rửa đường. Sau một hồi còm lưng kéo dây phun nước, khúc đường ấy đã sạch, bao nhiêu nước bẩn tuôn xuống sông, trả về biển hết, thế là mùi hôi hám không còn. Tôi mừng đã tìm được một biện pháp tẩy uế ổn thỏa. Con cháu tôi đến trưa đi làm đi học về đã có thể mở tung cửa hưởng ngọn gió mát. Tôi nghĩ thôi thì mỗi tháng mình chịu thiệt trả thêm vài chục ngàn tiền nước để mua sự trong lành cho cả nhà mình vậy.

Kể từ đó, sáng nào tôi cũng kéo dây, xịt nước, rửa đường như làm một buổi tập thể thao vậy. Có nhiều người đi ngang còn cười tôi "Ông già làm chuyện bao đồng".

Thỉnh thoảng mỏi lưng, vừa vặn qua vặn lại vừa cắn nhằn bọn lái cá hành tội ông già này, và tôi không dại gì cầu cho chúng mua may bán đắt, phát tài phát lộc. Phải thôi, chúng buôn bán kiếm lời, còn mình chịu tội, vậy hơi đâu cầu cho chúng mua may bán đắt làm gì, đời thường là vậy mà.

Tôi rửa đường kéo dài hơn một năm, cũng thành cái thói quen buổi sáng rồi, nhưng thỉnh thoảng vẫn còn bực tức nguyền rủa bọn lái cá cẩu thả, bừa bãi, vô ý thức.

Lái cá phân phối cá đi các chợ

Có hôm vừa lẩm bẩm nguyền rủa thì tình cờ tôi lờ mờ thấy trên tay chiếc nhẫn cưới mà tôi đã đeo gần suốt một đời. Nay vợ tôi qua đời đã lâu, nhưng tôi vẫn giữ chiếc nhẫn trên ngón tay để kỷ niệm, thỉnh thoảng sờ đến chiếc nhẫn cũ kỹ tôi lại nhớ đến vợ tôi, suốt một đời cơ cực vì chồng vì con, mà không bao giờ có một lời nặng nhẹ nào dù có giai đoạn khó khăn, đói rách vẫn nhẫn nhục chịu đựng. Nghĩ tới đó, tôi như nghe văng vẳng bên tai lời dịu dàng của vợ tôi:

- Anh còn đeo chiếc nhẫn cưới trên tay mà sao không suy gẫm điều gì cả vậy? Anh có biết chữ nhẫn là gì không? Nó là do hai chữ ghép lại đấy, đó là chữ Nhân và chữ Ngã mà thành, phải không anh? Có chữ nhân mà không có dấu Ngã thì sao thành chữ Nhẫn được? Suy ra, Nhân là người, Ngã là Ta, có phải mọi điều, mọi việc ở trên đời "mọi điều Nhân, Ngã, Nhẫn thì qua" không anh? Em lấy chữ Nho để nôm na giải ra chữ Việt đó. Đã đeo chiếc nhẫn trên tay thì phải biết nhẫn nhục, nhẫn nhịn, ẩn nhẫn, nhẫn nại ... Thì mọi điều hoan hỷ hết anh à.

Tôi buông sợi dây nước, đứng thẳng lưng dậy, thừ người ra giây lát, tay sờ soạn lên chiếc nhẫn cũ càng móp méo, gẫm đến lời vợ tôi vừa nói thì thầm bên tai và Ngộ ra rằng vợ tôi đã nói rất đúng: "Mọi điều Nhân, Ngã, Nhẫn thì qua". Mình đã chịu nhẫn nhục mỗi ngày rửa đường cho sạch hết hôi tanh cho chính mình, con cháu mình và người đi đường được hưởng cái không khí trong lành, cớ sao còn sân si nguyền rủa họ làm gì chứ? Dẫu mình không phải Bồ Tát thì cũng nên học lấy cái hạnh Bồ Tát thôi.

Thành phố Sông Cầu

Tôi rửa sạch con đường, kéo dây vào thì nghe con chim chích chòe treo ở hiên nhà hót vang lên như muốn động viên tôi "Cố lên! Cố lên!". À ra nó cũng hùa theo vợ tôi giảng cho tôi một bài học bỏ thói sân si. Tu lấy chữ Nhẫn.

Tôi không còn thấy mỏi lưng nữa, cuốn dây vào cất, rồi mở tung cửa lớn cửa sổ để đón làn gió mát rượi từ biển, từ sông thổi vào.

Sau đó một thời gian, thì may sao, địa điểm đậu thuyền, lên cá, chở xe, không biết vì lẽ gì họ đã chuyển đến một khúc sông xa hơn, cách nhà tôi mấy trăm mét. Hỏi ra mới biết, họ thấy một ông già, vừa điếc tai, mờ mắt, mà sáng nào cũng rửa mấy chục cái vũng nước tanh hôi do họ để lại, họ tội nghiệp dời tới địa điểm khác. Sự nhẫn nhục đã đem lại cho tôi cái kết quả thật tốt không ngờ!.

Hoàng Hương Trang - 2014


Xin mời click vào link ở dưới để thưởng thức nhạc do tác giả sáng tác và trình bày

oàng Hương Trang