Thứ Sáu, 30 tháng 4, 2021

Lịch Sử Không Do "Bên Thắng Cuộc" Viết

 


LỊCH SỬ KHÔNG DO "BÊN THẮNG CUỘC" VIẾT
Nguyễn Quang Duy 

Vào dịp 30 tháng 4 năm 2020 tôi có cho biết là khoảng 4 giờ chiều ngày 30/4/1975, khi đó tôi đang ở Chợ Sài Gòn thì nghe nhiều tiếng nổ lớn như đạn súng cối, từ phía Dinh Độc Lập, tiếp theo là những tiếng súng đủ loại…

Năm nay trang BBC đăng bài viết “Xét lại vai trò Tướng Giáp: Một quan điểm viết sử mới tại Việt Nam” từ một quyển sách viết bởi Tiến sĩ Lê Trung Nguyệt là con gái của ông Lê Đức Thọ từng là Trưởng ban Tổ chức Trung ương, người mà quyền lực chỉ đứng sau Tổng Bí Thư Lê Duẩn.

Quan điểm xét lại của bà Lê Trung Nguyệt đã bị Facebooker Huy Đức tác giả “Bên Thắng Cuộc” cho là không đúng sự thật về Tướng Võ Nguyên Giáp, có đoạn ông Huy Đức viết:

“… Cho đến giờ này ít ai biết là ngay chiều 30/4/1975, đã có những loạt súng giận dỗi trong khuôn viên Dinh (Độc Lập) của những người lính thuộc đơn vị được Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ chọn ‘cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập’.

“Cũng trong chiều hôm đấy, Lữ 203 của trung tá Bùi Văn Tùng phải rút về Long Thành nhường Dinh Độc lập cho Sư 7. Lữ 203 thuộc Quân đoàn II, nằm trong đội hình của ‘Cánh quân phía Đông’ dưới quyền tướng Lê Trọng Tấn, vị chỉ huy trung thành với tướng Giáp.”

Trên trang wikipedia về Sư đoàn 7 có viết: “Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư 7 do (Trung Tướng) Lê Nam Phong làm Sư đoàn trưởng, ưu tiên nhiệm vụ cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Ngày 30/4/1975, Sư 7 được Quân đoàn 2 bàn giao tiếp quản Dinh Độc Lập.”

Quả là mỉa mai khi “bên thắng cuộc” không tốn một viên đạn để chiếm Dinh Độc Lập, nhưng ngay sau đó hai phe cánh, một theo tướng Võ Nguyên Giáp và một theo tướng Văn Tiến Dũng, ông Lê Đức Thọ, lại tranh giành công trạng nổ súng vào nhau.

Mất chính danh …

Theo báo chí trong nước Trung Tướng Lê Nam Phong Sư Đoàn 7 đến Dinh Độc Lập chỉ trễ chừng 30 phút khi đó Đại Tướng Dương Văn Minh đã được “hộ tống” đến Đài Phát Thanh để đọc tuyên bố đầu hàng do Trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng soạn.

Những chi tiết nhỏ này có thể giải thích được lý do là ngay từ khoảng 10 giờ 30 phút sáng ngày 30/4/1975, Đài phát thanh Sài Gòn đã liên tục phát đi lời Tướng Dương Văn Minh kêu gọi binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa ngừng bắn để sửa soạn bàn giao cho phía bên kia.

Nhưng sau đó chỉ có lời tuyên bố đầu hàng của Tướng Minh được phát trên Đài Phát thanh Sài Gòn mà không có lấy một buổi lễ bàn giao đơn giản hay một biên bản ký kết bàn giao chính quyền.

Về Công Pháp Quốc Tế biên bản bàn giao là văn bản phía cộng sản được sở hữu đầy đủ giấy tờ chuyển giao quyền lực, quyền tài phán, quan hệ ngoại giao với 77 quốc gia, quyền thừa kế Việt Nam Cộng Hòa về phương diện quốc tế.

Không có biên bản bàn giao nhà cầm quyền cộng sản không thể chứng minh được quyền thừa kế nên đã mất quyền đòi lại những máy bay, tầu thuyền sở hữu của Việt Nam Cộng Hòa sang Thái trong biến cố 30/4/1975, mất đi những sở hữu về bất động sản và những khoản tiền được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ký gửi tại các ngân hàng nước ngoài.

Nhà báo Phạm Cao Phong cho biết hiện Pháp còn giữ khoảng 40 triệu đô la từ thời điểm 1975, giá trị lãi suất và tỷ suất hiện nay gấp nhiều lần con số đó, chưa kể những tài khoản khác của Việt Nam Cộng Hòa đã bị Mỹ phong tỏa.

Việc tranh giành công trạng giữa tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Văn Tiến Dũng, ông Lê Đức Thọ còn ảnh hưởng lâu dài đến thế chính danh thừa kế các đảo thuộc chủ quyền Việt Nam Cộng Hòa trước quốc tế.

Hiệp Định Geneve 1954 và Hiệp Định Paris 1973 là những tài liệu vẫn được Quốc Tế cộng nhận, nên nếu Hà Nội có đưa Trung cộng ra tòa án quốc tế để đòi chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì họ khó có thể chứng minh được tính hợp pháp và hợp lý của họ đối với hai quần đảo thuộc Việt Nam Cộng Hòa. 

Đại tướng hay Tổng thống …

Cũng theo báo chí trong nước khi đọc lời tuyên bố đầu hàng do Trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng viết Tướng Minh bị yêu cầu phải bắt đầu là: “Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn…”

Nhưng ông Minh chỉ muốn đọc là: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh...”

Phía cộng sản không chịu buộc ông Minh phải đọc là: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn…”.

Không rõ lý do ông Minh từ chối nhận vai trò Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, nhưng “danh có chính thì ngôn mới thuận” bấy lâu nay đã có rất nhiều tranh cãi về tính hợp hiến của ông Minh trong vai trò tổng thống và tính hợp pháp của lời tuyên bố đầu hàng.

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng có bài viết “Tổng thống Minh và văn thư yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt Nam.” ông lập luận rằng Tướng Minh được “lên ngôi” Tổng thống là nằm trong khuôn khổ Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa.

Nhưng nhiều người có quan điểm trái ngược ông Hưng đã cho rằng Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa vội vàng trao chức vụ tổng thống cho tướng Minh, hành động này là vi phạm Hiến pháp.

Điều 56 Hiến pháp qui định rõ:

a) Tổng thống nếu từ nhiệm trước khi dứt nhiệm kỳ, Phó tổng thống sẽ trở thành Tổng thống;

b) Nếu Phó tổng thống cũng từ nhiệm, chức vụ Tổng thống sẽ do Chủ tịch Thượng viện đảm nhiệm, trong thời hạn 3 tháng để tổ chức bầu cử tân Tổng Thống và Phó Tổng Thống.

Khi Tổng thống Trần Văn Hương từ chức, theo điều 56 của Hiến pháp, Chủ tịch Thượng viện bấy giờ là ông Trần Văn Lắm sẽ phải giữ vai trò Tổng thống, và ông Lắm không được giao chức vụ Tổng thống cho ai khác.

Tổng thống chính thức chỉ có thể được quyết định qua một cuộc phổ thông đầu phiếu, các Nghị Sĩ và Dân Biểu Quốc Hội không có thẩm quyền bỏ phiếu quyết định giao chức Tổng thống cho tướng Minh.

Có lập luận khác cho rằng Quốc Hội có quyền sửa Hiến Pháp để công nhận tướng Minh làm Tổng thống, nhưng lập luận này cũng bị cho là vi phạm Hiến Pháp.

Theo Điều 105 quyết định tu chính Hiến Pháp phải hội đủ hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ. Quốc Hội ở thời điểm đó gồm 60 Nghị Sĩ và 159 Dân Biểu, muốn đạt được 2/3 số phiếu thì phải cần ít nhất 146 người đồng ý. Nhưng khi ấy chỉ có 136 người tham dự các buổi họp nên mọi quyết định sửa đổi Hiến Pháp là vi hiến.

Như vậy trên nguyên tắc ông Trần Văn Lắm hay Tổng thống Trần Văn Hương có thể vẫn là những người có thẩm quyền để ký kết bàn giao hay đầu hàng.

Ngay sau khi họp Quốc Hội ông Trần Văn Lắm rời Việt Nam, sau này chính ông Lắm phủ nhận tính hợp hiến của quyết định Tướng Minh làm tổng thống.

Vì ông Lắm không nhận quyền tổng thống nên ông Trần Văn Hương vẫn là Tổng thống, với ông Hương cho đến lúc lìa đời ông vẫn nhất quyết không công nhận nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội và không nhận quyền “công dân” do họ muốn trao cho ông.

Đại Tướng Dương Văn Minh ở thời điểm 30/4/1975 chỉ là một tướng về hưu, nên nhiều người miền Nam vẫn tin rằng Việt Nam Cộng Hòa không đầu hàng cộng sản và vẫn tiếp tục chiến đấu không chịu bỏ cuộc.

Trước ngày 30/4/1975 phía cộng sản tung tin chỉ nói chuyện với Đại Tướng Dương Văn Minh, Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa quyết định đưa ông Minh ra làm “bức bình phong” thương thuyết với phía cộng sản, ít ra nếu có bàn giao đàng hoàng thì biên bản bàn giao cũng có giá trị đối với quốc tế.

Thật mỉa mai các phe cánh trong đảng Cộng sản vì mải lo tranh giành chiến công, chạy đua chiếm Dinh Độc Lập, đến độ phải bắn nhau nên phía cộng sản không lo nhận bàn giao theo đúng thủ tục quốc tế.

Lịch sử là sự thật, bởi thế mới nói lịch sử không đứng về phía Tướng Võ Nguyên Giáp, Tướng Văn Tiến Dũng, Tướng Lê Đức Anh, ông Lê Đức Thọ hay không như “bên thắng cuộc” đã viết.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

30/4/2021

Các bài viết có liên quan

Nguyễn Quang Duy “30/04/1975: Giờ Sài Gòn khác giờ Hà Nội và cái nhìn lịch sử cũng khác” (https://www.bbc.com/vietnamese/forum-52458508)

BBC tiếng Việt “Xét lại vai trò Tướng Giáp: Một quan điểm viết sử mới tại Việt Nam” (https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-56900934)

Facebook Huy Đức “Vạn cốt khô” (https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/3797599926941827)

wikipedia về Sư đoàn 7 (https://vi.m.wikipedia.org/wiki/S%C6%B0_%C4%91o%C3%A0n_7,_Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_Nam)

Nguyễn Tiến Hưng “Tổng thống Minh và văn thư yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt Nam.” (https://www.bbc.com/vietnamese/forum-52471319)

Phạm Cao Phong “30/04/1975: Dinh Độc Lập và cuộc chuyển giao không ký văn bản” (https://www.bbc.com/vietnamese/forum-52485111)

Nguyễn Quang Duy “30/04: Nhắc lại cuộc đời cố tổng thống VNCH Trần Văn Hương” (30/04: Nhắc lại cố tổng thống VNCH Trần Văn Hương - BBC News Tiếng Việt)

 

Nỗi Buồn Khôn Nguôi

 



Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

Di Cư 1954 - Tìm Tự Do

DI CƯ 1954 - TÌM TỰ DO

Sau ngày ký hiệp định Geneve 20-7-1954 đã có hàng triệu người miền Bắc bỏ nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên, quê hương xứ sở di cư vào Nam tìm tự do. 
Xin mời quý vị xem lại hình ảnh những ngày lịch sử đau thương của dân tộc.
Trân trọng
NHHN 

Xin mời quý vị xem video



Tháng Tư Đen

 


Tang Trắng Tháng Tư

 


  TANG TRẮNG THÁNG TƯ

   Thảo Hương Bmt

 

   Bao lần trăng đã khuyết rằm

   Thế mà đã bốn mươi năm thật à...

   Tưởng chừng ngỡ chỉ hôm qua

   Ngờ đâu tang trắng quê nhà còn đây

   Tháng Tư không đếm bằng ngày

   Đếm bằng xương trắng, bằng thây phủ đồi

   Bằng bom đạn rú từng hồi

   Nhìn dòng máu đỏ suối trôi đôi bờ

   Bằng người lính chết bơ vơ

   Mai em rũ tóc tang thờ quạnh hiu

   Bằng đêm biển nổi sóng triều

   Bao thuyền nhân đổi mạng liều cuồng phong

   Mẹ ơi hải tặc còn không

   Con thân xác lả giữa giòng máu loang

   Bằng ngày đạn pháo kinh hoàng

   Đạn xuyên góc lớp, trường tan nửa chừng

   Bằng tù đất Bắc trên rừng

   Sống đời hoang dã chợt mừng đói no

   Bằng đêm khuya dạ tơ vò

   Nghe câu hát ví cái cò nỉ non

   Bằng người sương phụ sắt son

   Lạy cờ phủ mộ núi non đáp đền

   Chít khăn tang để chẳng quên

   Quê hương còn đó nửa bên địa cầu

   Thảo Hương Bmt

  



Trên Đại Lộ Kinh Hoàng

 


   TRÊN ĐẠI LỘ KINH HOÀNG

   Nguyễn Thanh Khiết

 

   Ở một nơi chẳng biết bước thế nào

   để tránh những mồ ma nằm dưới đất

   Đại Lộ Kinh Hoàng xương người ngất ngất

   máu nhuộm nâu đen xác rữa trăm ngày

 

   Hải Lăng một ngàn chín trăm bảy hai

   những cây số đường đau như tên gọi

   người chết không có thời gian hấp hối

   chết tan tành - chết bầm dập đó đây

 

   Mẫu thịt dính trên bụi cỏ chòm cây

   xương trắng hếu phơi dài trên quốc lộ

   pháo đã rót theo dòng người chạy bộ

   đạp lên xương - lội lên máu mà đi

 

   Đại Lộ Kinh Hoàng vết thương Quảng Trị

   có bao ngàn dân bỏ xác ven đường

   Chạy Giặc Cầu Dài dấu nhấn tai ương

   người Quảng Trị ngàn năm chưa quên hận

 

   Bến Đá, cầu Dài phải đâu chiến trận

   là đoạn đường giặc pháo xuống đầu dân

   đoạn đường có cuộc bỏ phiếu bằng chân

   người Quảng Trị chạy về Nam trốn giặc

 

   Mấy mươi năm căm hờn xưa chôn chặt

   mười bốn tháng ba ngày của tóc tang

   đất Quảng Trị đầy một trời khói nhang

   tế vong linh những người đã nằm xuống

 

   Những cái chết bầy nhầy trên mặt ruộng

   chết ở đường cùng chẳng chỗ che thân

   những cái chết chỉ còn mỗi hai chân

   lăn lóc đầu lâu - cái nguyên, cái nửa

 

   Mồ nào chôn đất đai nào đủ chứa

   đống thịt da mấy tháng giữa nắng mưa

   lúc nhúc bọ giòi thối xong tới rữa

   Đại Lộ Kinh Hoàng ai nhớ ai quên?

 

   Người Quảng Trị trầm trầm gọi cái tên

   "Chạy giặc cầu Dài - Cầu Dài Chạy Giặc"

   đoạn đường đi qua như làn dao cắt

   ngọt lịm dưới chân đau buốt tận đầu

 

   Đại lộ kinh hoàng vết thương thật sâu

   sâu đến nỗi nửa kỷ còn đau rát

   Quảng Trị có một Cổ Thành tan nát

   còn có đoạn đường của máu của xương

 

   Nguyễn Thanh Khiết

   Viết cho bạn bè Quảng Trị của ta  

  



30/4 - Ngày Quốc Hận

 


   30/4 – NGÀY QUỐC HẬN                                                  Trần Quốc Bảo


   30 Tháng 4 – Xóa bàn cờ tướng

   Thí chốt, phủi tay … Thế là hết chơi!

   Đại Sứ Martin hạ cờ Mỹ xuống

   Trực thăng SeaKing bốc thẳng ra khơi!

 

   30 Tháng 4 - Miền Nam thất thủ

   Quân Lực Việt Nam  tan rã đau thương

   Máu lệ quân dân đẫm đầy trang sử

   Quốc Hận này đau thấm tận tủy xương!!!            

 

   30 Tháng 4 – Cờ máu xuất hiện

   Nón cối dép râu, kéo vào Sài-gòn

   Dân chúng ùn ùn trốn chạy ra biển

   Đi tìm Tự do. Xa lũ ác ôn!

 

   30 Tháng 4 - Hải Quân bất mãn

   Tài liệu Tham mưu thiêu hủy sạch trơn

   Toàn Bộ Tư Lệnh âm thầm di tản

   Chiến hạm, Giang đoàn … trực chỉ Côn Sơn.    

 

   30 Tháng 4 – Vùng 4 còn vững

   Mười rưỡi nghe tin, Minh-Cồ đầu hàng

   Như ngọn giáo đâm ngay tim!... chết sững!!!

   Một tiếng súng “!”.  Trời! - Tướng Nguyễn Khoa Nam!      

    

    30 Tháng 4 – buông súng… phi lý!

   Sư Đoàn 5 , phòng tuyến vẫn y nguyên

   Tư Lệnh Sư Đoàn - Tướng Lê Nguyên Vỹ

   Chào biệt anh em. Tuẫn tiết oai nghiêm!        

       

    30 Tháng 4 – Đoàn quân thất thủ

   Đang khi chiến binh, khí tiết bừng bừng!

   “Vị Quốc Vong Thân” : - Tướng Phạm Văn Phú

   - Tướng Trần Văn Hai, - Tướng Lê Văn Hưng …!                 

  

   30 Tháng 4 – Trước đài Thủy Quân Lục Chiến

   Có đám đông mặc niệm, nước mắt lưng tròng

   Xác một Cảnh Sát Quốc Gia nằm tuẫn tiết

   Vị anh hùng: Trung Tá Nguyễn Văn Long!           

             

    30 Tháng 4 – Người không tự vận

   Tỉnh Trưởng Chương Thiện chiến đấu tới cùng

   Vị “Liệt Sĩ” : Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

   Giặc đem ra bắn! Ông chết bi hùng!       

           

    30 Tháng 4 –Rã ngũ gần hết

   Còn lại Vũng Tầu, Trường Thiếu sinh Quân

   Vẫn kềm chặt súng, coi thường cái chết

   Rốt cuộc, các em ngồi khóc giữa sân!!!

 

   30 Tháng 4 – Hai tay hai súng

   Anh lính hiên ngang đi giữa Sài-gòn

   Trái lựu đạn móc tòn ten trước bụng

   “Mẹ đời! Cộng phỉ !… cùng chết nghe con”!

     

   30 Tháng 4 – tổng số tuẫn tiết

   Quân Dân Cán Chính, khoảng trên hai trăm

   Sau này kiểm kê, nhiều không kề xiết!

   Trang “Hận Huyết Sử”, lưu lại ngàn năm!!!

 

   30 Tháng 4 – Cộng nô tàn bạo

   Qủy quyệt, gian manh, vào cướp Miền Nam

   Ngục tù khổ sai, gọi là “cải tạo”

   “Vùng kinh tế mới”đầy ải lầm than!

 

   30 Tháng 4 – Hận đau khôn xiết!  

   Hơn bốn chục năm … núi sông u sầu

   Cương quyết vùng lên! Toàn dân nước Việt!

   Giữ Giang Sơn cho con cháu ngàn sau!

   Trần Quốc Bảo 




Cuối Đường Mẹ Đi

PPS Thơ & Nhạc - CUỐI ĐƯỜNG MẸ ĐI

Thơ: Võ Đại Tôn
Nhạc: Võ Tá Hân 
Trình bày: Lâm Dung
Thực hiện: Võ Tá Hân

Trân trọng
NHHN

Xin mời quý vị thưởng thức



Những Vị Tướng Lãnh VNCH Tự Sát Sau Ngày 30/04/1975

NHỮNG VỊ TƯỚNG LÃNH VNCH TỰ SÁT SAU NGÀY 30/04/1975
Go Vietnam

GIỚI THIỆU

Sau biến cố ngày 30/04/1975. Quân lực VNCH hoàn toàn đầu hàng vô điều kiện trước quân đội Bắc Việt. Một số tướng lãnh VNCH đã sang Mỹ tỵ nạn, nhưng cũng có một số người đã chọn cách tự sát khi miền Nam thất thủ.

Trân trọng
NHHN

Xin mời quý vị xem video



Chuyện Người Đàn Bà Khi Cuộc Chiến Tàn

 


CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ KHI CUỘC CHIẾN TÀN
Lê Hải Lăng

Chị Thương dồn ba đứa con vào một góc lều xong. Chị cầm một cái cán cuốc chống cái bạt cho căng. Nước mưa ào ào đổ hoà cùng tiếng gió rừng hú ghê rợn. Chị chống phía trái thì sập bên phải. Rút cục không chống nổi với mưa gió cái lều tạm dựng bị sụp hoàn toàn. Mấy đứa con áo quần tóc tai ướt đẩm như chuột lột. Một đứa con thứ hai tên cu Tèo lấy tay dụi nước mưa trên trán rồi khóc lóc hỏi mẹ:

- Mẹ ơi ! Tại sao mẹ lại bỏ hết nhà cửa mà tự nhiên tới ở chỗ này?

Chưa kịp cách nghĩa cho con nghe. Thằng anh của Tèo là cu Tới đang cởi cái áo ra vắt nước cho khô phân trần với em:

- Không phải tại mẹ tự nhiên ra cái khu kinh tế mới này đâu. “Giải phóng” tịch thu nhà mình rồi đuổi đi đó em. Mai mốt lớn một xíu nữa rồi hiểu hoàn cảnh đau buồn của mẹ.

- Thế có phải mấy người mang súng cùng nhóm người mang khăn quàng đỏ vứt bỏ sách vở bàn học của em lại một chỗ rồi đốt hết không vậy?

- Ừa. Tao nhớ không lầm là trước ngày lấy nhà rồi đưa mình lên đây tao thấy lố nhố người lạ mặt cộng mấy ông trên phường với lại đội quân ô hợp lung tung phèng tới giật cướp tống khứ tất cả mẹ con nhà mình nữa đó.

Hai anh em đang trao đổi chuyện qua rồi mà cơ hồ như còn in đậm mãi trong đầu. Cơn gió rừng tạt mạnh làm thằng cu út tên Cường run cầm cập. Nó mở cái rương đựng áo quần tìm một bộ đồ. Một vài con chuột lù lù chạy ra. Nó hoảng hốt la ơi ới. Chị Thương cũng vừa trở về khi đi tìm một người đàn ông ở dưới chân núi để nhờ dựng lại các cây cột. Thấy chuột mừng quá. Mẹ con chị Thương không ai bảo ai tự động cầm cây chạy đuổi bắt. Chuột lủi mau quá thế là lại được tiếp tục ăn bo bo gạo thúi với rau rừng.

Đêm xuống chậm. Bầu trời biến dần những đám mây đen. Cơn mưa tạm dứt. Người đàn ông giúp dựng lại cái lều xong rồi nhìn chằm chặp vào mặt chị Thương đoạn nói bâng quơ:

- Hết mưa cuối chân trời có ráng mây hồng, đỏ, tím đẹp thật. Cảnh đẹp người đẹp.

Chị Thương không nhịn được cười:

- Cảnh chết chóc thế này mà anh lại mơ mộng quá đổi.

- Tôi cũng muốn mớm một chút khôi hài với chị thôi mà. À mà quên hỏi chị anh đâu rồi?

Chị Thương bậm môi nghiêm nét mặt nhìn xa xăm rồi trả lời nhát gừng:

- Chồng tôi thấy còn sức lực nên xung phong đi làm thủy lợi đào kinh cũng ở trong tỉnh này thôi.

- Chị có dấu diếm gì tôi không đấy. Phần đông những gia đình đi kinh tế mới ra đây là vợ con bọn “nguỵ quân nguỵ quyền”. Chúng nó được cách mạng khoan hồng cho đi học tập cải tạo cả rồi.

Chị Thương đổi sắc mặt:

- Xin lỗi anh là ai mà chạy theo a dua chửi những người chiến sĩ bảo vệ miền đất tự do dân chủ là “ngụy”.

- Tôi nói cô biết cô lầm rồi. Tôi là cán bộ trong ban cai quản cái khu kinh tế mới này. Bây giờ cô còn mở miệng phản động.

- Tôi tưởng anh là người cùng hoàn cảnh bị đày ra chốn này như tôi. Thế thì tôi không dám tiếp chuyện với quan quyền đâu.

Người cán bộ mở lời mật ngọt:

- Thôi mà người đẹp. Cho mình đuà vui một tí xem nào.

- Xin lỗi. Anh đừng có trở giọng sàm sở. Yêu cầu anh có thái độ lịch sự tối thiểu đối với tôi.

- Được rồi ở đó mà hỗn hào. Nhớ mặt nghe sẽ biết tay mà.

Chị Thương biủ môi trương mắt nhìn người cán bộ bước chân đi.

Cả bốn mẹ con như nằm ngủ dưới trời. Chị Thương nhớ lại từng khúc phim thời buổi hai vợ chồng mới quen nhau tham gia sinh hoạt hướng đạo đi cắm trại tại vùng biển. Hồi đó vui chi lạ. Càng nghĩ chuyện cũ chị thiếp đi lúc nào không hay.

Ngoài kia tiếng gió xào xạc, tiếng côn trùng như khóc than ai oán trong cái đêm tỉnh mịch của rừng sâu.

* * *

Trong trại tù gọi là cải tạo. Anh Việt chồng chị Thương đếm trên ngón tay đi trình diện học tập 10 ngày mà thắm thoắt bao nhiêu năm cùng tháng tận đi qua vẫn nằm trong rọ củi sắt giữa núi đồi. Cứ mỗi lần tới ngày lễ thì anh nghe phong phanh hy vọng được thả. Hôm nay cả trại được ăn đặc biệt hơn mọi khi.

Quản giáo ra lệnh là trong số 10 người chia một thau cơm trắng. Việt nằm trong cái tổ làm phận sự chia cơm. Chia cho 8 người xong đến lượt phần người thứ 9 bị người bạn nào đó vô tình đụng vào làm rớt xuống đất cát. Việt lấy phần của mình trao cho bạn đồng thời lấy chổi quét đi để tránh tình trạng người khác tiếc của bốc lên ăn vào làm đau bao tử mà chết. Chờ mọi người ăn xong Việt chuồn xuống nhà bếp đi lục lọi cơm cháy mà trước đó Việt biết có một số trại viên nấu bếp thường để dành phơi khô cho những lúc đi lao động thiếu ăn.

Việt giở cái chảo này lên, mở cái nắp soong kia ra tìm được miếng cơm cháy. Hếch lỗ mũi lên vì sung sướng. Quay mặt lui bị một bàn tay ông quản giáo chận trước mặt:

- À ra mầy. Có người báo cáo là mầy đổ cơm tao chưa trị tội mầy phản loạn nội quy. Giờ mầy lại vô nhà bếp định ăn cắp phá hoại gì nữa đây?

Nói vừa dứt câu. Quản giáo xuống lệnh đánh kẻng cho toàn trại họp để phê bình kiểm thảo.

Năm người mang đòn gánh và cái mền ở ngoài khuôn viên trại nơi cái lều phong vương (bệnh sắp chết đưa vào đây) mới bước vào. Quản giáo quát tháo doạ nạt:

- Tụi bây khiêng chôn có 3 người mà đi cả buổi. Thôi! khoan đem cất dụng cụ vào kho để đó để chôn cái thằng này nữa.

Tất cả trại viên sững sờ nhìn mặt nhau đoán mò. Thời gian gần đây ngày nào cũng có người chết vì sốt rét, chết vì đói, chết vì bị tra tấn hành hạ, chết vì những cái cùm nhục hình. Ai cũng lo lắng không biết lúc nào tới lượt mình. Chết ở chiến trường là chuyện chiến tranh. Còn chết sau cơn binh lửa đã tàn nơi cái nhà tù nhìn qua về máu đỏ da vàng một mẹ Việt Nam tức tưởi nhục nhả lắm. Cho nên mọi tù nhân cố lê lết nở nụ cười trước lưỡi hái tử thần để còn mong sum họp với gia đình.

Khi người trại viên cuối cùng lùa đàn heo ngoài vòng đai vào trại. Cũng là lúc trưởng trại tù lên tiếng:

- Hôm nay ta đã bắt gặp thằng bác sĩ quân y hèn hạ. Thằng sĩ quan “ngụy” vô nhà bếp ăn cắp. An ninh đem nó ra đây trình diện.

Việt bị trói hai tay ra phía sau. Việt đứng như bức tượng sống. Một gã bộ đội sấn tới đạp một cái vào hông rồi chế riễu:

- Tất cả chúng mầy thấy chưa. Cách mạng ta không có những hạng người này. Mầy có ý kiến gì tao cho mầy khai.

Việt khoan thai trả lời:

- Ngày nào các ông cũng bắt chúng tôi khai báo lý lịch. Các ông nói ai khai đúng làm tốt thì cho về sớm. Chúng tôi có người giữ đàn bò, có người giữ đàn heo, cho các ông làm thịt ăn riêng. Chúng tôi vào rừng lao động khổ sai chín chết một sống. Chúng tôi bệnh không có thuốc. Chúng tôi chết bạn bè không có ai dám khóc. Chúng tôi là người mà các ông xem như là súc vật. Chúng tôi là người Việt Nam mà các ông cứ chụp mũ phản động như là người nước ngoài xâm chiếm. Chuyện tôi nhường phần cơm cho bạn để rồi chính tôi phải ăn một miếng cơm cháy để sống có gì là tội. Một bác sĩ hành nghề là để cứu mạng sống con người các ông còn đày vào đây cho chết. Các ông vì lợi ích xã hội ở chỗ nào mà trả thủ đành đoạn nhứ thế này đã chứ! Bao nhiêu kỹ sư, chuyên viên, giáo sư về khoa học kỹ thuật, giáo dục các ông tống vào đây cho làm rẩy, phá rừng, giữ chó giữ gà để vợ con người ta không nơi nương tựa thế nào gọi là đạo đức.

- Câm mồm đi. Đồ quân ác ôn. An ninh đâu đem thằng này đi cùm cho đến chết.

* * *

Nơi cái khu kinh tế mới giết người không gươm dao cũng chẳng khác gì trại tù giam cho kiệt sức mà chết. Phần thì đói không có ăn. Phần thì đi phá rừng chỉ thấy cây cối trồng trên cát sạn. Phần thì bệnh không có thuốc uống. Các con đứa thì bị phù thủng, đứa bị ghẻ lở từ mặt tới chân, đứa thì mỗi lần iả là cả chùm sán lãi theo ra. Chị Thương thì đêm hôm phập phùng lo sợ không biết cái băng trong ban quản trị bất lương hành hạ người gìa đàn bà con nít lao động trong hoàn cảnh nghiệt ngã rồi bệnh mà chết như nhiều người bà con ở đây đã bị. Người dân quá khổ thành thử không ai có đủ trí lực để quan tâm kẻ khác cùng hoạn nạn. Cán bộ thì ngang tàng phách lối coi nhẹ đời sống dân bị đày lên đây. Chị Thương nhớ rõ mồn một mãi cái cảnh một người bị rắn cắn cả một đội lao động cuốc đá bó tay. Cán bộ có thuốc trừ rắn cắn cũng không cho viện cớ là để dành quan chức. May thay có cô con gái nào đó biết cách chữa mẹo. Cô ta thọc tay vào chỗ kín rồi phết lên nơi phần rắn cắn cho kẻ bị nạn. Thế là nọc độc bị rút đi mà khỏi chết.

Thấy con cái càng ngày càng đói ăn không chịu nỗi bởi chúng nó quen sống cảnh sung túc. Chị Thương cùng nhiều người đồng cảnh ngộ vạch ra con đường thoát chạy khu ma vương ôn dịch này.

Thế rồi trốn về được phố đi tìm nhà người bạn học cũ xin tá túc. Việc đầu tiên là chị Thương nghĩ tới thôn quê miền Trung nơi mà ông bà nội sáp nhỏ sống ở đó. Có thể về ngoài ấy mà cũng có thể vá víu sống tạm bợ trong cái hẽm này đến đâu hay đó. Mấy đứa con chạy lăng xăng như kẻ lạc loài trong phố cũ. Thằng con lớn nhớ da diết bạn bè cô giáo mà không biết làm sao mà được trở lại lớp. Thằng con thứ hai thèm cầm quyển vở và cái vụ làm trò chơi. Chúng nó mất hết cả rồi. Thằng con út thấy mẹ ngồi rũ rượi bắt chí trên đầu. Nó buột miệng:

- Mẹ ơi! Mẹ nói ba đi làm xa sao không gởi tiền về cho mẹ mua gạo muối cho chúng con ăn hở mẹ? Con nhớ ba con nhớ nhà. Mà mẹ đưa con về lại nhà đi.

Chị Thương nghĩ tới căn nhà tạo dựng bằng mồ hôi nước mắt khi không bị người thắng cuộc nhân danh cách mạng “giải phóng” mà mượn dài hạn đi rồi. Bàn cờ ra nông nỗi thế này cũng tại mình đời bắt làm kẻ thua cuộc. Chị giấu hết nước mắt tang thương trong lòng rồi vuốt tóc con vỗ về:

- Ba con đi làm lâu ngày mới có nhiều tiền đó con. Hôm nào mẹ con mình tha hồ mà ăn uống no đủ.

Chị Thương kêu hai đứa cu Tèo, cu Tới cùng ngồi bệt xuống đất nghe lời dặn dò:

- Con cu Tới lãnh phận sự lên ga tàu bán báo. Thằng cu Tèo lo chuyện theo mẹ đi lượm đồ ve chai phế thải.

Thằng cu Tèo méo miệng:

- Con không chịu đâu. Con thấy đường phố xe díp (Jeep) như ba chạy đón con đi học về hồi nào. Sao mẹ không cho con vô trường lại. Khi ở trên rừng chưa về đây mẹ hứa với con rồi mà.

Thằng cu Tới chen vào:

- Thôi em muốn đi học thì theo anh đi bán báo. Báo in đầy rừng chữ Xã hội chủ nghĩa tha hồ mà ngồi đầu đường xó chợ đọc với học.

Chị Thương mớm lời dạy con:

– Nghề nào cũng được miển là đừng làm nghề ăn cướp cả ngày lẫn đêm như bọn người lớn nhan nhản hàng ngày trước mặt.

* * *

Bữa nay bán báo không được bao nhiêu. Thằng cu Tới quay qua bạn cùng nghề tên Hiền:

- Mầy than van cái con khỉ gì. Bán không được thì cha mẹ mầy lo bao che cả gia đình. Mầy có lần nói với tao là con nhà cách mạng mà.

- Thật ra ba tớ là cách mạng 30 mà thôi.

- Hèn chi ăn sau đẻ muộn bỏ công đi phất cờ để cho đồng đài đạp nồi niêu soong chảo nó chở hết trương mắt ra ngó.

- Còn mầy là con cách mạng tháng mấy mà cũng đi bán báo như tớ.

- Tao đấy à. Tao con ông 3 mai bị lột sạch kể cả bản thân vợ con. Người lớn trả thù tận cùng bằng số tao mới gặp mầy chốn này.

- Tớ biết ra rồi nhà nước muốn trai trẻ miền Nam như tụi mình tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên XHCN để xuống ngang hàng với miền Bắc.

- Thôi đừng nói chuyện heo, lợn, đậu phụng, lạc rang nữa. Tao hỏi kinh nghiệm của mầy về bán báo trên tàu lửa để tao học hỏi thêm.

Như gãi trúng chỗ ngưá. Hiền đằng hắng một cái rồi lên mặt dạy đời:

- Nhờ ngày 30 mà tớ bỏ học. Bây giờ mới thực sự làm thầy cho đồng bọn như mầy. Hãy nghe tớ vung chiêu mời khách trên tàu lửa đây nè:

- Ông ơi ông mua cho tôi tờ báo. Mua mở hàng đi. Báo quốc doanh viết ra bán chớ không có tặng. Ông mua để biết hôm qua mơ gặp người trong mộng. Ông mua để thằng tuổi trẻ bị đuổi học được có việc làm để sống. Ông thương cho kẻ ngã ngựa sa cơ thất thế có chén cơm độ nhật.

Thằng cu Tới cắt ngang:

- Mầy đọc sớ Táo quân trình thiên đường như thế này người ta không mua thì làm sao?

- Mầy cứ cầm tờ báo đi lui đi tới phất qua phất về trước mặt chọc người ta ghét rồi bỏ tiền ra mua cho mầy trốn khuất mắt đó mà.

- Ừ mầy nói có lý đó nghe. Khi nào tao có nghề gì mới tao dạy lại mầy chịu không?

- Gì cũng được nhưng đừng dạy nghề giết người anh em như nhổ cỏ không dùng gươm dao.

- Thế thì vào nghề còn đảng còn mình.

- Mầy phải chờ 10 đời lý lịch mới mặc được cái áo xanh áo vàng khủng bố dân lành chớ không phải dể đâu nhá!

- Tai vách mặt rừng coi chừng bắt vô nhà đá đếm lịch đấy. Thôi tao về nhà ăn cơm kẻo sáng giờ cồn cào ruột non ruột gìa ra đây.

*  *  *

Một tháng trôi qua bốn mẹ con tảo tần bưã đói bữa no cũng nhờ người bạn học Gia Long chia cho chỗ ăn chỗ ngủ. Một lần chị Thương đếm những đồng bạc chắt chiu rồi chạnh nghĩ tới phụ trả điện nước. Chị nói với chị Hạnh chủ nhà:

- Bạn tốt với mình quá trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Bạn cho mình phụ chút về chuyện ăn ở.

- Bạn đề cập tới mình mới nói ra đây. Mình bị cái ông tổ trưởng dân phố, mấy tên bạn dân khu vực kêu lên gọi xuống đòi khai báo người lạ trong nhà. Mình sai đứa em ra trà nước cho họ không biết để yên tới lúc nào. Vả lại bạn thường về khuya nên mình cũng nói xạo với họ là mình chưá chấp người ăn mày ngủ qua đêm mà thôi. Xin lỗi bạn vì chỉ có cái xã hội trả thù trả oán thế này mình mới nói xấu bạn thân sau lưng để chúng mình sống còn.

- Mình nhớ mãi tinh thần giáo dục nhân bản từ học đường Gia Long. Mà xã hội đạo đức là đúng rồi từ lớp năm lớp tư (lớp 1, 2) đã học môn Đức dục và Công dân giáo dục chứ có ai dạy tuổi ô mai hận thù chém giết nhau đâu.

Hai người đang ngồi trước nhà nói chuyện. Chị Hạnh thấy một người lối xóm lượn qua lượn lại phía trước. Hạnh đoán biết đây là loại người theo dõi sinh hoạt trong nhà chị. Chị ra hiệu cho chị Thương lẻn vào nhà. Rồi chị mở miệng chửi đổng:

- Đồ cái quân khốn kiếp. Phường vô lại ăn không ngồi rồi đi chỉ điểm hại phường hại khóm.

Chửi xong chị Hạnh vô nhà.

Tên công an khu vực cũng vừa tới đúng lúc. Hắn gõ cửa xét nhà. Thấy chị Hạnh hắn hỏi:

- Bà đưa hộ khẩu tôi xem.

- Anh vô ra cái hẽm này bao nhiêu lần anh biết nhà tôi quá mà.

- Tổ dân phố báo cáo nhà bà có người lạ tới ở mà không khai trình.

- Bạn học của tôi dân cùng thành phố cả mà.

- Thế thì tôi mời bà bạn kia cho xem giấy tờ.

Chị Thương mở cái giỏ đan bằng lá dưá rồi cầm tờ giấy CMND chìa ra.

Tên CA nhìn xong đoạn hạch hỏi:

- Tại sao bà không ở cái địa chỉ này mà tới đây dự định hoạt động gì?

- Nhà tôi bị giặc cướp rồi.

- Rõ ràng giặc Mỹ nó ác độc dã man hơn cả quỷ quái.

- Không. Mỹ tới đây mang súng đạn cùng chúng tôi bảo vệ phần đất tự do. Khi họ về mang theo hai bàn tay trắng. Họ không chiếm lấy một thước đất nói chi tới làng mạc phố xá biển đảo. Nhà tôi bị “giải phóng” mượn dài hạn xài chơi.

Tên CA đấm tay vào tường giận dữ:

- Nhất định bà là CIA cài lại. Bà theo tôi về đồn để điều tra ra ngọn ra ngành.

Hai ngày sau chị Hạnh nhận giấy lên bệnh viện nhận xác bạn. Theo hồ sơ bệnh lý công an nói là bị đau nặng trước khi đưa đi cấp cứu. Khi những đứa con tới ôm xác mẹ. Đứa nhỏ nhất mang tên Cường rờ tay vào vú. Từng cục sưng đọng máu còn hiện lằn roi. Đứa con lớn tên Tới rờ tay lên đầu. Từng lỗ hổng lạ lắm trong chân tóc. Đứa con thứ nhì tên Tèo của chị Thương ôm chầm lên thân thể mẹ van lơn:

– Mẹ ơi ! bao giờ ba về nuôi nấng các con…

Ba anh em nhìn xác mẹ rồi nhìn thân phận mình nước mắt tuôn trào theo nhau đầm đìa xuống áo.

Trời về khuya. Bên kia con phố nóc nhà ai trăng thanh bình rọi xuống trên đống gạch hoang vu.

Lê Hải Lăng