Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - LÊ THỊ HOÀI NIỆM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - LÊ THỊ HOÀI NIỆM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2021

Ước Chi Có Một Ngày Như Thế...

 

Hình minh họa - Internet

ƯỚC CHI CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ...
Lê Thị Hoài Niệm 

Hằng năm, người dân nước Mỹ có ngày của Cha (Father’s day-trung tuần tháng 6) và ngày của Mẹ (Mother’s day-ngày chủ nhật thứ hai trong tháng 5), ngày của Ông Bà (Grandparents- ngày chủ nhật đầu tiên sau lễ lao động vào tháng 9), ngày lễ Tình nhân( vào trung tuần tháng 2), thậm chí có ngày của Chó (dog’s day Aug-2) từ trước những năm 1980 của thế kỷ trước. Nhưng chờ mãi vẫn chưa thấy ngày của vợ (Wife’s day) hay của chồng (Husband’s day), dẫu rằng đời sống vợ chồng gắn bó nhiều khi còn dài hơn cả thời gian sống gần với Cha hay Mẹ.

Ở trên thế giới này, thời buổi này, người ta cứ “theo thống kê” tại nước này có bao nhiêu phần trăm người ly dị ở lứa tuổi..., Bao nhiêu phần trăm đàn ông đưa vợ ra tòa, có bao nhiêu bà…kêu cảnh sát đến can thiệp vì bị chồng hành hung, đánh đập đến nỗi phải vào tạm trú trong “women center” và sau đó thì chia lìa đôi ngả, thành kẻ thù không đội trời chung. Thống kê có bao nhiêu người bị...trầm cảm rồi giết vợ hay giết chồng, thống kê có bao nhiêu ông …bỏ vợ lớn đi theo vợ bé, thống kê có bao nhiêu trẻ em sống mà chỉ có một mình mẹ hoặc cha, thống kê và thống kê, toàn là những con số chỉ sự chia lìa, rã đám, buồn thảm. Ngay cả những người VN tị nạn trên xứ người, số gia đình ly tán để đám con không có đủ cha mẹ nuôi dạy cũng khá đông. Nhiều lúc đi dự đám cưới “các cháu” chưa được bao lâu, thì nghe tin chúng đem nhau ra pháp đình nhờ ông Tòa phán cho “sugar you-you go, sugar mi -mi go, đường anh- anh đi anh đi, đường em- em đi em đi!” nghe chán lắm.

Nhưng điều đó cũng không thể làm lu mờ đi những gia đình hạnh phúc, những cặp vợ chồng gắn bó với nhau từ lúc còn trẻ đến khi răng long đầu bạc, sáu bảy chục năm trời, cho đến khi người phối ngẫu qui tiên, dĩ nhiên phải là “hòa bình trong danh dự”. Dù rằng cũng có đôi lúc “chén bay dĩa bay”, rồi cũng có lắm khi “đôi co, to tiếng”, đôi lần “hờn anh giận em” rồi hoa cẩm chướng nở tưng bừng từ trong nhà ra ngoài ngõ,… v.v… Nói chung là có “mâu thuẫn” trong đời sống, nhưng đã giải quyết ổn thỏa, trong ấm ngoài êm, trong đó có vợ chồng ông bà “bảo trợ” người Mỹ của gia đình chúng tôi, chỉ một lần kết hôn và sống với nhau đến 55 năm đến khi ông “về nước Chúa” trước, và còn nhiều và nhiều cặp khác nữa mà báo đài hay đưa tin khen tặng “tình yêu tuyệt vời”!. Người Việt nam thì vô số gia đình vợ chồng hạnh phúc, như cha mẹ của người viết chẳng hạn, họ sống với nhau cho đến ngày... tiêu diêu miền cực lạc ở lứa tuổi hơn chín mươi, dù rằng trong năm tháng bên nhau, cũng  có nhiều lần…khẩu chiến, giận nhau mất ngủ. Và ở tại thành phố này, vào ngay “hội già”, cũng sẽ gặp rất nhiều “Ông Bà Cụ” quấn quít bên nhau ngoài sáu, bảy mươi năm có lẻ. Thỉnh thoảng tôi thấy họ tổ chức những buổi “Anniversery” cho năm mươi năm tình đậm hay hơn nữa thật vô cùng trang trọng và thích thú. Tại sao người phối ngẫu không dám khen tặng và đề nghị một ngày đáng nhớ cho người kia nhỉ? Chẳng lẽ cứ ca tụng...riêng lẻ trong gia đình, hay một nhóm bạn? Có phải “uổng phí” cái tinh hoa đẹp đẽ, mà đáng lý ra phải làm những buổi “thuyết trình” về cách ứng xử ngày qua ngày cho lớp trẻ ngày nay “học tập” theo. Tại sao người ta không dám “ca tụng đối phương” nhỉ? nhất là những người từng là “tù cải tạo”, có những người vợ thật tuyệt vời:

thân cò lặn lội chợ trời,
bán buôn... đủ thứ kiếm lời nuôi con,
chạy gạo nuôi mẹ chồng luôn,
lại còn “tiếp tế” người đương trong tù”
(lthn),

Và những người đàn ông sang xứ người tị nạn rất sớm trong những ngày biến loạn, vì hoàn cảnh phải bỏ lại gia đình phía bên kia biển lớn, ngày ngày lo hì hục đi làm, dành dụm từng đồng gửi về cho vợ nuôi con, và lo bảo lãnh cho cả gia đình sang xứ tự do đoàn tụ. Nhiều và nhiều lắm chứ, sao không ai làm “cách mạng” lên tiếng ca ngợi người phối ngẫu của mình nhỉ? Khi còn ở bên mình mà không lên tiếng, chẳng lẽ đợi người quy tiên rồi ngồi đó khóc lóc kể lể?. Nhưng dẫu gì tôi cũng xin là người khởi xướng, tại sao không?. 

Đại diện cho “Husband’s Day”, nguyên là pilot trực thăng của không lực VNCH. Từ những ngày tháng cũ, người Lính trẻ trở về từ một quân trường huấn luyện trên đất nước Mỹ, đơn vị đầu tiên chàng “bốc thăm trúng” lại nằm ở phi trường Đà Nẵng, thuộc vùng một chiến thuật. Đối với một người gốc gác miền Nam sông nước hiền hòa, những tỉnh thành ở miền Trung  nó xa lạ đến nỗi không biết đâu là đâu hết cả, dù trên bản đồ dọc theo miền duyên hải từ Quảng Trị trở vào, chàng cũng có lần học thuộc lòng để trả bài “địa lý” cho Thầy giáo. Nhưng rồi cũng chẳng nhớ làm chi, nhất là những giọng nói thì chàng… ngọng, không hiểu họ nói gì và cũng không phân biệt được người đó ở tỉnh thành nào. Theo chàng, tất cả những người nói giọng trọ trẹ, hay những câu đùa của bạn bè về lối phát âm thổ ngữ “en không cho en, mẹc không cho mẹc, toái mới téc đèn súng đã pén pèng pèng rồi hô xung phoeng…” nghe được từ những người bạn lúc thụ huấn ở quân trường, là những người “nẫu” hết thảy. Biết thế là đủ. Một người bạn quê ở Đà Nẵng xin “trao đổi” với chàng, vì người đó chọn đúng phi đoàn TT đóng quân ở Nha Trang. Đổi thì đổi, chỗ nào cũng… xa lắc xa lơ với vùng đất TN quê chàng. Và chàng đóng quân tại Nha Trang từ đó. 

Với những người con gái mới lớn thời đó trên khắp lãnh thổ miền Nam, đang nhìn đời còn bằng con mắt màu hồng, chưa nếm mùi gian khổ của cuộc sống, và chưa bị ảnh hưởng trực tiếp bởi cuộc chiến tranh, chưa hiểu được hết sự hy sinh to lớn của những người Lính chiến trong thời loạn. Từ trong sân trường học nhìn ra ngoài, hay khi lang thang ngoài phố, có lẽ những người Lính Không quân với những bộ đồ bay mặc trên người, có khi là màu đen, màu xám hoặc màu cam, có choàng thêm trên cổ áo chiếc phu-loa cột thắt điệu đàng, và cái nón ca-lô đội lệch, trông nó… lãng mạn, đẹp trai mà oai hùng lắm lắm(?) Nhưng với những người thiếu nữ đang ở thành phố Nha trang, những “thần tượng” cũng có phần mờ nhạt, vì thành phố có quá nhiều quân trường và nhiều đơn vị Lính, mà binh chủng nào cũng có lắm anh hùng với nhiều bộ đồ trận phong sương. Có điều đã “chạy trời không khỏi nắng” thì vẫn phải vướng vào. Âu cũng là cái số cả! 

Những ngày cuối trước khi thành phố Nha trang “thất thủ” vào tháng tư của năm 75, nhiều người phân vân trong cảnh hỗn loạn giữa đi và ở. Nhưng đi để làm gì và đi về đâu vẫn là câu hỏi to tổ bố, khi mà cả một miền Nam Việt Nam vẫn còn hằng hà sa số lính với súng ống, đạn dược đầy người đang trấn giữ quê hương, khi mà những người Lính “có thẩm quyền” từ trong Sài gòn ra để họp với Tướng Lãnh quân khu hai dưới “thị trấn quân vụ” ở đường Duy Tân, hay đến nhà tôi vào buổi tối và “trấn an” với ba má tôi rằng: “nếu có phân chia lần nữa, thì chắc sẽ …cắt từ Đèo Cả, vậy thì Nha Trang mình chắc chẳng sao đâu!”.Tin thì cứ tin, nhưng nhìn hàng đoàn người di tản về thành phố đang tìm chỗ tạm cư, nhất là ngôi trường đang dạy, bỗng nhiên cho học sinh nghỉ hết để dành làm trại “tiếp cư”. Dĩ nhiên những tai ương khủng khiếp đổ xuống đời của những người chạy loạn kể lại chỉ tăng thêm sự hoảng loạn nơi tôi nên không còn nghĩ đến chuyện… ra đi, dù chàng có phương tiện trực thăng từ đơn vị sẽ dành cho tôi một chỗ ngồi… chạy giặc.

Và chàng, khi đơn vị về lại miền Tây, chàng vẫn còn phải trực chờ bay hành quân, vẫn còn lơ lửng trong những “quan tài bay”, đưa các quan ngài đi thị sát mặt trận hay họp tư lệnh vùng, vì lúc này VC tràn lan khắp nơi. Vì tin tưởng vào sự chỉ huy can cường của vị Tướng chỉ huy, để rồi cuối cùng, ngay lúc TT Dương Văn Minh đọc lời “đầu hàng giặc Cộng”, chàng đã cùng vài người bạn từ phòng hành quân chạy bạt mạng ra hang ga để “ăn cắp” chiếc trực thăng mà mỗi một ngày qua, nó gắn liền với đời sống gian khổ của người Lính như chàng...

Chàng lái chiếc trực thăng “ăn cắp” bay ra Côn đảo sau giờ thứ 25 đó, trong màn mưa dày đặc, mưa như những giọt nước mắt “tiễn đưa” lần cuối những người bắt buộc phải từ bỏ quê hương ra đi. Cũng nhờ làn sóng “cấp cứu”  trên tần số... gạc (guard), chàng cũng từ giã tiếng bay xành xạch bằng cách xô tàu xuống biển khi đáp được trên boong của hàng không mẫu hạm MIDWAY thuộc đệ thất hạm đội Mỹ, mà tim thì cứ đập xành xạch liên hồi cộng với nước mắt mà ngỡ là nước biển văng lên.

Chàng thoát ách Cộng sản từ những ngày tháng đó. 

Theo lời chàng kể thì những ngày đầu tiên được “sống trên đất Mỹ” cũng cay đắng trăm bề. Sau khi từ giã gia đình “người Thầy dạy bay năm xưa”, hiện là một Trung tá của quân đội Mỹ, đã vào tận trại tị nạn mà “bảo trợ” học trò mình, và đem chàng về nhà bằng chiếc xe jeep nhà binh, làm… lé mắt những người bạn tị nạn đang bơ vơ lúc đó. Nhưng khổ nỗi, chàng phải sống hơn nửa năm trời chẳng gặp gỡ ai ngoài hai vợ chồng họ, cùng những người trong lớp học tiếng Mỹ đủ các giống dân, và một vài người đàn bà Việt nam đang là “hỏa đầu vụ” cho mấy vị Giáo sĩ trong nhà thờ của Mỹ gần đó. Cuối cùng, chàng xin từ giã gia đình Thầy đi đến thành phố khác và gặp lại những người bạn cùng cảnh ngộ. Mặc dù có sự giúp đỡ tạm thời của chính phủ bằng tiền “Food stamps”, được in bằng tên tị nạn người... Cu Ba, nhưng làm sao để sống còn vẫn là niềm trăn trở lớn cho những người bỡ ngỡ mới đặt chân đến xứ sở này...

Bảy người đàn ông độc thân, toàn là sĩ quan từ cấp thiếu úy đến đại úy đủ mọi binh chủng, có người độc thân thật, có người “độc thân tại chỗ”, cùng thuê một căn chung cư trú ngụ, thôi thì cứ nằm lăn nằm lóc cũng chẳng có sao. Chàng kể: Nghĩ cũng buồn cười khi mà năm người Pilot đi xin “dóp rửa chén” trong nhà hàng Tàu, mà không người nào được nhận, vì không có... chuyên môn (?). Chàng Đại uý thì dùng ngôn ngữ “đờ mờ” chửi văng mạng, vì tức cho thân phận, còn mấy người trẻ hơn thì cứ cười ha hả và tiếp tục đi gõ cửa từng nhà hàng, công ty khác. Họ không có thì giờ buồn, để ra công viên ngồi chơi như hai vợ chồng người bạn khác, để bị hai ông Mỹ da màu đến kê dao vào cổ và đòi họ đưa tiền cho… ăn cướp. Trong lúc sợ hãi tột cùng, không hiểu làm sao mà người chồng lại rút ra cái thẻ của... Hồng thập tự cấp cho, có ghi chú: “những người cầm tấm thẻ này rất cần sự giúp đỡ”. Hai tên cướp bỏ đi một mạch, họ đang mừng rỡ vì... thoát nạn, đang ngồi bàn tán xi xô thì hai ông lù lù xuất hiện trở lại, và trên tay họ là hai ổ bánh mì sandwiches tặng lại cho hai người tị nạn... không tiền. Hú hồn!.

Cuối cùng thì chàng được nhận vào làm phụ bếp cho một nhà hàng Tàu. “Khói lửa Trung quốc” từ đây giúp chàng hiểu rõ thêm thân phận của người tị nạn. Làm nhà hàng mới ngán ngẫm, không dám ăn thức ăn nhà hàng, nhất là… chả giò bán cho thực khách. Nhà hàng Tàu họ làm chả giò bằng da gà, bắp cải…v.v..., nhiều lúc họ còn kêu nhân viên đứng lên bắp cải mà đạp cho hết nước, rồi mới trộn vào nhưn (dơ bẩn hết biết?). Với đồng lương tối thiểu thời đó chưa tới hai đô la/giờ, vậy mà chàng cũng cố để dành được một số tiền nhỏ để mua chiếc xe hơi cà tàng sản xuất từ một ngàn chín trăm xa lắc. Sau đó ghi tên vào một trường Đại học trong thành phố. Công việc vừa học vừa làm trong trường cũng giúp chàng có thêm thu nhập. Nhưng có người giới thiệu cho chàng thêm công việc mới: lau chùi nhà cửa cho mấy nhà giàu, lương tối thiểu một đô la tám chục xu/giờ vào hai ngày cuối tuần. Mèn ơi! chàng nói vừa lau chùi (cả cầu tiêu, nhà tắm) mà vừa sợ, sợ vì nhà to cửa rộng quá ngỡ có ma, sợ vì lỡ làm vỡ một món đồ nào thì lấy tiền đâu mà... đền, vì thứ gì trong nhà họ đều là đồ cổ có giá trị cao. Vậy mà chủ nhà lại thích sự làm việc của chàng, còn muốn... giới thiệu thêm nhiều nhà bạn khác.

Nhưng chàng hãi quá nên giã biệt luôn, để đi xin một chân... rửa nồi trong tiệm bán Chili. Không sợ gì hết khi mà cái thùng nấu chili to tổ chảng, cứ chui vào vừa đứng vừa rửa thoải mái, hát hò bên trong cũng chẳng ai nghe. Làm nhà hàng nào cũng trăm cay ngàn đắng, cũng phải đi sớm về muộn, dù không phải là thợ nấu chính, nhưng cũng bị đì tối đa. Một lần nữa chàng đi ra cho đời bớt khổ.

Làm người tị nạn độc thân cũng lắm điều phiền muộn mà cũng lắm chuyện cười ra nước mắt.

Nhưng rồi “đời bỗng dưng vui” khi có vài em tóc vàng, chân ngắn làm chung trong nhà hàng, hay nơi trường học… theo đuổi. Ấy cái đời của dân tị nạn ngỡ rằng bỏ đi nhưng cũng còn chút an ủi, nhưng an ủi cho qua ngày đọan tháng, không như người bạn của chàng vớ phải một em, “bồ bịch” mần răng mà đến một ngày đẹp trời em đến trình diện cái… trống cơm. Bài dân ca trống cơm của nhạc sĩ Phạm Duy nó dễ thương dường nào: “Tình bằng có cái trống cơm, khen ai khéo vỗ ố mấy bông mà nên bông...” bỗng chốc biến thành tai hoạ cho người bạn độc thân tại chỗ, vợ con đang mỏi mòn chờ đợi ở quê nhà khi người ấy tìm đường liên lạc được.

Những người có gia đình thường được chọn “gút sì pông-sô”, nên được giúp đỡ tận tình. Đúng là người Mỹ rất tốt, nhưng họ tốt trong điều kiện ắt có và đủ, có “điều tra lý lịch” hẳn hoi, họ đưa cả gia đình tị nạn về và thuê phòng cho ở, xin trường cho học, xin công việc cho làm, có khi họ khuyến khích theo tín ngưỡng nhà thờ với họ, và từ đó… lập thân, Có vài gia đình còn tử tế “gả con gái” cho những chàng tị nạn “độc thân tại chỗ”, khi đó thì các chàng coi như trúng độc đắc cặp ba. Có nhiều người còn vào các nhà thờ, đa số là Tin lành để “rửa tội đứng”. Rửa tội xong rồi bèn đổi tên cho ra vẻ Mỹ, như anh chàng Vũ văn Bé nghe không được đẹp bèn đổi tên thành Bob Vu, anh chàng Phúc cứ bị mấy ông Mục sư gọi Fuck hoài nên phải đổi sang Philip cho dễ nghe, chàng Ngô Thật thì thành Thomas Ngo, chàng Trần đại Dũng thì Mỹ gọi không dấu thành Dung là… cứt chó nên lẹ lẹ lẹ đổi sang Davis Trần, chỉ có chàng thì chả đổi làm chi vì Việt hay Mỹ thì cũng chẳng có gì khác biệt.

Trong khi mấy chàng độc thân thứ thiệt thì buồn tàn thu vì khó tìm người để nói cùng “tiếng nước tôi”, vì lúc đó trong lớp người VN tị nạn có cảnh “nam thừa nữ thiếu”, muốn tìm một nửa để “ghép tim” cũng khó dàn mây. Nhiều chị dung nhan về chiều nhưng vẫn… dập dìu tài tử đón đưa, cái thời buổi vàng chưa lên giá, nhưng “con gái” đắt hàng, có khi rước nàng về dinh còn nhanh như chớp, sợ bị người khác khớp con ngựa ngựa ô về nước rút. Nhất là những người đàn bà có chồng Mỹ, được các chàng GI đưa về nước rất sớm trước năm 1975, lúc này là cơ hội cho quí nàng tìm về nguồi cội, đời cũng lên hương, nhiều người thương mến. Nhưng chàng phi công gãy cánh bay vẫn bị xếp vào lại… ế chỏng gọng, vì không quen “thổ ngữ” các nàng, suốt ngày cứ nghe “mời en an bép” (mời anh ăn bắp) nên không hiểu gì hết thì làm sao “tâm sự” cạn lời?.

Chàng pi lot cũng cố gắng đến trường học như ai, dù rằng phòng nội trú thì “nắng không ưa, mưa không chịu”, chẳng có điều hòa mà cũng không máy sưởi dù có bữa lạnh teo, đắp mấy cái mền cũng không đủ ấm, dù chàng cố gắng tìm… mền da cũng khó mà có được vì học chưa xong, tiền chưa có… 

Và người “lỡ dại” ở lại khốn khổ vô vàn cả tháng trời trước khi toàn đất nước đổi chủ, thành phố đổi tên, tiền cũng… đổi nốt. Nhà cửa thì phải dọn vào chỗ ở chật chội, nhà rộng cho người mới vào ở cho mát. Chúng tôi cứ phải hát câu “quê hương em Bắc kỳ tràn vô quá nhiều”, nhiều đến nỗi văn phòng hành chánh, trường học, trường đời gì chúng cũng làm chủ nốt, chúng “lấn chiếm” và đẩy dân thành phố vào tù, về khu… kinh tế mới để “lao động vinh quang, lang thang thì chết đói, hay nói thì ở tù, không lù khù cũng phải đi kinh tế mới”. Tôi, vẫn còn “đứng lớp”, nên không bị lùa lên vùng kinh tế mới, nhưng cũng là một trong số nhiều người đếm đủ mùi gian khổ, cứ bị tập trung để “học tập đường lối cách mạng của bác và đảng”. Ở nhà thì suốt ngày cứ nghe “loa phóng thanh” chỉa thẳng vào nhà mà ra rả với cái giọng bắc kỳ lanh lảnh, chanh chua, xóc ốc rờn rợn nghe lạnh gáy, nhưng cứ phải nghe những lời tuyên truyền của “uỷ ban quân quản...” về “ba dòng thác cách mạng” của cộng sản…

Cũng tại, bởi chúng tôi còn trong tuổi thanh niên, nên cứ bị chúng ép vào  câu thần chú: “việc gì cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”, nên ngoài chuyện đi lao động trồng mì, sắn, bắp mà kết quả thu hoạch sau mấy tháng trời, củ nào củ nấy to bằng ngón… tay út. Còn phải lên rừng sống cả tháng trời với khỉ, cọp, beo, ngày ngày xuống suối múc nước để uống, nên phải uống thuốc ký ninh thường xuyên mới không bị sốt rét. Ăn thì cá khô, cơm nắm để đi phá rừng làm rẫy, có lúc bị “con sâu đo” cứ trên quần áo mà đo mà bò, khiến nhiều lần phải ...chết giấc vì kinh hãi. Có những đêm thức trắng vì có tin “cọp dữ về”, nên phải thức đốt lửa để xua cọp. Công việc làm là cuốc đất trồng bắp, hay chặt cây lồ ô cho cán bộ xây nhà sàn nghỉ mát chơi.(?), có bữa đi đào đất lã mồ hôi hột, mà nhìn thấy mấy “cán bộ” mặc… pijama lụa trắng đứng quan sát “coi cai” mà ứa gan, lộn ruột, nhưng…?

Bị bọn Cộng sản đuổi riết, bóp riết nên dân miền Nam không thể nào sống nổi, phải tìm ghe leo lên chạy thoát ra biển dù biết rằng chín phần sẽ chết, nhưng vẫn hy vọng một phần sống sót. Còn một số khác thì len lỏi qua đường rừng mong thoát sang nước bạn tìm chút tự do. Tôi là một trong số người may mắn thoát nạn sau hơn năm năm dài nếm đủ mùi “giải phóng” bằng phương tiện “Ô Đi Ghe” (phải chi được đi diện ODP thì đỡ biết mấy.) 

Và chàng, từ khi ra trường, thay đổi chỗ làm ba lần, thay đổi chỗ ở bốn lựợt, không kịp ghi lại địa chỉ cho bưu điện biết, nhưng thư tôi gửi từ trại tị nạn, bưu điện vẫn chuyển đến nơi chàng. Chuyện lạ trên nước Mỹ. Đúng là cái số “chạy trời không khỏi nắng”!

Chàng mừng húm! chàng nói thế và tôi cũng biết thế là đủ. 

Vậy mà đã mấy mươi năm qua rồi, hai con đã lớn có gia đình riêng, giờ chỉ còn lại hai người có tuổi hủ hỉ với nhau, sau một thời gian dài với ba mươi bảy năm rưỡi chàng làm một hãng, một ca với overtime liên miên và chưa bao giờ bị… laid off. Và tôi, dù “mất dạy” nhưng cũng có nghề khác thế chỗ nên chẳng “vô lương”. Với cuộc sống đơn giản từ khi chúng tôi “kết án chung thân” vì biết “đủ là đủ”, không se sua, không bon chen, không cầu kỳ và đòi hỏi. Lại càng may mắn hơn khi chàng không có dây mơ rễ má gì với “tứ đỗ tường” của đa số đàn ông thời đại mắc phải, nên chi vật chất khộng là điều tối ưu trong cuộc sống đời thường. Ngày retire laị là ngày ‘hạnh phúc” vì từ đây khi đi có cặp, sinh hoạt có đôi…

Dù trong cuộc sống thường nhật, thỉnh thoảng có “khẩu chiến” vì bất đồng quan điểm gì đó, ông nói ông… nghe, bà nói bà…hiểu, âu cũng là chuyện thường tình. Vợ chồng già rất cần nhau mọi lúc mọi nơi, đỡ đần nhau trong mọi tình huống, ân cần săn sóc lúc bệnh khi đau, bữa cơm canh nóng khi bụng đói,… Ôi! nói chung là những người nào còn người bạn đời bên cạnh, phải “tuyên dương” đối phương tối đa, phải cùng nhau lập được một ngày “Wife or Husband”. Nếu có ngày đó chắc là vui và ngộ lắm, mấy shopping sẽ đông đảo người mua sắm quà tặng….

Nhưng chắc chỉ là… ước mơ thôi, trong thời gian bị dịch cúm Tàu ngồi nhà tù túng nên suy nghĩ để… ước mơ cho đời, và chắc phải chờ cho mọi người trở về đời sống bình yên như cũ mới hy vọng có tin vui…

Lê thị Hoài Niệm.

 

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2019

Bỏ Lại Phía Sau

GIỚI THIỆU
Xin hân hạnh giới thiệu đến quý Thầy, Cô, quý Đồng Môn và Thân Hữu
Bài viết BỎ LẠI PHÍA SAU của nhà văn Lê Thị Hoài Niệm (CHS Nguyễn Huệ). Câu chuyện rất vui và ý nhị. 
Trân trọng,
NHHN



BỎ LẠI PHÍA SAU
Lê Thị Hoài Niệm

Gần cả tháng chờ mưa và mưa đến. Mưa ở Houston xối xả, mưa ào ào, mưa rào rào, mưa chừng nào đường ngập nước lênh láng, xe cộ nổi lềnh bềnh, có người xuống thế mạng cho… ma da để gặp hà bá, mưa mới chịu ngưng(?). Mỗi khi đi trên đường mà xui xẻo gặp phải cơn mưa ập đến là cứ y như rằng vuốt mặt không kịp. Gió mưa đập rầm rầm trên mui xe, vào kính xe, hạt mưa nào cũng to tổ chảng từ đám mây đen kéo tới bao phủ kín bầu trời, đẩy lùi mặt trời đi chỗ khác chơi. Thế nên dù cái quạt nước xe hơi có quạt liên tục, quạt hết tốc lực, cái đèn xe có mở sáng choang, thì đôi mắt già của ông Tá sau tám tiếng đồng hồ làm việc mệt mỏi ở hãng tiện cũng cứ phải nhướn, nhướn lên để nhìn. Vừa phải giữ chặt tay lái, vừa phải nhìn chăm chăm vào trong làn mưa, mà theo "tin tức cho tàu chạy ven biển" năm nào thì tầm nhìn xa rất giới hạn, đường sá bị trì trệ vì ảnh hưởng cơn mưa, nên ông Tá cứ chạy thật chậm cho chắc ăn, cố tránh những đoạn đường bị ngập nước, nên đã chậm càng thêm chậm. Cũng nhờ lái cẩn thận mà ông đã lách qua được một tai nạn xe vừa xảy ra. Rõ là xứ văn minh có khác, làm việc theo hệ thống dây chuyền đã đành, đến… đụng xe mà cũng muốn nhiều chiếc nối đuôi nhau cho thêm tình thân mật.

Cứ nghĩ đến cảnh trời đang mưa to gió lớn như thế này mà cái xe bị bẹp dúm, mình mẩy bị u đầu sứt trán, có khi bị lọi tay, gãy cổ…v..v... thì thiệt là xui xẻo. Nhưng dù sao cũng đỡ hơn được… Chúa gọi về. Ông Tá nhớ lại chuyện người bạn cách đây không lâu, vô tình ông nghe được tin "phân ưu" trên radio ở địa phương trong lúc ông đang lái xe, rằng: "Gia đình chúng tôi vô cùng đau buồn và thương tiếc báo tin Phero Nguyễn… vừa được Chúa gọi về ngày ... tháng… năm, hưởng thọ… tuổi". Ban đầu ông ngỡ người trùng tên, trùng họ, chứ ông và hắn hầu như gặp gỡ thường xuyên, chỗ hẹn hò vẫn là "quán phở treo lơ lửng". Hắn mạnh khù khù, giật voi cũng ngã, đánh Tenis “3 sét” vẫn còn gân, lại không có bịnh hoạn chi ngặt nghèo, ung thư ung thiếc gì ráo. Còn tình cảm của hắn thì tràn đầy, chan chứa giữa… bầu trời tự do. Vậy thì lý do gì hắn về nước Chúa? Ông bán tín, bán nghi, nhưng cũng bạo gan gọi dây nói lại nhà hắn. Mèn đéc quơi! Đúng là sét đánh ngang mày. Chính hắn trời ạ. Thì ra, theo lời người nhà hắn kể, bữa hắn đi làm cũng dưới cơn mưa tầm tã (chắc giống hôm nay), không hiểu vì duyên cớ nào mà xe của hắn với chiếc xe ngược chiều lại… hun nhau thắm thiết, rồi quay tít mấy vòng, đến khi hai chiếc xe thấm mệt, nằm bẹp dúm thì đối phương nằm ngáp ngáp, còn hắn thì đi thẳng.

Ra đi không mang va li, không một lời từ giã ngay cả vợ con. Ông tưởng tượng lại cảnh trời mưa to gió lớn như thế này mà được Chúa gọi về thì coi bộ cũng kẹt, chắc đường đi lên cũng chẳng suông sẻ chi, một phần phải tránh né sấm sét, lỡ đi ngang gặp nhằm cái búa của Thiên lôi đang giáng xuống thì cũng đi đứt một lần nữa, kiểu "người chết hai lần thịt da nát tan" như lời trong bài hát của nhạc sĩ họ Tr., còn không thì thân mình chắc khó coi lắm, bị ướt như chuột lột vì chẳng kịp mặc áo mưa. Nhưng ông lại nghĩ chắc tại một số người mình có tính… vọng ngoại, nên khi bị "đi thẳng" thì nghĩ Chúa gọi, chứ Chúa đâu có… nhẫn tâm kêu người đi trong mưa như vậy, Chúa còn đưa tay ra nâng đỡ nếu có lời cầu nguyện nữa mà, bằng chứng là đài truyền hình địa phương có loan tin một cụ ông người bản xứ đang lái xe mà nước lụt tràn lên đường nhanh quá, cụ quýnh quáng không thể tìm lối ra, cứ ngỡ đời tàn trong… xe hẹp, cụ ngồi nhắm mắt đọc kinh Chúa, thế là có ông cảnh sát xuất hiện, đập kiếng xe kéo cụ ra ngoài, thoát… chết! hú hồn. Cảm ơn Chúa!

Dù rằng chốn dương gian trần thế cũng có lắm điều nhiễu nhương, có đầy đủ hỉ nộ ái ố ai lạc dục. Thiên hạ tranh giành hơn thua choảng nhau chí chóe từ trong nhà ra ngoài ngõ. Vợ chồng ăn ở với nhau lâu rồi… chán, hay có người thứ ba chen vào, thế là choảng nhau, nhiều khi đưa nhau ra ba tòa quan lớn để ca bài "đôi ngả chia ly" khiến mấy đứa con nhỏ cứ phải "chạy sô" tuần này nhà mẹ tuần tới nhà cha, ấy là chưa nói đến chuyện thượng cẳng tay, hạ cẳng chân, đến nỗi phải vô nằm ấp. Còn chuyện giận nhau để phải "xin tí huyết" đối phương thì đường cùng rồi. Đúng là "no mất ngon, giận mất khôn", nên có nhiều kẻ dã man lấy mạng của nguời khác, nhưng khi ra ba toà quan lớn thì được phán: điên!

Nhiều khi thiên hạ chửi nhau tàn mạt chỉ vì một cái… ghế! cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Cứ như những người tranh đua vào các chức vụ "dân cử" chẳng hạn, các phe "đối thủ" choảng nhau ầm ĩ, moi cả đời công lẫn đời tư, moi cả đời ông, đời cha của người ta và cả ba đời nhà vợ (hay chồng) ra cho thiên hạ xem chơi, thiệt hết ý!. Ngay cả quí ngài “bán ghế đấm bóp” cũng chơi nhau xả láng, suốt ngày đài tàng hình đọc ra rả những lời phân bua, xỉ vả, chả ra làm sao cả. Thậm chí có nhà Chùa, chốn tu hành cho "thân tâm thường an lạc" mà cũng đem nhau ra… họp báo, tranh chấp lẫn nhau. Thiện tai!

Nhưng nhờ có mấy chuyện tào lao mà "đời bỗng dưng vui", nếu không sẽ buồn nản chết. Cứ tưởng tượng ngày qua ngày, người gặp người vui vẻ bắt tay chào nhau dù lạ hay quen, hỏi thăm vài câu xã giao rồi đường ai nấy bước, chuyện ai nấy làm, nhà ai nấy ở, giường ai nấy nằm, cơm ai nấy ăn, xe ai nấy chạy, tiền ai nấy xài, cạc ai nấy cà, biu ai nấy trả, vợ ai nấy… nhìn v..v…thì quí ngài làm báo sẽ không có đề tài để viết, mấy cơ quan truyền thanh, truyền hình sẽ không có tin tức để thông báo cho người nghe, không có tin giật gân mà loan tải khẩn cấp, không có vấn đề sốt dẻo để tranh luận thì nản quá. Nói chung, nếu mọi sự ở trên đời cứ êm đềm trôi như nước sông mùa… hạ thì dương thế đã là chốn thiên đường, đâu còn ai mất công tìm kiếm?

Thật ra đã là con người trần tục, từ bậc vua chúa sống trong lầu sang gác tía đến đám người… homeless, hễ mỗi lần có tiệc chúc nhau đều có câu "sống lâu trăm tuổi" hay "vạn tuế! vạn vạn tuế!" thì ông Tá đây cũng không ngoại lệ. Ông chả muốn được Chúa gọi về trển sớm đâu, chắc nhiều người cũng vậy, nếu muốn, tại sao khi bị bịnh hoạn, đã phải chạy đôn chạy đáo để chữa cho khỏi bệnh, chữa thuốc Tây bác sĩ chê thì nhào vào thuốc ta, ai chỉ gì làm nấy, hy vọng người bệnh được sống sót, chữa không khỏi mà đi thẳng thì người nhà buồn rầu than khóc? rồi người ta đến… chia buồn, đăng báo phân ưu. Có ai đến chia vui đâu, dù lời đăng cáo phó “được Chúa gọi!”? Mà chắc gì về trên đó ông làm việc chăm chỉ cần mẫn siêng năng như ở dưới này, vì ở trển đâu cần ăn uống, thấy mấy tiên ông tiên bà cứ bay bay cà lơ phất phơ, buồn tình ngồi đánh cờ mà mặt nào cũng “nghiêm mà buồn” chán lắm. Chả thế mà mỗi chủ nhật đi lễ nhà thờ ông đều cầu nguyện Chúa ban phước lành cho ông và gia đình được bình yên vô sự, sống lâu, sống khỏe. "An khang, trường thọ" ai mà chả muốn.

Vậy thì ông xin khẳng định lần nữa dù đang lái xe trong mưa rằng ông không muốn Chúa gọi ông về trển lúc này đâu nhé. Bao nhiêu năm chinh chiến nơi quê nhà, nhiều lúc nằm ngang tầm súng quân thù, đạn bay vèo vèo chéo chéo trên đầu, hay những lúc trèo đèo vượt suối, "lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm", v.v... rồi thì những năm tù tội cực khổ giàn trời mây, vậy mà có giờ rảnh thì ông lén ngồi cầu nguyện Chúa cho ông có nhiều nghị lực để vượt qua, nhằm sống sót về lại với vợ con, gia đình để được tiếp tục làm người trần thế, huống chi bây giờ.

Nên những khi chạy xe nhằm dưới cơn mưa tầm tã như vầy, ông phải cố mở to đôi mắt, giữ vững tay lái và cầu mong đừng có tên say rượu, tên đui nào lái ẩu, hun vào xe ông. Đã vậy còn phải tìm đường nào để về nhà cho an toàn mà xe không bị nổi lềnh bềnh. Bình thường, bà con ta đến xứ này hay quở: xứ sở gì mà đường xe chạy toàn là cầu với cầu bắt ngang bắt dọc mà chẳng thấy sông nước chảy ở đâu? thì những lúc mưa to gió lớn liên miên như thế này đã có lắm sông rồi đó, ai lỡ dại lái xe qua là biết liền, nếu không ngáp ngáp thì phải bỏ của chạy lấy người, tìm tiền sửa xe ngập nước.

Chạy vội vào nhà, vừa giũ nước mưa, định tháo đôi giày khỏi chân sợ bị ẩm, bổng ông Tá già sững người lại. Nơi phòng khách trên ghế Sofa, bà Tá đang ngồi khịt khịt mũi, cầm khăn tay chậm mắt lia lịa. Nhìn mũi, mắt bà đỏ au ông chợt rùng mình, không biết ở nhà vừa xảy ra chuyện gì, chả lẽ có đứa con nào làm lữ hành trong mưa sau một ngày làm việc rồi… đi thẳng? Hoặc là bên nhà cho biết tin có Cụ nào vừa được về nước Chúa? Nhưng rồi tai ông lại nghe có tiếng nhạc nỉ non, dìu dặt, ông bèn quay lại nhìn màn ảnh TV đang mở, ông thở ra nhẹ nhõm. À thì ra bà đang khóc dùm thiên hạ. Trên màn ảnh đoạn cuối bài hát, một nữ diễn viên (ca sĩ?) VN đang thiểu não trong bộ áo tang, tay dắt thằng bé cũng đầu đội khăn tang, rời bỏ khu nghĩa trang hiu hắt lặng lẽ xuống đồi.

Ông lắc đầu bỏ đi thẳng vào phòng thay quần áo, trở ra ngồi xuống ghế, trầm ngâm một lát rồi từ từ lên tiếng:

- Thấy bà khóc, tui không buồn mà lại… tức cười, kể ra bà cũng dư nước mắt thật đấy. Bà còn nhớ hồi năm nẳm ở bên nhà chứ? Có nhiều khi tui phải... la át bà, để khỏi nhìn bà khóc lóc, lo lắng, sợ sệt cho tui… một đi không trở lại như mấy chuyện phim bà xem trên TV. Đã vậy, hễ gặp nhau thì bà cứ… lải nhải: "Em hỏi anh, Em hỏi anh bao giờ trở lại. Anh trả lời, anh trả lời mai mốt anh dzìa…. Anh trở dzìa trên đôi nạng gỗ, Anh trở dzià bại tướng cụt chân, …Anh trở dzìa có khi là hòm gỗ cài hoa trên trực thăng sơn màu tang trắng…", hoặc bà mở radio nhằm lúc cô ca sĩ có giọng hát liêu trai rên rỉ cái gì mà "Ngày mai đi nhận xác chồng, say đi để thấy mình không là mình, ngày mai đi nhận xác anh, cuồng si thuở ấy hiển linh bây giờ…. Bây giờ anh phủ màu cờ, anh lên lon giữa hai hàng nến chong..." thiệt là vô lý hết sức. Thời buổi chiến tranh giặc giã, súng đạn thì vô tình, mà con người không phải mình đồng da sắt, địch quân thì không biết lúc nào "xung phong biển người"? nhất là đơn vị đóng quân ở những tiền đồn đèo heo hút gió, không phương tiện di chuyển. Nói chung là lính khổ lắm, nhất là mùa mưa, những trận mưa mùa dai dẳng từ ngày này qua ngày khác, có khi mưa ào ào, mưa rào rào như bữa nay, suốt ngày Lính phải làm bạn với cái Poncho. Ở miền Nam, đi hành quân thì luôn lội bùn sình, quần áo lúc nào cũng nửa khô nửa ướt, cơm gạo sấy, nước bi-đông là tiêu chuẩn. Trời ơi buồn thúi ruột, vừa chịu khổ cực, vừa lo lắng cho mạng sống của mình, vừa nhớ cha mẹ, nhớ vợ thương con, nhớ thành phố, nhớ nhà… có hằng trăm cái buồn vây kín, vậy mà nhạc sĩ mần bài hát, ca sĩ thì rên rỉ "anh còn lại gì ngoài tấm thẻ bài phân loại máu anh…" Rõ ràng người Lính chưa xung trận mà ông nhạc sĩ đưa hơi cho vợ con hỏi chừng nào… lãnh tiền tử?

Hồi đó mỗi lần được về lại hậu cứ, trong khi được bà cho ăn bữa cơm nóng cá kho, gia đình đang quây quần dzui dzẻ thì cũng trên màn ảnh TV ông ca sĩ máu me đầy người rên rỉ nỉ non: "Anh không chết đâu em, anh mới vừa bỏ cuộc đêm qua. Sao cứ khóc anh bên ngọn nến vàng hắt hiu niềm nhớ, trên khăn tang cô phụ, còn… lóng lánh dấu ái ân…" thử hỏi có ai mà không rủn lòng, nản chí, muốn trốn ở nhà rồi ra sao thì ra, trước tiên là khỏi phải bị… đạn hun, súng nhắm, khỏi phải làm hồn ma bóng quế dzìa báo mộng cho vợ con mà mình mẩy đầy máu me, mắt mù, chân cụt. Nhất là nghe ông nhạc sĩ tả cảnh vợ chồng mới gặp nhau "hủ hỉ" đêm qua trong căn cứ, sáng ra chính người vợ phải xé "tấm ra giường" nhân chứng để làm tấm khăn tang. Thảm biết chừng nào, hãi hùng biết chừng nào? khủng hoảng biết chừng nào??? Khi người Lính ở đơn vị thì phải cố quên, bỏ tất cả nhớ thương lại phía sau để chiến đấu hầu chiến thắng kẻ địch, sống sót mà trở về với gia đình. Bây giờ tui cũng thấy bà khóc vì cái cảnh… chết giả đó, sao coi chẳng được tí nào, chứ hồi tui đi tù dzìa, tui đâu có thấy bà dễ khóc như vậy?

Giọng bà Tá trở nên ráo hoảnh:

- Khóc sao được mà khóc, có "quỡn" đâu mà khóc, khóc rồi sinh bệnh làm sao có sức khỏe để đi chạy hàng kiếm tiền mua gạo nuôi mình, nuôi con?
- Hahaha, khóc mà cũng có điều kiện, có lý do, có hoàn cảnh…
- Chứ sao nữa, cứ đầu tắt mặt tối chạy gạo phờ người ra, hễ có chút nào rảnh thì nằm soải tay nhắm mắt tìm giấc ngủ cho có sức ngày sau đi làm tiếp, có thì giờ đâu mà coi phim ảnh, cái gì trong nhà có chút giá trị cũng đã bán mất rồi, truyền hình đâu mà coi, nếu có coi ké nhà hàng xóm thì cũng "đến hẹn lại lên, nghêu sò ốc hến, Lút mi na-rút si la…", có gì buồn đâu mà khóc?
- Rồi bây giờ quỡn quá, đi tìm ba cái phim buồn bã, chết chóc giả đó về xem rồi ngồi khóc, quên… nấu cơm?
- Tại em nghe người ta "quảng cáo" cái phim cũ được làm lại hay lắm, nên em đi mua về xem thử vậy mà. Nói không phải để mình vui, chứ dù đã bao nhiêu năm trôi qua, vật đổi sao dời, nhưng em vẫn thấy thương mình, thương những người Lính trận hồi đó quá chừng, họ khổ cực hết sức, hồi sống cũng cái Poncho làm bạn đồng hành, đến khi bị lãnh đạn cũng… poncho buồn liệm kín đời anh! Có nhiều cái chết thật tức tưởi, nhất là những người bị đạn hun vào những giờ phút cuối của cuộc chiến, họ không được gì cả, ngay cả tấm ván hòm, nếu không có gia đình lo liệu…

Ông Tá cười cười
- Bởi vậy mới nói, hễ muốn có đầy đủ mọi thứ, có kẻ đưa người đón thì phải… đi sớm, chớ đi sau thì chẳng có gì hết, dù là Tướng Tá, nhưng nói thật, cực chẳng đã mới phải ra đi, chứ không ai muốn đâu, hìhìhì…
- Mình nói đúng rồi, đâu có ai khơi khơi lại muốn chết, ngay cả những người mắc bệnh nan y bất trị, huống chi là những người Lính chiến gan dạ, nên khi họ bị tử thương như cảnh trong phim vừa rồi, em thấy tội nghiệp quá, nên… khóc!
- Đã mấy chục năm qua rồi, đối với những người khác thì mình không dám nói đến, còn với gia đình mình thì bà hãy bỏ lại phía sau những chết chóc thương tâm "không cần thiết" đó được không? Bao nhiêu năm tui đi làm lính trận gian lao cực khổ may mà sống còn, rồi bị tù tội khốn khổ vô cùng, bây giờ đã được ngồi đây, gia đình mình cũng được sống thoải mái trên một đất nước tự do với nhiều tình người, mình phải làm sao cho xứng đáng với đời sống hiện tại, phải vui vẻ, phấn chấn đi tới, tại sao cứ ngồi rầu rĩ khóc kể chuyện... đâu đâu, rồi bệnh đau có phải làm khổ chồng con không? Nhạc Lính Việt nam xưa của mình có khối bài hay, diễn tả tâm trạng người Lính chiến xa nhà, mà vẫn không quên người hậu phương. Bà nhớ hồi đó tui mê bài "Trên bốn vùng chiến thuật" của n/s Trúc phương đến cỡ nào không, sao mà ông nhạc sĩ sành tâm lý quá: "… Đêm đêm nằm đường ngăn bước thù, áo nhà binh thương Lính, Lính thương quê, vì đời mà đi.." hoặc một điệp khúc trong bài "Viết từ KBC" của n/s Mạc phong Linh & Hoàng Minh nè: "…Em ơi lau lệ buồn, vì chinh chiến anh còn đi, đừng giận hờn anh em nhé! Mình thương thì gọi tên nhau, mình nhớ mà không u sầu, dặn dò em chỉ đôi câu…" Còn bài "Ngõ hồn qua đêm" của n/s Hàn Châu & Triết Giang: "…Nhìn hỏa châu lưng trời soi chia đêm tối, Anh ngỡ như ngày cưới hoa đăng ngập trời. Xin em tin rằng đôi ta bây giờ dù xa cách nhau. Tình yêu ngàn năm không phai nhạt hương sắc, Anh hứa yêu em trong suốt cuộc đời này…". Đó là tui dẫn chứng một vài bản nhạc Lính mà ngày xưa tui yêu thích, nhắc lại cho bà nghe, chứ còn nhiều lắm lắm, nhạc sĩ ngưòi ta trải hồn ra, dù với điệu nhạc gì, dù Bolero, hay Rumba, hay Chachacha… tất cả rất êm đềm, sâu lắng, len lỏi qua từng ngóc ngách tình cảm của người Lính như tui đây. Tuy nhạc không sang cả, lời thì bình dị, mộc mạc nhưng diễn tả được niềm thương, nỗi nhớ nhẹ nhàng đằm thắm biết chừng nào. Trong tình thương yêu có sự rung cảm chân thành, không làm… nản lòng người Lính chiến, còn vẽ cho người lính thấy hình ảnh ngày cưới có xe hoa, có pháo hồng vui vẻ, Đẹp và thơ mộng như vậy mới làm ngưới Lính yêu đời và yêu người hơn chứ.

Nhưng bà đừng có cười tui sao mê nhạc "Lính chê" hồi năm nẳm nhen! Hôm nào bà thử ngồi nghe lại hết đi, nó sẽ thấm từng câu, từng chữ đó, hay hơn cuốn phim… chết chóc bà vừa xem rất nhiều. Phải chi bà xem những cuộn phim tả cảnh chiến đấu oai hùng của quân dân ta, bà sẽ có niềm kiêu hãnh về họ, chẳng may họ bị hy sinh thì bà rơi nước mắt đã đành, đằng này cứ coi ba cái phim làm "nản lòng chiến sĩ" rồi khóc lóc. Tui nói rồi, cái gì đã qua mà không đem lại ích lợi gì, không thấy rút được kinh nghiệm tốt đẹp gì cho cuộc sống thì hãy bỏ lại phía sau lưng, đừng lưu luyến, tiếc nuối vô ích. Buổi sáng tui đi làm, mà gặp bà ngồi khóc chắc xui tận mạng, nhất là những lúc trời mưa như thế này, không khéo lại bị Chúa gọi không chừng!

- Ừ thì tại bữa nay trời mưa, buồn quá, không biết mưa kiểu này có bị ngập lụt không? Không biết.
- Thôi được rồi, bà cứ không biết, không biết tới tối chắc tôi nhịn đói, làm ơn…

Bà Tá quay lại nhìn ông chồng già cười cười, quên chuyện chết chóc mà bà vừa mới khóc...

Lê thị Hoài Niệm.


Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018

Đại Hội Tám Tại Boston

GIỚI THIỆU
Kính thưa quý Thầy Cô, quý Đồng Môn và quý Thân Hữu.
Đại hội 8 Boston CHSLTPY kết thúc thành công rực rỡ cả về hình thức lẫn nội dung. Lưu lại những hình ảnh và kỷ niệm đẹp sâu đậm trong tâm khảm của thầy trò chúng ta. 
Đồng môn Lê Phan Tuyết (nhà văn Lê Thị Hoài Niệm) tường trình đầy đủ sinh hoạt 2 ngày đại hội và cảm xúc của mình trong bài phóng sự ĐẠI HỘI TÁM TẠI BOSTON. Xin cám ơn chị Lê Phan Tuyết đã chia sẻ.
Kính mời quý Thầy Cô và quý Anh C hị cùng thưởng lãm.
Trân trọng giới thiệu.
NHHN



BTC Đại Hội 8 Boston CHSLTPY


ĐẠI HỘI TÁM TẠI BOSTON

Lê Phan Tuyết

Chúng tôi từ giã thành phố Boston trong buổi xế trưa trời se se lạnh, mây giăng giăng mù chừng như lưu luyến bước chân đi. Người rời Boston mang theo nhiều kỷ niệm đẹp về đại hội CHSLT Phú Yên lần thứ TÁM.

Xin Chân thành cảm ơn Ban Tổ chức đã bỏ quá nhiều công sức để đưa Đại hội đến thành công tuyệt vời. Ngoài hai người đồng Trưởng ban Tổ chức là anh Võ Thái Sắc và Vũ Trần, còn có các anh chị Tuyết Hương, Hương Bảo Phan, Thọ Lê, Hòa Trần, Bác sĩ Phong (Benjamin Trương), Đạm Lê, với anh Đặng Ngọc Hiến ở địa phương, còn có một người  rất quan trọng đó là chị Mai Phương, phu nhân của anh trưởng ban VTS, đã là nhịp cầu nối của tất cả CHS ở khắp nơì, và là người đã có nhiều đóng góp đáng kể cho đại hội, nhưng rất tiếc đến ngày Đại hội chị đang bị bệnh nên phải nằm nhà chữa trị… Tất cả các anh chị đã hết sức hết lòng lo lắng thật chu đáo cho quí Thầy Cô và cựu học sinh về tham dự thật đông đảo.

Từ trái: Anh Vũ Trần, Anh Võ Thái Sắc - Đồng Trưởng Ban Tổ Chức

Tuy là lần đầu tiên đến thành phố này vào buổi tối, nhưng chúng tôi không bỡ ngỡ khi có chiếc shuttle đón về khách sạn, nơi “tập trung” Cựu HSLTPY về tham dự đại hội. Vẫn những tiếng reo vui chào hỏi dù... lạ hay đã quen, ngay cả các anh trong ban tổ chức cũng làm “dàn chào” đón anh chị em, quí hoá quá. Rộn ràng và rộn ràng lắm lắm, tất cả đều háo hức tham dự “Duck tour” ngày hôm sau nên phải về nghỉ sớm.

Ngồi trên chiếc xe vừa chạy trên bờ chung quanh những con đường thành phố, vừa nghe “tour guy” giới thiệu sơ sơ về thành phố cũng thấy thích rồi, nhưng thích nhất là khi chiếc xe từ từ xuống con dốc nhỏ và… nổi trên mặt nước trong xanh. Thật thú vị khi xe chạy bon bon trên mặt nước cả tiếng đồng hồ để cho người ngồi trên xe xem phong cảnh xung quanh và hưởng làn gió hiu hiu một sớm mai không nhiều nắng.

Boston Duck Tours - Xe chạy dưới nước


Mọi người về lo chuẩn bị quần áo đẹp để xe đưa đến nhà hàng tham dự Tiền đại hội.

Phải công nhân khu phố Tàu ở Boston đông và… kẹt xe quá cỡ. Xe ngừng trên đường lớn và mọi người nối đuôi nhau đi vào nhà hàng với áo quần thật đẹp, khiến cho một số người bán quán bên đường nhìn ngạc nhiên và một cô gái chận tôi lại, hỏi: họ đi đâu đông và đẹp vậy cô? Đi dự tiệc có khác.


Ban Tiếp Tân

Các cô mặc áo dài đồng phục đẹp quá. Áo dài này do một “mạnh thường quân (H.A.)" tặng cho đại hội đến những ba mươi cái. Những tà aó thướt tha, sặc sỡ đã làm nên cho buổi tiền đại hội thêm phần lung linh, khởi sắc. Chỉ tiếc rằng hội trường nhỏ quá nên không đủ sân khấu cho ban văn nghệ phô diễn tài nghệ. Hai người giới thiệu chương trình thật sinh động là anh Thọ Lê và cô Thế Dương, ái nữ của giáo sư Nguyễn Văn Hàng dạy Nguyễn Huệ. Cô MC nóí chuyện rất lưu loát và thật có duyên, quí Giáo sư được trang trọng giới thiệu, các học sinh từng miền cũng được trình làng. Ca sĩ Phú Yên thì có thừa những giọng hát hay nên buổi tiền đại hội đi qua nhanh. Đến phần dạ vũ thì đa số ra về. Nhưng vì xe đưa đón có giờ, nên nhóm người ra trước gồm cả quí Thầy Cô, đều đứng hai bên đường làm… dàn chào trong màn sương lạnh, nhưng vui quá vì tán chuyện… tào lao, lại chụp hình chớp ảnh đủ kiểu, cười nói râm ran (nhưng chắc không ồn ào quá độ… giống người Tàu dù đứng giữa phố Tàu?)


Anh chị Đặng Ngọc Hiến (đứng giữa)

Sáng Chủ nhật, sau khi ăn sáng ở khách sạn, đa số CHS chuẩn bị đến nhà Anh chị Đặng Ngọc Hiến để dự bữa ăn trưa do anh chị mời. Phải bái phục tinh thần và sức làm việc của anh chị. Gần trăm con người ta… già trẻ, vậy mà anh chị đã chuẩn bị thật chu đáo lều trại, chỗ ngồi, thức ăn đầy dẫy lại ngon không thua gì nhà hàng. Phục lăn chị Xuân đó anh Hiến ơi! (nơi nhà anh chị Hiến, tôi có dịp gặp lại người bạn cùng một lớp sư phạm QN của 47 năm về trước, cảm ơn anh chị nhiều.)

Đêm đại hội được tổ chức tại một nhà hàng rất đẹp, nghe đâu có sự góp sức chọn lựa của người địa phương nên biết rõ… đường đi nước bước, khi ban tổ chức về đây để chọn chỗ hồi tháng tư/18. Phòng hội khang trang, rộng rãi, đẹp đẽ, nên BTC tha hồ… trang trí nhiều banner đẹp mắt, chào mừng CHS về tham dự. Ôi thôi bà con chụp hình hàng ngàn kiểu chứ không phải có trăm đâu.


Ban Hợp Ca của Đại Hội

Chương trình bắt đầu rất đúng gìờ. Trên sân khấu là cả một… rừng áo dài rực rỡ của cựu nữ sinh PY, sáng cả hội trường. Chị Ca sĩ Thanh Vân thật tuyệt vời trong bài quốc ca Hoa kỳ và cả hội trường cùng đồng thanh trong bài quốc ca VNCH. Trang nghiêm và cảm động khi anh MC Thọ Lê tiếp tục “ một phút mặc niệm…” dành cho những Thầy Cô và cựu HSLT PY đã nằm xuống…

Anh đồng trưởng ban Tổ chức Võ Thái Sắc thật… oai phong và tự tin khi tuyên bố lý do khai mạc đại hội. Phải thật tự tin, năng nổ và có tài anh mới đảm nhận tổ chức đến ba kỳ đại hội (năm kỳ kia gồm có: anh Đặng Duy Nhượng kỳ Một và Hai, Lê Phan Tuyết kỳ Ba, Christ Phan kỳ Bốn, Lê Chí Hiếu kỳ Bảy). Ban tổ chức trình diện trên sân khấu mà sao… ít người quá: Anh Vũ Trần (người hiền lành dễ mến), chị Tuyết Hương (dễ thương, duyên dáng, lanh lợi, tài ba), anh Thọ Lê, anh Benjamin Trương, anh Hòa Trần, Hương Bảo Phan (nhỏ nhẹ, sốt sắng, nhiệt tình)… và thêm sự góp sức của anh Hiến lúc sau. Có ngần ấy người mà họ đã làm nên một Đại hội thật qui mô đông đảo.


Thầy Nguyễn Đức Giang phát biểu

Trong số những Giáo sư tham dự, ngoài Thầy Nguyễn Đức Giang đến từ Đan Mạch, Thầy Hiệu Trưởng luôn luôn đứng cạnh học trò cũ trong bất cứ lần đại hội nào, còn có Thầy Nguyễn Văn Hàng lần thứ hai tham dự (đại hội 4 & 8). Có Thầy Huỳnh Đức Chiêu từ VN sang, Thầy Phạm Xuân Cầu mới dọn về Boston (Thầy rất có tình với học trò, đến giờ cuối Thầy vẫn ở khách sạn để tiễn học trò lên xe về lại nhà. Thật cảm động trước tình cảm của Thầy) Thầy Ngô Càng Phương, Thầy Ngô Khôn Hạnh… Quí Thầy Cô nhận quà từ ban tổ chức trong niềm vui kỷ niệm Thầy Trò hội ngộ.


BTC tặng quà lưu niệm cho quý Thầy Cô

Chương trình Văn nghệ thật vô cùng phong phú. Trước tiên cho phép người viết… khen ngợi cựu học sinh Phú yên đa tài. Ba MC Thọ Lê, Trần Hoàng Thân, Kim Khuê đã dẫn chương trình thật khéo léo, linh động và lịch sự. Mở màn là bài hát “Nguyễn Huệ trường tôi” của Lê Thị Hoài Niệm (Lê Phan Tuyết) & Kiên Thanh được cả một ban “hợp xướng” có cả Thầy Hiệu trưởng và cựu học sinh Nguyễn Huệ… già mà hát cũng tới bến dù chưa một lần… tập dợt chung nhau. Tiết mục “Không quân hành khúc”do anh Đặng Ngọc Hiến và các bạn đã làm cho sân khấu bừng lên khi những chàng phi công không còn… trẻ đứng cạnh những người đẹp mặc áo dài xanh của tuổi mười ba vào khoảng... nửa thế kỷ trước, với ca sĩ Kim Loan cũng góp giọng hát trong này, nhưng hay vẫn là hay. Tiết mục “Ngày Xưa Hoàng Thị” dễ thương quá chừng chừng. Ôi thời áo trắng học trò vẫn còn hiện diện nơi đây khi Lan Hương làm đạo diễn cho các bạn khoá 76 trình diễn với giọng hát ngọt ngào điêu luyện của Kim Khuê.


Hợp ca Nguyễn Huệ Trường Tôi (Ban Hợp Ca Nguyễn Huệ Hải Ngoại)

Hợp ca Không Quân Hành Khúc (Ban Hợp Ca CHS Nhóm Không Quân)

Hoạt cảnh Ngày Xưa Hoàng Thị




Hoạt cảnh Ngày Xưa Hoàng Thị

Hồng An và Tố Anh, hai người đẹp đã bỏ quá nhiều thời gian và sức lực để đạo diễn và tập dợt cho hai tiết mục “phát-sân-sô”(Fashion show) thật công phu. Mười sáu ngưởi đẹp trong tà aó dài thướt tha đủ màu đủ sắc trình diễn trước quan khách theo lời thơ của LTHN, thật sinh động và hấp dẫn, khiến mọi người vỗ tay tán thưởng không dứt. Ngoài tà áo dài VN, còn có y phục thế giới nữa. Từ Ấn độ, Đại Hàn, Nhật Bản, Ý đại lợi, tới Hồng Kông, Ma cao, Thái Lan gì đều có cả, các người mẫu “chuyên nghiệp” vừa múa vừa hát “bài hát truyền thống” của… đất nước mình khiến cả hội trường cười vui hết biết. (dù không được tập dợt chung nhau, nhưng các cô người mẫu cũng đã cố gắng rất nhiều, nếu chưa được… nhịp nhàng chắc chẳng ai chê trách ?)


Từ trái: quý chị Hồng An - Kim Khuê - Tố Anh

Fashion Show

16 người đẹp trình diễn áo dài VN

Các bạn trường Đức Trí cũng có màn trình diễn thật vui nhộn, thân tình.
Có cả múa, hoạt cảnh, những bài đơn ca thật hay, với những giọng hát điêu luyện, truyền cảm của Kim Loan, Kim Khuê, Bảo Nguyễn… và nhiều CHSLTPY làm nên đêm đại hội kỳ thứ Tám tại Boston thành công vượt bực.


Ban nhạc của trường Đức Trí

Cứ như là… tuyển chọn tổ chức… Olympic, khi Ban tổ chức kỳ đại hội Tám trao “cúp luân lưu” cho Kỳ ĐẠI HỘI CHÍN (9). Hai anh Đạm Lê và Bảo Nguyễn đã hăng hái nhận lãnh chức trưởng ban Tổ chức kỳ ĐẠI HỘI CHÍN CHSLTPY sẽ được tổ chức vào tháng MƯỜI năm 2019 tại LAS VEGAS. Nhìn hình ảnh anh Đạm cầm cái cúp thật đẹp đứng trên sân khấu, lại còn giơ cao lên cho mọi người nhìn cho rõ, khiến các Anh ở bên dưới “cầm lòng không đậu” cũng tình nguyện lên sân khấu nhận lãnh tổ chức những kỳ đại hội kế tiếp như Anh Phú Nguyễn tại Austin, anh Trần Hoàng Thân tại San Jose, hai anh chị Phan Thùy Dương và Ngô Ái Mỹ tận bên nước Úc, anh Trần Hùng tại Minnesota, anh Hoài Võ nhận tổ chức tại Florida… (Đêm gặp Thầy Nhạc tại Motreal, Thầy nói với chúng tôi rằng Thầy cũng muốn tổ chức một lần ở tại Motreal, và các bạn Phú, Thân, Tiên… đều mong muốn Thầy tổ chức và họ sẽ bay sang trước góp sức với Thầy).


 Anh Võ Thái Sắc (TBTC đại hội 8) trao Cup luân lưu cho anh Lê Đạm (TBTC đại hội 9)

Anh Lê Đạm và anh Nguyễn Bảo




Quý Anh nhận tổ chức đại hội trong những kỳ kế tiếp

Ngày thứ hai đi tour thành phố với bốn chiếc xe bus dài, xe chúng tôi đi do Anh tài xế là một người Việt nam nên giới thiệu thắng cảnh Boston rất rõ ràng. Từ khu vực thương mại của người VN, đến các trường đại học danh tiếng trong thành phố, chúng tôi cũng được cơ hội… sờ đôi giày bóng lưởng của ông viện trưởng trường đại học danh tiếng Harward, đi trong khuôn viên trường mà chạnh lòng nghĩ đến trường đại học lớn nhất của VN bên kia bờ Thái bình Dương xa thẳm…

Chiều về mưa lạnh bay bay nên mọi người lười biếng xuống xe đến khi vào tiệm Tàu ăn tối rồi về lại khách sạn.


Tượng ông Viện Trưởng đại học Harward

Đêm rồi cũng tàn để mọi người về nghỉ chuẩn bị cho ngày hôm sau “đôi ngả chia ly”. Không như ngày xưa tổ tiên Lạc Long quân và Âu Cơ chia tay nhau nên đàn con  cũng phải chia lìa hai ngả, nửa lên núi nửa xuống biển. Mà tại vì một số ACE không chịu nổi cảnh... lênh đênh trên sóng nước, ngại cho… cá ăn chè, nên Ban Tổ chức phải… tổ chức một chuyến đi đường bộ. Lúc ban đầu định đi về hướng New York, các thành phố lân cận, cuối cùng về DC và... tan hàng ở đó, cá nhân chúng tôi đã “làm liều lãnh đạn”. Nhưng cuối cùng, được tin nhóm bạn học khóa 76 của Đỗ Trọng Tiên đi về hướng Canada, thế là Ban tổ chức… chuyển hướng, tất cả đi theo hướng Canada cùng các bạn ấy, và Đỗ trọng Tiên sẽ làm... leader cho cả nhóm. Tôi “bán cái” được nên mừng húm dù chẳng có đồng nào…!.

Và chuyện đi theo hai ngả rẽ tâm tình đã được bạn Thiên Trúc “tường thuật “ thật đầy đủ trong vài ngày qua, và sẽ còn dài dài vô cùng hấp dẫn…mời bà con đón xem.

Lời cuối Xin chân thành cảm ơn Ban tổ chức kỳ đại hội tám tại Boston đã cho những chúng tôi có những ngày vui nhớ.

Lê Phan Tuyết.9/2018


Tác giả Lê Thị Hoài Niệm & Tổng Thư Ký Phan Bảo Hương

Từ trái: Chị Phan Bảo Hương (Tổng Thư Ký) - Chị Tuyết Hương (TB Văn Nghệ)

MC Trần Hoàng Thân NH-K76 (lần thứ 2 góp mặt trong đại hội)

Xin mời quý Thầy Cô và quý Anh Chị xem thêm hình



Từ trái: cô Cầu, thầy Cầu, thầy Giang, thầy Chiêu, thầy Hạnh, thầy Phương

Từ trái: cô Hàng, chị Bảo Hương, thầy Hàng, thầy Giang

Thầy cô Ngô Càng Phương, chị Phan Bảo Hương

Thầy cô Nguyễn Văn Hàng












 Từ trái: ái nữ của thầy Hàng, MC Thế Dương, cô Hàng, chị Thanh Phước, ca sĩ Kim Loan




 

 Ca sĩ Tuyết Hương (TB Văn Nghệ)

Ca sĩ Kim Loan & Nguyễn Bảo


Hoạt cảnh Ngày Xưa Hoàng Thị (Nhóm NH-K76)