Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - LÊ ĐỨC LUẬN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - LÊ ĐỨC LUẬN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

Đi Coi Mắt Vợ

 

Hình minh họa (internet)

ĐI COI MẮT VỢ 
Lê Đức Luận 

Ông Tư là người nhiều chuyện - nhiều chuyện ở đây không phải là “ngồi lê đôi mách”, mà là những chuyện thời sự nóng bỏng “giật gân” ông “lượm” được trên Internet, YouTube hay trên truyền thông, truyền hình, rồi thêm vào những nhận định của mình để nói cho bà con nghe chơi.

Trời sinh ông Tư cái tật hay nói — không được nói, ông cảm thấy bức bối như không khí thiếu oxy, như bữa ăn thiếu nước mắm.

Trải qua tám mươi năm cuộc đời, có một thời gian ông phải kiềm chế lời nói. Đó là những ngày sau năm 1975, khi phải sống dưới chế độ cộng sản ở quê nhà. Nói nhiều mà sai chính sách, chúng nó cho đi “mò tôm” (1) hay đưa vào trại tập trung cải tạo ngồi “bóc lịch” (2) và đi lao động khổ sai mút mùa…thì đời tàn trong ngõ hẹp.

Bởi vậy, ông vừa ngán vừa chán nên tìm đường vượt biên sang Mỹ.

Khi được sống trong đất nước tự do, ông tha hồ nói cho thỏa chí bình sinh. Nhưng ngày nay, công nghệ thông tin ở Mỹ tiến bộ quá nhanh - chỉ cần một chiếc điện thoại cầm tay hay lướt qua bàn phím máy vi tính (computer) - Internet cho biết đầy đủ mọi tin tức thời sự, hoặc hỏi “ông Google” hay “ông AI”, người ta sẽ biết được các chuyện đông tây kim cổ.


Lời nói của ông Tư đâm ra thừa!
Nhưng nói là cái tật trời sinh — ông không bỏ được…
Bạn bè gọi ông là nhà bình luận thời sự chính trị.

Nhưng ngày nay lại xuất hiện nhiều “nhà bình luận” về thời sự. Họ bình luận theo “đơn đặt hàng”, theo phe nhóm, theo đảng phái. Họ tranh cãi, nhục mạ nhau bằng ngôn từ thiếu văn hóa — qua đó bộc lộ tính “bát nháo” trong ngành truyền thông.

Dần dà, những lời nói trung thực và tâm huyết của ông Tư hầu như lạc lõng giữa đám truyền thông “bát nháo” - dân ta coi những lời bình luận đó như gió thoảng, mây trôi…đôi khi còn bảo: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi…”

Bởi vậy, bây giờ ông Tư chuyển sang kể chuyện đời xưa.

Chuyện đời xưa - ông kể - chỉ cách nay mấy mươi năm thôi, chứ không phải truyện cổ tích. Đó là những chuyện về phong tục, tập quán ở quê hương nghèo khó của ông - mô tả sự nhân nghĩa, đạo đức và cái khôn ngoan thâm thúy của người xưa. Những điều người ta không tìm thấy trên Google, hỏi “ông AI” cũng ú ớ — không trả lời được. Cho nên đám trẻ rất thích nghe ông Tư kể chuyện “đời xưa”.

Vậy là có đất dụng võ, ông cảm thấy vui khi biết mình chưa đến nỗi vô dụng.

Hôm nay, ông kể một chuyện vui - “đi coi mắt vợ”:

Năm ấy, tôi mười hai tuổi, anh tôi mười sáu. Tuy lớn hơn bốn tuổi, nhưng anh tôi vẫn còn khờ lắm. Trong chín năm kháng chiến, ở những vùng Việt Minh kiểm soát, đa số thanh thiếu niên nam nữ học hết bậc tiểu học thì ở nhà giúp cha mẹ làm công việc đồng áng, chứ không phải như sau này, vào lứa tuổi đó thường ra tỉnh học tiếp bậc trung học.

Ở làng quê, thời đó, khi xong vụ mùa, được rảnh rang nhưng không có nhiều trò chơi giải trí. Ngoài các trò chơi dân dã như cút bắt, bịt mắt bắt dê, kéo co, nhảy dây, đá cầu…, anh tôi còn thích nhập bọn với mấy đứa con nít trong xóm để chơi đánh đáo, bắn bi, đánh trổng, thả diều.

Vào một buổi sáng mùa xuân — trời trong, gió nhẹ, anh tôi chơi thả diều ngoài đồng cùng bọn trẻ trong xóm — diều đang lộng gió lên cao, đám trẻ vỗ tay reo hò tán thưởng… Anh tôi thích lắm, nhưng bị mẹ gọi về.

Dù đang vui chơi với buổi thả diều hào hứng, anh tôi vẫn không dám trái lời mẹ, thu dây diều và trở về nhà. Vừa vào đến sân đã nghe mẹ bảo:

- Con rửa mặt, thay đồ, đi với mẹ và bà Năm đến nhà ông Xã Hai.
- Đến nhà ông Xã Hai làm gì vậy, mẹ? Anh tôi hỏi.
- Vào thay đồ nhanh lên, đi đến đó sẽ biết. Mẹ tôi bảo.

Trông mẹ và bà Năm mặc áo dài và có vẻ chải chuốt, anh tôi lấy làm
lạ, không muốn đi cùng, nên nói:

- Thôi, mẹ đi với bà Năm - con không đi đâu.
- Ô hay! Cái thằng này nói ngộ thiệt — đi là lo việc cho mày — không có mặt mày thì tao với bà Năm sang đó làm gì. Mẹ tôi nói gắt.

Bà Năm là người ở làng bên, chuyên làm công việc mai mối lương duyên, tiếng địa phương gọi đầy đủ là “bà mai dong”. Bà có khiếu ăn nói - thuyết phục lòng người rất tài, nên bà lên tiếng tiếp lời mẹ tôi:

- Hôm nay, mẹ con và bác dẫn con qua nhà ông Xã Hai là “đi coi mắt
vợ” đấy.

Bà tưởng nói thế anh tôi sẽ hăng hái cùng đi, không ngờ bị phản ứng ngược - anh tôi đổ quạu, mặt mày sưng sỉa, nói cộc lốc:

- Tui không đi đâu hết. Rồi bước ra sân.

Mẹ tôi ngỡ ngàng. Lần đầu tiên nghe thằng con nói hỗn. Bà Năm cũng ngạc nhiên trước thái độ và lời nói của anh tôi.

Hôm nay, bà bị tổ trác!

Ngày xưa, ở làng quê có hai bà được dân làng quý trọng: bà mụ và bà
mai. Bà mụ đón một đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời — thời nay người ta gọi là “nữ hộ sinh” làm việc trong bệnh viện. Bà mai làm mối cho đôi trai gái nên duyên vợ chồng — thời nay gọi là “chuyên viên tư vấn hôn nhân”. Bà mụ mở cánh cửa cho cuộc sống. Bà mai mở cánh cửa cho hôn nhân - cả hai đều không treo bảng hiệu, cũng không đăng quảng cáo. Uy tín của họ được gầy dựng bằng cái tâm và lời đồn từ làng trên, xóm dưới. Công việc họ làm không có giá cả hay tiêu chuẩn nào nhất định.

Thù lao cho công việc tùy thuộc vào lòng hảo tâm của thân chủ.

Vào dịp mồng Năm, ngày Tết, hai bà nhận được một vài món quà kỷ
niệm như xấp vải, bộ đồ trà, cái cơi trầu… hoặc những đặc sản như cân đường, giạ nếp, chai mật ong, gói trà, con gà, trái bí - coi như thù lao cho công khó. Nhưng niềm vui lớn nhất của hai bà là được đón nhận tấm lòng quý trọng của dân làng.

Hôm nay, anh tôi có thái độ vô lễ, không nghe lời bà Năm đề nghị, lại đổ quạu, định bỏ ra ngoài… Mẹ tôi giận sôi gan trước lời nói và thái độ thiếu tôn trọng của thằng con trai đối với bà Năm. Mẹ tôi quát:

- Mày tính đi đâu đó? Đứng lại, nghe tao bảo.

Lần đầu tiên thấy mẹ nổi giận với anh. Mẹ tôi cưng anh nhất nhà. Có những lúc anh tôi ngang ngược, mẹ vẫn dịu giọng và chiều theo ý anh tôi, làm tôi phát ghen, vì tôi bị mẹ đánh đòn đôi lần, nhưng anh tôi thì chưa bao giờ.

Thế mà lần này, mẹ vừa nói vừa lấy cây chổi lông gà nhịp nhịp lên trên bàn.

Anh tôi không dám bỏ đi, đứng dựa vào cây cột trước hàng hiên, mẹ tôi tiến đến gần, tay vẫn cầm chiếc chổi lông gà, xẵng giọng:

- Mày có đi không thì bảo?

Khi mẹ đến gần, anh tôi chạy qua ôm một cây cột khác. Cứ thế, mẹ con đuổi theo nhau như đang chơi trò cút bắt.

Cha tôi ngồi uống trà, thấy cảnh mẹ con đuổi theo nhau, ông mỉm cười. Nhưng nhớ đến bệnh đau tim của vợ, sợ xảy ra chuyện không hay, cha tôi ôn tồn bảo: “Thôi, bà lại nói chuyện với bà Năm, để tôi khuyên nó.”

Cha tôi quay qua phía anh tôi, nhỏ nhẹ:

- Hảo này (Hảo là tên anh tôi) - “đi coi mắt vợ” như đi chơi vậy mà.

Con đem theo cái ná cao su, đến đó nếu thích thì ngồi nghe người lớn
nói chuyện, không thích thì ra ngoài bắn chim. Vườn nhà ông Xã Hai
rộng lắm, có rất nhiều chim và cây ăn trái - tha hồ bắn chim và ăn trái
cây.

Cha tôi biết thằng con trai thích bắn chim, nên đưa ra đề nghị như vậy. Không ngờ có kết quả.

Nét mặt anh tôi không còn cau có, nói:

- Bảo “đi coi mắt vợ” thì con không thích. Con rất ghét nghe tiếng ấy.
- Tại sao con lại ghét nghe tiếng ấy? Cha tôi hỏi.

Anh tôi chậm rãi trả lời:

- Con thấy thằng Hùng ở xóm trên, sau khi “đi coi mắt vợ” về, nó cứ ngẩn ngơ như người mất hồn. Nó không còn muốn chơi với đám tụi con nữa. Cái mặt nó câng câng như thằng dở hơi. Cho nên, con không thích “đi coi mắt vợ”.

Cha tôi sành tâm lý, nên cười hiền rồi nói khích:

- Thì ra thế! Nhưng nó khác với con. Nó khờ khạo, còn con khôn ngoan, lanh lợi hơn nó, làm gì có chuyện ngẩn ngơ sau khi “đi coi mắt vợ”. Con nên đi một lần cho biết với người ta - vừa cho mẹ con vui, vừa không làm mích lòng bà Năm, lại được bắn chim, ăn trái cây và nhìn con gái đẹp.

Những lời nói khích của cha khiến anh tôi thay đổi thái độ và đồng ý đi theo mẹ và bà Năm.

Cả nhà đều vui. Chuyện “đi coi mắt vợ” của anh tôi coi như đã êm xuôi. Nhưng điều đáng nói là những ngày sau đó, anh tôi không còn nhập bọn với đám con nít tụi tôi đánh đáo, thả diều… mà len lén một mình qua vườn nhà ông Xã Hai — “bắn chim”.

Chuyện tình của anh tôi sau đó diễn tiến thế nào, tôi không rõ, chỉ nghe mẹ kể lại: Hôm đến nhà ông Xã Hai, anh tôi ra vườn bắn chim.

Con gái ông Xã Hai, lớn hơn anh tôi hai tuổi, cùng ra vườn chơi với anh tôi, cho anh tôi ăn ổi và uống nước dừa xiêm. Không hiểu là do mùi thơm của quả ổi, hay vị ngọt của nước dừa xiêm, hay do cái duyên dáng cùng lời nói dịu dàng của người con gái khiến anh tôi lưu luyến…

Những ngày tháng sau đó, không ai bảo, anh tôi tự động đến nhà ông Xã Hai, tự nguyện xin làm việc không lấy tiền công như đập lúa, phơi rơm… Một năm sau, anh tôi đòi mẹ cưới vợ - không ai khác hơn là con gái ông Xã Hai.

Bây giờ, trên đất khách, vào ngày giỗ, ngày Tết… anh em gặp nhau cùng con cháu sum vầy, tôi thường kể lại chuyện “đi bắn chim” và “đi coi mắt vợ” của anh tôi, cho con cháu nghe chơi.

Anh tôi cười hì hì…nói với mọi người: “Chuyện tình yêu, hôn nhân ngày xưa coi vậy mà lãng mạn, lại bền. Thời đó, bà mai có con mắt tinh đời: nhìn chàng trai xách đôi thùng nước hay vác cái cày, cái bừa ra ruộng; rồi nhìn cô gái quang gánh qua sân đình là đoán biết họ có hợp nhau hay không để làm mai, làm mối - se duyên vợ chồng. Kết quả là họ sống với nhau đến đầu bạc răng long, con cháu đầy đàn.”

“Ngày nay, bà mai là cái máy vi tính (computer) - có cả một đội ngũ kỹ sư viết lập trình (programming) - phân tích tinh vi: sở thích, cách suy nghĩ, nghề nghiệp, thu nhập…của đôi trai gái - rồi hứa hẹn tìm người phối ngẫu hoàn hảo. Thế mà ly hôn vẫn xảy ra hà rầm. Có lẽ cái máy vi tính ghép dữ liệu giỏi, nhưng chưa ghép được nhịp đập của hai con tim.”

Anh tôi kể tiếp: “Một ông hàng xóm có thằng con trai đến bốn mươi tuổi đầu mà vẫn còn độc thân. Nghe chuyện hôn nhân của anh tôi do mai mối, ông ta cũng muốn nhờ một bà mai kiếm vợ cho nó. Nhưng thằng con bảo: “Xưa rồi!” Nó sẽ tìm vợ qua máy vi tính — không cần bà mai.”

Chưa có thống kê nào nói rõ tỷ lệ hôn nhân qua Internet, nhưng xem đám con cháu trong nhà thì mười đứa đã có bảy đứa lập gia đình nhờ Internet kết nối. Ông Tư bảo: Đó là những “cuộc hôn nhân Internet”.

Ông Tư thường nói: Ngày nay, đám trẻ “nhấp chuột” (click mouse) là bắt gặp tình yêu — thực dụng theo kiểu “mì ăn liền”. Ngày xưa, ông bà mình tỏ tình qua lời nói xa gần rất ý nhị - cụ thể như bài ca dao phổ biến trong dân gian: “Hôm qua tát nước đầu đình/ Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen/ Em được thì cho anh xin/ Hay là em để làm tin trong nhà/Áo anh đứt chỉ đường tà/ Vợ anh chưa có,mẹ già chưa khâu… Khâu rồi anh sẽ trả công/ Đến khi lấy chồng anh lại giúp cho…”

Đây đã là một bước tiến bộ - trực tiếp ngỏ lời. Chứ thời xa xưa hơn nữa, muốn tiến đến hôn nhân trước tiên phải nhờ bà mai. Bà mai lặn lội hết ngõ này sang xóm khác - dò hỏi gia phong, xem nết ăn, nết ở của đôi trai gái mới đánh tiếng mai mối.

Xong việc bà mai, còn phải sang ông thầy bói nhờ xem tuổi — có “hạp tuổi” mới tiến đến hôn nhân.

Trong dân gian, quan niệm chọn tuổi thông thường là: “nhất gái lớn hai, nhì trai lớn một” hoặc “tam hợp”. Tam hợp là sự kết hợp của 3 con giáp trong Thập Nhị Địa Chi được cho là hợp tuổi, dễ hòa thuận và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống hôn nhân.

Có 4 nhóm tam hợp: Thân - Tý - Thìn
Tỵ - Dậu - Sửu
Dần - Ngọ - Tuất
Hợi - Mẹo - Mùi

Nhưng có 3 nhóm khắc tuổi, gọi là “tứ hành xung” - cần xem xét kỹ trước khi tiến đến hôn nhân: 

Tý - Ngọ - Mẹo - Dậu
Thìn - Tuất - Sửu - Mùi
Dần - Thân - Tỵ - Hợi.

Trong trường hợp đôi trai gái thương nhau mà bị khắc “tứ hành xung” thì phải nhờ ông thầy bói xem tuổi lại. Ông thầy bói kết hợp Thập Thiên Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) với Thập Nhị Địa Chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) và Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thồ) tương sanh, tương khắc để hóa giải cho đôi trẻ tiến đến hôn nhân (3).

Quan niệm dân gian và phong tục truyền thống được rút ra từ kinh nghiệm cuộc sống lứa đôi — khoa học không thể chứng minh được. Bởi vậy, có nhiều truyện ngắn viết về hôn nhân rất tếu: Một chàng tuổi Hợi (con heo) thương nàng tuổi Dần (con cọp). Về nhà, mẹ cản: “Lấy con gái tuổi Dần, tàn đời con ơi!” Nhưng thương quá, ông cưới đại. Sau đó, người ta thấy: “con cọp” dịu dàng, dễ thương như “con mèo”; gia đình hạnh phúc, ăn nên làm ra - “con cọp” đâu có xơi tái “con heo” và đã cùng “con heo” sinh bầy con sáu đứa - lớn lên học hành giỏi giang, thành đạt. Ông tuổi con heo qua tuổi tám mươi vẫn còn khỏe mạnh, yêu đời.

Ông Tư kể tiếp về lễ nghĩa, sự khôn ngoan thâm thúy của người xưa so với sự thực dụng của người đời nay. Ngày xưa, cha mẹ “đặt đâu con ngồi đó”. Trường hợp những đôi trai gái lén lút thương nhau, không qua sự đặt để của cha, nhưng sợ bị cha mẹ trách mắng, nên trong dân gian có câu ca dao: “Thương nhau cởi áo cho nhau/ Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay” rồi được đưa vào âm nhạc qua làn điệu Quan họ Bắc Ninh nổi tiếng với tên “Qua Cầu gió Bay”: “Yêu nhau cởi áo ối à trao nhau/ Về nhà dối rằng, cha dối mẹ/ rằng a ối a qua cầu, tình tình tình… gió bay…”.

Điều đó chứng tỏ cha mẹ vẫn còn cái uy với con cái.

Ông thêm rằng: Nhớ lại mà thương các bậc cha mẹ khi sang Mỹ vào khoảng thập niên tám mươi, dẫn theo mấy đứa con đến tuổi cập kê. Lúc ấy, người Việt ở Mỹ chưa đông, khi gặp nhau ở chùa, ở nhà thờ, ngoài chợ, trong shopping mall thì mừng lắm — tiếu tít xin số phone, địa chỉ… Ngoài việc để gắn bó tình đồng hương, còn có ẩn ý là một mai làm đám cưới cho con sẽ mời được năm bảy chục khách. Bởi thế, mới có chuyện buồn cười: Một ngày đẹp trời, nhà nọ nhận được một thiệp cưới - vợ hỏi chồng, chồng hỏi vợ: “Người gởi thiệp cưới là ai vậy - quen biết thế nào?” Cả hai vợ chồng đều ú ớ, nhưng đến ngày cũng đến tham dự và nhủ lòng: “Sau này, đám cưới con mình sẽ mời lại.”

Ông Tư kể tiếp một tục lệ ngày xưa: Sau đám cưới 2 ngày, đôi tân hôn dẫn nhau về thăm nhạc gia, gọi là ngày “nhị hỷ”. Chàng rể mang theo lễ vật là cái đầu heo. Cả nhà gái đều chăm chú nhìn cái đầu heo. Nếu đầu heo còn đủ hai tai, coi như mọi việc tốt đẹp. Nếu nhìn thấy đầu heo bị xẻo mất một tai, ông bà nhạc hiểu rằng con gái mình không còn trinh trắng trước hôn nhân. Đây là “thông điệp” thầm lặng nhưng rất thâm thúy trong lối giáo dục của người xưa. Xấu hổ biết bao khi cả nhà gái nhìn cái đầu heo chỉ còn một tai!? Cho nên người con gái cố giữ trinh tiết cho đến ngày thành hôn.

Ông Tư còn nêu lên những câu tục ngữ có vẻ mộc mạc nhưng mang ý nghĩa sâu sắc, rút tỉa từ túi khôn của người xưa để truyền dạy kinh nghiệm cho con cháu trong việc tìm bạn trăm năm, như:

“Chọn vợ xem tông, chọn chồng xem giống” - “xem tông” mang ý nghĩa coi trọng gia phong, nề nếp gia đình; “xem giống” là xem xét dòng dõi, truyền thống (di truyền - gen).

Ca dao tục ngữ còn có những câu:

“Trai khôn tìm vợ chợ đông.
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”

Hàm ý: Người con trai nên mở rộng giao tiếp để có cơ hội gặp gỡ nhiều cô gái - chọn người phù hợp; còn người con gái tìm chốn ba quân là nơi quân đội đồn trú hoặc những nơi có những chàng trai có lý tưởng, có chí khí để tìm người bạn đời.

Ông Tư còn nói về cách bày tỏ tình yêu qua thơ văn. Ngày xưa Nguyễn Bính làm thơ:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa cô đơn
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi
Giá đừng có giậu mồng tơi.
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng…

Trời ơi! Chỉ cách có một giậu mồng tơi mà Nguyễn Bính không dám sang mà phải nằm mơ nhờ con bướm trắng:

Bướm ơi bướm hãy vào đây
Cho ta hỏi nhỏ câu này chút thôi

Vừa nhờ con bươm bướm trắng vừa lén nhìn nàng:

Mắt nàng đăm đắm trông lên
(thì) Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi
Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi
Tôi buồn tự hỏi: hay tôi yêu nàng?

Ông Tư nhận xét: Nguyễn Bính ngày xưa ngây ngô đến buồn cười - chỉ cách nhau “cái giậu mồng tơi” mà không dám “sang chơi thăm nàng” để tỏ tình. Cuối cùng, tự thán: “Hay tôi yêu nàng?”

Không biết ngoài đời Nguyễn Bính có “ ngây ngô” hay không, nhưng khi đọc bài thơ Cô Hàng Xóm, người ta thấy cái ngây ngô rất duyên dáng của Nguyễn Bính - mang vẻ chơn chất, ngây thơ và vụng về trong tình yêu.

Ngày nay, không có cảnh ấy đâu — một cái “nhấp chuột” đã bắt được tình yêu ở tận bên kia Thái Bình Dương.

Nguyễn Bính còn có mấy câu thơ để đời:

Thôn Đoài ngồi nhớ thông Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.(4)

- Bây giờ, bệnh tương tư và thất tình hầu như đã biến mất khỏi hồ sơ bệnh án. Tìm đâu ra một chàng Trương Chi và một nàng Mỵ Nương trong giới trẻ ngày nay? Chỉ có chuyện tình Ngưu Lang - Chức Nữ còn chút hơi hướng giống với những chuyện tình ngày nay. Ngưu Lang - Chức Nữ yêu nhau nhưng bị chia cắt bởi dòng sông Ngân, mỗi năm chỉ gặp nhau một lần vào ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch trên chiếc cầu Ô Thước nhờ đàn quạ bắc qua sông. Tưởng tượng đàn quạ như Internet, kết nối hai kẻ yêu nhau trong thời đại công nghệ thông tin.

Ông Tư đưa ra nhận định như trên, được đám trẻ đồng tình.
Được thể, ông Tư hỏi đám trẻ:

- Trong bài thơ Hai Sắc Hoa Ti-gôn, TTKH hỏi người tình:

“Nếu biết rằng tôi đã có chồng.
Trời ơi, người ấy có buồn không?”

Thời bây giờ, nếu người tình bỏ các anh đi lấy chồng, rồi mượn hai câu thơ ấy để hỏi - các anh sẽ trả lời như thế nào?

Một anh trong nhóm trẻ đáp ngay:

- “Nếu biết rằng em đã có chồng/
Anh vào “nhấp chuột”, thế là xong.

Ông Tư xoa tay, nói:

- Vậy thì phũ phàng quá! Ngày xưa, ông Tơ, bà Nguyệt ngồi trên cung trăng, xe sợi tơ hồng - nếu chỉ đứt, tơ vò còn “hạ thủ lưu tình” nối lại đường tơ. Bây giờ ông Google, bà Internet ở trong mây (cloud), nếu tình duyên trắc trở thì phát ra tín hiệu: “No results found” hay “Connection lost” — coi như chấm dứt một cuộc tình. Vậy thì quá bẽ bàng!

Ông Tư tự thán: Ông Google, bà Internet mới xuất hiện mấy mươi năm thôi đã khiến lòng người phũ phàng đến thế. Bây giờ thêm ông AI, không biết trong tương lai “nhân tình thế thái” sẽ như thế nào?

Cảm thấy buồn… ông Tư ra ngoài hiên hút thuốc.

LÊ ĐỨC LUẬN
(Tháng 8 - 2026)

(1) “Mò tôm” là thủ tiêu người chống đối bằng cách treo cục đá lên cổ, rồi dìm xuống sông.
(2) “Gỡ lịch” là ngồi tù.
(3) Muốn hiểu rõ, tìm đọc sách coi tuổi. Ở đây chỉ nêu lên vài thí dụ: Tương sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
(4) Bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính.


Hình minh họa (internet)

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Ngẫm Chuyện Xưa Nay

 


NGẪM CHUYỆN XƯA NAY
Lê Đức Luận

Sau ngày 30-4-1975, nhiều người Việt Nam bỏ xứ ra đi, đa số đã xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị nạn chính trị. Trong khoảng mười, mười lăm năm đầu, người Việt khi gặp nhau thường nêu một câu hỏi mà người hỏi có hai ý, còn người được hỏi cảm thấy phân vân, rồi trả lời theo một trong hai ý.

Đó là câu: “Anh chị sang đây lâu chưa ?”

Nếu người hỏi có thái độ kẻ cả, hỏi để phân biệt đẳng cấp, thì câu trả lời sẽ hờ hững, qua loa. Nếu người hỏi tỏ ra thân thiện - có ý muốn giúp đỡ đồng hương đến sau, thì câu trả lời sẽ rất chân tình.

Những người Việt Nam có mặt tại nước Mỹ trong thời gian đầu — hoặc được di tản trong những ngày Sài Gòn hấp hối, trên những chuyến bay vội vã của chiến dịch “ Gió lốc - Operation Frequent Wind” — hoặc lặng lẽ xuống thuyền, rời khỏi Việt Nam, bất chấp hiểm nguy trên biển cả để tránh sự đàn áp, trả thù của chế độ mới. Rồi họ xin định cư ở Mỹ.

Người ta gán cho họ cái tên “Thuyền nhân” (Boat people).

Ai cũng hiểu: Những người Việt Nam đã phải lìa bỏ quê hương sau một biến cố lớn của lịch sử — mỗi bước chân ra đi, dù bằng đường nào, cũng in dấu một mất mát không gì bù đắp được.

Nhưng có số ít người tỏ vẻ “ta đây” — kẻ đến trước, coi thường người đến sau. Nôm na là “ma cũ coi thường ma mới” — mặc dù cùng chung cảnh ngộ.

Cái tật: ai hơn mình thì ghét, ai kém mình thì khinh. Ai nổi trội hơn thì tìm cách dèm pha, ai kém cỏi thì chê bai. Điều này thường xảy ra trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt. Cho nên, câu hỏi: “Anh chị sang đây lâu chưa?” đã làm chạnh lòng một số người.

Câu chuyện tiếu lâm sau đây làm ta suy ngẫm: “ Ngoài chợ bày bán hai giỏ cua - một giỏ có nắp đậy, giỏ kia thì không. Khách hỏi lý do.

Người bán cua giải thích: “Giống cua Việt Nam, con nào bò lên gần tới miệng giỏ thì bị con khác kéo xuống, chẳng có con nào bò ra khỏi giỏ được, nên không cần nắp đậy. Còn giống cua Mỹ khi bò đến miệng giỏ, không bị con khác kéo xuống, nó có thể bò ra ngoài, nên phải đậy nắp.”

Những chuyện khó quên về người tị nạn Việt Nam trong bước đầu trên đất khách: lo lắng, ngẩn ngơ - như khi lạc đường chưa biết bỏ 25 cent vào cái điện thoại công cộng để gọi người nhà ra đón, cũng chẳng nói được tiếng Anh để nhờ người ta chỉ đường, cứ lòng vòng cả buổi mới tìm ra lối về nhà.

Một câu chuyện khác - mới nghe tưởng đùa, mà có thật - được một người kể lại thế này: “Hồi mới đến Mỹ, tôi thấy cái gì cũng mới lạ - đồ sộ và văn minh quá, làm mình cảm thấy như anh nhà quê lần đầu ra tỉnh.

Một hôm, gặp lại chú đàn em, anh ta mừng rỡ, ôm tôi — hai bàn tay vỗ vỗ vào lưng — rồi thốt lên: “Niên trưởng! Niên trưởng!” Niên trưởng qua lâu chưa? Cử chỉ ấy làm tôi cảm động nhưng cũng khiến tôi có chút ngỡ ngàng. Bởi vì trước năm 1975, người miền Nam gặp nhau, dù thân tình, cũng chỉ tay bắt mặt mừng, ít khi “ôm nhau thắm thiết” như vậy.

Sau này, ở lâu mới quen cách biểu lộ tình cảm theo kiểu Mỹ là “ôm nhau thắm thiết” — tiếng Anh gọi là “hug”.

Anh ta kể tiếp: Sau ngày “đứt phim 30-4-1975”, người ta gọi tôi là “thằng ngụy”. Tiếng “niên trưởng” như rơi vào cõi âm, chỉ còn mơ hồ trong ký ức. Bây giờ, gặp nhau trên đất khách, chú đàn em chưa quên truyền thống Trường Mẹ — gọi tôi “niên trưởng” — làm tôi bồi hồi nhớ lại những ngày Chủ nhật dạo phố Đà Lạt: đàn em gặp đàn anh chào cái rụp, rồi chờ đàn anh mở lời, đàn em mới vui vẻ tiếp lời.

Truyền thống ấy làm cho chúng tôi tương kính nhau và giữ cho tình huynh đệ luôn tha thiết, chân tình. Mặc dù bây giờ chú ấy trông bảnh bao, hoạt bát, da dẻ hồng hào, bụng phệ… Anh ta mang dây treo quần (suspenders), trông rất sang. Hồi đó chưa có điện thoại di động (cell phone) , anh ta kẹp ở thắt lưng cái máy nhỏ bằng bộ bài tây, thỉnh thoảng phát ra tiếng bíp bíp… trông rất lạ. Tôi hỏi cái gì thế? Anh ta giải thích: Đây là cái beeper, còn gọi là pager, dùng để nhận tin nhắn. Rồi anh ta giải thích công dụng và cách dùng.

Chúng tôi đối với nhau rất chân tình - điều gì chưa biết, tôi hỏi; chú đàn em tận tình chỉ dẫn - không màu mè hay mặc cảm. Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, tôi đã quen với các thiết bị điện tử.

Chú cũng nói cho tôi biết cách giao tiếp với người bản xứ sao cho phải phép — trong đó có một chuyện nhớ đời — chuyện đàn bà. Chú bảo: “Người Mỹ ít khi hỏi tuổi nhau, kỵ nhất là với phụ nữ. Trong trường hợp phải nói về tuổi tác, nếu gặp bà bốn mươi, niên trưởng bảo:

trông cô khoảng ba mươi — cứ cho các bà trẻ hơn mươi tuổi là ăn tiền!

Tám năm cầm súng ở chiến trường, rồi tiếp theo bảy năm cầm cuốc trong các trại tập trung cải tạo của Việt Cộng; khi đến Mỹ, tôi còn trai tân (độc thân), gặp con gái cứ lúng túng như gà rù mắc tóc, nhưng nhờ “cái mánh” này, tôi cưới được vợ lớn hơn 8 tuổi - hạnh phúc như gặp được bà tiên…

Tôi nhớ ơn chú đàn em. Tôi cũng nhận ra rằng những người đến trước đã trải qua nhiều gian nan lúc ban đầu. Họ đã để lại những kinh nghiệm giúp kẻ đến sau bớt bỡ ngỡ.

Sau mười mấy năm, cuộc sống của đa số người Việt đã bước vào giai đoạn ổn định. Ngày nào, họ đến đây với hai bàn tay trắng, mang theo mấy đứa con thơ - bảy, tám tuổi. Bây giờ, có nhà cửa khang trang, con cái học hành thành đạt, các bậc cha mẹ vui mừng và có chút hãnh diện.

Câu hỏi “anh chị qua đây lâu chưa?” hầu như ít ai nhắc đến.

Nhưng rồi lại nảy sinh một câu hỏi khác cũng làm chạnh lòng người.

Một câu hỏi để khoe và nghe để tủi: “Con anh chị học ngành gì? Tốt

nghiệp chưa?”

Người Việt mình có truyền thống hiếu học nên rất coi trọng bằng cấp và những ngành nghề được xem là “danh giá” như bác sĩ, kỹ sư… Nếu con cái mình tốt nghiệp và làm bác sĩ, kỹ sư… thì có chút hãnh diện để khoe. Những ai có con cái học hành không ra gì, nghề nghiệp không vững vàng thì cảm thấy tủi cho phước nhà.

Từ đầu thập niên 2000, cộng đồng người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ bước vào giai đoạn năng động và phát triển mạnh mẽ. Sau nhiều năm vất vả, cần cù, lớp người tị nạn đến từ sau biến cố 1975 (tạm gọi là thế hệ thứ nhất) đã đứng vững trên vùng đất mới. Những khu phố người Việt như Little Saigon ở California hay Eden Center ở Falls Church, VA trở nên đông đúc, phồn thịnh. Báo chí, đài phát thanh, truyền hình phát triển mạnh, tạo nên đời sống văn hóa phong phú.

Đó là quãng thời gian nhiều người Việt nỗ lực xây dựng tương lai cho gia đình với nghị lực phi thường và hăng hái tham gia các hoạt động cộng đồng.

Ngày nào, những đứa trẻ năm, bảy tuổi theo cha mẹ đến miền “đất hứa” sau năm 1975, nay đã trưởng thành — học hành thành đạt và trở thành thế hệ thứ hai hội nhập vững vàng vào tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ.

Chúng tham gia sâu rộng vào đời sống Mỹ - hiện diện trong hầu hết mọi ngành nghề: bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, doanh nhân, viên chức chính quyền, quân đội, truyền thông và cả chính trường…Thế hệ thứ hai vừa giữ được nề nếp văn hóa Việt trong gia đình vừa thích nghi tự nhiên với xã hội Mỹ.

Đây cũng là giai đoạn thế hệ thứ nhất vừa bận rộn vừa bận tâm đến chuyện hôn nhân của con cái. Tuần nào cũng được mời đi dự đám cưới.

Có những đám cưới, người dẫn chương trình “kê khai” bằng cấp, chức danh của cô dâu, chú rể, như một cách đánh bóng cho gia đình. Và trong tiệc cưới, câu hỏi thường nghe là: “Con anh chị học ngành gì? Làm việc ở đâu? Lương bỗng bao nhiêu?” Nghe qua tưởng như câu hỏi thăm bình thường, nhưng lại có ẩn ý khoe khoang và cũng kín đáo dò tìm dâu hiền, rể thảo có học thức ngang với con mình.

Những người thuộc thế hệ thứ nhất hồi tưởng về lúc rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng — ra đi để tìm sự sống trong cái chết. Bây giờ cuộc sống trên quê hương thứ hai đã ổn định - con cái cũng yên bề gia thất; họ muốn về thăm cố hương - viếng mồ mả cha ông, thăm gặp bà con thân thích, bạn bè tri kỷ để tỏ lòng thủy chung với nguồn cội và tình yêu quê hương.

Là con người bình thường, ai cũng mong đời mình có được đôi lần sống trong sự huy hoàng như nhà thơ Xuân Diệu đã viết: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.” Và đây là dịp để một số “người Việt hải ngoại” biến ước mơ thành hiện thực. Họ muốn ngày trở về sao cho xôm tụ - được bà con đón tiếp long trọng, nên tổ chức tiệc tùng chiêu đãi tưng bừng. Tiếp theo, xây cất từ đường bề thế, rồi sửa sang mộ phần của cha ông.

Thực ra, đây là việc làm tốt, có ý nghĩa, nhưng một số người nhân cơ hội này để khoa trương, chơi trội quá lố nên đã biến thành trò cười cho thiên hạ.

Chuyện rằng: Một ông về trước sửa sang mồ mả cha ông; ông về sau cũng tu sửa mộ phần nhưng “hoành tráng” hơn — “tranh nhau lấy tiếng” nên đã xây rồi phá đi, xây lại, sao cho “hoành tráng” hơn. Và cứ thế tiếp tục tiến lên, khiến nhiều khu nghĩa trang xa trông như một khu phố thu nhỏ.

Ngoài những chuyện nêu trên, cộng thêm lối ăn mặc chảnh chọe, cách nhún vai làm dáng kiểu Mỹ và giả giọng lơ lớ như một người Mỹ mới học tiếng Việt, làm cho mấy người này không giống ai - Mỹ chả ra Mỹ. Việt chả ra Việt. Dân ta bèn đặt cho họ cái tên “áo gấm về làng”.

Một dạo “áo gấm về làng” trở thành một phong trào. Các ông, các bà về nước chơi sang - tiệc tùng xôm tụ, tiêu pha vung vít…

Nhưng không phải “người Việt hải ngoại” nào cũng muốn tạo cảnh “áo gấm về làng”. Có nhiều người tự trọng, tỉnh táo, nhận biết được chỗ đứng của mình trên đất khách đối với quê hương đang nghèo khó. Họ chắt chiu và âm thầm gởi tiền về cứu khổ bà con bên nhà với số tiền không ngờ: Năm 2000, lượng kiều hối gởi về Việt Nam được ước tính từ 1,3 đến 1,6 tỷ đô la và con số này tăng rất nhanh trong những năm sau đó: năm 2010 hơn 8 tỷ đô la, năm 2023 khoảng 14 tỷ đô la (1).

Mới ngày nào những con người trốn chui, trốn nhủi - rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng để tìm cuộc sống tự do và tương lai cho con cháu, bị mấy ông quan chức Việt Cộng tìm cách bắt bớ, giam cầm với những lời miệt thị: “Bọn phản quốc, bọn cặn bã xã hội, bọn ôm chân đế quốc …” Nhưng rồi đồng đô la đã làm cho quan chức Việt Cộng đổi giọng - gọi họ là “Việt kiều yêu nước”; một tiếng khác có vẻ bình dân nhưng tha thiết và rất mùi là: “khúc ruột ngàn dặm”- làm người ta cứ tưởng có đô la lận lưng là trở thành người yêu nước.

Nhưng sự đời như đóa phù dung - sớm nở tối tàn - “áo gấm” đã phai màu; “khúc ruột dư ngàn dặm” cũng không còn bốc mùi. Bởi vì từ ngày Mỹ dỡ bỏ cấm vận và chạy theo kinh tế thị trường (có thêm cái đuôi: “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”), mấy ông quan Việt Cộng ăn nên làm ra nhờ những đồng tiền hối lộ và tham nhũng… thì những bữa tiệc chiêu đãi hay vòi vĩnh vài ba trăm đô la bồi dưỡng cán bộ còn có ra chi - coi như chuyện nhỏ. Các ông bà “Việt kiều” không còn được trọng vọng, xênh xang áo gấm về làng như trước. Dân ta kháo nhau: Bây giờ “Việt cộng ngon hơn Việt kiều” (chỗ này phải giải thích cho rõ: Việt cộng là những đảng viên cộng sản có quyền thế và giàu sụ. Còn dân ta là những người không phải Việt cộng, cũng chẳng phải Việt kiều, nên bàng quan đưa ra nhận xét như thế) làm mấy ông bà “Việt kiều” cảm thấy mất hứng, mất oai…

Sự đời lắm nỗi oái oăm. Chuyện vui buồn trong cuộc đời tị nạn kể hoài không dứt. Khi “Áo gấm về làng”, “ruột dư ngàn dặm” trở thành chuyện đời xưa, thì xuất hiện những ông già “Việt kiều” nham nhở — dân ta gọi là “già dịch”. Ngôn ngữ Việt có thêm một tiếng mới.

Ngày xưa, dân Bắc Kỳ có tiếng “già chơi trống bỏi” để cười cợt, châm biếm những ông già thích ăn diện, đua đòi, tán tỉnh, yêu đương nhăn nhít, ham vui như thanh niên. “Già chơi trống bỏi” gần giống nghĩa của chữ “già dịch” bây giờ. Nhưng tiếng “già dịch” còn ẩn chứa sự miệt thị đối với những ông già “Việt kiều” vô liêm sỉ về nước ăn chơi đàn đúm trên nỗi khổ đau của những đứa trẻ đáng tuổi con cháu mình - những đứa trẻ đã chịu đựng biết bao tủi nhục vì miếng cơm manh áo dưới một chế độ không nhìn thấy tương lai.

Qua rồi những chuyện buồn vui trong đời tị nạn. Những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất đến Hoa Kỳ sau năm 1975, bây giờ đang bước vào tuổi bảy mươi, tám mươi. Khi gặp nhau, họ đặt những câu hỏi rất thực tế, chân tình. Hỏi để biết, biết để áp dụng hay đề phòng, không còn ẩn ý khoe khoang nữa.

Qua rồi những ngày tháng trần ai, tủi nhục dưới chế độ cộng sản; qua rồi những ngày tháng làm việc cần cù và chắt chiu tiền bạc để nuôi con ăn học. Bây giờ họ sống ung dung và hạnh phúc khi nhìn thấy tương lai tươi sáng đang rộng mở cho thế hệ con cháu của mình trên đất nước Hoa Kỳ.

Dù vậy, những người tị nạn thuộc thế hệ đầu tiên vẫn còn canh cánh bên lòng với quê hương Việt Nam ở bên kia bờ Thái Bình Dương. Một cụ tám mươi tâm sự: Tôi đã chọn nước Mỹ làm quê hương thứ hai, nhưng lòng tôi vẫn cứ cho là đất khách. Tôi mang quốc tịch Mỹ, nhưng cảm thấy chỉ là “Mỹ giấy”

Ôi! Quê hương Việt Nam vẫn còn đau đáu trong lòng người viễn xứ.

LÊ ĐỨC LUẬN

(Tháng 6-2026)

(1) Nguồn: World Bank và Statista.


Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2026

Khai Bút Đầu Năm

 


KHAI BÚT ĐẦU NĂM
Lê Đức Luận 

Khai bút đầu năm nay, tôi viết chữ “Tình”. Những năm về trước, tôi  viết chữ Tài, chữ Lộc, chữ Phước, chữ Thọ. Năm nay, bỗng dưng trong đầu nảy ra cái chữ “Tình”.

Chữ Tài, chữ Lộc, chữ Phước, chữ Thọ tự nó cho thấy được điều mong ước. Nhưng chữ Tình, thấy nó mông lung nếu đứng một mình, phải thêm một vài chữ theo sau mới xác định được cái mong muốn và mơ ước của mình.

Tôi suy nghĩ và hồi tưởng…

Thời trai trẻ có: tình yêu lứa đôi, tình bạn tâm giao… rồi thêm tình đồng đội, tình huynh đệ chi binh. Khi lưu lạc trên đất khách thì có thêm tình đồng hương. Khi cảm thương những kẻ khốn cùng là tình nhân loại…

Bước qua tuổi tám mươi - “lão lai tài tận - lực bất tòng tâm.” Những thứ tình kia mờ nhạt, chỉ còn cái nhìn tiêu cực như nhà thơ Nguyễn Hữu Tư tự thán:

“Đã qua cái thuở sông hồ.

Chỉ còn ngồi đợi chuyến đò âm-dương”


Tuy vậy, trong tôi vẫn còn lưu luyến cái tình già.

Thế là “Tình Già” được chọn để khai bút đầu năm.

Nói đến tình già là nhớ ngay đến bài thơ Tình Già của cụ Phan Khôi (1887-1959).

Ngày 10 tháng 3 năm 1932, báo Phụ Nữ Tân Văn đăng một bài mà thời ấy có người phê bình rằng: “Thơ chẳng ra thơ, văn chẳng ra văn…”

Sau đó, Tuần Báo Phong Hóa đăng lại bài này vào số báo Tết năm Quý Dậu - tức ngày 24 tháng 1 năm 1933.

Lúc này, người ta mới công nhận phong trào Thơ mới bắt đầu xuất hiện - đánh dấu một chuyển hướng mạnh mẽ trong thi ca Việt Nam - phá vỡ các quy tắc thơ cổ và tiếp thu văn hóa Tây Phương.

Phong trào Thơ Mới (thơ tự do) ra đời ở Việt Nam vào đầu thập niên 1930 - khơi dòng cho tiếng thơ ra khỏi khuôn phép cũ về niêm luật gò bó, chữ nghĩa trau chuốt cho vừa tai người xưa. Nó cất lên giọng nói đời thường của con người đang sống, đang yêu, đang già đi cùng kỷ niệm… và nó biểu lộ sự rung động của con tim trong mỗi cá nhân rất trung thực và riêng tư…

Nhiều người cho rằng “Tình Già” là bài thơ mới xuất hiện đầu tiên.

Nếu xét về thời gian thì không hẳn là như thế, vì trước “Tình Già” đã có những bài thơ phá cách của Tản Đà - lưng chừng giữa thơ cũ và thơ mới.

Nhưng “Tình Già” quả thực là bài thơ đầu tiên có ý thức rõ ràng về Thơ mới.

Chính tác giả Phan Khôi đã xác nhận: “Cố tình phá niêm luật - dùng lời ăn tiếng nói đời thường và tuyên bố công khai đây là “Thơ Mới.”

Có một điều nhận thấy ở đây là cụ Tản Đà sinh năm 1889, cụ Phan Khôi sinh năm 1887 - cách nhau hai năm - coi như cùng thời. Cụ Tản Đà làm thơ “phá cách” do cảm hứng và khí chất, còn cụ Phan Khôi làm thơ mới bằng cách “đoạn tuyệt” có ý thức và lý luận.

Hai con đường khác nhau nhưng cùng đưa thơ cũ sang thơ mới.

Những bài thơ phá cách của Tản Đà xuất hiện từ đầu 1920 - trước thời kỳ Thơ mới khoảng mười đến mười lăm năm, còn bài thơ Tình Già của Phan Khôi ra đời năm 1932 - cách nhau khoảng hơn mười năm.

Không hiểu thơ phá cách của cụ Tản Đà có ảnh hưởng đến lối làm thơ mới của cụ Phan Khôi hay không?

Nhưng khi nói đến thơ mới, người ta nhắc ngay đến bài thơ “Tình Già” của cụ Phan Khôi, ít nhắc đến Tản Đà và về sau có nhiều nhà thơ làm những bài thơ mới rất hay như: Thế Lữ với bài Hổ Nhớ Rừng; Lưu Trọng Lư với bài Tiếng Thu; Vũ Đình Liên với bài Ông Đồ; có Xuân Diệu với những bài thơ tình như Yêu, Tình Thứ Nhất; có Hàn Mặc Tử với Lưu Luyến, Đây Thôn Vĩ Dạ …v…v…

Tiếp theo có Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Đình Hùng… và càng về sau, phong trào Thơ mới càng phát triển mạnh, nhất là sau khi đất nước chia đôi, ở miền Nam từ năm 1954 - 1975, rất nhiều thi sĩ trẻ đã để lại những bài thơ mới làm xao xuyến lòng người…

Thế mà, trải qua non thế kỷ, nói chính xác là 94 năm từ khi phong trào Thơ mới xuất hiện năm 1932, có biết bao bài thơ mới rất lạ, rất hay làm rung động con tim của nhiều thế hệ. Nhưng giữa “rừng thơ mới” với bao tinh hoa và thay đổi ấy, “Tình Già” của Phan Khôi vẫn còn nguyên chỗ đứng của mình, như một cột mốc mở đầu, được nhắc đến với tất cả sự trân trọng trong văn học sử nước nhà.

Tuổi già, rảnh rỗi, ngồi buồn… tôi lướt một vòng trên “mạng”, thử tìm có bài thơ nào trong thời hiện đại mô tả tình già rung động, xót xa và hay hơn bài “Tình Già” của cụ Phan Khôi. Cuối cùng, tôi bắt gặp một bài thơ ưng ý. Đó là bài thơ “Đôi Dép” của Nguyễn Trung Kiên - sáng tác năm 1995, in lần đầu trên tạp chí Thế Giới Mới, ngày 15-12-1997.

Bài thơ Đôi Dép của Nguyễn Trung Kiên hay không phải do câu chữ trau chuốt, cầu kỳ mà nó diễn tả đúng cái lặng lẽ, xót xa và nhân hậu của cuộc tình đi đến cuối đời - không mơ mộng, không thề thốt, chỉ có kỷ niệm, thời gian và sự cam chịu - rất người!

Bài thơ Tình Già của cụ Phan Khôi nổi tiếng cũng không phải câu chữ cầu kỳ mà hay ở cái giọng nói thản nhiên - thật lòng, thật đời, thật buồn của một người đã sống đủ lâu để không cần làm dáng với cảm xúc.

Một mối tình không thành nhưng không tan biến cho đến lúc “hai cái đầu đều bạc” được kể lể với giọng bình thản nhưng đụng đáy con tim — rất thấm!

Hai mươi bốn năm xưa,

một đêm vừa gió lại vừa mưa,

Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,

hai cái đầu xanh kề nhau than thở:

- “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,

mà lấy nhau hẳn đà không đặng:

Để đến nỗi tình trước phụ sau,

Chỉ bằng sớm liệu mà buông nhau!”

- “Hay nói mới bạc làm sao chớ!

Buông nhau làm sao cho nỡ?

Thương được chừng nào hay chừng ấy,

Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng,

mà tính chuyên thủy chung!”

Hai mươi bốn năm sau,

tình cờ đất khách gặp nhau:

Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung,

Đố có nhìn ra được?

Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,

Con mắt còn có đuôi.

Tác giả: Phan Khôi

Bài thơ Tình Già có thể tách ra từng đoạn để thưởng thức, nhưng bài thơ Đôi Dép, mỗi câu mang một ý, chúng liền lạc với nhau suốt cả bài thơ, tạo nên cái rung động miên man cho người đọc, nên tôi ghi lại toàn bài thơ Đôi Dép của Nguyễn Trung Kiên để không cắt nguồn cảm xúc.

“Bài thơ đầu anh viết tặng em.

Là bài thơ anh kể về đôi dép

Khi nỗi nhớ ở trong lòng da diết

Những vật tầm thường cũng viết thành thơ

Hai chiếc dép kia gặp gỡ tự bao giờ

Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nửa bước

Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược

Lên thảm nhung, xuống cát bụi, cùng nhau

Cùng bước, cùng mòn, không kẻ thấp người cao

Cùng chia sẻ sức người đời chà đạp

Dẫu vinh, nhục không đi cùng người khác

Số phận chiếc này phụ thuộc vào chiếc kia.

Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi

Mọi thay thế đều trở nên khập khiễng

Giống nhau lắm nhưng người đi sẽ biết

Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu

Cũng như mình trong những lúc vắng nhau

Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía

Dẫu bên cạnh đã có người thay thế

Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh

Đôi dép vô tri khắng khít bước song hành

Chẳng thề nguyện mà không hề giả dối

Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội

Lối đi nào cũng có mặt cả đôi.

Không thể thiếu nhau trên những bước đường đời

Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải - trái

Như tôi yêu em ở những điều ngược lại

Gắn bó đời nhau vì một lối đi chung.

Hai mảnh đời thầm lặng bước song song

Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc

Chỉ còn một là không còn gì hết

Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia.”


Hai bài thơ cách nhau gần thế kỷ, tuy khác nhau về thời đại, lại gặp nhau ở chỗ là làm cho lòng người xao xuyến… Bài thơ “Đôi Dép”nói lên cái tình yêu thủy chung, cái nghĩa tào khang gắn bó, còn “Tình Già” mang vẻ lãng mạn đã được tiết chế bằng sự điềm tĩnh của một người từng trải.

Tôi tìm hiểu cơ duyên nào đã khiến hai tác giả viết nên hai bài thơ tình già để đời này, thì được biết: Bài thơ Đôi Dép của Nguyễn Trung Kiên ra đời từ một chuyện vui nói về đôi dép trong sinh hoạt thơ văn thời sinh viên. Từ hình ảnh giản dị ấy, tác giả liên tưởng đến tình yêu thủy chung, sự đồng hành lặng lẽ của hai con người trên bước đường đời. Lúc đó, tác giả ở tuổi hai mươi hai.

Còn bài thơ Tình Già của cụ Phan Khôi không phải là tiếng nói bột phát, mà được cất lên sau một thời gian ấp ủ, như một sự cố tình diễn đạt đời sống rất thật, rất người… qua thơ mới.

Nhẩm tính, cụ Phan Khôi sinh năm 1887, cụ viết bài thơ Tình Già vào năm 1932 - như vậy, lúc đó cụ vào tuổi 45. Cụ ấp ủ cuộc tình lưu lạc, đến 24 năm sau mới viết thành thơ. Như vậy, chuyện tình éo le xảy ra lúc cụ Phanmới 21 tuổi.

Giai thoại chuyện tình được bà Phan Thị Mỹ Khanh, con gái cụ Phan Khôi kể lại qua di cảo “Phan Khôi Tự Truyện” : Năm 1908, cha tôi bị cầm tù ở Hội An ba năm, vì tham gia các phong trào kháng sưu thuế ở Trung Kỳ. Một ngày, được viên võ quan coi tù điều về nhà riêng để viết liễn và câu đối. Ở đây, ngoài viên võ quan còn có vợ là một thiếu phụ rất đẹp và còn trẻ lắm. Khi cha tôi viết, bà rót rượu mời cha tôi uống để có cảm hứng.

Cha tôi thấy dễ chịu, vung ngọn bút như phượng múa rồng bay. Người thiếu phụ cứ đưa mắt theo ngọn bút. Sau bữa ấy, người thiếu phụ cảm mến người viết chữ, nên nhờ một người tù mang gói nhỏ gồm trầu cau nói là của bà Ch. gởi ông.

Sau đó người tù này tiết lộ mối tình ngang trái: Lâu nay tôi phục dịch hằng ngày trong nhà ông võ quan coi tù và tôi được vợ ông Ch. tin cậy, nên bà đem tình riêng ngỏ với tôi nhiều lần rằng: Bà thấy thầy thì thương lắm, nên gởi vật nhỏ mọn làm tin - mong ngày khác thầy cho bà gặp để nói chuyện…

Đến đây, trong đầu tôi bỗng nảy ra sự so sánh giữa cái “tình già” thời xưa của cụ Phan Khôi và cái “tình già” ngày nay của thế hệ tám mươi trên đất Mỹ.

Thời cụ Phan, 45 tuổi, đã cho là già. Bây giờ ở Mỹ, 45 tuổi được coi là còn trẻ, cái tuổi đang hăng say xây dựng sự nghiệp. Phải qua tuổi tám mươi mới gọi là già.

Thời cụ Phan Khôi còn bị lễ giáo ràng buộc - yêu nhau lắm mà không dám nhìn “cho no con mắt…” đến nỗi khi gặp lại cố nhân mà than rằng: “Nếu chẳng quen lung, chớ nhìn ra được…” và dù tình cũ nghĩa xưa có gợi lại trong lòng, vẫn phải dừng lại trong giới hạn: “ Ôn chuyện cũ mà thôi - liếc mắt đưa nhau đi rồi - con mắt có đuôi..”.

Tôi không hiểu thấu câu “ liếc mắt đưa nhau đi rồi - con mắt có đuôi” - “con mắt có đuôi” là làm sao? Có phải đó là cách nói dân gian để chỉ ánh mắt liếc nhẹ mà còn vương lại, như có cái “đuôi” kéo theo sau - một cái liếc không dứt khoát, rất kín đáo để nhận ra nhau, nhớ nhau và tự nhủ: “vẫn còn thương!”

Nghĩ như vậy, không biết có đúng ý cụ Phan?

Nhưng thôi! Mỗi cảnh, mỗi thời có cái khác nhau. Chỉ biết “tình già” ngày nay của các cụ ở tuổi tám mươi trên đất Mỹ được tự do hơn, phóng khoáng hơn, nhưng trong lòng vẫn mang một nỗi niềm lưu lạc cô đơn và ray rứt - khó lòng bày tỏ cùng ai.

Trước năm 1975, biết bao cuộc tình thơ mộng - hẹn thề “nối tóc xe tơ”. Nhưng cuộc chiến tranh tàn khốc quá, đành phải nén lòng để kỷ niệm nên thơ đi vào ký ức.

Sau năm 1975, tiếng súng không còn, nhưng vỡ oà bi thảm: lưu lạc, ngăn cách, chia ly, đứt gánh … Chàng còn ở lại chiến truờng thì nàng đã lên đường di tản, hay chàng ở trong trại tập trung cải tạo, nàng ở nhà tần tảo thăm nuôi cho đến ngày chàng ra tù, hoặc chàng vượt biên, nàng ở lại quê nhà, ngóng trông ngày sum họp…

Rồi mấy mươi năm sau, gặp nhau trên đất khách - hai mái đầu đã bạc - ngỡ ngàng chẳng biết nói sao cho phải, vì chàng và nàng đã có cuộc sống riêng tư, nhưng những kỷ niệm nên thơ bấy lâu chìm trong ký ức, bây giờ trổi dậy, làm cho cả hai cảm thấy ngậm ngùi… đành cho nước mắt chảy ngược về tim.

Xem ra, chuyện “tình già” của cụ Phan Khôi không đủ lớn để khóc, cũng không nhỏ để quên. Nhưng những chuyện “tình già” của các cụ tám mươi nhà ta trên đất Mỹ đầy thương cảm và xúc động… có thể làm cho nhiều người rơi lệ…

Ấy vậy, mà mấy mươi năm qua chưa có bài thơ “tình già” nào xuất hiện làm rung động lòng người hơn bài thơ “Tình Già” của cụ Phan Khôi.

Viết thế có thể chủ quan hay thiếu sót. Nếu ai bắt gặp bài thơ “tình già” nào hay hơn “Tình Gìa” của cụ Phan Khôi thì nêu lên để chúng ta cùng suy ngẫm và so sánh.

LÊ ĐỨC LUẬN

(tháng 2-2026)