Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - NHIỀU TÁC GIẢ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - NHIỀU TÁC GIẢ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

Người Cảnh Sát Và Bài Thánh Ca

 

Hình minh hoạ bởi Meta AI


NGƯỜI CẢNH SAT VÀ BÀI THÁNH CA
Bùi Phạm Thành

Soapy bồn chồn cựa quậy trên chiếc ghế băng ở Quảng trường Madison. Khi tiếng ngỗng trời vang vọng trên cao vào những đêm khuya, khi những người phụ nữ không có áo khoác bằng lông hải cẩu bỗng trở nên dịu dàng với chồng, và khi Soapy bắt đầu cựa quậy không yên trên chiếc ghế công viên, thì bạn có thể biết rằng mùa đông đang đến rất gần.

Một chiếc lá khô rơi xuống lòng Soapy. Đó chính là tấm danh thiếp của "Lão Băng Giá" (Jack Frost). Lão vốn tử tế với những cư dân thường trú tại Quảng trường Madison và luôn báo trước về chuyến ghé thăm hàng năm của lão. Tại các góc phố, lão trao tấm danh thiếp ấy cho Gió Bắc, gã người hầu của tòa dinh thự mang tên "Trời Đất Bao La", để cư dân nơi đây kịp thời chuẩn bị.

Tâm trí của Soapy nhận thức được thực tế rằng đã đến lúc anh phải quyết tâm thành lập một "Ủy ban về Cách thức và Phương tiện duy nhất" để đối phó với sự khắc nghiệt sắp tới. Và do đó anh ta đã trằn trọc một cách khó chịu trên băng ghế công viên.

Những dự định trú đông của Soapy chẳng hề cao sang. Trong đó không hề có chuyện du ngoạn Địa Trung Hải hay đắm mình dưới bầu trời miền Nam êm ả, lững lờ trôi trên vịnh Vesuvian. Điều mà tâm hồn hắn khao khát chỉ là ba tháng trên "Hòn Đảo". Ba tháng được đảm bảo có nơi ăn chốn ở cùng những người bạn tâm đầu ý hợp, lại được an toàn trước những cơn gió lạnh buốt và đám cảnh sát, với Soapy, đó chính là đỉnh cao của sự sung sướng.

Suốt nhiều năm qua, nhà tù Blackwell hiếu khách vẫn luôn là nơi trú ngụ mùa đông của hắn. Cũng như những người dân New York may mắn hơn, thường mua vé đi Palm Beach hay vùng Riviera mỗi khi đông về, Soapy cũng có kế hoạch riêng cho chuyến di cư thường niên của mình đến "Hòn đảo" (tức nhà tù Blackwell). Và giờ thì thời khắc ấy đã điểm. 

Đêm qua, dù đã nhét ba tờ báo Chủ nhật vào trong áo khoác, quấn quanh cổ chân và phủ lên đùi, hắn vẫn không sao chống chọi nổi cái lạnh khi ngủ trên chiếc ghế băng gần đài phun nước ở quảng trường cổ kính. Thế là hình ảnh "Hòn đảo" hiện lên đầy hứa hẹn và đúng lúc trong tâm trí Soapy. 

Hắn khinh miệt những sự sắp đặt mang danh nghĩa từ thiện dành cho những kẻ sống dựa vào xã hội. Theo quan điểm của Soapy, Luật pháp còn nhân từ hơn cả lòng bác ái. Có vô số cơ sở, từ của thành phố cho đến các tổ chức từ thiện, nơi hắn có thể tìm đến để được cung cấp chỗ ở và thức ăn phù hợp với lối sống đơn giản. 

Nhưng với một kẻ có lòng tự trọng cao như Soapy, những món quà từ thiện luôn đi kèm những ràng buộc phiền toái. Nếu không phải trả bằng tiền mặt, bạn cũng sẽ phải trả bằng sự tủi nhục cho mỗi ân huệ nhận được từ lòng bác ái. Như Caesar từng có Brutus, mỗi chiếc giường từ thiện đều đòi hỏi cái giá là phải tắm rửa, mỗi ổ bánh mì đều đi kèm sự đánh đổi bằng những cuộc tra hỏi riêng tư, thấu đáo. Bởi vậy, thà làm khách của luật pháp còn hơn; tuy luật pháp vận hành theo những quy tắc cứng nhắc, nhưng nó không can thiệp thái quá vào chuyện riêng tư của con người.

Soapy, sau khi quyết định đi đến Đảo, ngay lập tức bắt đầu thực hiện điều mong muốn của mình. Có nhiều cách dễ dàng để làm điều này. Thú vị nhất là được ăn tối sang trọng tại một nhà hàng đắt tiền nào đó; và sau đó, tuyên bố không có một xu dính túi, để được giao một cách lặng lẽ và không gây náo động cho cảnh sát. Rồi một vị thẩm phán sẽ làm phần còn lại.

Soapy rời khỏi chiếc ghế băng, thong thả bước ra khỏi quảng trường và băng qua khoảng sân trải nhựa phẳng lì, nơi đại lộ Broadway và Đại lộ số 5 giao nhau. Anh rẽ vào đường Broadway rồi dừng lại trước một quán ăn lộng lẫy, nơi mỗi đêm đều quy tụ những giới cao sang, được chọn lọc, tựa như những sản phẩm thượng hạng chắt chiu từ trái nho, con tằm và cả... chất sống.

Soapy cảm thấy tự tin vào bản thân, từ chiếc khuy dưới cùng của chiếc áo gi lê trở lên. Anh đã cạo râu sạch sẽ, chiếc áo khoác trông khá tươm tất, còn chiếc cà vạt đen thắt sẵn gọn gàng kia là món quà do một vị nữ truyền giáo tặng vào dịp Lễ Tạ Ơn. Nếu có thể ngồi vào bàn trong nhà hàng mà không bị ai nghi ngờ, thì anh sẽ nắm chắc phần thắng. Phần cơ thể lộ ra phía trên mặt bàn sẽ chẳng gợi chút nghi ngại nào trong tâm trí của người hầu bàn. 

Một con vịt trời quay, Soapy nghĩ, hẳn sẽ là lựa chọn tuyệt vời, kèm theo một chai rượu vang Chablis, rồi đến phô mai Camembert, một tách cà phê nhỏ và một điếu xì gà. Một đô la cho điếu xì gà là đủ. Tổng chi phí sẽ không quá cao đến mức khiến ban quản lý nhà hàng phải tung ra đòn trả đũa gay gắt; đồng thời món thịt vịt quay sẽ đủ làm anh no bụng và mãn nguyện để lên đường đến nơi trú ẩn mùa đông của mình.

Nhưng ngay khi Soapy vừa bước qua cửa nhà hàng, ánh mắt người trưởng hầu bàn đã chạm ngay vào chiếc quần sờn rách và đôi giày tơi tả của anh ta. Và rồi, những bàn tay rắn rỏi, dứt khoát, lập tức xoay người gã lại, nhanh chóng và lặng lẽ đưa gã ra vỉa hè, giúp gã tránh khỏi cái kết ê chề như số phận của con vịt trời đang bị đe dọa kia.

Soapy rẽ khỏi đại lộ Broadway. Có vẻ như con đường dẫn đến "hòn đảo" mà gã hằng khao khát sẽ chẳng phải là một hành trình đầy cao lương mỹ vị. Gã cần phải nghĩ ra một cách khác để bước vào chốn tạm lánh ấy.

Tại một góc của Đại lộ số 6, ánh đèn điện cùng những món hàng được bày biện rất khéo léo sau lớp kính lớn đã làm nổi bật khung cửa sổ của một cửa hiệu. Soapy nhặt một viên đá lát đường rồi ném mạnh vào tấm kính. Mọi người đổ xô chạy đến từ phía góc phố, dẫn đầu là một viên cảnh sát. Soapy đứng yên, hai tay đút trong túi áo, và mỉm cười khi nhìn thấy những chiếc cúc áo bằng đồng sáng loáng.

"Gã làm chuyện đó đâu rồi?" viên cảnh sát hỏi.

"Sao ông không nghĩ là chính tôi có dính líu đến vụ này nhỉ?" Soapy nói; giọng anh pha chút mỉa mai nhưng vẫn đầy vẻ thân thiện, tựa như đang đón chào vận may vậy.

Viên cảnh sát thậm chí không hề nghĩ đến việc coi Soapy là một manh mối. Những kẻ đập vỡ cửa kính đâu có nán lại để đôi co với cánh tay của pháp luật; chúng thường cắm đầu bỏ chạy ngay. Viên cảnh sát nhìn thấy một người đàn ông đang chạy ở phía xa cuối dãy phố để cố bắt kịp một chuyến xe; thế là ông ta vừa lăm lăm dùi cui trên tay vừa lao theo đuổi bắt. Còn Soapy, với nỗi chán chường trong lòng, lại lững thững bước đi; anh ta đã thất bại tới lần thứ hai rồi.

Ở phía bên kia đường là một nhà hàng trông chẳng mấy sang trọng. Nơi này phục vụ những thực khách có sức ăn khỏe nhưng túi tiền lại eo hẹp. Bát đĩa ở đây thì chất đống, không gian thì ngột ngạt, trong khi món súp lại loãng toẹt, còn khăn trải bàn thì mỏng tang. Soapy bước vào quán với đôi giày đầy vẻ "tố cáo" và chiếc quần cũng chẳng giấu nổi sự túng quẫn của mình, mà chẳng hề bị ai ngăn cản. Hắn ngồi vào bàn và chén sạch món bíp tết, bánh kếp, bánh rán vòng cùng bánh nướng. Rồi hắn mới thú thật với người hầu bàn rằng giữa hắn và đồng xu nhỏ nhất cũng chẳng hề có chút quen biết nào.

"Giờ thì mau gọi cảnh sát đi," Soapy nói. "Và đừng để ta phải chờ lâu."

"Chẳng có cảnh sát nào cho anh đâu," người hầu bàn đáp, giọng ngọt xớt như miếng bánh bơ còn ánh mắt thì đỏ chót như quả anh đào trong ly cocktail Manhattan. "Này, Thằng lừa đảo!"

Hai gã bồi bàn quăng Soapy ngã sóng soài xuống vỉa hè cứng ngắc, đầu đập mạnh vào nền xi măng. Hắn từ từ đứng dậy, các khớp xương duỗi ra như chiếc thước gấp của thợ mộc, rồi hắn phủi sạch bụi bặm trên quần áo. Viễn cảnh bị bắt bỗng trở nên xa vời như một giấc mơ hồng; "Hòn Đảo" dường như còn xa tít tắp. Một viên cảnh sát đứng trước hiệu thuốc cách đó hai căn, bật cười rồi thản nhiên bước dọc theo con phố.

Soapy đã đi qua năm cửa tiệm trước khi lòng dũng cảm của anh cho phép anh thử lại một lần nữa. Lần này cơ hội đã mang đến điều mà anh ấy tự gọi mình một cách ngớ ngẩn là “chắc chắn”. Một phụ nữ trẻ có vẻ ngoài khiêm tốn và dễ chịu đang đứng trước cửa sổ trưng bày, nhìn chăm chú với vẻ thích thú vào những chiếc cốc cạo râu và khay bút mực, và cách cửa kính hai thước, một nhân viên cảnh sát to lớn với thái độ nghiêm khắc đang tựa vào một bệ xi măng.

Soapy định đóng vai gã đàn ông chuyên quấy rối phụ nữ, một kẻ bị người đời khinh bỉ và căm ghét. Vẻ ngoài thanh tao, đài các của người phụ nữ cùng sự hiện diện của viên cảnh sát mẫn cán ngay gần đó đã khiến hắn tin rằng, chẳng bao lâu nữa, hắn sẽ cảm nhận được cái nắm tay đầy "dễ chịu" của nhân viên công lực lên cánh tay mình, một cái nắm tay đảm bảo cho hắn một chỗ trú đông trên "hòn đảo" nhỏ bé nhưng kiên cố kia. 

Soapy chỉnh lại chiếc cà vạt do cô nữ giáo sĩ tặng, kéo lộ ra ngoài phần cổ tay áo đang bị tụt vào trong, đội chiếc mũ hơi nghiêng đầy vẻ bảnh bao rồi lân la tiến về phía cô gái trẻ. Hắn liếc mắt đưa tình, giả vờ ho hắng, mỉm cười, nhếch mép và trơ trẽn phô diễn đủ mọi chiêu trò tán tỉnh sỗ sàng, rẻ tiền của gã đàn ông chuyên đi trêu ghẹo phụ nữ. Soapy thoáng thấy viên cảnh sát đang chăm chú quan sát mình. Cô gái bước ra xa vài bước rồi lại dán mắt vào những chiếc cốc cạo râu. Soapy bám theo, mạnh dạn bước đến bên cạnh cô, nhấc mũ chào và cất lời:

"Chào em Bedelia! Em có muốn sang sân nhà anh chơi không?"

Viên cảnh sát vẫn đang quan sát. Cô gái trẻ đang bị quấy rối kia chỉ cần ra hiệu bằng một ngón tay thôi là Soapy coi như đã lên đường đến chốn trú ẩn trên đảo của mình. Anh đã tưởng tượng ra cảm giác ấm áp, dễ chịu bên trong đồn cảnh sát. Cô gái quay lại phía anh, vươn tay ra và nắm lấy tay áo khoác của Soapy.

"Chắc chắn rồi, Mike," cô nói vui vẻ, "nếu anh muốn bao tôi một chầu bia. Lẽ ra tôi đã nói chuyện với anh sớm hơn, nhưng cảnh sát đang theo dõi."

Cùng với người phụ nữ trẻ đang chơi đùa theo kiểu cây thường xuân bám vào cây sồi của mình, Soapy bước ngang qua người cảnh sát với tâm trạng u ám. Anh ta dường như cam chịu tự do.

Ở góc cua tiếp theo, anh ta rũ bỏ người bạn đồng hành của mình và bỏ chạy. Anh dừng lại ở một quận nơi về đêm có những con đường sáng sủa nhất, những trái tim, những lời thề và âm thanh của những bản nhạc opera.

Những người phụ nữ khoác áo lông thú và đàn ông mặc bành tô sang trọng đang vui vẻ đi lại giữa tiết trời đông giá. Bất chợt, Soapy bị một nỗi sợ hãi xâm chiếm: liệu có phải một phép màu quái gở nào đó đã khiến hắn trở nên "miễn nhiễm" với việc bị bắt giữ? Ý nghĩ ấy thoáng gieo rắc chút hoảng loạn, và khi bắt gặp một viên cảnh sát khác đang đứng thong dong đầy vẻ oai vệ trước một nhà hát rực rỡ ánh đèn, hắn liền bấu víu ngay lấy cái cớ "gây rối trật tự" như một chiếc phao cứu mạng.

Trên vỉa hè, Soapy bắt đầu gào thét những lời lảm nhảm vô nghĩa của kẻ say bằng chất giọng khàn đặc. Hắn nhảy nhót, hú hét, la lối om sòm, làm náo loạn cả không gian.

Viên cảnh sát xoay xoay dùi cui, quay lưng lại phía Soapy và lên tiếng với một người dân.

"Đám sinh viên Yale đấy, đang ăn mừng chiến thắng trước Hartford College. Ồn ào chút thôi chứ chẳng gây hại gì. Chúng tôi có lệnh cứ để mặc họ."

Thất vọng, Soapy ngừng trò chơi không thành công của mình. Sẽ không bao giờ có một cảnh sát chạm tay vào anh ta? Trong trí tưởng tượng của anh ta, "Hòn đảo" dường như là một Arcadia không thể đạt được. Anh đưa tay cài nút chiếc áo khoác mỏng để tránh cơn gió lạnh.

Trong một cửa hàng bán xì gà, hắn nhìn thấy một người đàn ông ăn mặc bảnh bao đang châm điếu xì gà từ ngọn đèn treo lủng lẳng. Khi bước vào, ông ta đã dựng chiếc dù của mình cạnh cửa ra vào. Soapy bước tới, cầm lấy chiếc dù rồi thong thả bước đi. Người đàn ông đang châm xì gà vội vã đuổi theo.

"Chiếc dù của tôi," ông ta nói với giọng nghiêm nghị.

"Ồ, vậy sao?" Soapy cười mỉa mai, thái độ thách thức càng làm hành vi trộm cắp vặt của hắn thêm phần ngạo ngược. "Thế sao anh không gọi cảnh sát đi? Chính tôi đã lấy nó đấy. Cái dù của anh đấy! Sao không gọi cảnh sát? Có một người đang đứng ngay góc phố kìa."

Người chủ chiếc dù bước chậm lại. Soapy cũng làm theo, lòng linh cảm rằng vận may lại sắp quay lưng với mình. Viên cảnh sát tò mò nhìn cả hai.

"Tất nhiên rồi," người chủ cây dù nói, "ý tôi là ... chà, anh biết đấy, những chuyện nhầm lẫn kiểu này vẫn hay xảy ra mà ... tôi ... nếu đây đúng là chiếc dù của anh thì mong anh thứ lỗi ... sáng nay tôi đã cầm nhầm nó ở một nhà hàng ... Nếu anh nhận ra nó là của mình, thì ... tôi hy vọng anh sẽ..."

"Tất nhiên là của tôi rồi," Soapy gắt gỏng.

Người đàn ông từng nhận chiếc dù là của ông ta, lùi lại. Trong khi đó, viên cảnh sát đang vội vã giúp một người phụ nữ tóc vàng cao ráo, khoác chiếc áo choàng kiểu opera, băng qua đường ngay trước mũi chiếc xe điện đang lao tới từ cách đó hai dãy nhà.

Soapy bước về phía đông, đi qua một con phố đang ngổn ngang vì công trình chỉnh trang đô thị. Hắn giận dữ ném chiếc dù xuống một hố đào dở dang. Hắn lầm bầm chửi rủa đám người đầu đội mũ và tay lăm lăm dùi cui; trớ trêu thay, chính vì hắn muốn sa vào tay họ, nên họ lại coi hắn như một vị vua chẳng bao giờ làm điều gì sai trái.

Cuối cùng, Soapy cũng đến được một trong những đại lộ ở phía đông, nơi ánh đèn rực rỡ và sự ồn ào náo nhiệt chỉ còn lại rất mờ nhạt. Anh rảo bước dọc theo con đường này để hướng về phía Quảng trường Madison, bởi lẽ bản năng tìm đường về nhà vẫn luôn tồn tại, ngay cả khi "nhà" chỉ là một chiếc ghế đá công viên.

Nhưng rồi, tại một góc phố vắng vẻ lạ thường, Soapy dừng bước. Nơi ấy có một ngôi nhà thờ cổ kính với kiến ​​trúc khác lạ. Qua ô cửa kính màu tím, ánh sáng dịu nhẹ tỏa ra; hẳn là người nghệ sĩ đàn organ đang nán lại bên phím đàn để trau chuốt cho bản thánh ca sẽ được trình diễn vào ngày Chủ nhật sắp tới. Những giai điệu du dương ấy đã lan tỏa đến tai Soapy, níu giữ anh đứng lặng người, tựa mình vào hàng rào sắt uốn lượn đầy hoa văn.

Vầng trăng treo cao, sáng ngời và tĩnh lặng; đường phố vắng bóng người và xe; lũ chim sẻ ríu rít ngái ngủ dưới mái hiên, trong khoảnh khắc ấy, khung cảnh nơi đây tựa như một nghĩa trang nhà thờ chốn thôn quê. Và giai điệu thánh ca vang lên từ tiếng đàn organ đã níu chân Soapy lại bên hàng rào sắt, bởi anh từng thuộc nằm lòng khúc nhạc ấy từ thuở cuộc đời anh còn có mẹ hiền, hoa hồng, những hoài bão, bạn bè, những ý nghĩ trong trẻo và cả những chiếc cổ áo tươm tất, sạch sẽ.

Sự kết hợp giữa tâm trạng đang rộng mở để đón nhận của Soapy và những tác động từ ngôi nhà thờ cổ đã tạo nên một sự thay đổi đột ngột và kỳ diệu trong tâm hồn anh ta. Anh bàng hoàng nhận ra vực thẳm mà mình đã sa chân vào, những tháng ngày sa đọa, những ham muốn thấp hèn, những niềm hy vọng đã lụi tàn, những năng lực bị hủy hoại và những động cơ đê hèn đã tạo nên cuộc đời anh.

Và ngay lập tức, trái tim anh rung động trước tâm trạng mới lạ này. Một thôi thúc mạnh mẽ, tức thời thúc đẩy anh chiến đấu với số phận nghiệt ngã của mình. Anh sẽ tự mình thoát khỏi vũng lầy; anh sẽ tạo dựng lại bản thân; anh sẽ chiến thắng cái ác đã chiếm hữu anh. Vẫn còn thời gian; anh vẫn còn khá trẻ; anh sẽ hồi sinh những tham vọng hăng hái xưa cũ và theo đuổi chúng mà không nao núng. Những nốt nhạc organ trang nghiêm nhưng ngọt ngào ấy đã khơi dậy một cuộc thay đổi trong anh. Ngày mai anh sẽ đến khu trung tâm nhộn nhịp để tìm việc. Một nhà nhập khẩu lông thú đã từng đề nghị anh một vị trí lái xe. Anh sẽ tìm ông ta vào ngày mai và xin việc. Anh sẽ là một người như mọi người bình thường khác  trong xã hội. Anh sẽ ...

Soapy chợt cảm thấy có bàn tay đặt lên cánh tay mình. Anh vội quay lại nhìn và bắt gặp gương mặt to lớn của một viên cảnh sát.

"Anh đang làm gì ở đây?" viên cảnh sát hỏi.

"Chẳng làm gì cả," Soapy đáp.

"Vậy thì đi theo tôi," viên cảnh sát nói.

"Ba tháng trên Đảo," vị thẩm phán tuyên án tại tòa án cảnh sát vào sáng hôm sau.

Bùi Phạm Thành

Nguyên tác:
The Cop and the Anthem
by O. Henry


Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

Cho Bố Thuê Một Căn Phòng?

 

Hình minh họa

CHO BỐ THUÊ MỘT CĂN PHÒNG?
ST

Bố tôi sống với anh trai gần 10 năm. 
Một ngày ông xách túi sang nhà tôi và nói: 
''cho bố thuê một căn phòng.''

Chiều hôm ấy, tôi vừa đi làm về thì thấy Bố đứng trước cửa. Bên chân ông là một chiếc túi nhỏ. Tôi hỏi: bố sang chơi à? 
Bố lắc đầu: ''nhà con còn phòng trống không?''
Tôi trả lời: dạ còn ạ, sao thế bố! Bố im lặng một lúc rồi nói: cho bố thuê một phòng! 

Tôi tưởng ông đùa. Nhưng bố lấy ra một chiếc phong bì. ''Bố có lương hưu. Tiền phòng,điện nước,tiền ăn bố tự trả.''
Tôi lập tức hỏi: Anh chị làm gì bố buồn hả bố? 
Bố cau mặt: Không được nói thế. Anh chị con tốt với bố lắm!

Bố đã sống với anh trai tôi gần 10 năm. Nếu không có chuyện gì,tại sao ông lại xách túi bỏ đi?
Tôi gọi cho anh. Chưa đầy 1 tiếng sau anh đã có mặt. ''Bố về với con đi. Có chuyện gì bố cứ nói.''
Bố chỉ lắc đầu: "không ai làm gì bố buồn cả. Bố ở nhà mày 10 năm rồi. Giờ để con nhẹ đi một chút.''

Tối đó bố mới kể. Mấy hôm trước,ông thức giấc giữa đêm và vô tình nghe anh chị nói chuyện. Tiền học của 2 cháu nhỏ,tiền trả ngân hàng, rồi đến tiền thuốc của bố. Anh tôi bảo tháng này hơi thiếu. 
Chị dâu chỉ nói: ''Thuốc của bố anh cứ mua đủ,nếu thiếu thì mình bớt khoản khác.''
Không ai than phiền. Không ai đuổi bố. Chính vì vậy ông mới đi. 
Ông nói: ''Anh chị mày còn 2 đứa con phải nuôi. Bố già rồi,ăn chẳng bao nhiêu nhưng thuốc men tháng nào cũng tốn.''
Tôi nói: Bố cứ ở đây bất cứ khi nào bố muôn. Con lấy tiền bố làm gì!
Ông lắc đầu: Con không lấy bố đi thuê chỗ khác. Cuối cùng tôi đành gật đầu. Lúc ấy tôi mới hiểu : Bố không cần thuê một căn phòng. Bố chỉ cần cảm giác mình chưa trở thành gánh nặng của con.

Từ đó, đầu tháng bố đều đặt lên bàn một chiếc phong bì. ''tiền nhà tháng này''
Tôi nhận rồi cất riêng, không tiêu một đồng. Bố không biết. Ông chỉ biết mình đã trả tiền nên có thể yên tâm ở lại. Nhưng chẳng bao giờ bố chịu ngồi yên. Sáng quét sân,chiều đón cháu,cái vòi nước hư bố cũng lúi húi sửa. 
Một hôm tôi giằng cây chổi khỏi tay bố: ''bố để đây cho con làm''. 
Ông cười nói: ''ở nhà người ta cũng phải làm được việc gì chứ''. 
Tôi khựng lại: nhà người ta nào? Đây là nhà con mà bố.'' 
Ông cười : ừ thì nhà con!

Đêm hôm ấy tôi nằm mãi không ngủ được. Hơn 20 năm tôi sống trong nhà bố. Cơm bố mua,học phí bố lo... Có lúc thất nghiệp tôi xách balo về nằm mấy tháng. Chưa bao giờ bố hỏi tôi bao giờ đi. Chưa bao giờ bố bảo tôi đang ở nhờ. Vậy mà khi tóc đã bạc hết,sống trong nhà con trai mình,bố lại sợ đến cả việc ngồi không!

Ba năm sau, sức khỏe bố yếu hẳn. Một lần nằm viện, đang truyền nước, ông bỗng nói: ''Tháng này bố đã đưa tiền nhà con chưa?'' 
Tôi quay mặt đi. ''Bố đưa con rồi.'' 
Ông gật đầu: ờ thế là được. 
Một lúc sau bố nói: ''ở đâu cũng vậy con à. Đừng để người khác phải nuôi mình lâu quá.''
Tôi đã muốn nói: ''Bố nuôi con hơn 20 năm còn chưa tính.'' 
Nhưng cuối cùng tôi chỉ nói: ''thôi bố ngủ đi.''
Sau này tôi cứ ân hận mãi vì đã không nói câu còn lại với bố. 
Và Bố đã mất vào một buổi sáng cuối thu.

Vài ngày sau đám tang, tôi bước vào căn phòng của bố. Chiếc áo vẫn treo sau cửa. Cặp kính vẫn nằm trên bàn. Đôi dép vẫn quay mũi ra ngoài.
Tôi mở ngăn kéo. Bên trong là một chiếc phong bì. Nét chữ run run của bố:''Tiền nhà tháng sau''. Tôi đứng như chết lặng.
Bố đã chuẩn bị sẵn như mọi tháng. Chỉ khác lần này... bố không còn tháng sau nào nữa! Tôi ngồi xuống chiếc giường, cầm phong bì mà khóc.

Hơn 20 năm sống trong nhà bố, tôi chưa từng trả một đồng. Tôi có thể ăn cơm bố, dùng tiền bố, thất bại rồi quay về và vẫn gọi nơi ấy là ''nhà mình''. 
Vậy mà những năm cuối đời, bố sống trong nhà con mình mà vẫn sợ bản thân mắc nợ!

Tôi cất chiếc phong bì ấy đến tận bây giờ. Chưa bao giờ mở ra. 
Trên đó vẫn còn 4 chữ: ''Tiền nhà tháng sau''
Mỗi lần nhìn thấy nó, tôi lại ước một điều mà trước đây chưa từng nghĩ tới: 

''Bố ơi... giá như bố còn ở đây. Bố cứ ở căn phòng ấy. Cứ ăn cơm của con. Cứ để con mua thuốc. Bố có thể nợ con bao nhiêu cũng được. Bởi đây là lần đầu tiên trong đời... tôi chỉ mong bố còn nợ mình mãi mãi....''

ST.


Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

Bài Viết Của Một Việt Kiều Ở Thuỵ Sĩ Về Lá Cờ Vàng

 


BÀI VIẾT CỦA MỘT VIỆT KIỀU Ở THỤY SĨ VỀ LÁ CỜ VÀNG
Bài viết của Steiger Vo, Việt kiều ở Thuỵ Sĩ

Dù bạn không thích thậm chí ghét lá cờ đó thì nó cũng từng là đại diện một quốc gia và là ký ức, di sản của một cộng đồng người Việt hải ngoại rất lớn sau sự kiện 1975.

Hôm qua vô tinh lướt trúng 1 video của 1 trang truyền thông Pháp đưa tin sự kiện văn hóa của cộng đồng người Việt ở Pháp (chủ yếu là cộng động hình thành sau sự kiện 1975), có vài bình luận của các bạn Việt Nam (đặc biệt một bạn trẻ đang sống ở Pháp) yêu cầu họ phải sử dụng cờ chính thức của Việt Nam hiện tai thay vì cờ của miền Nam Việt Nam.

Các bạn ah! các bạn đã sống ở nước ngoài, thông tin rộng mở, sử liệu đa chiều thì nên tìm hiểu về lịch sử của đất nước mình. Lá cờ ba sọc đỏ từng là hình ảnh đại diện một quốc gia, dĩ nhiên theo dòng chảy lịch sử, lá cờ ấy đã không còn và được thay bằng lá cờ đỏ sao vàng.

Mình hiểu là sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN rất có thể bạn không rõ lịch sử dù chỉ mới xảy ra mấy mươi năm, nhưng khi ra nước ngoài, ở Âu, Mỹ sẽ không khó để bắt gặp hình ảnh lá cờ này trong cộng đồng người Việt. Thay vì nhảy dựng lên, hãy tìm hiểu và tôn trọng sự khác biệt ấy. Lá cờ ấy giờ đây đơn giản chỉ là một phần lịch sử, là ký ức, di sản của những con người đã từng sống trong thời cuộc ấy. Họ ra đi có mang theo gì đâu ngoài một tâm hồn Việt và một lá cờ luôn ở trong tim.

Chính vì không tôn trọng sự khác biệt, không tìm hiểu lịch sử và cả luật pháp nước sở tại mà đã có một vụ du học sinh VN ở ÚC giật, dẫm chân lên cờ vàng ba sọc vào năm 2021 bị cộng đồng lên án và sau đó bị trục xuất về Việt Nam.

Các bạn nên nhớ, cờ này đã được Canada, nhiều thành phố ở Úc, nhiều bang ở Mỹ công nhận biểu tượng, di sản của cộng đồng người Việt.

Và chính thái độ của người trẻ như thế này mà người Việt lớn tuổi rất dè chừng người trẻ mới qua sau này. Mình hiểu hoàn toàn, và cũng đã từng là bị dè chừng như thế. Khi mà các bạn toàn ngạo nghễ với những gì mình biết và chà đạp lên những thứ khác biệt với những gì bản thân được giáo dục (khác biệt chứ không sai nha) là bạn đã cứa sâu vào nỗi đau của chính đồng bào mình dù nhà nước luôn nói về sự hòa hợp, hòa giải dân tộc.

Trớ trêu thay! người nước ngoài (ở các nước sở tại) đã cưu mang những người Việt năm xưa, để giờ đây cộng đồng người Việt trên khắp năm Châu rạng danh với thế hệ thứ 2, thứ 3. Mình nhớ có lần mình đi học, ông thầy đứng lớp khi biết mình là người Việt, ông đã giới thiệu, ông từng làm trong một tổ chức nhân đạo của Thụy Sĩ, từng giúp đỡ những người boat people (thuyền nhân), và ông đánh giá cao người Việt Nam vì sau 50 năm, từ tay trắng đến TS, họ đã xây dựng một cộng đồng giàu văn hóa, và có chỗ đứng trong xã hội.

Vậy đó, mà cùng m.á.u đỏ, da vàng chúng lại không thể bao dung và thấu hiểu cho nhau.

Bài viết của Steiger Vo, Việt kiều ở Thuỵ Sĩ


Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

Chuyện Hai Người Phi Công VNCH Và Bắc Việt

 


CHUYỆN HAI NGƯỜI PHI CÔNG VNCH VÀ BẮC VIỆT
SVSQKQ

Chuyện Hai Người Phi công VNCH và Bắc Việt - SVSQKQ // Bài thật dể thương và cảm động 

Bài viết ghi lại theo lời kể của một SVSQ/KQ để nói lên sự tuyên truyền láo khoét và che lấp của người cộng sản Việt Nam. SVSQKQ

• Ngày 11 tháng 4 năm 1975: Khóa chúng tôi gồm 15 người, là khóa phản lực đàn em cuối cùng của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa mãn khóa tại trường bay Webb AFB, Big Spring, TX

• Ngày 20 tháng 4-1975: Chuyến phi cơ hành khách PANAM 747 cuối cùng chở chúng tôi hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất trong khung cảnh nhốn nháo và lo âu hỗn độn của những người di tản rời Việt Nam.

• Ngày 21/4/1975: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đọc bài diễn văn từ chức tại Thượng Viện và tố cáo Mỹ đã bỏ và cúp viện trợ cho Việt Nam một cách vô trách nhiệm.

• Ngày 30/4/1975: Tân Tổng Thống Dương văn Minh lên đài phát thanh kêu gọi anh em quân nhân các cấp buông súng đầu hàng vô điều kiện.

Cuộc đổi đời
Tháng 5/1975: Cộng sản kêu gọi các sĩ quan quân đội VNCH, từ cấp thiếu úy tới cấp tướng đi trình diện để học tập chỉ có 3 ngày rồi sau đó trở về lại với gia đình (sau này mới biết là đi học tập cải tạo mút chỉ, có khi tới 17..20 năm, có khi bị chết trong tù, hoặc bị tàn tật hay bị bệnh hậu, khi trở về thành phế nhân hoặc chết sớm), anh em Sĩ Quan VNCH bị gạt một cách dễ dàng. Đúng là câu “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm“

Sau khi về nước, vì còn mang cấp bậc Sinh Viên Sĩ Quan nên tôi không bị đi cải tạo, chỉ đi trình diện ở địa phương và bị theo dõi chặt chẽ bởi lũ công an phường khóm.

Cuối năm 1975, tôi lập gia đình và vợ tôi quê ở Vĩnh Long, lên Sài Gòn ở với tôi nhưng vì mẹ chồng nàng dâu không thuận, nên bà xã tôi ở với tôi được vài tháng rồi trở về ở lại Vĩnh Long quê nàng ta, còn tôi thì ở lại Sài Gòn, cuối tuần thứ sáu thì về Vĩnh Long, rồi chiều chủ nhật thì đón xe đò lên Sài Gòn, y như lính đi nghỉ phép vậy.

Một ngày cuối tuần sau khi đi thăm bà xã ở Vĩnh Long, tôi mua vé xe đò để trở lên Sài Gòn (vì tôi hộ khẩu ở thành phố), tôi ngồi ở chặng giữa, ghế bìa sát cửa sổ, người ngồi kế bên tôi là một người đàn ông người Bắc, trông mập mạp và cao ráo, tuổi chừng khoảng 35-40. Xe đang chạy khoảng hơn nửa tiếng, tôi đang ngủ gà ngủ gục, lúc đó đang đeo chiếc nhẫn của Không Quân Mỹ (USAF) bên ngón tay phải (nhưng khi công an hay lính cộng sản xét giấy tờ thì tôi sẽ lật mặt chiếc nhẫn vô lòng bàn tay để giấu, giống như đeo nhẫn bình thường) thì người đàn ông ngồi kế tôi dùng cùi chỏ thúc vào hông tôi nhè nhẹ hỏi:

- Ê, có phải chú mày là... giặc lái?

Tôi tỉnh dậy:
- Sao chú biết?
- Tao nghe nói bọn giặc lái ngụy nó thường đeo chiếc nhẫn không quân Mỹ, vậy chắc chú mày là giặc lái phải không?


Tôi hỏi:
- Ủa vậy chú là...?
- Tao là... "người lái“ của Không Quân Nhân Dân.
- Ủa vậy chắc chú còn bay?
- Không, tao làm phó thường dân rồi, đâu còn bay bổng chi nữa.
- Ủa sao vậy chú? Trông chú còn trẻ, khỏe mạnh lắm mà?
- Tao bị đuổi ra khỏi đảng và bây giờ làm dân bình thường thôi.
- Thật vậy hả, tại sao vậy chú?

- Số là như vầy:

Tao là người lái máy bay Mig-19, là máy bay phản lực 2 máy, giống máy bay A-37 hay F-5 của chú mày, nhưng nó không có khả năng không chiến mạnh như Mig-17 hay Mig -21 để đương đầu với phi cơ F-4 con ma của Mỹ, nhưng tao thích lên đấu với chiếc F một lẽ năm (F-105) của Mỹ, vì chiếc này nó to và bay nhanh. Chủ đích là mang bom nhiều ở dưới cánh và bụng, nhưng khả năng không chiến hoặc tự vệ rất yếu.

Một ngày kia khoảng trung tuần tháng sáu năm 1972, tao đang ngồi ở phòng trực tác chiến, thì nghe loa phóng thanh báo động: Có phi cơ F-105 của Mỹ ở hướng Đông Nam Hà Nội, có phi cơ địch, có phi cơ địch...!!! Tụi tao mừng lắm, vì nếu gặp F-105 thì hên lắm, còn thọ được. Chớ nếu gặp F-4 thì phiền lắm, thì coi như chết chắc, tới số! Mig-19 tụi tao không đủ sức độ với F-4 của Mỹ.

Tao bay về hướng Đông Nam, hướng dẫn thẳng ra biển, trên cao độ khoảng 5000 mét, thì tao thấy nhiều đốm đen theo hướng hai giờ (hướng tay phải), nhìn rõ tao thấy toàn F-4, chớ đâu phải F-105. Tao lẩm bẩm chửi thề mẹ kiếp cái đài không lưu báo cáo loét, chết cha tao rồi... Tao chửi thề trong miệng, liền đẩy tay ga lên tối đa, bay thẳng lên trên cao thêm khoảng 7000-8000 mét, hy vọng trốn vào trong mây cho nó chắc ăn, nhưng tao đã lầm to: ít nhất có 30 chiếc F-4 bay giăng hàng ngang ở trên từng mây cao này, tao bay gần sát bọn nó, thậm chí còn thấy tụi Mỹ đội nón an toàn (helmet) thật rõ, tao liền kéo cần để nhảy dù ngay (eject/ bailout) liền tức tốc....

- Chú nhảy dù ??? Trời đất ???
- Chớ còn gì nữa, nếu chần chờ thì sẽ bị ăn cái hỏa tiển (sidewider) của nó là chết banh xác. Tao nhẩy dù ra bay lơ lửng trên trời xanh rồi từ từ hạ xuống, tao còn thấy chiếc Mig-19 của tao nó rớt xuống đất nổ tan tành với một cục lửa màu đỏ cam rất to, có vài chiếc F-4 của Mỹ nó bay vào vèo vèo bên tao, nó thấy tao nhưng nó không bắn, thật là tao rất có phúc... đại phước...

Tao cũng nghe nói là bọn Mỹ rất anh hùng, nó không bao giờ bắn người ngã ngựa, kinh nghiệm trong thế chiến thứ hai. Tao rớt xuống một cánh rừng, bị vướng tòn ten trên một cây thật cao, nhưng may phước là thân hình tao còn nguyên, lành lặn không có gì bị thương cả, nhưng tao thấy ở dưới gốc cây có chừng khoảng 10 thằng du kích xã, hầu hết là mang súng trường SKZ và đứa nào cũng đang nhắm vào tao để muốn bắn chết tao, đứa đứng đứa ngồi.

Tao hét lên: Này đừng bắn, Không Quân Nhân Dân... Không Quân Nhân Dân! và đồng thời tao vỗ vào cánh vai trái bình bịch vào cụm tay tao có may lá cờ đỏ sao vàng to tổ bố để phân biệt là người lái phe ta với giặc Mỹ. Tao tiếp tục la thất thanh: Ông là Không Quân Nhân Dân, Không Quân Nhân Dân đừng bắn!!! Đ. má đừng bắn!!! Tiếp theo tao nghe một tiếng súng nổ ... Đoành!

Tao mở mắt ra thì thấy đang nằm trên giường nhà thương, áo choàng màu trắng, chân phải tao đang bị băng bột treo lên cao và đang bị vô nước biển, cô y tá đứng bên giường nói: Thưa đồng chí Thượng Úy, đồng chí đang nằm điều trị tại nhà thương Bạch Mai, Hà Nội.

Chừng khoảng nửa tiếng thì có phái đoàn vô thăm tao, dẫn đầu là một thượng tá là người lái xếp của tao và kế tiếp theo sau là các người lái Mig-17, Mig-21 vô để chúc mừng tao, nói là hôm ấy tao bắn hạ 3 chiếc F-4 và sau đó máy bay tao bị hết xăng, tao phải nhẩy dù ra và phi cơ địch đã bắn trúng chân phải của tao, họ cấp cho tao giấy khen là chiến sĩ anh hùng diệt máy bay Mỹ và truy thăng tao lên Đại Úy và nói là kể từ phút này vì bị thương tích nơi chân, nên tao không thể bay được nữa và họ đã dành cho tao một nhiệm sở mới đó là làm việc tại phòng huấn luyện, để giảng dạy dưới đất cho các học viên người lái.

Tao rất buồn vì thú thật tao rất thích đi bay lắm, nhưng tao phải thầm cám ơn mấy thằng du kích xã vì nó bắn tao bị thương chân, nên bị loại ra khỏi đi bay, chớ nếu còn bay thì có ngày nát thây với bọn F-4....

Tôi hỏi tiếp:
- Rồi sao hả chú?
- Tao làm việc tại phòng huấn luyện được vài năm, thì đến ngày 30-4-1975. Miền Bắc tấn công và chiếm miền Nam, tụi tao thì nói với nhau: Miền Nam thua vì bị thằng Mỹ bỏ rơi nửa chừng, tụi mình có đánh đâu mà thắng, còn miền Nam có đánh đâu mà thua.

Sau 30-4-1975, tao nhận được một lá thư từ trong Nam gởi tới nhà tao tại Hà Nội, trong thư nói là tao có một thằng em trai, nó đi vô Nam hồi năm 1955, sau này nó lớn lên tốt nghiệp ở trường Võ Bị Đà Lạt, rồi giữ chức Đại Úy nhảy dù, bây giờ nó đi cải tạo ở suối Máu, nhờ anh đó bảo lãnh ra dùm, dẫu sao cũng là anh em ruột thịt. Tao động lòng máu mủ, tao mới đứng ra điền đơn xin bảo lãnh cho thằng em ra trại.

Kết quả là thằng em không ra tù, mà tao lại bị chúng nó điều tra lại lý lịch, tụi nó nói là tao khai gian và che dấu có thằng em Mỹ ngụy ác ôn, rồi kể từ đó tao bị trục xuất ra khỏi đảng. Cho tao ra làm phó thường dân, tao xin về miền Nam ở nhà gia đình thằng em tại tỉnh Vĩnh Long này. Thứ nhất là tại vì tao thích ở trong Nam thoải mái hơn, thứ hai là thấy có cán bộ trong nhà tụi công an phường xã nó đỡ ăn hiếp gia đình em tao.

Sau khi ở miền Nam được vài tháng tao mới phát hiện được là trong Nam, thằng cha nông dân, thằng tài xế xe đò ...còn có hai bà vợ lẽ, con gái miền Nam rất đẹp, khêu gợi, ăn mặc đều đẹp cả, ngay cả đi ngủ cũng mặc đồ ngủ riêng. Cái khổ miền Bắc là đàn bà chỉ được cấp một năm có hai bộ đồ, nó mặc hoài hôi rình, nhìn thấy mắc ói, chán lắm mày ơi! Thành thử giải phóng miền Nam đâu chưa thấy, chớ tao thấy là giải phóng tao trước.

Tuy nói vậy, cũng phải làm gì để kiếm ăn, tao thì đi đi về về Hà Nội - Sài Gòn bằng đường xe hỏa Bắc Nam, tao thấy trên tàu hỏa, người ta đi hầu hết là đi buôn, vậy mà họ sống rất khuây khỏa, đâu cần đi làm công nhân cho nhà nước suốt đời nghèo mạt, tao bèn nghĩ ra cái nghề đi buôn, mua đi bán lại. Miền Nam gọi nôm na là nghề chợ trời, ở trong Nam, tao đi mua xe đạp mini,

xe đạp Pháp Peugeot 5 lip, xe gắn máy Honda, đồng hồ Seiko không người lái, có hai cửa sổ, mền nỉ US, mền dù lính, mùng ngủ lính Mỹ, máy may Singer, hộp quẹt Zippo, bột ngọt... đem ra ngoài Bắc bán, còn từ Bắc vô Nam thì tao chỉ mua đồ của Liên Sô, thuốc Tetra lon nhôm vàng Bulgary chống sốt rét, đại khái là mua một lời năm, sau một năm tao chỉ cần đi hai ba chuyến là đủ sống trong năm, đời sống rất thoải mái sung sướng, không còn giặc giã chết chóc, ăn cơm thì toàn độn thịt, chớ không độn bo bo, sướng thật vì sống bằng nghề đi buôn...

Nói xong anh ta kéo hai tay áo lên, trên hai cánh lịch tay đeo ít nhất là mười mấy cái đồng hồ Seiko trên hai cánh tay và chiếc áo khoác bên ngoài thì có nhiều túi kéo chứa toàn là hộp quẹt Zippo, mặc giống như chiếc áo giáp.

- À quên nữa, thế chiếc nhẫn Không Quân mày đang đeo có định bán không, tao mua nó thật đấy!

Tôi trả lời:
- Chiếc nhẫn này của tôi quý lắm, là kỷ vật của tôi để kỷ niệm hồi học bay bên Mỹ, tôi không bán đâu.


Ông ta hỏi tiếp:
- À nghe nói bọn mày đi Mỹ học bay nó có cấp cho mỗi đứa một cái áo khoác màu xanh lá cây, bên trong có vải satin màu cam đẹp lắm, mày còn giữ không? Nếu có bán cho tao đi.

Tôi trả lời:
- Trong lúc loạn lạc, hồi miền Bắc mới chiếm miền Nam, tôi vất đi hết rồi đâu dám giữ, vì mình là dân "Mỹ ngụy“. À chú đi buôn lên xuống như vậy có bị công an hay trạm xét làm khó dễ không?

Chú ta hể hả cười nói:
- Có gì đâu, hễ tụi nó xét, là tao rút túi ra tờ giấy chứng nhận liệt sĩ, anh hùng diệt máy bay Mỹ, là tụi nó cho qua tuốt, vả lại tao là cựu Đại Úy có giấy tờ chứng minh mà mày, tụi nó thấy là run rồi. Coi vậy có tờ giấy tùy thân mắc dịch này cũng có lúc được nhờ cậy, chưa kể buồn buồn tao đeo cái huy chương bác Hồ phi công anh hùng ở ngực áo là tụi nó phát khiếp...ha ha.

À tao thấy trong hình bọn giặc lái chú mày mặc đồ bay đẹp và trông oai quá, đồ bay gì mà toàn là giây kéo (zipper), ăn mặc khít khao, có khăn quàng cổ màu tím, màu cam, hông đeo súng cá nhân, dây nịt súng có đầy đạn tùm lum, mang dao, máy truyền tin, súng bắn cứu nguy (flare gun) áo lưới mưu sinh (survival vest), coi chằng quá, đội mũ vải xanh dương (calo) trong oai ghê, tao thấy còn mê, chắc mấy em trong Nam khoái mấy chú mày lắm phải không? Tao thấy thằng nào trông cũng bảnh trai hết?

Tôi trả lời:
- Thì đồ bay của chú cũng đẹp lắm mà?

Chú ta trả lời:
- Đẹp cái con khỉ khô, đồ bay mà của tụi tao mặc còn cài nút, mặc hai mảnh trên dưới, trông giống mấy thằng công nhân xí nghiệp chết mẹ, nhìn muốn mửa, còn lái Mig 17 giờ này còn mang nón bay bằng da (leather helmet), giống lính lái xe tăng vào đệ nhất thế chiến, trừ cái đám lái Mig 21 thì còn đội nón bay hao hao giống Mỹ, nhưng vẫn không đẹp bằng của Mỹ, còn mặt mày thì thằng nào trông cũng thấy ngố ngố, miệng hô hốc, vì tối ngày lo luyện bài chính trị Bác và Đảng, thì làm sao ga lăng được.

Nói ba hoa chích chòe, mà xe đã chạy tới Phú Lâm, xe đò chạy vô bến xe Xa Cảng miền Tây, có cả ngàn người đang lô nhô, bụi bặm, khói xe ngộp trời, xe ngừng tại bến, thấy chú ấy đang đợi các lơ xe thả xe đạp, máy may xuống. Tôi tình nguyện đứng giữ đồ cho chú ấy, bên cạnh chiếc cyclo máy đang nổ máy nghe xình xịch. Sau khi chất được hai chiếc xe đạp mini, một máy may, vài bọc hàng lỉnh kỉnh lên xe, chú ta đã ngồi gọn hẳn trong cyclo máy.

Chú ấy nói lần cuối:
- Bây giờ tao lên thành phố, đón tàu hỏa về Bắc, thôi tạm biệt chú em, nhớ giữ gìn sức khỏe nhé, cám ơn đã giữ đồ cho tôi lúc nẫy, thôi mình đi nhe.
Tôi giơ tay lên chào theo kiểu nhà binh, chú ấy cũng chào lại y chang.

Tôi đón xe lam về Sài Gòn cư xá Nguyễn Thiện Thuật, trong lòng không bao giờ quên lại câu chuyện gặp lại anh phi công Mig Hà Nội này, trông cũng thật tội nghiệp. Đúng là đất nước mất, mất tất cả, cộng sản thà bắt giết lầm, chứ không tha lầm, đa nghi như Tào Tháo. Vậy mà cũng có người nhẹ dạ nghe theo, rồi chết ân hận.
Tôi rất hối hận không có dịp hỏi tên của anh ta.

Chợ trời
Vào năm 1976, sau nước mất, tôi sống bằng nghề chợ trời (nghề chánh là làm việc cho hãng in (printing shop) trong thành phố nên không bị đi vùng kinh tế mới, nhưng đó là cái nghề để qua mắt công an phường khóm, chớ thật ra phải sống bằng nghề mua đi bán lại còn là gọi nghề chợ trời, khi thì buôn thuốc tây ở khu Huỳnh Thúc Kháng, Hàm Nghi. Khi thì đi mua bán vàng và đô la Mỹ ở khu Lê Thánh Tôn, thấy vậy mà sống rất phây phả, ung dung.

Một bữa kia vào đầu năm 1979. Tình cờ tôi gặp lại anh phi công Mig-19 Hà Nội (hồi gặp trên xe đò Sài Gòn-Vĩnh Long). Lúc này trông anh ta thấy khác ra, không khác người Sài Gòn, tuy hơi ốm nhưng trông rất khỏe. Anh ta đang lái chiếc xe gắn máy Honda 50cc kiểu đàn ông màu đen, ngồi sau xe là một cô cũng khá trẻ đẹp ngồi ôm eo ếch (thoạt tiên tôi tưởng là anh ta chạy xe ôm).

Tôi hỏi:
- Giời ơi trái đất tròn, bây giờ gặp lại chú, trông chú đẹp trai quá, chú còn nhớ tôi không?
- A thì ra anh... anh là phi công tôi gặp trên xe đò năm 1975 phải không?
- Đúng rồi đó, a còn cô ngồi ở phía sau là...?
- Bà xã mình đó.“ Anh ta dựng xe và nói tiếp:
- Bà ấy nguyên là vợ một Thiếu Tá phi công của chế độ Sài Gòn, đi học tập và chết trong trại cải tạo năm 1977. Sau đó bà ấy phải lam lũ khổ sở buôn bán chợ trời để nuôi hai đứa con nhỏ, có vài lần bị công an nó bắt, mình là bạn bè bán hàng với bà ấy. Tôi lên đồn công an xin nó thả bà ra và mình nói là bà con của mình và xin đặc biệt thả ra, chứ không nó bắt đầy đi vùng kinh tế mới, nhận bừa là bà con nó vừa nể mình là cựu cán bộ.

Sau đó mình thấy tình cảnh đắng lòng mẹ góa con côi, còn tôi thì còn độc thân, vả lại làm ăn qua lại riết có cảm tình. Lấy nhau rồi tôi về nhà bà ấy ở khu đường Trương Minh Giảng, gần nhà thờ Ba Chuông (Sài Gòn) cho tiện. Buôn bán thì cũng tạm được, có điều lúc nào cũng cảm thấy bị rình rập bởi công an cộng sản, đất nước mang tiếng là Độc Lập - Tự Do, nhưng lúc nào cũng phập phòng lo sợ không biết bị bắt bất cứ lúc nào, vả lại thằng em Đại Úy Nhảy Dù đi học tập mới chết năm ngoái, còn ông chồng cũ của bà xã mình thì cũng chết trong trại tù ở Hoàng Liên Sơn (Bắc Việt), nên tôi buồn khổ lắm. Tôi không còn luyến tiếc ra miền Bắc nữa, chỉ ở trong Nam thôi.

- À chú mày có đường dây nào đi ra nước ngoài không? Chúng tôi không muốn sống sống ở đất nước này nữa!

Tôi nói:
- Nếu chú thím đi chui thì lỡ bị bắt thì rất là nguy hiểm, vì chú là chính gốc cán bộ, còn nếu đi theo kiểu bán chính thức, tức là theo kiểu người Hoa thì đường này thì nó tính mỗi đầu người là 7 cây vàng, nhưng nó chắc và an toàn hơn, nhưng nó sẽ đặt tên chú là tên Hoa kiều chớ không lấy tên Việt Nam
- Số tiền đó tụi này lo được, nhưng chú em biết tổ chức đó ở đâu không?
- Tôi cũng đang đi tìm, nếu có sẽ cho chú thím hay
- Nếu muốn gặp, thì vợ chồng tụi này hằng ngày ở đây. Chỗ quán nước mía cạnh cây cột đèn và sẽ thấy có chiếc Honda màu đen này, thì tụi này có mặt ở đó.
- Thôi tạm biệt chú và chúc chú thím may mắn.

Vượt Biên

Vào tháng 6/1979, vợ chồng chúng tôi đi vượt biển đường Vĩnh Long, ghe chở khoảng 300 người và sau một tuần lênh đênh trên biển thì đến đảo Tanjung Pinang, Indonesia. Cũng may là tàu đi vào tháng này biển rất êm và may mắn không gặp hải tặcThái Lan hoặc Mã Lai lộng hành, ở được hai tháng thì một ngày kia, tôi đang ở trại A đi qua khu trại B để thăm coi có ai quen không. Tình cờ tôi thấy một người đàn ông trông rất quen, anh ta đang sửa lại cái lều của mình.

Tôi hỏi đại:
- Chú còn nhớ tôi không, có phải chú lái Mig-19?

Chú đưa lên miệng một ngón tay:
- Này nói khẽ chứ, mình đây, sao chú em đến đảo này hồi nào. Tôi đi đường Bến Đáy ở Trà Vinh, tới đây vợ chồng chúng tôi ở trong lều này.

Tôi hỏi:
- Chú sắp được phỏng vấn bởi phái đoàn Mỹ chưa? à có điều này mình cần nói với chú là phải khai thành thật, không dấu diếm, phải khai báo sự thật về lý lịch cũ của chú nhé, đừng khai gian. Mỹ họ rất ghét ai nói láo, khai gian và nhớ khai đúng sự thật thì không bị trở ngại xin tỵ nạn theo diện chính trị (political asylum) nhé. Thôi chào chú thím và chúc may mắn.

Tuần lễ sau là ngày tôi được phái đoàn Mỹ kêu lên phỏng vấn, mình mừng hết cỡ, vì ở trại tỵ nạn tuy không có làm gì, nhưng ngày nó kéo dài đăng đẳng. Chỉ trông lên đường định cư qua Mỹ, rồi có đi làm cơ cực cũng chịu.

Phái đoàn Mỹ gồm có một ông Mỹ trắng già khoảng 50-60 tuổi, một cô Việt Nam (ở bên Mỹ qua) làm thông dịch viên và một người Mỹ trắng mang mắt kiếng đen, râu rậm. Trông giống điệp viên Gestapo hay CIA với khuôn mặt rất lạnh lùng như pho tượng.

Nghe tôi học bay bên Mỹ mới về nước, ông Mỹ mang kiếng đen hỏi tôi bằng tiếng Mỹ:

- What is your name and your serial number?
Tôi nói:
- Yes sir, my name is ... and serial number is...

Ông ta hỏi tiếp:

- Do you know how to fly T-37 and can you let me know how to start the engine?

Tôi bình tỉnh trả lời:
- Carburator switch on, throtlle on, mixture to cold, prime switch to on, navigator light to on, ignition switch on and hold.

Ông ta hỏi tiếp:
- What is the name of your jet engine and thrust?

Tôi trả lời:
- Each engine has 1025 lbs thrust, has two J-69-T engines
Tôi trả lời rành rẽ không lúng túng, không nói vấp vì đó là nghề củ của tôi mà (trong cuốn Dash 1 trước khi pre flight hay bị IP hỏi.)

Ông ta nói:
- Very good, now you can go and let us interview the next one
Tôi đứng dậy chào tay kiểu nhà binh rồi đi ra.

Buổi chiều hôm đó, tôi gặp lại anh ta (Mig-19) ở khu giếng lấy nước, thấy anh ta đang khom lưng khệ nệ khiêng hai thùng nước về cho gia đình xài.

Tôi chận lại hỏi nhỏ:
- Sao bữa nay chú có được phái đoàn Mỹ phỏng vấn không?
- Có chứ, hú hồn hú vía“

Tôi hỏi:
- Chú khai thật hết phải không?
- Vâng theo lời chú em tôi khai thật hết
- Họ hỏi gì?
- Có ông Mỹ trắng mang mắt kiếng đen, có râu rậm, ông hỏi tôi bằng tiếng Việt. Trời đất ơi! ổng ta nói tiếng Việt theo giọng Bắc mới khiếp chứ
- Thế họ hỏi chú cái gì?

- Ổng Mỹ hỏi: Nghe nói ông là người lái phi cơ Mig-19, xin ông cho biết, ông thuộc phi đoàn nào và căn cứ nào?
Tôi trả lời: Phi đoàn 925 tại Yên Bái, Bắc Việt
Ông ta nói tiếp: Anh học lái Mig-19 ở đâu?
Tôi trả lời: Tân Cương, Trung Quốc
Ông ta hỏi tiếp:ông có thể nói cho tôi biết cách đề (start) của phi cơ Mig-19?
Tôi trả lời: Đề máy như vầy... như vầy
Ông ta hỏi tiếp: Lý do nào mà ông muốn xin qua Mỹ?
Tôi trả lời: Tôi muốn ở thế giới Tự Do, tôi không thể nào sống dưới chế độ cộng sản. Tôi không thích cộng sản và tôi xin phép được tỵ nạn chính trị tại nước Mỹ

Ông ta chỉ tay qua vợ con tôi hỏi: Còn người đàn bà này là ai và hai đứa nhỏ này?
Vợ tôi trả lời: Tôi tên... và ... tuổi, nghề nghiệp nội trợ. Chồng cũ tôi tên là... cấp bực Thiếu tá, lái phi cơ khu trục A1H, phi đoàn 518 đóng ở Biên Hòa. Lúc trước chồng tôi học bay T-28 ở tại Keesler, thành phố Biloxi, tiểu bang Mississippi, và đã chết trong tù cải tạo trại Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt năm 1977. Tôi có hai đứa con với ảnh, đưa con gái được 11 tuổi và đứa con trai 8 tuổi. Vào năm 1978, tôi lấy anh này và anh ấy là người rất tốt, đến năm 1979 chúng tôi vượt biển đến trại tỵ nạn này.

Ông Mỹ trả lời: Cám ơn ông bà, hồ sơ phỏng vấn của ông bà đã xong, xin ông bà ra về. Chúng tôi sẽ điều tra và sẽ thông báo cho ông bà biết sau
Chú ta trả lời:
- Chỉ vậy thôi, bây giờ mình như cá nằm trên thớt, không biết ra sao nữa. Có điều là vái trời là họ cho đi định cư bên Mỹ, đợi bao lâu cũng được, chớ đừng gởi trả về Việt Nam là chết bỏ mẹ

Huyền diệu thay, một tháng sau gia đình tôi và gia đình anh ta được đi khám sức khỏe tại bệnh viện Tanjung Pinang và tuần sau thì lên thuyền đi Singapore để định cư bên Mỹ.

Gặp lại anh trên thuyền tôi hỏi:
- Chúc mừng chú và gia đình được đi Mỹ, à chú biết định cư ở tiểu bang nào không?
Anh ta trả lời:
- Mình được gia đình Mỹ bảo lãnh, sang định cư ở Newyork, còn anh đi tiểu bang nào vậy?

Tôi trả lời:
- Tôi được bảo lãnh về tiểu bang Cali, thôi xin gặp lại chú thím nhé

Anh ta trả lời:
- Cám ơn anh đã chỉ bảo cặn kẽ lúc phỏng vấn, thôi tụi mình đi nha, hẹn sớm gặp lại

20 Năm Sau: Little Saigon - California

20 năm sau tình cờ tôi gặp lại chị ở Little Saigon, con cái đều thành công và công ăn việc làm ổn định. Nhưng đổi lại với nét buồn trên khuôn mắt chị và tôi nhìn thấy trên bàn thờ hình ảnh hai vị phi công đã cất cánh bay cao, ở một nơi mãi mãi Tự Do, không có bóng dáng cộng sản đang từng ngày dày xéo trên quê hương Việt Nam bé nhỏ thân thương.

Sau khi định cư ở Mỹ, tôi đi làm cho một hãng đóng máy bay F-16 ở tại San Diego được 20 năm. Một ngày cuối tuần năm 2000, vào trung tuần tháng 5, vợ chồng tôi rủ nhau đi lên Santa Ana để đi chợ Việt Nam mua thức ăn và nhân tiện ghé một nhà hàng bán phở tại khu Westminster. Chúng tôi vào nhà hàng ăn, vừa ngồi ghế xong, là có một người đàn bà, cầm menu đưa chúng tôi và hỏi:

- Thưa ông bà dùng chi và đây là thực đơn, xin ông bà lựa chọn món ăn

Tôi ngẩng lên nhìn và trông thấy bà này quen quen ở đâu nè, tuy nét mặt khoảng trên 50 tuổi nhưng nét đẹp vẫn còn đó. Tôi hỏi đại:

- Hình như bà chủ tên... lúc trước ở Sài Gòn, khu nhà thờ Ba Chuông thì phải?

Bà ta trả lời và mừng rỡ:
- A hình như đây là chú... mình hồi đó có làm ăn trên đường Lê Thánh Tôn

Tôi mừng quá nói:
- Đúng rồi! chính mình đây, ủa anh đâu rồi chị? anh khỏe không?

Bà ta sầm nét mặt và buồn rười rượi nói:
- Anh mất hơn hai năm rồi, anh bị đột quỵ (Stroke) khi đang ở trong bếp. Anh ấy đi làm technician trên 15 năm ở một hãng điện tử, thì xin về hồi hưu rồi để dành chút tiền để mở tiệm phở này. Tính ra hai vợ chồng già sống qua ngày, không phải đi làm vì hai đứa con đã lớn hết rồi. Con bé thì học ở UCI xong ra làm bác sĩ ở bệnh viện Fountain Valley, còn thằng con trai học xong ở UC Davis ra làm kỹ sư cho hãng Boeing ở Long Beach, tụi nó có gia đình hết rồi.

Bây giờ anh ấy mất rồi, tôi buồn quá, cũng nhờ có công việc ở nhà hàng bề bộn nên thời giờ qua mau và bớt lo buồn. Bây giờ tôi có thờ linh cốt (Tro) anh ấy trong chùa Điều Ngự và thờ linh vi thì ở nhà và trong văn phòng nhỏ trong tiệm này. Chị dẫn chúng tôi vô văn phòng nhỏ của chị, trên tường có thờ hai linh vị của: Thiếu Tá Phi Công thuộc PĐ 518 và anh phi công Mig-19. Tôi đốt nén nhang lên khấn vái và kính chúc hai anh chóng siêu thoát lên cõi niết bàn. Hai anh đã cất cánh bay về miền viễn cực lạc, ở một nơi mãi mãi tự do, không còn khổ đau như trần thế.

Chị nói: Khi không anh em đánh giết lẫn nhau cũng vì ngoại bang, anh em cũng một nhà, cùng một nước, nói cùng ngôn ngữ vả lại có chiến tranh cũng vì ngoại bang gây ra, chị cầu mong cho đất nước mình, một ngày không còn cộng sản, có thể chế tự do dân chủ và không bao giờ có chiến tranh nữa.“