Thứ Năm, 30 tháng 9, 2021

Trường Thi Chôn Nhau Cắt Rốn Đoạn 35

 



Trường Thi Chôn Nhau Cắt Rốn Đoạn 34

 



Một Bài Thơ Của Một Ân Sư

 

Giáo Sư Giản Chi Nguyễn Hữu Văn (1904-2005)

MỘT BÀI THƠ CỦA MỘT ÂN SƯ: GIÁO SƯ GIẢN CHI NGUYỄN HỮU VĂN (1904-2005)
Thầy Dương Anh Sơn 

Tôi vẫn còn nhớ vào giữa năm 2003, chúng tôi gồm nhiều thế hệ CSV Đại Học Văn Khoa Dalat, Ban Triết học, Viện Đại Học Dalat, đã từng theo học môn Triết học Trung Hoa do Thầy Giản Chi giảng dạy từ năm 1964 -1975 đến thăm Thầy trong một ngõ hẻm của khu chung cư Hoàng Diệu, ở đường Hoàng Diệu, Quận Tư, Saigon để mừng Thầy 100 tuổi. 

Ở tuổi "bách niên", Thầy Giản Chi với giọng ấm cúng và với một trí nhớ vẫn còn sự minh mẫn, đã cùng chúng tôi ôn lại một vài kỷ niệm trong những năm theo học với Thầy. Có nhiều lúc khi trò chuyện, Thầy cười sang sảng vui vẻ, đọc cho chúng tôi nghe một vài bài thơ đắc ý của thầy. Trong đó có bài: CẢM TÁC NĂM CHÍN MƯƠI TUỔI . Tôi đã cùng các anh chị em ghi lại:                                                  

Ô hay cuộc sống như vầy hả?

Ngó trước, trông sau bóng hỏi hình.

Một kiếp phù du vờ ấy xác,

Trăng khoanh huyễn hoặc, giả là danh.

Được thua, đi ở âu phần mệnh,

Phú quý vinh hoa lọ giật giành.

May có duyên thơ khuây tóc bạc,

Sông xuân gió dịu , nguyệt long lanh.

(Giản Chi 26/3/1993) 

Tôi đã theo học Thầy suốt hai năm học ở năm thứ 2 và năm thứ 3. Những giảng khóa về triết học Trung Hoa của Thầy Giản Chi và Thầy Lương Kim Định đã cho chúng tôi những hiểu biết về những giá trị nhân bản của Trung Hoa hình thành bởi nhiều nhà tư tưởng lớn lâu đời  luôn đề cao tính Thiện, đề cao  Nghệ thuật sống cùng nhiều cái hay, cái đẹp trong nền học thuật của họ. Tuy nhiên, nhờ những giờ học về Trung Hoa, chúng tôi cũng hiểu thêm mặt trái của nền văn minh đó do những kẻ cầm quyền xưa nay của họ thao túng luôn đề cao cái Ác, đề cao sự xâm lăng các dân tộc khác và cả cách họ đối xử với chính dân tộc Hán của họ! 

..... Ngoài ra, những giờ học của Thầy cùng với Thầy Trần Trọng San đã giúp tôi đâm ra mê say cố gắng trau dồi chữ Hán (dù chúng tôi không học ban Việt Hán). Chúng tôi được học Hán Văn chỉ ở năm thứ nhất và năm thứ hai nhằm có một ít căn bản để có thể hiểu hơn về triết học Trung Hoa. Các vị ân sư ở đại học đã giúp chúng tôi mở rộng sự hiểu biết về triết Tây và triết Đông cùng lúc cho bốn năm học chứ không tách ra hai lĩnh vực này như khuynh hướng một số đại học văn khoa khác. 

Nhắc lại vài hồi ức về Thầy Giản Chi nói riêng và các vị ân sư khác nói chung để trân trọng nhân cách và những bài giảng mà các Thầy đã mở cửa giúp tăng tiến sự hiểu biết của chúng tôi, trong đó có môn Triết học Trung Hoa do Thầy Giản Chi giảng dạy. Chúng tôi luôn biết ơn và kính trọng những bậc Thầy như thế. Đó là những người thầy đã ăn sâu trong tim não của chúng tôi và là những dấu ấn tốt đẹp của thời học đại học trước 1975. 

Sau đây, xin mượn bài viết của anh Lâm Hữu Tài, ( bạn cùng lớp với anh bạn thân là Nguyễn Anh Khiêm, tác giả cuốn KÝ ỨC SƠ SÀI, NXB Người Việt Books, USA) đã tóm tắt về cuộc đời Thầy Giản Chi:

- Nguyên Giáo Sư Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm, Viện Đại Học Saigon.

- Nguyên Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Huế, Viện Đại Học Huế.

- Nguyên Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Dalat, Viện Đại Học Dalat.

 VÀI DÒNG TIỂU SỬ G.S Giản Chi Nguyễn Hữu Văn

[Do anh Lâm Hữu Tài, CSV Ban Việt Hán ĐHVK Saigon, 1966-1969 viết]  

1- Tiểu sử:                 

Thầy Giản Chi sinh năm Giáp Thìn (1904), quê làng Yên Quyết (làng Cót), phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội). Thuở nhỏ theo đòi Nho học; đến năm 14 tuổi đỗ khóa sinh, sau đó được vào học trường Bưởi. Thầy tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính Hà Nội, sau khi tốt nghiệp được tuyển làm công chức ngành bưu điện tại Lai Châu, Sơn La, tỉnh Hải Dương. Thầy bắt đầu cộng tác với một số tờ báo tại Hà Nội. Khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, thầy đưa gia đình lên miền thượng du tản cư, tạm lánh tại vùng Hoàng Lưu, sông Vàng, Thanh Oai. Năm bốn mươi tuổi, thầy có hai câu thơ nói về quãng đời phiêu bạt của mình: “Dòng đời khôn đổi làm sông rượu, Bừng giấc quan hà lại muốn say” Từ 1940 thầy đã làm thơ đăng báo, nhưng mãi đến năm 1994 mới cho in thành tập “Tấc lòng”. Thầy từng nói: “Duyên làm thơ của tôi bắt nguồn từ cảnh đẹp trên đường Cổ Ngư hồi còn đi học. Nó đeo đuổi tôi mãi đến lúc đầu đã bạc vẫn vương vấn mấy câu: Gió đông mơ dáng hoa đào/Trà Phương Bối đậm nhớ Sao Trên Rừng”. Năm 1954, theo dòng người đi tìm tự do, thầy di cư vào Nam và cư trú tại Sài gòn. Tiếp tục làm công chức, dạy học tại Trường Đại học Sư Phạm Sài gòn, Đại học Văn khoa Sài gòn, Đại học Văn khoa Huế. Đại học Tổng hợp TPHCM (mấy năm đầu sau 30.4.1975). Thầy viết nhiều sách về triết học và văn học cổ Trung Hoa. Thầy kết thân với người bạn tâm giao, cụ Nguyễn Hiến Lê, và cũng là người anh em bạn rễ của thầy. Cả hai vị cộng tác chặt chẽ, cùng viết và dịch nhiều quyển sách có giá trị như “Chiến quốc sách”, “Sử ký Tư Mã Thiên”, “Đại cương triết học Trung Quốc”… Thầy là một lương sư tận tụy, một học giả uyên bác đã cống hiến rất nhiều cho nền học thuật nước nhà. Cụ Nguyễn Hiến Lê có vài lời nhận xét về thầy Giản Chi như sau: “Ông Giản Chi là một nghệ sĩ (…) tính tình hào hoa phong nhã, thích hoa, rượu, nhạc. Thơ ông có giọng lãng mạn của thời đó, nhưng không sướt mướt mà hào hùng”. Sau 30 tháng 4 năm 1975, thầy vẫn ở lại Sài gòn, mặc dù ba người con của thầy khẩn khoản xin rước thầy ra nước ngoài định cư, nhưng thầy đã từ chối. Thầy vẫn tiếp tục ở lại trong nước, viết sách, làm thơ nhưng không còn nhiệt tình như thời gian trước nữa. Đến 14 giờ 55 phút chiều 22 tháng 10 năm 2005, thầy tạ thế tại nhà riêng ở quận 4, thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 102 tuổi. Ngày 26/10/2005, rất nhiều học trò cũ của thầy đến kính viếng thầy tại nhà tang lễ số 25 Lê Quý Đôn và chia buồn với các con của thầy vừa từ nước ngoài về quê báo hiếu.  

2- Tác phẩm:    

- Cô độc – dịch truyện Lỗ Tấn (1954) 

- Cái đêm hôm ấy (dịch Somerset Maugham)     

- Lỗ Tấn tuyển tập (1987).     

- Tấc lòng (thơ 1993). 

- Vương Duy thi tuyển (1992).      

* Các tác phẩm soạn chung với Nguyễn Hiến Lê:  

- Đại cương triết học Trung Quốc, thượng và hạ (1965).   

- Chiến quốc sách (1967). 

- Sử ký Tư Mã Thiên (1972). 

- Tuân Tử (1974).   

- Hàn Phi Tử (1975). 

   (Viết bởi Lâm Hữu Tài và các cựu SV ban Việt Hán, khóa 1966-1969)


Giáo sư Giản Chi Nguyễn Hữu Văn và SV ban Việt Hán Khóa 1966-1969

Thứ Tư, 29 tháng 9, 2021

"Lấy Chồng Cho Vợ"

 

Hình minh họa (Internet)

"LẤY CHỒNG CHO VỢ"
Nguyễn Đình Phùng 

Được tin một người bạn bị ung thư, bác sĩ đã chê, cho về nhà nằm hospice chờ chết, tôi vội bay sang tiểu bang bạn tôi đang ở để thăm lần cuối. Đến nhà vào thăm, vợ người bạn đưa ra vườn sau, thấy anh bạn quý đang ngồi một mình uống trà, nhâm nhi từng ngụm ngắm trời, mây, nước, nhà bạn ở sát bờ sông khung cảnh thật hữu tình! Không có vẻ gì một người sắp đi về chỗ ô hô ai tai, chỉ thấy một anh đang vui vẻ an nhàn hưởng đời, không chút sầu bi!

Hỏi thăm, anh bạn cười: "Tao chẳng sao cả! Sắp chết thôi! Cũng là chuyện thường tình! Chuyện nhỏ thôi mà!". Bạn tôi vẫn có tính từ thuở xưa. Không coi chuyện gì là quan trọng, cái gì cũng gọi là chuyện nhỏ. Hỏi hắn, thế chuyện lớn là gì? Hắn ngẫm nghĩ một lúc. Rồi lắc đầu: "Chẳng có chuyện gì là lớn trên cõi đời này cả!". Biết tính bạn nên tôi cũng cười theo: "Ừ! Chuyện nhỏ! Thế bác sĩ nói mày còn mấy tháng?". Hắn trả lời: "Ba tháng là cùng! Nhằm nhò gì! Cũng được 2 tháng rồi. Còn những 30 ngày nữa cơ mà! Ngồi xuống đây, uống chút trà với tao. Rồi nói chuyện đời chuyện người cho vui".

Trông mặt hắn hơi khác lạ, tôi hỏi: "Mày có uống thuốc gì không? Trông mày hơi là lạ làm sao ấy!". Hắn cười:"Tao đang phê! Uống thuốc giảm đau loại ma tuý. Nên người lâng lâng dễ chịu lắm mày ơi! Đã thật! Mấy anh bác sĩ bảo tao uống nhiều sẽ ghiền! Tao chửi toáng lên: Xin lỗi mấy anh! Mấy anh nói tôi còn ba tháng nữa là tịch! Còn sợ tôi ghiền là nỗi gì! Cầu cho thuốc hiệu nghiệm để tôi không đau, lại sợ phản ứng phụ là làm sao? Mấy anh sợ DEA điều tra rồi bắt tôi phải chịu đau à! Tôi report mấy anh lên State Board bây giờ! Chúng nó nghe moa dọa, sợ quá nên cấp cho moa thuốc giảm đau ma túy hạng nặng, muốn bao nhiêu cũng có! Không làm cho chúng sợ là không xong mày ơi!".

Bạn tôi là luật sư! Nên hay dọa chuyện kiện cáo! Bác sĩ sợ cũng phải! Nhưng không hiểu thấy bạn tôi vui vẻ cười nói là do thuốc hay do bản tính cố hữu của hắn. Có lẽ cả hai. Ngồi một lúc, thấy vợ mang bình trà mới ra thay, tên bạn đợi vợ vào trong, nháy mắt bảo: " Mày thấy vợ tao đẹp không? Lại sắp có một triệu tiền bảo hiểm nhân mạng của tao! Tao chết đi, khối đứa sẽ lăm le nhảy vào! Nhưng tao tính toán planning xong xuôi cả rồi!". Bạn tôi vốn là người mưu mô, việc gì cũng sắp xếp, sửa soạn, lập chương trình đâu ra đó, không bao giờ để cho việc bất ngờ xảy ra! Chỉ mỗi chuyện bị ung thư là không plan được!

Hắn cười: "Mày còn nhớ thằng Đạt móm không? Nó cũng ở trong nhóm bạn mình chơi thuở xưa. Nó mê vợ tao như điếu đổ. Vợ tao cũng có cảm tình với nó! Cho đến khi tao nhảy vào! Tội nghiệp Đạt móm! Tao hạ nó đo ván. Nói đúng hơn, nó tự lượng sức mình, thấy thua tao quá nên tự động rút lui! Nhưng nó dễ thương quá mức đi. Không một chút giận hờn, thù ghét gì tao. Nó ôm mối thất tình với vợ tao nhưng không lộ ra ngoài, chỉ tao biết, vợ tao cũng tưởng nó nguôi ngoai rồi! Ngày đám cưới tao còn để nó làm phù rể. Trông nó say đắm nhìn vợ tao lúc đó tao cũng thấy mủi lòng thương! Nó sang bên này lấy vợ, làm ăn cũng thành công lắm. Con cái đều khá, thành tài cả. Rồi hai năm trước, vợ nó bị bệnh chết..."

Tên bạn nhấp ngụm trà. Hắn chép miệng: "Mọi sự có số cả! Ngày vợ thằng Đạt chết cũng là ngày tao khám phá ra bị ung thư. Tao tưởng với đám bác sĩ giỏi như ở đây, tao có thể đánh bại được ung thư, khoẻ lại như thường. Nhưng sồ trời đã định!". Hắn nói tiếp: "Tao có linh tính trước. Nên đưa đám vợ nó xong, tao nói với nó: "Toa để tang vợ xong, đừng nghĩ đến chuyện lấy ai khác. Nhất là đừng có về Việt Nam rước một em nào sang đây nhé! Toa cũng già rồi! Lấy một em trẻ ở Việt Nam sang, chỉ ba bảy 21 ngày, nó sẽ cắm sừng lên đầu toa tua tủa. Rồi nó có thẻ xanh, sẽ lấy hết tiền của toa đi với thằng khác ngay. Chớ có dại!"

"Tao biết nó vẫn còn mê vợ tao như xưa. Nên tuy thoáng có ý nghĩ trong óc tao gạt đi ngay, nghĩ là mình sẽ qua khỏi bệnh. Nhưng giờ đây, sự thật phũ phàng là tao chỉ còn một hai tháng, nên tao plan cho vợ tao và Đạt móm xong cả rồi! Coi như chuyện hậu sự cho vợ tao sau khi tao chết! Cũng là theo chuyện của vợ một anh bác sĩ ở vùng này. Anh ta chết mấy năm trước vì bệnh tim. Bà vợ sau mấy năm vẫn còn xuân tình phơi phới, muốn đi bước nữa nhưng không tìm ra ai thích hợp. Rồi chị ta có người bạn gái thân thiết hồi đi học, lấy chồng cũng là bác sĩ ở một nơi khác. Bà này bị ung thư vú cũng sắp chết, bắt chồng hứa là khi mình chết phải cưới người bạn của mình về! Bây giờ mọi sự êm đẹp cả. Hai người góa sống với nhau cũng hạnh phúc lắm. Tao biết chuyện này nên cũng bắt chước theo thôi!

"Tao nói vợ tao. Chỉ để tang tao 3 tháng thôi! Thế là quá đủ rồi! Tao đã book sẵn vé máy bay cho vợ tao và Đạt móm đi du lịch một tour 3 tháng khắp thế giới, những chỗ nào tao chưa đưa vợ tao đi. Rồi về lại đây làm đám cưới hẳn hòi. Tao cũng soạn sẵn prenuptial agreement, người nào tài sản riêng người đó. Con cái tao cũng dạy bảo hết. Không đứa nào được lộn xộn. Đứa nào cũng vợ chồng con cái cả rồi. Để yên cho mẹ chúng mày sống! Rồi vợ tao sang chỗ thằng Đạt ở. Hay nó về ở nhà đây, sao cũng được, tùy hai người! Mày thấy tao tính có hay không?"

Tôi nhìn anh bạn thương cảm. Miệng cười nhưng hai hàng nước mắt như mưa. Hóa ra sau cái vỏ tính toán, bất cần đời, cynical của bạn tôi, vẫn là một trái tim mềm yếu, đầy thương yêu người vợ của mình. Chỉ sợ sau khi mình qua đi, vợ cô đơn, đau khổ và cần bàn tay bảo bọc. Nên xếp đặt cho đám cưới của vợ mình và người bạn tình địch cũ. Để khi mình không còn nữa, trên Trời cao nhìn xuống, còn thấy an ủi là vợ mình vẫn tiếp nối được đời sống, thảnh thơi và hạnh phúc, bên cạnh người bạn cũ năm xưa.

Nguyễn Đình Phùng 

Thứ Ba, 28 tháng 9, 2021

Chân Thành Cảm Tạ

 



New York: Bệnh Viện Sa Thải Nhân Viên Không Chịu Chích Covid

 

Nhân viên y tế chuẩn bị làm việc trong phòng cấp cứu tại một bệnh viện ở New York.

NEW YORK: BỆNH VIỆN SA THẢI NHÂN VIÊN KHÔNG CHỊU CHÍCH COVID
VOA 

Các bệnh viện ở New York đầu tuần này bắt đầu sa thải hay đình chỉ công tác nhân viên y tế không tuân hành lệnh tiểu bang về việc tiêm vaccine COVID-19, dẫn tới việc thiếu nhân viên khiến một số bệnh viện phải hoãn các cuộc giải phẫu hay cắt giảm dịch vụ.

Thị trưởng thành phố New York, Bill de Blasio, bày tỏ lo ngại về các khu vực khác của tiểu bang New York nơi có tỉ lệ tiêm chủng thấp hơn.

Việc đẩy mạnh tiêm chủng ở New York diễn ra trong lúc Tổng thống Joe Biden và các lãnh đạo chính trị liên bang và các tiểu bang khác đang tăng cường áp lực lên những ai chưa chịu tiêm chủng, một số người từ chối chích ngừa vì lý do tôn giáo hay sức khỏe.

Sở Y tế tiểu bang New York tháng trước ra lệnh bắt buộc tất cả nhân viên y tế tới ngày 27/9 phải tiêm ít nhất một mũi vaccine, khiến các bệnh viện đổ xô tiêm chủng cho nhân viên.

Trong số 43.000 nhân viên của 11 bệnh viện công tại thành phố New York, có khoảng 5.000 nhân viên chưa chích ngừa, bác sĩ Mitchell Katz, người đứng đầu Y tế và Bệnh viện Thành phố New York, cho biết.

Hôm 25/9, Thống đốc tiểu bang New York, Kathy Hochul, cho hay đang tính chuyện dùng Vệ binh Quốc gia và nhân viên y tế ngoài tiểu bang để bù đắp khoảng trống thiếu hụt nhân viên y tế trong bang.

16% trong số 450.000 nhân viên bệnh viện trong tiểu bang chưa được tiêm chủng hoàn toàn.

Các nhân viên y tế bị sa thải vì không chịu chích ngừa COVID sẽ không đủ điều kiện nhận bảo hiểm thất nghiệp trừ phi họ có giấy chứng nhận lý do sức khoẻ không cho phép tiêm vaccine COVID.

VOA

Pfizer Bắt Đầu Thử Nghiệm Thuốc Uống Ngừa Covid-19

 

Vaccine COVID-19 của Pfizer.

PFIZER BẮT ĐẦU THỬ NGHIỆM THUỐC UỐNG NGỪA COVID-19
VOA

Pfizer ngày 27/9 loan báo bắt đầu cuộc nghiên cứu quy mô lớn thử nghiệm thuốc uống chống virus để ngừa COVID nơi những người đã bị phơi nhiễm virus.

Hãng Pfizer và các đối thủ, trong đó có công ty Merck & Co tại Mỹ và công ty dược Thụy Sĩ Roche, đang chạy đua để bào chế loại thuốc viên dễ uống chống COVID.

Cuộc nghiên cứu giai đoạn giữa đến cuối sẽ thử nghiệm thuốc PF-07321332 của Pfizer nơi 2.660 người khỏe mạnh, trên 18 tuổi, sống cùng hộ gia đình với người nhiễm COVID có triệu chứng.

Trong cuộc thử nghiệm, thuốc PF-07321332, được thiết kế để ngăn hoạt động của một enzyme chính cần thiết để virus corona nhân lên, sẽ được dùng với một liều thấp Ritonavir, một loại thuốc có từ lâu được sử dụng rộng rãi trong các phác đồ điều trị phối hợp đối với bệnh nhân HIV.

Cho đến nay, thuốc tiêm vào mạch máu Remdesivir của công ty Gilead Sciences là thuốc chống virus duy nhất được chấp thuận chữa trị COVID-19 tại Mỹ.

Pfizer cũng bắt đầu một cuộc nghiên cứu khác đối với thuốc PF-07321332 nơi bệnh nhân trưởng thành, có triệu chứng nhưng không nhập viện.

Merck và đối tác Ridgeback Biotherapeutics mới đây mở cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn cuối đối với thuốc Molnupiravir để ngừa COVID.

Molnupiravir cũng được nghiên cứu trong giai đoạn thử nghiệm cuối nơi các bệnh nhân không nhập viện để xem thuốc có làm giảm nguy cơ nhập viện hay tử vong hay không.

VOA

Sứ Mệnh Văn Hóa

GIỚI THIỆU

Đáp lời mời của BBT, tiến sĩ Trần Xuân Thời mới gửi cho diễn đàn NHHN bài SỨ MỆNH VĂN HÓA.

Tiến sĩ Trần Xuân Thời là phu quân của cô Linda Ngọc Nguyễn (rể Phú Yên). Thầy cô đã vài lần tham dự Đại Hội CHSLT Phú Yên, đồng thời NHHN cũng được vinh dự đón tiếp Thầy Cô mấy lần tại San Jose.

Bài "Sứ Mệnh Văn Hóa" được nghiên cứu, tham khảo và biên soạn  công phu nên rất có giá trị. Xin mời quý vị theo dõi.

Trân trọng,

NHHN


Tiến sĩ Trần Xuân Thời

Họp mặt ngày 22-8-2021 tại San Jose (TS Trần Xuân Thời, hàng ngồi thắt cà vạt xanh)


SỨ MỆNH VĂN HÓA
TS Trần Xuân Thời

“Tấc lòng cố quốc tha hương,
Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.
Cảnh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.”(Nguyễn Du)

Sau 46 năm trời viễn xứ, cảm giác chung của chúng ta là không nơi nào bằng quê hương mình, và cũng không có ngôn ngữ nào truyền cảm bằng ngôn ngữ chúng ta nghe từ thuở còn cưu mang trong lòng quê mẹ.  Trong cuộc sống cộng đồng chúng ta ngày nay, Việt ngữ vẫn đóng vai trò quan trọng, là dụng cụ bậc nhì để ghi chép âm thoại sau lời nói, bắc nhịp cầu thông cảm giữa người và người, để truyền thông cái tình và hoằng dương cái lý, lưu truyền kiến thức và tình cảm cho hậu thế.

Lịch sử chứng minh cho chúng ta thấy, trải qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, chúng ta vẫn giữ được truyền thống văn hoá dân tộc, không để cho Bắc phương đồng hóa. Ngày nay trên bước đường lưu vong, dù đôi khi bất mãn với hiện tại, tiếc nuối quá khứ và hy vọng vào một tương lai tốt đẹp, nhưng chúng ta vẫn đặt tâm vào vấn đề giáo dục con em, bảo tồn và phát huy Việt ngữ, nếu không Việt ngữ sẽ mai một dần.

Thời gian trôi qua nhanh như bóng câu qua cửa. Lớp hậu sinh trưởng thành và được giáo dục trong sinh cảnh văn hóa mới sẽ, có thể, không còn thiết tha đến Việt ngữ, vì không được học hỏi, không hiểu và do đó không thích, đúng như câu “Vô tri bất mộ”. Học Việt ngữ qua báo chí, kinh điển, sử sách, vừa bảo tồn được ngôn ngữ Việt, vừa phát huy được năng khiếu sinh ngữ. Truyền thông bằng ngôn ngữ là năng khiếu đặc trưng của con người, vượt ra ngoài biên giới chủng tộc, không gian và thời gian. Năng khiếu ngôn ngữ phát triển đồng thời với khả năng tri giác ngoại giới, khả năng thu nhận và truyền thông kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo.

Tiếng nói là phương tiện trực tiếp truyền thông tư tưởng và tình cảm giữa người và người và được mệnh danh là dụng cụ bậc nhất trong vấn đề thông đạt. Khi đã có tiếng nói, người ta tìm ra phương thức diễn đạt tiếng nói bằng ký hiệu gọi chung là văn tự. Văn tự được xem như dụng cụ bậc nhì để có thể chuyển tải tư tưởng đến tha nhân qua không gian và thời gian như sách sử, báo chí, và ngày nay còn có dụng cụ truyền thanh và truyền hình, internet, để nối dài lời nói xuyên lục điạ.

Nếu gọi nhạc là nghệ thuật tiết tấu âm thanh, thì văn tự là nghệ thuật phối trí ký hiệu để ghi chép và chuyển đạt tư tưởng. Tiến trình học hỏi để phối trí, lãnh hội và diễn đạt tư tưởng không phải chỉ thu gọn trong trường thi trận bút từ tiểu học cho đến đại học mà còn phải nghiên cứu, trau dồi có khi suốt cả cuộc đời. Câu nói “văn ôn võ luyện” thật không sai.

Nước ta vốn xưng văn hiến đã lâu, phong tục Bắc Nam sẵn có.” Trong suốt thời Bắc thuộc chúng ta đã dùng chữ Hán, mãi đến sau năm 936, thời tự chủ, theo truyền thuyết cụ Hàn Thuyên đã dùng chữ Nôm để ghi chép tiếng Việt, chữ Nôm được xem như chữ viết đầu tiên của nước ta.  Nhiều tác phẩm văn chương trong suốt các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần được viết bằng chữ Hán. Chữ Nôm được dùng nhiều vào đời Lê Trung Hưng và Nguyễn. Có lẽ vì sự cạnh tranh giữa hai môn phái trọng Nôm và môn phái trọng Hán, nên các văn kiện của triều đình đều dùng chữ Hán, mãi đến thời Tây Sơn chữ Nôm mới được trọng dụng.

Chữ Nôm và chữ Hán đều là văn tự cho giới khoa bảng và nho sĩ hơn là thứ dân vì tính chất phức tạp trong lối ghép chữ, phải mất rất nhiều thì giờ mới có thể học hỏi và lãnh hội được. Tình trạng này đã góp phần vào sự hình thành giai cấp nho sĩ, khoa bảng, liệt vào hàng đầu của giai cấp xã hội.

Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt
Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên
Có giang sơn thì sĩ đã có tên
Từ Chu, Hán vốn sĩ này là quý” (Nguyễn Công Trứ)

Trong thời phôi thai của nền văn học Việt, các vị sư nổi danh như Ngô Chân Lưu và Trương Ma–Ni được vua Đinh Tiên Hoàng phong làm Văn Tòng và Tăng Lục đã đóng góp vào phần trước tác và truyền bá Hán học. Đến đời Tiền Lê, khi sứ giả nhà Tống sang Việt Nam, vua Lê Đại Hành, đã thỉnh Sư Lạc Thuận, giả làm khách lái đò, đối đáp văn thư với sứ giả nhà Tống. Sư Ngô Chân Lưu soạn văn tiễn sứ giả. Các vị thâm nho này đã nổi danh về văn học và tham dự quốc sự, được dân gian truyền tụng.

Câu thơ Lạc–Thuận, sứ Tống khen hay,
Bài ca Chân–Lưu nổi danh muôn thuở

Sang triều đại nhà Lý, Lý Công Uẩn, tức là Lý Thái Tổ, lúc 3 tuổi đã được Pháp Sư Lý Khánh Vân nhận làm con nuôi. Khi sang nghiệp nhà Lý, ngài rất tôn sùng đạo Phật. Đây là thời cực thịnh của Phật giáo. Đặc điểm là các vị sư, dù được triều đình kính nễ vẫn chủ trương hòa đồng tôn giáo “Tam Giáo đồng nguyên” – Nho–Thích–Lão.

Nhà Lý đã mở ra những khoa thi Tam Giáo. Sư Viên Chiếu đã sánh Phật Giáo và Khổng Giáo như mặt Trời và mặt Trăng, “Trú tắc minh ô chiếu, dạ lai ngọc thố minh”. Ngày thì mặt trời chiếu, đêm thì mặt trăng soi. Tinh thần hòa đồng của các vị sư chiếu sáng trong suốt các triều đại khai quốc này như sư Bảo Thịnh, sư Minh Tâm, sư Vạn Hạnh, sư Đạo Hạnh, sư Minh Không, kể cả thuyết pháp lấy Thân, Khẩu, Tâm làm gốc của đạo.

Về phương diện tư tưởng, triết lý Phật học đã thấm sâu vào nguồn tình tự dân tộc. Hai tác phẩm nổi danh nhất của nền văn học Việt Nam là Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu vào đời Lê Trung Hưng và Kim Vân Kiều truyện của Nguyễn Du vào thời Nguyễn sơ đã thể hiện rõ rệt triết lý Phật học về nhân duyên, nghiệp báo làm phong phú hoá thêm triết lý nhân sinh Việt vốn chịu ảnh hưởng của Nho học về luân thuờng đạo lý dựa trên Tam Cương (quân, sư, phụ); Ngũ Thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín); Ngũ Luân (Vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bè bạn); Tam Tòng (khi nhỏ ở với cha mẹ, lớn lên theo chồng, chồng qua đời theo con); Tứ Đức (công, dung, ngôn, hạnh) qua phương pháp giáo dục giúp con nguời phát triển qua 7 ý niêm chính: (1) Cách vật trí tri (extention of knowledge by investigating things), (2) thành tâm (the will becomes sincere), (3) chánh ý (the mind is rectified), (4) tu thân (personal life is cultivated), (5) tề gia (the family regulated), (6) trị quốc (the state put in order), (7) bình thiên hạ (and peace is established throughout the world) dựa trên triết lý của Nho Giáo dùng Tứ Thư, Ngũ Kinh lám sách giáo khoa qua các triền đại quân chủ Trung Hoa và Việt Nam.

Ôn Như Hầu, mượn lời Cung Oán, đã luận về thân thế con người sinh ra trong bể khổ:

Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
Ai bày trò bãi bể nương dâu
Trắng răng đến thuở bạc đầu
Tử, sinh, kinh, cụ, làm nau mấy lần.

hay:

Phong trần đến cả sơn khê,
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này
Tuồng huyễn hỏa đã bày ra đấy
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau
Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì!”

Đời sinh ra trong cảnh khổ vì vướng phải nhân duyên, tiền kiếp.

Hẳn túc trái làm sao đây tá
Hay tiền thân hậu quả xưa kia
Hay Thiên Cung có điều gì
Xuống trần mà trả nợ đi cho rồi

Do đó, muốn thoát cảnh đời đoạn tâm can của chốn trần ai khổ lụy, phải dứt thất tình lục dục, mượn chốn thiền môn để tu niệm.

Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật
Mối thất tình quyết dứt cho xong
Đa mang chi nữa đèo bòng
Vui gì thế sự mà mong nhân tình
Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa
Mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên
Thoát trần một gót thiên nhiên
Cái thân ngoại vật là tiên trên đời

Thân phận nàng Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du cũng ba chìm bảy nổi:

Ma đưa lối, quỷ đưa đường
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi
Hết nạn ấy đến nạn kia
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần
Trong vòng giáo dựng gươm trần
Kề lưng hùm sói giữ thân tôi đòi

Cuộc đời lưu lạc giang hồ của Kiều cũng chỉ vì nhân duyên, nghiệp chướng.

Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn, Trời gần Trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài nằm với chữ tai một vần

Sau 15 năm lưu lạc giang hồ, Kiều đã được tái hợp với Kim Trọng, thoát cảnh ngang trái của cuộc đời.

Nửa giấc đoạn trường tan gối điệp
Một dây bạc mệnh dứt cầm loan

Nhờ nước sông Tiền Đường đã giải oan;

Mười mấy năm trời nợ giủ xong
Sông Tiền Đường đục hóa ra trong.
....

Tấm lòng thiên cố thương mà trách
Chăng trách chi Kiều trách hóa công!

Nếu các vị danh sư của Phật Giáo đã tích cực đóng góp vào sự hình thành nền văn học Việt từ thuở phôi thai thì khoảng năm 1530 dưới thời Vua Lê Chúa Trịnh, các vị Thừa sai Thiên Chúa Giáo đến giảng đạo tại Việt Nam đã sáng chế và lưu truyền cho hậu thế một phương pháp ghi chép tiếng Việt độc nhất vô nhị: chữ Quốc Ngữ, một chứng tích của tôn giáo góp công vào sự phát triển của nền Văn hóa Việt Nam.

Khi các phái bộ Thiên Chúa Giáo đến Việt Nam, vì nhu cầu giảng kinh Thánh và nhu cầu truyền đạt, các Giáo sĩ thừa sai học nói tiếng Việt và dày công nghiên cứu cách dùng mẫu tự La-tinh a, b, c... để viết tiếng Việt.

Công trình này do nhiều Giáo sĩ thực hiện, nhưng người được nhắc nhở đến nhiều nhất là cố Giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes). Ngài đã học cách nói tiếng Việt với một cậu bé Việt 13 tuổi. Cậu bé này là một thần đồng về ngôn ngữ. Chỉ trong 3 tuần lễ, Cha Đắc Lộ đã đọc được hầu hết các thanh âm tiếng Việt, và ngược lại cậu bé Việt đã học được tiếng La-tinh. Cậu bé đã trở thành đồ đệ của Cha Đắc Lộ, đọc kinh cầu bằng La-tinh và trở thành một thầy giảng nổi tiếng thời bấy giờ.

Ban đầu tiếng Việt có nhiều chữ khó viết như Trời viết thành “blời”, nhưng dần dần chữ Việt viết theo mẫu tự La-tinh biến thành một khí cụ sắc bén, một phương pháp mới trong vấn đề ký âm, ghi chép tiếng Việt một cách giản tiện, dễ dàng và nhanh chóng. Nhiều người có thể lãnh hội, không tốn công phí sức như học chữ Nôm và chữ Hán. Người ta quen gọi là chữ Quốc Ngữ để phân biệt với chữ Nôm và chữ Hán.

Chữ Quốc Ngữ được các Giáo sĩ Thiên Chúa Giáo phát minh đã mở con đường sáng cho nền giáo dục nước nhà, nhờ cách ghi chép và đánh vần giản tiện. “Quốc Ngữ chữ nước ta” ra đời đúng lúc mà:

Đạo học ngày này đã chán rồi
Mười người theo học chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khóa tư lương trấp trỏm ngồi(Tú Xương)

Hai tác phẩm đầu tay là cuốn tự điển Quốc Ngữ – Bồ Đào Nha – Latin (Dictionarium Annamiticum sey Tonkinese cum Lusitanum, et latinum declaration) và cuốn Kinh Nghĩa dạy Giáo Lý cho tân tòng (Catechismus pro iis qui volunt suscipene Baptism in octo dies divisus) bằng song ngữ La–Việt do Giáo sĩ Đắc Lộ trước tác và xuất bản vào năm 1651.

Sau giai đoạn khai phóng, Giám Mục Behaine và Giám Mục Taberd đã gọt dũa hình thức chữ Quốc Ngữ sắc bén như ngày nay, qua các cuốn Tự Điển Việt-La xuất bản năm 1838, cha Ravier nhuận sắc và được tái xuất bản vào năm 1880.

Trong thời gian này, tại Nam Việt có đến 527 trường dạy Quốc Ngữ gồm hơn 17,000 học sinh nam nữ so với 209 trường dạy chữ Hán cho khoảng 2,300 học sinh. Sỉ số học sinh Hán ngữ giảm sút rất nhiều. Mãi đến năm 1917 các khoa thi Hương bị bãi bỏ. Hán học chỉ còn là lưu niệm vang bóng một thời! Theo mới nới cũ phải chăng là luật đào thải của thiên nhiên?

Văn tự là phương tiện truyền đạt tư tưởng và nối dài lời nói. Chữ Quốc ngữ đã đủ sắc bén để diễn tả tư tưởng thì tội tình gì mà miệt mài Hán tự, tốn công, phí sức, thiếu tính chất phổ cập trong quần chúng.

Kế nghiệp của các Giáo sĩ Thiên Chúa Giáo, các giáo hữu cũng đã đóng góp tích cực vào sự bành trướng chữ Quốc Ngữ như Pétrus Ký, Paulus Của, Nguyễn Văn Vĩnh... Petrus Trương Vĩnh Ký (1837–1898) là một thần đồng về ngôn ngữ. Ông nói được 12 thứ tiếng, và Chủ Bút tờ Công Báo đầu tiên ở Nam Việt là Tờ GIA ĐỊNH BÁO, xuất bản năm 1865.

Gia Định Báo là tờ báo truyền bá Quốc Ngữ đầu tiên làm nền tảng cho các báo Quốc ngữ sau này. Năm 1909, ông Canavaggio xuất bản tờ Nông Cổ Mín Đàm với sự cộng tác của các vị Lương Khắc Minh, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt. Ông Trần Chánh Chiếu, sau đó làm Chủ Bút tờ LỤC TỈNH TÂN VĂN xuất bản năm 1907.

Các học giả của Phong Trào Duy Tân cũng đã rầm rộ truyền bá Quốc Ngữ như quý ông Phan Chu Trinh (1872–1926), Ngô Đức Kế (1878–1929), Trần Quý Cáp (1870–1908) và Huỳnh Thúc Kháng (1876–1949).

Tại Bắc Việt nhà giáo Bùi Xuân Phái và các thông ngôn, tham biện lập Hội Trí Tri để phổ biến văn minh học thuật Âu Mỹ vào năm 1892. Năm 1891 tờ Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo xuất bản bằng Hán Văn và sau đó thêm phần Quốc ngữ. Đến năm 1907 đổi danh thành Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo do Nguyễn Văn Vĩnh làm Chủ Bút, đăng tải các tác phẩm dịch thuật như thơ La Fontaine, kịch Moliere, khảo luận tư tưởng chính trị về Tự Do, Bình Đẳng... Năm 1905 tờ Đại Việt Tân Báo xuất bản song ngữ Hán – Quốc Ngữ do ông Đào Nguyên Phổ làm chủ bút, nối liền giữa tân học và cựu học.

Trên toàn quốc phong trào “Học Báo” đã được phát động rầm rộ, kể cả chính quyền Đông Dương dưới thời Toàn Quyền Beau (1901–1908). Toàn Quyền Paul Beau đã tích cực hỗ trợ chương trình truyền bá Quốc Ngữ và thành lập Đại học Đông Dương tại Hà Nội năm 1906. Vì sinh viên bãi khóa phản đối chính sách thuế khoá của chính quyền thuộc địa nên Toàn Quyền Kolbukowski ra lệnh đóng cửa Đại học Đông Dương. Đến năm 1917 Toàn Quyền Albert Sarraut cho phép mở lại với danh xưng mới Đại học Hà Nội. Năm 1905, với Phong Trào Duy Tân, cụ Phan Bội Châu xuất dương qua Nhật Bản, viết về những bức Huyết Lệ Thư, kể rõ kinh nghiệm Duy Tân của Nhật Hoàng, được phiên ra chữ Quốc Ngữ, truyền bá trong dân chúng 3 miền, và dùng làm tài liệu giáo khoa cho Trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Trường ĐKNT cũng đã bị đóng cửa sau 10 tháng hoạt động.

Về cơ sở giáo dục, ngoài các trường công lập lớn như Pétrus Ký, Quốc học, Chu Văn An... Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã mở thêm trên 850 ngôi trường, đóng góp lớn lao vào nền giáo dục nước nhà. Từ năm 1889 đến 1904, ba ngôi trường đã được các Sư Huynh Dòng Jean Baptiste De La Salle thành lập: Trường Taberd ở Sài Gòn, Trường Pellerin ở Huế và Trường Puginier ở Hà Nội. Sau đó đã lập thêm các trường khác ở những tỉnh lớn và đã đào tạo hàng trăm ngàn công dân ưu tú phục vụ trong mọi ngành hoạt động của quốc gia.

Ngoài những tạp chí nêu trên, hai tạp chí nổi tiếng kết nối sự nghiệp truyền bá Quốc Ngữ là Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong Tạp Chí và Nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Các cơ sở này dùng Quốc Ngữ để đẩy mạnh phong trào cải cách tư tưởng, đả phá những tập tục cổ hũ, không còn thích ứng với trào lưu tiến bộ mới “gió Mỹ mưa Âu” mà nhân vật Loan trong tác phẩm Đoạn Tuyệt đã nói lên phần nào triết lý văn nghệ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

Như vậy, trong suốt 300 năm chữ Quốc Ngữ đã tiến đến giai đoạn tinh luyện, hầu hết các thể văn đều được sáng tác như ký sự, văn khảo, dịch thuật truyện, thơ, kịch, văn, luận thuyết... Nhiều sách giáo khoa được các học giả Bắc, Trung, Nam sáng tác và đăng tải trên các tờ báo viết bằng chữ Quốc ngữ cho đồng bào thưởng lãm.

Nhiều danh từ về triết học, kỹ thuật bắt đầu xuất hiện bằng cách ghép danh từ Hán Việt hoặc phiên âm từ ngoại ngữ để đáp ứng nhu cầu của nền giáo dục mới, dồi dào các ngành học chứ không chỉ học văn chương thi phú như trước. Nền tân học đòi hỏi nhiều danh từ không có trong Việt ngữ. Kho tàng Việt ngữ dồi dào về danh từ tình cảm, văn chương nhưng thiếu danh từ về khoa học, kỹ thuật và triết học.

Ngày nay, sự thiếu thư tịch để tham khảo là một sự trở ngại lớn cho vấn đề viết văn khảo, họa chăng văn hóa là những gì còn lại sau khi đã quên hết, đúng như câu “La culture est ce qui reste quand on a tout oublié”. Theo Freud, thì trí tuệ chia làm 3 phần. Phần nhớ rõ ràng những sự kiện gọi là phần “Ý thức” (conscious); phần lờ mờ, nhớ nhớ, quên quên gọi là “Tiềm thức” (subconscious) và phần ẩn náu sâu kín, có thể xuất hiện một cách bất kỳ xuất ý, gọi là phần “Vô Thức” (unconscious). Đa số những hành vi, cử chỉ hằng ngày của chúng ta do phần vô thức điều khiển.

Mục đích của giáo dục nhằm truyền thụ kiến thức, tinh luyện suy luận, và phát triển sáng tạo. Tiến trình giáo dục là tiến trình “tiêm nhiễm” kiến thức vào vô thức, càng nghiên cứu học hỏi, kho tàng vô thức càng phong phú. Trong ý niệm đó “Văn hóa là cái gì còn lại sau khi đã quên hết”, hiểu theo phân tâm học (psychoanalysis) của Freud. Văn hoá nói chung là những gì thể hiện sự hiện hữu của con người trên trái đất này vì các sinh vật khác không có văn hoá.

Dù nhớ hay quên, viết văn, làm báo chỉ nhằm chủ đích phục vụ nhân sinh, trao đổi kinh nghiệm và kiến thức để chúng ta “một phen tri kỷ cùng nhau” trong công tác bảo tồn và phát huy nền văn hóa dân tộc.

Ghi lại công nghiệp của cổ nhân là một niềm vui tinh thần, “Làm việc nghĩa không kể lợi hại. Luận anh hùng không kể hơn thua”. Dù không biết “Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ”, nhưng họ đã trồng cây cho chúng ta ăn trái và hoa thơm tỏa ngát lòng đất. Hiểu một cách giản dị, văn là vẻ đẹp, hoá là biến hoá. Công trình văn hoá của cổ nhân đã lưu lại trong tâm hồn chúng ta chút gì để nhớ, chút gì để thương như lời Tú Xương còn như văng vẳng bên tai:

Ta nhớ người xa cách núi sông
Người xa xa lắm nhớ ta không?”

và thông cảm với tâm tư của Thôi Hạo:

Ai người trước đã qua
Ai người sau chưa tới
Ngẫm Trời, Đất mông lung,
Một mình tuôn giọt lệ!”

Kẻ tha thương đâu đâu cũng cô độc, “L’exilé partout est seul”! Nên chúng ta đồng cảm với tâm tư của Vương Duy:

Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu.
Tây xuất Dương quan vô cố nhân”.

Mong bạn ưống cạn chén bồ đào vì khi qua bên kia phương trời tây thì không còn cố nhân nữa!

“Mưa mai thấm bụi Vị Thành
Liễu bên quán trọ sắc xanh ngời ngời
Khuyên anh hãy cạn chén mời
Dương quan ra khỏi ai người cố tri” (Tống Nguyên nhị sứ An Tây)

“Văn dĩ tải đạo”. Viết văn là để chuyển tải đạo lý. “Đạo theo lẽ Trời mà ra và cũng bởi lòng người mà đến”. Nhưng Trời không nói “Thiên hà ngôn tai”, thì người cũng chỉ “truyền nhi bất tác”.

Sinh hoạt xã hội, viết văn, làm báo, vừa để sưởi ấm tâm hồn, vừa bắc nhịp cầu thông cảm cổ, kim, vừa để hoằng dương công đức của tiền nhân cũng là sứ mệnh văn hóa chung của chúng ta vậy.

Trần Xuân Thời 

Họp mặt tại San Jose ngày 02-7-2017 (TS Trần Xuân Thời áo trắng, thắt cà vạt đỏ)

TS Trần Xuân Thời, phu nhân (cô Linda Ngọc Nguyễn, Thanh Phước, Duy Nhượng)

Thấy Cô Phương

 



Trường Thi Chôn Nhau Cắt Rốn Đoạn 33

 



Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2021

Nỗi Buồn Mất Mát

 



Phân Ưu Ông Phaolô Đặng Đức Hậu

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC

Được tin bào đệ của anh Đặng Duy Nhượng là Ông Phaolô ĐẶNG ĐỨC HẬU đã được Chúa gọi về. 

Toàn thể Thầy, Cô, Đồng Môn và Thân Hữu xin thành kính chia buồn cùng anh chị Đặng Duy Nhượng và tang quyến.

Nguyện cầu linh hồn Phaolô Đặng Đức Hậu sớm được an nghỉ trong Cõi Vĩnh Hằng. 

Thành Kính Phân Ưu

NHHN