Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - GS MANG VIÊN LONG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - GS MANG VIÊN LONG. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

Dì Lucia



             Ông xã trưởng đang nói với đồng bào ấp L.N. về tình hình đất nước, vấn đề hòa bình và ngưng bắn, và lập đi lập lại lập trường của chính phủ. Tôi đứng trên bục gỗ (chỗ tụ họp nói chuyện, học tập, thảo luận là một ngôi trường sơ cấp hai lớp, một phòng bị ngã sập, mái tôn thủng nhiều lỗ đạn loại lớn) tay chắp sau lưng, ngó ra ngoài khung cửa sổ lớn. Đây là lần thứ tư hay thứ năm gì đó, tôi quay mặt ra ngoài, qua khung cửa sổ.

           Tôi nhìn ra vùng nắng chiều ngoài cánh đồng, có mấy con trâu đang đi dạo theo bờ ruộng hẹp. Tôi muốn nghĩ tới một chuyện khác hơn là cứ để sự bực dọc ray rứt. Tôi chăm chú nhìn vào luồng nắng, nắng vàng, êm ả và mong manh quá. Tôi chợt nghĩ là từ khi vào lính, mặc vào người bộ áo quần dầy cộm nầy, tôi chưa có được một dịp nào, để nhìn một chút nắng êm đềm như vậy, mà mơ tưởng tới một ước mơ nhỏ nhắn tầm thường cho đời sống mình. Tôi bận rộn, tôi ngơ ngác. Tôi bồn chồn. Bấy nhiêu tình cảm đó cũng đủ khiến tôi mệt đừ trong hai mươi bốn giờ của một ngày.

           Bóng nắng hình như mỗi lúc một vàng võ, yếu ớt hơn. Tôi đoán có lẽ trời đầy mây. Mùa đông - tháng mười, nắng vẫn đượm một màu vàng bạc buồn bã như vậy. Nếu là một người bệnh, nhìn màu nắng nầy, chắc hẳn sẽ thấy nôn mửa, hay chếnh choáng. Chiều hôm qua dì Lucia hình như cũng đã nói một cảm tưởng tương tự như thế với tôi khi tôi tới thăm dì. Lúc tôi đẩy cánh cửa sổ sát chỗ dì nằm, dì đã kêu chóng mặt vì ánh nắng chiều chếch xuống. 

          Tôi nhớ dì Lucia bị bệnh từ thứ hai tuần trước. Buổi chiều chúng tôi di chuyển từ chỗ công tác tới nhà thờ T.A. để nghỉ đêm, dì còn đứng ở cổng Cô nhi viện, nhìn bâng quơ ra cánh đồng, bầu trời lờ lững mây trước mặt. Tôi tìm một chỗ để cởi bỏ súng đạn, ba lô xong, tiến lại phía dì. Tôi không ngờ tôi đã gặp một người nữ tu trẻ, và đẹp như dì Lucia. Chắc là tôi khó có thể tả lại được một vẻ đẹp như vẻ đẹp của dì Lucia, nhưng tôi có thể nói chắc một điều, xưa nay tôi chưa hề được gặp một người nữ nào có một vẻ đẹp, vừa quyến rũ, vừa thánh thiện như thế. Có lẽ nét hồn hậu, điềm tĩnh của dì, khiến tôi về sau này, thấy nhớ dì hơn.

           Tôi dừng lại trước mặt dì Lucia - gợi chuyện :
           - Thưa dì, buổi chiều chắc dì rảnh? Dì Lucia nhìn tôi hơi ngạc nhiên.
          - Chúng tôi ít khi rảnh lắm, hơn nữa, chúng tôi không muốn được rảnh rổi làm gì.
           Tôi cười:
         -Có lẽ dì khác ở với anh em chúng tôi nhiều. Chúng tôi mong được nghỉ, cũng không được. Đi công tác thế này, buổi chiều, sau năm giờ, coi như được thư thả đôi chút.
          Dì cười:
          - Phải khác chứ!
          Dì Lucia nhìn tôi thật chậm sau câu nói. Tôi thấy đôi mắt dì có nhiều điều thích thú. Tôi hút một hơi thuốc dài, nhìn xuống chút khói mỏng ở đầu điếu thuốc : "Thưa dì, phải khác, nhưng có lẽ cũng có một điểm nào đó giống nhau chứ dì?"
         - Ông ví dụ như điểm nào?
        - Chẳng hạn như chiều nay, dì cũng có một tình cảm buồn như tôi... dầu cho là mỗi người có một cái buồn khác.
        - Không được. Tại sao ông biết tôi buồn ?
        - Tôi biết nhưng không thể nói được. Dì có đồng ý là có nhiều điều chúng ta biết, mà không thể diễn đạt, nói ra không?
Đôi mắt dì mở lớn:
        - Tại sao vậy?
Tôi im lặng. Tiếng một đứa trẻ gọi dì Lucia ở dãy hành lang đầu. Dì vén tay áo, xem giờ, rồi hỏi : "Ông đóng ở đâu?".
        - Thưa dì, tối nay chắc phải ngủ nhờ tại nhà thờ. Ngủ quanh hiên. Mấy đêm rồi ngủ canh đồn Đại Hàn bên kia, đêm đêm chúng bắn đại bác gọi la ơi ới, ngủ không được.
         Dì cười:
         - Lúc nào rảnh, mời ông tới chơi, giờ tôi phải đi chích thuốc, rồi lo tắm rửa, coi sóc chỗ ngủ cho lũ nhỏ.

         Dì Lucia quay vào cổng viện. Bước đi vội vàng. Bước đi thoăn thoắt. Những bước chân dì dầu có vội vã, nó vẫn là những bước êm ái nhẹ nhàng như những bước chân chim. Chim sẻ. Thực sự là tôi ngơ ngẩn vì những bước chân dịu dàng đó. Tôi nhớ: "Lúc nào rảnh, mời ông tới chơi". Lời dì Lucia thốt lên tự nhiên ngọt ngào quá. Bây giờ tôi đã được rỗi rảnh đây, tôi muốn được đi theo dì vào viện, tôi muốn được nhìn lại nụ cười ánh mắt ấm cúng hồn hậu của dì lúc này. Tôi búng mẩu thuốc xuống đất, quay nhìn vào phía trong viện, những bóng áo chùng đen, những bóng áo dài trắng, thấp thoáng trong các dãy hành lang sâu lòa nhòa bóng tối. Tự nhiên tôi đi ngược trở lại ngôi nhà thờ. Buổi chiều âm u. Có lẽ đêm nay sẽ có một cơn mưa lớn...
  
            Qua hệ thống liên lạc của trung đội nghĩa quân trú đóng gần căn nhà được mượn tạm dùng làm trụ sở xã, tôi nói chuyện với ông Loan Bích. Tôi trình bày cùng ông tình hình an ninh của xã, về mấy ông nhân dân tự vệ, về phương tiện và sức khỏe của toán công tác và xin được tạm nghỉ đêm ở một tọa độ khác. Ông ta vui vẻ chấp thuận lời đề nghị của tôi, kêu tôi cho một tọa độ chính xác, để có thể yểm trợ nếu có việc gì xảy ra. Tôi giở bản đồ, đọc tọa độ mới, tọa độ của ngôi nhà thờ chúng tôi đã nghỉ tối hôm trước. Ông Loan Bích hỏi: "Báo cáo trong ngày anh có gặp trở ngại nào không?". Tôi đáp : "Thưa Thiếu tá, không có gì", và đặt ống liên hợp xuống.

             Suốt ngày nay, chúng tôi đã theo trung đội nghĩa quân, nhân dân tự vệ, cảnh sát xã, đến ấp X.M - một ấp được ghi nhận tình trạng an ninh yếu kém nhất của xã. Theo sự lưu ý của ông cuộc trưởng, tôi nhìn thấy bất cứ ngôi nhà nào của ấp này cũng có một chiếc bàn thờ, nhang đèn nghi ngút. Dân cư thưa thớt, từng ngôi nhà rải rác, vườn tược hoang vắng, tôi chỉ gặp được toàn đàn bà, con nít và ông già. Tất cả họ đều có vẻ sợ hãi, nghèo khó, và tội nghiệp. Sống ở đây, tôi biết họ phải gánh lấy nhiều điều đau lòng, nhưng tôi biết làm sao hơn, khi tôi chỉ ở lại với họ một ngày, chỉ có nhiệm vụ giải thích, loan báo cho họ về một ngày ngưng  bắn hay hòa bình sắp tới. Tôi không được làm gì khác, và tôi cũng không có đủ quyền để làm khác. Tôi cũng đã cầu nguyện hòa bình, yên ổn như họ. Tôi chỉ biết cùng họ ước mong rằng thù hận, và máu lửa, thôi không còn kéo dài, tiếp diễn trên quê hương này nữa mà thôi. Hình ảnh kham khổ của họ đã cho tôi nhìn thấy rõ chiến tranh, thù hận, là một điều đáng ghê tởm, và đáng nguyền rủa nhất. Có bao giờ, những người chủ chiến nhìn thấy được những nét mặt, những đời sống cùng khổ này không?

                Tôi được Souer Thérèse cho hay, dì Lucia đang nằm trong phòng, cuối dãy nhà, vì bệnh nặng. Tôi xin phép Soeur được tới thăm di Lucia. Soeur do dự một lúc, nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên, rồi cười khỏa lấp: "Ông vào xin Bề Trên. Có lẽ Bề Trên sẽ cho phép". Tôi ngập ngừng, chưa nói được gì thì Soeur đã bước đi. Tiếng lũ trẻ ồn ào cười nói phía sau khu nhà giữa. Tôi bước dần ra phía sau, nghĩ tôi có thể lén Bề Trên tới thăm dì Lucia một chút cũng không hề gì. Tôi chắc tôi sẽ không làm một điều gì có tội khi thăm một người bệnh.

               Dì Lucia kêu lên:
               - Ông, làm sao ông biết tôi nằm ở đây?
               Tôi cười:
              - Hỏi thăm, thưa dì.
              Dì ngồi dậy, hai chân xếp trên nệm, dáng bình thản;
              - Ông hỏi thăm ai ?
              - Thưa , dì Thérèse.

             Tôi thoáng thấy trên nét mặt dì Lucia hiện lên một chút lo lắng, hay một chút gì bàng hoàng. Dì cúi đầu nhìn xuống tấm drap trắng phủ nệm, im lặng, khó xử. Tôi đẩy cánh cửa sổ cạnh giường của dì, ánh nắng chiều chiếu chếch vào chỗ dì ngồi. Dì Lucia ngẩng lên, nói nắng chiều buồn quá. Nó làm người bệnh chóng mặt. Lúc tôi định kéo khép cánh cửa lại, thì dì cười, nói thôi, để vậy cho sáng sủa. Tôi khuyên dì nên để cửa cho quen, đau bệnh mà thiếu ánh sáng, có lẽ dì sẽ khó khỏi. Dì cho tôi hay dì bị sốt đột ngột, từ nửa đêm hôm qua. Cơn sốt nóng kéo dài tới ba, bốn giờ sáng, rồi dì bị rét. Bây giờ, đã khỏe rồi, nhưng Bề Trên chưa cho phép rời khỏi phòng. Tôi cũng kể cho dì Lucia nghe mấy ngày công tác vừa qua của tôi, những chiếc bàn thờ hương khói nghi ngút, những chiếc hầm bí mật, những nét mặt nhăn nhó của đám người tôi được gặp, và sau cùng là ước mơ của tôi về một ngày hòa bình được trở về dạy học, được vun xới một mảnh vườn, được viết những điều muốn viết.

             Dì Lucia tươi cười:
            - Ông ước mơ nhiều quá.
            Tôi hút một hơi thuốc, cười theo dì:
            - Đâu có gì là nhiều, thưa dì. Sống như tôi mà không có hy vọng, ước mơ, thì khổ chết. Đời lính ngắn ngủi và buồn lắm - không biết "ra đi" lúc nào!
           Dì hỏi:
           - Vậy ông có tin được như vậy không?
           Tôi đáp:
          - Dĩ nhiên là phải tin. Tôi cầu nguyện luôn...
          - Tôi cũng cầu nguyện cho ông!
          - Được vậy thì diễm phúc cho tôi quá - Xin dì hãy cầu nguyện cho tôi.

          Dì nhìn tôi xúc động. Đôi mắt dì chợt sáng lạ thường. Trong tia sáng của đôi mắt dì Lucia, tôi mơ hồ đã gặp, đã thấy được ở đâu đó. Tôi nhìn dì, im lặng. Chúng tôi ngồi im lặng. Tôi nghe rõ tiếng chim sẻ kêu dọc theo mái hiên ngói, phía ngoài hành lang. Buổi chiều đã xuống thật thấp bên ngoài...
  
           Tiếng vỗ tay nổi lên. Tôi quay phắt lại, thấy mọi người nhìn tôi - Ông xã trưởng nhường lời cho tôi. Tôi tiếp tục kêu gọi bà con nêu ý kiến, thắc mắc. Tôi lập lại lời hứa là sẽ lấy sự thành thực, lấy sự suy nghĩ chân xác để trả lời. Tôi không thích chiến tranh. Tôi không là cán bộ tuyên truyền. Nhưng là một người trẻ biết trách nhiệm với quê hương, còn tin tưởng và hy vọng để xây dựng. Chính chúng ta phải xây dựng xứ sở của chúng ta chớ không ai khác, sau ngày ngưng bắn và hòa bình.

           Chúng tôi đi từ giã mấy gia đình cạnh đó, rồi trở về xã. Đây là ngày công tác cuối cùng của chúng tôi, ngày mai sẽ trở lại chi khu, nhận lãnh công tác ở xã khác. Tôi nôn nao chờ xe để trở lại ngôi nhà thờ. Trong đầu tôi, hình ảnh dì Lucia đứng ở cổng Cô nhi viện, bóng áo trắng lẻ loi, đôi mắt xa vời buồn bã, như lúc nào cũng khiến tôi nao nức, hoang mang. Trong giấc ngủ muộn màng đêm khuya, tôi vẫn thường mơ thấy dì Lucia đứng đó, trước cánh cửa sắt, bờ tường rêu đen chạy dài theo con lộ vắng vẻ. Từ ngày gặp dì Lucia, tôi thường tự hỏi, tôi có còn dịp nào gặp lại được dì sau này chăng? Dì đã nói: "Xa đây, chắc ông không còn dịp nào gặp tôi nữa đâu. Tôi cũng sắp đi nơi khác rồi".

            Tôi đến nhà thờ thì anh em đã treo võng nằm hút thuốc, nói chuyện, rải rác dọc bờ rào. Tôi vội vã cởi bỏ súng đạn, nói với mấy người bạn là đi thăm dì Lucia lần chót. Họ cười : "Còn ngày nào ở đây, ông còn nói đi thăm dì Lucia ngày đó mà", một người bạn nói.
             Tôi cười:
             - Ở đây hay ở đâu, chắc tôi phải đi thăm dì Lucia mỗi ngày.
             Tôi rời họ ngay để tránh những câu nói đùa cợt, khó lòng ngăn cản. Thực sự là họ đoán đúng: Tôi đã yêu dì Lucia. Điều đó hẳn dì Lucia cũng nghiệm thấy. Phần tôi, tôi chưa thể đoán biết rằng dì có nghĩ gì về tôi, có giống như tôi đã yêu và nhớ dì ngay trong những giấc ngủ. Tôi chỉ thấy dì thực vui khi gần tôi, nói chuyện, và dì trầm lặng khi nghe tôi từ giã. Tôi đọc được ở đôi mắt dì nhiều hơn là lời nói. Đôi mắt ấy thực tinh khiết và nồng nàn.
             Dì Lucia hỏi:
             - Như vậy là sáng sớm ngày mai ông đi rồi phải không?
            Tôi lập lại:
             - Thưa dì, sáng sớm ngày mai.
            Dì cười :
             - Mấy ông khổ nhỉ?
            Tôi ngước nhìn dì:
             - Khổ nhiều chuyện lắm dì ạ.
             - Tôi biết.
             - Dì có buồn không?
             Dì Lucia ngập ngừng:
            - Tôi cũng là một con người...

             Chúng tôi đi dọc theo bờ tường, phía trong, dưới những hàng bạc hà cao. Cánh đồng phía trước im vắng. Khu nhà nguyện chưa có bóng người. Dì Lucia lặng lẽ hơn sau câu nói, như một lời tự thú, một câu giải bày giản dị nhưng quá khó với dì lúc này. Tôi nghe tôi bàng hoàng. Nếu dì Lucia không cầm xâu chuỗi trên tay, không mặc bộ áo chùng trắng, không còn vướng bận tới những lời khấn trước đức Chúa để hiến dâng trọn đời dì, thì tôi đã nói thực với dì rằng tôi đã yêu dì như một mệnh số. Tôi không thể quên dì. Và ước mơ của tôi, sau cùng, là được gần dì mãi như chiều nay. Nhưng dì Lucia đã quay lại hỏi : "Giáng sinh này ông ở đâu?"
           - Thưa dì chưa rõ được.
           Dì Lucia cười:
           - Tôi hỏi để coi ông có thể tới vui với mấy em ở đây được không?
          Tôi quả quyết:
          - Tôi sẽ tới, thưa dì. Chắc là ở đâu tôi cũng sẽ về đây ngày Giáng Sinh... Dì hãy cầu nguyện cho tôi còn sống để trở lại. 

(1) Tạp chí Bách Khoa-số 384 tháng 11.1973)



Thầy Mang Viên Long

Mấy Ngày Trước Giáng Sinh



Truyện Ngắn - MẤY NGÀY TRƯỚC GIÁNG SINH
Thầy Mang Viên Long

Tại X. tôi được Linh Mục Hiệu trưởng cho giữ chức giám thị của trường trung học S. Trường S. là một ngôi trường tư thục lớn vào bực nhất nhì của X. Trường gồm hai dãy lầu, dãy bên phải dành cho học sinh đệ nhất cấp, cũng là khu cho nam sinh. Dãy trái, tầng trên là các lớp đệ nhị cấp chung cho cả nam nữ, và các lớp đệ nhất cấp nữ sinh. Dưới lầu, ở phòng tiền đường trống, kế bên phải là phòng của Giám học, phòng Hiệu trưởng, cũng dãy này, phòng dành cho giáo sư được xây thêm bên cạnh. Phía sau, giữa hai dãy lầu, là Văn phòng. Một dãy hàng rào gỗ ngăn chia khu vực học sinh và nhân viên làm việc. Tổng giám thị, giám thị, thu ngân, sổ sách, được chia ra từng ngăn riêng. Học sinh có thể liên lạc với từng phần hành bên này hàng rào gỗ, và cũng có thể từ cửa phía sau nếu cổng trường phía sau đã đóng. Trường có hai lối ra vào riêng. Cửa trước dành cho nữ sinh và giáo sư, cửa sau dành cho nam sinh. Trong giờ học, các cánh cửa đều được đóng. Có người gác coi sóc mở đóng khi đổi giờ học. Chỗ tôi làm việc cạnh bàn của Tổng giám thị. Thường thì tôi thay thế Tổng giám thị, giải quyết hết mọi việc. Theo Linh Mục Hiệu trưởng, tôi phải quán xuyến như vậy, để niên khóa tới, tôi sẽ thay thế vị Tổng giám thị của trường, bởi vị này bận dạy.

Công việc thường ngày của tôi rất bận. Trường ít giám thị mà học sinh trên bốn ngàn, tôi phải cực nhọc với những giải quyết nhiều lúc không là của giám thị nữa. Từ việc liên lạc với gia đình học sinh, tiếp xúc thân nhân, kiểm soát việc ghi điểm, kiểm diện, sổ phát, nhắc nhở trật tự, đến việc điều động công tác mỗi liên lớp, cấp giấy vào lớp cho học sinh vắng mặt hoặc đi trễ, giữ gìn sổ sách hồ sơ học sinh; tôi cảm thấy công việc đã xoay tôi như một con vụ. Nhưng tôi rất ham thích với công việc của trường học. Những sinh hoạt của nhà trường, tôi đều tham dự, và đôi lúc, đề nghị với Linh mục Hiệu trưởng những dự định mới mẻ khác, cốt gây được một không khí tươi trẻ, vui nhộn song song với việc học. Tôi tự đứng ra trông coi một tờ đặc san. Tôi tổ chức một ban văn nghệ. Những ngày lễ, tôi đã dành thì giờ để nói chuyện một đề tài nào đó về văn chương, hay giáo dục, cho học sinh của trường.

Tôi nhớ nhất là những ngày lễ Giáng Sinh năm đó. Một tuần trước ngày tới hôm lễ chính, tôi cho phát hành ở các lớp một đặc san. Nhân ngày lễ, ngoài các phòng triễn lãm tranh, đồ nữ công, bích báo của các lớp, tôi chuẩn bị một đêm văn nghệ thực toàn hảo. Đêm đó, tôi ở lại trại sinh hoạt liên hoan với các lớp mà không trở về nhà. Tôi bỏ lễ nửa đêm để nói chuyện với Lam.

Lam nói chuyện với tôi không được tự nhiên. Có lúc như sợ hãi, có lúc như ngượng ngập, cũng có đôi lúc Lam tỏ ra nồng nhiệt, mạnh dạn, cứng rắn đến nỗi tôi không hiểu được nàng. Mở đầu, Lam có vẻ trách móc, hoặc dỗi hờn, giận tức điều gì. Tôi không để ý, bởi vì, thực tình tôi không nghĩ gì về Lam ngoài việc cảm mến năng khiếu văn nghệ, đầu tóc demi garçon, vóc dáng nhỏ nhắn của nàng. Trong câu chuyện, dần về sau, Lam trách thẳng tôi. Nàng dùng mấy chữ “ độc ác,  lạnh lùng, vô tâm” để trỏ tình cảm của tôi với nàng. Tôt sửng sốt. Đến đây thì tôi đã hiểu được đôi phần thái độ của Lam lúc gặp tôi.

Tôi nhớ lại một lần Lam đi học trễ, vào xin giấy vô lớp, tôi đã quở trách nàng. Giống như những học sinh đi trễ khác. Lần thứ hai trong tháng, tôi không cho giấy phép vô lớp như lần trước vì Lam bị trễ quá mười phút. Nàng khóc. Tôi vì bận công việc không để ý tới. Thái độ Lam lúc đó ra sao, tôi cũng không biết. Hình như nàng đã nhìn tôi với cái nhìn vừa trách cứ, vừa dỗi hờn bâng khuâng. Thời gian sau, lúc tôi tổ chức một ban văn nghệ của trường, Lam làm trưởng ban văn nghệ đến gặp tôi ở phòng giám thị. Nàng có mặt trước mười lăm phút theo như giờ họp ấn định. Tôi có nói đôi câu với Lam, nhưng chỉ để vui đùa, hoặc bởi sự cởi mở thường ngày. Tôi nhớ tôi đã khen giọng hát Lam. Khen đầu tóc demi garçon. Khen nàng dễ thương.

Một tuần lễ sau đó, lúc vào bàn làm việc, tôi nhìn thấy tập vở để sẵn tại đó. Tôi liếc nhìn tên lớp, rồi gọi một học sinh mang lên trả… Tôi nghĩ có lẽ tập vở của một học sinh bỏ quên, có người nhặt được thảy vào bàn giám thị, để giám thị có việc làm. Khoảng hai ba ngày sau, tôi lại nhận thấy một tập vở khác nằm ở bàn. Lần này, vì trong giờ học, tôi thảy bỏ phía sau hộc bàn, chờ giờ chơi mới gọi trả lại. Tôi coi rõ tên, lớp, và tập vở học: Lê thị Kiều Lam, lớp đệ tam, vở vạn vật. Đến giờ chơi, tôi gọi học sinh cùng lớp, gởi trả cho học sinh có tên ghi ở nhãn, kèm theo lời quở trách nhờ nói lại, Lạ thay đúng vào sáng thứ hai, tôi nhận thấy quyển vở (tập vở cũ, môn vạn vật) lại nằm sẵn ở giữa bàn. Lần này tôi giữ tập vở, chờ giờ học, viết giấy gọi học sinh đến lớp kêu tên Lê thị Kiều Lam đến Văn phòng giám thị. Lam đến. Ngượng ngập. Tôi đã nặng lời với Lam hôm đó. Nàng khóc. Giống như hôm đi trễ không xin được giấy vô lớp. Nhìn thấy Lam khóc, quả thực là tôi hơi hối hận. Nhưng với một trách nhiệm đã lãnh, tôi không dễ chịu như những lúc sinh hoạt văn nghệ. Giám thị, đó là hình ảnh của một ông thầy tay cầm cái roi mây lớn, tay đặt sau đít, đôi mắt lườm lườm theo dõi học sinh. Còn tôi tuy chẳng đến thế, tôi không có cái roi mây, không có đôi mắt lườm lườm hung tợn kia, nhưng tôi phải có sự cứng rắn, nghiêm minh. Đời sống trong các chủng viện đã tập cho tôi một sự nghiêm khắc làm cho nhiều người khó chịu. Ðời sống kỷ luật khép kín và gò bó cũng tạo nơi tôi sự hẹp hòi, đến như ích kỷ. Tuy vậy, tôi luôn xét tôi, và rất may, bản tính tôi rất cởi mở, phóng dật nên có thể tránh bớt va chạm với học sinh hay người bên cạnh. Buổi sáng trách mắng Lam đã đột nhiên biến tôi sống trở lại với cái ảnh hưởng cũ. Lầm lì. Cộc cằn. Nóng nảy bất chợt.

Đêm hôm đó, Lam cho tôi biết nàng muốn gởi cho tôi một lá thư trong tập vở đặt ở bàn làm việc của tôi. (Những giám thị  thuê ở ngoài phụ giúp tôi, đồng thời họ có một dãy bàn kê bên phòng chứa sổ sách). Tôi ngạc nhiên, có chút hối tiếc. Nếu tôi được đọc những lá thư đó? Tôi muốn thử coi nàng còn nói thêm điều gì nữa nên tỏ lộ sự ân hận. Tôi ân cần xin lỗi nàng. Lam đã xúc động khi nghe tôi nói thế. Nàng hết vẻ ngượng ngập hay lạnh lùng, bây giờ tôi nghe thấy giọng nàng như một tiếng chim buổi sáng. Nàng nói biết tôi là thế nào, nhưng không hiểu sao lại yêu thương tôi. Hình ảnh tôi đã ám ảnh nàng rất nhiều, đến nỗi không học được. Nàng kể cho tôi nghe,  những giờ ra chơi, từ trên hành lang lầu một, nhìn xế xuống chỗ tôi ngồi mà tôi không biết. Mỗi buổi sáng, khi tôi nói chuyện ở máy phóng thanh, nàng đều theo dõi rất tường tận. Ngay cả việc ăn mặc thường ngày của tôi nữa. Hôm nào tôi mặc chiếc áo dài đen đã cũ, cổ sờn rách, hôm nào mặc áo mới, vân vân. Nói tóm đêm đó, nghe Lam nói tới điều gì, tôi cũng ngạc nhiên, và cảm thấy lạ lùng.Những tháng về sau, tôi thường viết giấy gọi nàng xuống phòng giám thị. Dĩ nhiên là để hỏi, và nói những chuyện lặt vặt, cho vui. Tôi cũng cảm thấy, từ đó, tôi khó xóa bỏ hình ảnh Lam trong đầu. Tôi viết được mấy bản nhạc, nhờ những cảm nghĩ xúc động về nàng. Làm được bản nhạc, tôi sao chép cẩn thận, gọi nàng xuống tặng nàng với tất cả hân hoan. Lam cũng rất thường viết thư gởi tôi, bằng cuốn vở vạn vật để ở bàn, hay trong hộc tủ.

Sang niên khóa mới, tôi được Linh mục Hiệu trưởng cử làm tổng giám thị. Giúp việc bên cạnh tôi có một tu sĩ probation libre. Anh ta trang tuổi tôi, đi giúp ở một trường trung học ở Y. vừa đổi tới. Khác tôi, anh ăn mặc tự do, đời sống cũng phóng khoáng tự do hơn. Ngày đầu gặp anh,  tôi đã hiểu được đôi nét cá tính của anh ta qua cách ăn mặc chải chuốt, những ngôn từ trong lúc nói chuyện. Anh ta còn cho tôi biết Ngọc, anh chàng giả làm Huyền Trân lúc nọ, đã xin ra khỏi chủng viện, sống với một người con gái vừa tốt nghiệp trường Nữ hộ sinh quốc gia, ngay tại Huế. Tôi chợt hiểu tại sao những thư gởi thăm tôi, cha Châu đều không nhắc tới Ngọc. Lúc này, tôi mới hiểu tại sao Ngọc có thể nói giả giọng gái Huế một cách tài tình như thế. Tôi cũng hiểu được, trong những giờ bắt buộc như giờ kinh, giờ nguyện gẫm, giờ giảng, nhất là giờ nguyện gẫm, huấn đức, tại sao Ngọc lại vắng mặt. Có lẽ anh ta phải “nguyện gẫm” một mình?

Có thể nói năm thứ hai ở trường S. là năm tôi khổ tâm nhiều hơn hết, mặc dầu bên cạnh tôi có Đức (tên người bạn ở thời kỳ probation libre) phụ giúp, và trường tăng cường thêm hai giám thị nữa. Năm này, tôi về sống chung với Đức trong một căn phòng thuê được ở một đường hẻm. Quả thực như tôi đoán, Đức rất phóng khoáng và có tâm hồn. Chúng tôi dần dà kể hết những tâm sự, vui buồn, sâu kín nhất cho nhau nghe. Đức bị cha sở ở Y. đề nghị thuyên chuyển tới Y- để cảnh cáo lần đầu, theo lời cầu của anh, về một chuyện tình với một người bạn gái cùng nơi trọ. Nguyên cô gái là người có đạo, trước cũng học ở T. (trường trung học công giáo ở Y.) nhưng thi hỏng tú tài một, ở nhà tự học để thi. Cô ta biết Đức, rất rõ. Nàng lân la làm quen, rồi mời đến nhà giới thiệu với cha mẹ, sau đó Đức phải nhận nàng làm “con nuôi tinh thần” theo lời nài nỉ của nàng. Từ đó những liên hệ trở nên mật thiết hơn, gần gũi hơn. Chuyện đến tai Linh mục Hiệu Trưởng T., năm sau Ðức phải đổi đi.

Tôi cũng đã kể đầu đuôi câu chuyện với Lam cho Đức nghe. Anh ta an ủi, và khích lệ tôi. Chính Đức đã khuyên tôi cùng đi với anh lên phố tìm mua một chiếc bím tóc mầu, gởi tặng Lam để đền lại những quà tặng của nàng. Thực là buồn cười, sau khi nghe Lam giải thích tại sao không dùng cái bím tóc tôi tặng, mà dùng cái cũ: tóc nàng ngắn, theo kiểu demi garçon mà tôi lựa mua cái dành cho tóc dài.

Ðồng thời với sự liên lạc thường xuyên như vậy, tôi cảm thấy một nỗi khó khăn, một tình cảm gần như phạm lỗi. Không ngờ sự ray rứt, băn khoăn của tôi Lam đã nhận biết. Nàng viết gửi tôi liên tiếp ba lá thư trong ba ngày, trách tôi đổi thay, hay hờ hững. Quả thực, trong đôi lần gặp nàng, tôi muốn lẩn tránh. Tôi gặp nàng, đôi khi như một cố gắng. Không còn cái nao nức đón đợi. Hết cái nồng nàn âu yếm.

Cũng có nhiều lúc, tôi muốn như Ngọc. Tôi thử để tình cảm tôi, nỗi xúc động tôi chảy đến đâu thì đến. Ra sao thì ra. Đó là những hôm tôi hẹn cùng Lam đi chơi ở quê, hay đến nơi tôi  trọ. Trong những hôm như vậy, tôi cảm thấy rộn rã, một niềm vui nào thực tươi mát và phấn khởi xâm chiếm lấy tôi. Chúng tôi xa lánh thành phố, hẹn nhau ở quán nước một ngã rẽ đi N. Nàng đi xe Yamaha dame. Tôi dùng chiếc Honda của nhà trường cấp. Thế là chúng tôi cứ đi mải miết vào xóm, dừng lại những nơi muốn dừng và nói hết nỗi lòng, những mơ ước của nhau, về một tương lai sum họp.

Tôi nhớ lần đầu tiên hôn Lam sau một ngôi chùa, sau khi chúng tôi thử vào xin một cái xăm. Xăm xin được, theo lời Thầy trụ trì, không được tốt. Lam thi hỏng. Rồi chúng tôi không thể gần nhau. Nghe nói, Lam chạy ùa ra phía sau khóc. Tôi hôn nàng. Lòng tôi bây giờ thực yếu mềm. Tâm trí tôi hoang mang cùng độ. Tôi an ủi nàng bằng lòng tha thiết của mình. Nàng hỏi tôi, nếu lỡ nàng thi hỏng, tôi còn thương nàng hay không. Tôi nói nàng đừng nên hỏi những câu vớ vẩn, đừng lo những mối lo không đâu. Tôi không yêu thương nàng bằng chuyện đó, nhưng tôi hứa sẽ gởi Lam cho những người bạn giám khảo ở X. Thời gian sau này, nhớ tới lá xăm, chúng tôi chỉ nhớ tới những nụ hôn; bởi vì chúng tôi sống rất gắn bó và nồng nàn. Ở trường về, tôi thay bộ áo quần của Đức tìm cách gặp nàng. Nếu là ngày chúa nhật, ngày lễ, chúng tôi đều có bạn.

Có một buổi sáng chúa nhật Lam đến trễ giờ hẹn mười lăm phút. Tôi đã trách cứ nàng. Thực ra, vì quá nóng lòng và bộc chạt, tôi nghi ngại nàng không thành thực. Lam giận. Nàng bỏ tôi. Sau đó, cả hai cùng vòng xe đi kiếm nhau, nhưng không gặp nhau được. Suốt một tuần lễ tôi không gọi nàng xuống văn phòng như bấy khi vẫn làm. Tôi cố gắng giữ cơn giận lâu hơn, để coi Lam sẽ thế nào. Đáp lại, nàng cũng im lặng, ơ hờ. Tôi nhận thấy, trong dáng vẻ lạnh lùng đó, có một cái gì khổ sở, thất vọng. Trong giờ học chiều thứ hai, tôi gọi tên Lê Thị Kiều Lam xuống văn phòng.
Tôi điềm nhiên hỏi :
- Sao? Dạo này cô có mạnh khỏe không?
Lam hơi mím môi :
- Vẫn mạnh luôn.
Tôi cười:
- Còn giận hết ?
Nàng nhìn tôi, ánh mắt thực sáng:- Hết rồi.
Tôi viết lên mảnh giấy: “Nếu hết giận tuần này anh đợi em ở chỗ cũ, tám giờ sáng, nhé?”, đưa cho Lam. Nàng cúi đọc, ngửng lên mỉm cười, gật đầu. Sự nhỏ nhắn của nàng trong chiếc jupe màu xanh nhạt khiến tôi thấy nàng thực tội nghiệp.

Giáng sinh năm đó tôi và Lam ăn lễ trước một ngày bởi vì trong suốt ngày và đêm lễ chính tôi rất bận. Buổi sáng chúng tôi đi chơi ở quê đến xế chiều mới trở về thị xã. Dịp này tôi có mang theo chiếc máy ảnh của Đức. Tôi chụp cho Lam. Chúng tôi cũng có chụp chung mấy pose, nhờ một người lính chịu chơi và đa tình làm phó nhòm hộ. Buổi tối, chúng tôi ăn tiệc ở nhà. Đêm đó Đức đã chuẩn bị sẵn để rời phòng trước khi Lam đến nửa giờ. Tôi coi đồng hồ đúng giờ hẹn, thắp sáng hết những ngọn đèn sáp trên bàn, ở lồng đèn, trong hang Bê-lem. Trời đổ mưa nhẹ, nhưng gió lộng. Một chút hơi lạnh đủ để  mặc tấm áo len ngắn tay. Để đốt một điếu thuốc chờ đợi.

Lam đến. Thực rực rỡ và xinh xắn. Nàng mặc jupe màu xanh, bím tóc đỏ, đi giày da. Gương mặt nàng hiện ra ở khung cửa sổ như một Giáng Kiều. Tôi đón Lam, trước hết, bằng cái hôn thực ấm.
Tôi hỏi:
- Ngoài phố có vui không?
Nàng ngồi cạnh tôi:
- Em đi một mạch đến đây, không để ý gì hết.
Tôi choàng tay qua vai Lam, nhìn vào gương mặt hơi ngơ ngác của nàng:
- Em lạnh lắm không?
Nàng ngước mắt nhìn tôi, nở nụ cười:
- Lúc nãy thì có, bây giờ hết rồi.
Tôi cúi hôn lên tóc nàng. Mùi nước hoa phảng phất, dìu dịu. Lúc này, nàng mới hết vẻ sợ sệt, lo lắng của lúc mới đến. Trong ánh sáng lung linh của những ngọn nến, gương mặt Lam tươi tắn, đỏ hồng. Đôi mắt rực sáng.

Lam giở xắc lấy ra một gói giấy, nàng hỏi đố anh những gì trong này. Tôi cười, anh chịu. Mắt anh đâu phải mắt thánh mà nhìn suốt lớp giấy dày đó. Tức thì nàng mở ra cho tôi xem. Đó là một tấm đá cẩm thạch, khắc hai chữ: François Xavier-Marie. Tôi bồi hồi. Lam sung sướng khi nhìn thấy tôi câm lặng vì ngạc nhiên và xúc động.
Tôi hỏi : - Em thuê làm bao giờ?
Nàng cười:
- Đố anh?
- Anh chịu thua. Cái gì em cũng ưa đố anh. Em làm như anh là học trò.
- Chứ anh là gì của em?
- Là gì cũng được.
- Em muốn chúng ta là những người học trò trong tình yêu.
- Anh cũng muốn vậy.
- Thì trả lời mau lên.
- Em thuê làm hôm chúa nhật?
- Sai rồi. Chúa nhật ai đi chơi với anh?
- Chứ bao giờ ?
- Trong tuần lễ em giận anh đó. Anh coi, nàng lật tấm đá ra phía sau, có ghi ngày tháng đây này.

Tôi  cảm thấy chưa có một mùa Giáng sinh nào tôi được hạnh phúc như vậy. Năm ngoái, tôi nhìn Lam với cái nhìn ngó dửng dưng, với sự tạnh không của tâm hồn. Đêm Giáng sinh, khi nghe chuông lễ nửa đêm đổ, tôi nói chuyện với Lam gần như là đùa cợt, bâng quơ. Hơn một năm trôi qua, phút này hình ảnh Lam đã trở nên hình ảnh của hạnh phúc, của nguồn vui và hy vọng của đời sống tôi. Nàng còn dự phần chính trong quyết định mà những tháng sắp đến đây tôi sẽ trình bày với Cha Châu. Tôi chọn lựa con đường đi vào đời cam khổ, phấn đấu sắp đến, cũng vì Lam. Lam đã khiến tôi khổ sở trong nhiều tháng nay, để chọn lấy một thái độ. Một cách sống.

Sau cùng, tôi cảm thấy phấn khởi và tin tưởng, để gần Lam. Hình ảnh những mùa Giáng sinh cũ trong ký ức chạy thoáng qua, tôi rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong đó. Những ngày Giáng sinh hồi còn ở Làng Sông, cái không khí tĩnh lặng, cái buồn bã khép kín không xóa hết được cho dầu những sinh hoạt những ngày kế cận có được tổ chức. Chúng tôi đi chơi ở miền núi. Những năm sau, chúng tôi được đi chơi tập thể ở bờ biển Qui Nhơn. Hồi về sống ở khu La San tuy cái không khí ít u mặc, ngưng đọng, nặng nề như ở Làng Sông, nhưng nỗi tẻ lạnh không vơi trong tâm hồn tôi. Trái lại, thời gian này, tôi hiểu được tương lai tôi, những ngày sống khép kín nghiêm nhặt làm tôi bỗng nhiên đôi lúc thấy ngơ ngác. Ở Đại chủng viện, tuy sinh hoạt được tự do hơn xưa; đời sống thoải mái, nhưng cũng từ đó, trong tôi nhen nhúm một nỗi mơ ước đi xa.

Lam nắm lấy bàn tay tôi đặt lên ngực nàng:
- Anh mơ nghĩ gì thế?
Tôi vẫn còn bàng hoàng. Thời gian êm ả cùng đời sống thầm lặng, lủi thủi ở ký túc xá, còn đứng lại trong đầu tôi. Tôi đưa bàn tay Lam lên môi. Tôi nói: “Anh nghĩ tới ngày mai, những ngày Giáng sinh sum họp của chúng ta”.
Lam thơ ngây:
- Không còn xa nữa đâu, anh nhỉ?
Tôi đáp:
- Chẳng còn lâu đâu. Như đã định với em mấy lần trước, hè này anh ra lại Huế, gặp Cha Châu. Sau đó anh vào Sàigòn trong hai năm, học xong hai chứng chỉ chót, anh sẽ trở về...
Lam nhắc:
- Nếu em thi hỏng, anh còn thương em không?
Tôi cười :
- Đừng nói bậy nữa. Chuyện đó, anh đã lo sẵn cho em rồi.

Chúng tôi cũng dùng những món ăn nguội đã sắm sẵn từ buổi chiều mà Đức đã chịu khó đi tìm giúp. Một con gà quay. Bánh mì. Chả lụa. Nem nướng. Hai hộp bánh ngọt. Bấy nhiêu đã quá đủ cho chúng tôi mừng đêm Chúa giáng sinh. Tôi uống bia, còn Lam uống Coca pha một ít bia từ ly của tôi. Gần Lam, được sống cùng nàng những giây phút ấm áp và quấn quít như vậy, tôi thường nghĩ tới những ngày ở các trường học. Hình ảnh tôi trở lại một cách rời rạc và xa lạ làm sao. Tiếp theo, khi cố xua đuổi những bóng dáng lầm lũi câm lặng đó, tôi nghĩ tới một mái gia đình. Một sum họp. Điều này bao giờ cũng làm tôi chếnh choáng, tôi tưởng như bị lạc vào một cõi nào thực xa.Trước khi đưa Lam trở về, tôi ôm hôn nàng thực lâu. Dường như tôi bị say. Lam vừa rời tay tôi ra khỏi cửa, bỗng chạy vào ôm lấy cổ tôi, nàng hôn tôi như một đứa trẻ.
  
Tôi không biết diễn tả thế nào để có thể nói được đôi phần cái tâm trạng tôi khi rời hẳn Đại Chủng Viện Xuân Bích. Khi xa cha Châu, người Cha Linh hướng đã giúp tôi tu học, hướng dẫn tôi vượt qua được những cơn khủng hoảng tối tăm của tâm trí. Rời Ðại Chủng Viện lần này, tôi biết rằng, tôi sẽ rời xa nó mãi. Nếu có dịp tôi trở lại, cũng là sự trở lại của một kẻ ở ngoài, một du khách hay một tìm về lạc lõng, bơ vơ. Rời phòng Cha Bề Trên, đi giã biệt quí Cha giáo sư, tôi cảm thấy vừa nôn nả, vừa ngại ngùng. Cụ Sau, giáo sư Thần học, nhìn tôi với đôi mắt sâu thẳm, ưu tư hơn Cha Nhân, giáo sư Cựu ước, lặng lẽ và trìu mến. Các giáo sư như Bouyer,  Nguyễn Hữu Ðăng, an ủi và cầu chúc tôi như một đứa con sắp rời gia đình đi vào chốn khó khăn, nguy hiểm. Chỉ có Cha Michel Barnouin (mà chúng tôi gọi là Cao Như Sơn), cười nói rất bình thản khi nghe tôi giã từ ông.

Bây giờ, nghĩ nhớ lại, tôi hiểu tôi lúc đó bị dằn vặt bởi những lời nguyện ước, và những mơ ước về đời sống: Tôi bị lạc lõng, hơi lo sợ và cũng có một hạnh phúc êm ái. Tôi từ giã các bạn còn lại mà không lời giải bày, bởi vì, tôi không thể nói gì được khi tôi đã nghĩ và quyết định trái ngược với họ. Tuy thế, họ đã hiểu tôi, rất niềm nở và tự nhiên, với sự ra đi vĩnh viễn của tôi. Có lẽ, họ coi tôi đáng thương hại, hoặc không đáng chê trách, khi tôi không đủ ý chí, nghị lực, cũng như không đủ ơn phước để nhận lãnh ơn nghĩa Thiên Triệu thiêng liêng. Tôi là một kẻ đã bỏ cuộc. Tôi chọn lựa một cuộc đời sống khác, hợp với bản chất và lòng mơ ước tự nhiên của tôi. Ngày gặp Lam, tôi tự nhủ, hãy cứ để tình cảm trôi chảy, cứ việc sống hồn hậu và nồng nhiệt theo tâm hồn. Bây giờ, tôi đã bị trôi đi,  bị cuốn hút vào một giòng nước mạnh mẽ, tôi không thể cưỡng lại. Nói cho đúng, tôi không muốn cưỡng lại. Ngày mẹ tôi được tin tôi vào đời, bà tự nhiên không nói. Trên gương mặt bình thản, đầy ắp tình thương của bà, tôi biết bà không trách tôi. Hình như bà cho tôi làm vậy, là một việc không có gì để nói.

Tôi vội vã trở lại X. khi mùa Hè sắp đến. Tôi gặp lại Lam. Chúng tôi tiếp tục sống với những hò hẹn, gặp gỡ, và cuồng nhiệt được mấy tuần trước ngày tôi đi Sàigòn thực hiện những dự tính mà tôi đã nói với Lam. Lam thường đến với tôi, sau bữa cơm chiều, cho đến mười giờ đêm mới về nhà. Tôi tạm trọ chung với Đức. Nhưng tôi và Lam hoàn toàn tự do, bởi Đức thường vắng mặt giờ đó. Hơn nữa, Đức tỏ ra một người sành sỏi, đã tạo dịp thuận tiện cho chúng tôi sống những ngày sắp xa nhau. Lam thường đến, mini jupe màu, giày da, tóc cột bím, mắt sáng, môi đỏ, nụ cười hồn nhiên, tấm lòng dào dạt khao khát. Gặp nhau Lam như vừa lo sợ xa cách và tham lam, ôm chầm lấy tôi, không rời. Tôi bồng nàng lên ghế như một con búp bê. Đôi khi, tôi bị lôi cuốn bởi Lam, con sóng dào dạt, không ngăn được những khao khát sôi nổi bừng nóng trong lòng. Chúng tôi nằm ở giường cho đến giờ Lam phải trở về. Tôi không thể kéo dài thêm một vài ngày nữa với Lam bởi vì chuyến bay tôi đã ghi trước, mọi việc đã được thu xếp chuẩn bị. Buổi sáng hôm ra đi, tôi không muốn Lam đưa tiễn. Chúng tôi đã đưa tiễn nhau mấy hôm trước rồi. Nhưng lúc Đức vừa chở tôi đến trạm hàng không thì tôi nhìn thấy Lam ở đó. Tôi trông thấy nàng ngơ ngác và tội nghiệp. Nàng có vẻ sợ hãi. Vẻ mặt xanh xao. Ánh mắt lạnh lùng kia làm tôi nao núng lạ. Tôi nghe tôi khóc trong lòng. Tôi thấy tôi chếnh choáng. Gặp tôi, Lam chỉ trao tôi tập Văn số mới đặc biệt về Simone De Beauvoir, rồi lẳng lặng đi về. Tôi muốn giữ nàng lại, muốn được nhắn nhủ (cho dầu suốt mấy tuần qua đã nhắn nhủ), muốn ôm hôn nàng (dầu tôi đã hôn nàng chiếc hôn từ giã từ tối hôm trước). Nhưng Lam đã bỏ đi.

Trong tập báo nàng trao tôi, có một lá thư:

X. Đêm 5 tháng 7 năm 1970
Anh yêu dấu,
Mai anh đi rồi, để lại cho em sự cô đơn và buồn bã cũ. Và nỗi thương nhớ không nguôi. Sự chia lìa đã đến thực rồi. Em phải làm sao đây? Làm sao để níu kéo lại những ngày yêu nhau cũ. Vậy mà những ngày qua em vẫn còn mù mờ không nghĩ rằng anh sẽ xa em, sự xa cách đau khổ cho em biết chừng nào. Đêm qua, rời anh trở về, em suy tư và nghĩ ngợi về anh quá nhiều. Em nhớ anh - nhớ ngay cả trong giấc ngủ nên không thể bình thản để học hành. Anh đã lấy mất linh hồn và thể phách em tự lúc nào. Xa anh trở về, mang theo nỗi buồn trống vắng, nỗi cô đơn, sầu thảm nào đang vây bọc quanh em. Anh yêu dấu muôn đời của em, nhớ lại những ngày tháng xa, những lúc cùng anh vui chơi, em đã khước từ những mê đắm, những ôm ấp thương yêu nhưng anh biết đâu đó chỉ là cái váng nổi của một phần con người thực trong em, để rồi, buổi chiều, buổi sáng em đã nằm mãi, mơ mộng mãi, không thể học, không thể ngủ, không thể làm được một cái gì. Điều nào ước muốn đang lẩn khuất, hành hạ trong em.

Anh yêu dấu,Cho em trở lại những ngày đầu tiên thần tiên đẹp đẽ. Anh ơi, đây là hành lang, dưới kia là văn phòng, anh đang làm gì, đang nghĩ gì? Xin hãy ngước nhìn, có em đứng đây với vô số những miên man suy tưởng. Ôi, chuyến đi xa, mi đã tạo ra một khoảng cách giữa ta với người. Tội nghiệp cho ta, cho đôi mắt mê mải nhìn. Anh có còn nhớ không giờ lễ nửa khuya Giáng Sinh năm kia, chúng ta đã nói chuyện quên ngủ. Mới đây, mùa Giáng Sinh tuyệt vời nhất đời em, bên cạnh anh. Buổi sáng rong chơi khắp miền ngoại ô. Buổi tối ấm cúng bên nhau, trong nhau, bên ánh đèn mờ tỏ. Và những ngày say đắm nhất, in khắc vào tâm hồn em nhiều nhất, vừa mới vuột khỏi tầm tay em, sáng hôm nay.

Anh yêu dấu, Anh đi rồi. Em phải làm sao đây khi sự xa cách quá lâu? Dù muốn hoặc không thì bây giờ cũng không thể nối tiếp lại những ngày vui cũ. Thôi hết rồi những lần hẹn hò chờ đợi. Thôi hết rồi những lần quấn quít bên nhau quên cả giờ về. Anh ơi, từ đây một mình sao em có thể trở lại chốn cũ. Nhìn tên thánh của hai đứa đã khắc sâu vào phiến đá? Xa anh rồi, tâm hồn em lạnh lẽo, bây giờ càng lạnh lẽo xa vắng hơn. Đầu óc em mê muội, trí óc em bồng bềnh trôi nổi. Trời ơi, thế này mãi thì làm sao em học được. Anh ơi, nếu em thi rớt rồi anh có còn yêu em không? Hay lúc đó, bao nhiêu tình cảm đều tiêu tan mất? Em sợ lắm. Sợ vì xa cách anh sẽ quên em mất thôi.

Em của riêng anh,
Lê Thị Kiều Lam

Tôi viết thư cho Lam mỗi ngày khi đến Sàigòn. Cuộc sống mới, hoàn toàn xa lạ, đã làm tôi càng ao ước được trở về với Lam - sống thu nhỏ trong một khu vườn, một mái nhà. Tôi đã phải phấn đấu và nhẫn nại với sự chọn lựa một cách khổ sở. Lam gởi thư thường xuyên, giống như tôi, mặc dầu nàng nói đang bận lo học thi. Tôi có viết thư gởi Lam cho vài giáo sư quen, nhưng họ đã đến một nơi khác. Tôi không nhắc đến chuyện này, ngại nàng buồn. Hơn nữa, nhắc tới thi cử, là nhắc lại câu hỏi: “Anh ơi, nếu em thi rớt, rồi anh có còn yêu em không?”, càng khiến nàng lo lắng, và tôi buồn bực. Tôi cũng không hiểu lý do gì, vì đâu, đã khiến Lam cứ nhắc lui tới việc thi cử của nàng, rồi coi đó là một yếu tố quyết định tình yêu. Nàng cũng không ngớt sợ hãi, hoang mang bởi sự xa cách. Một thư nàng viết: “Anh ơi, có đang buồn, có đang nhung nhớ, có đang thao thức như em? Sao em nóng cả ruột gan, không thể vùi đầu vào chăn gối, vào giấc ngủ. Thôi em thức mãi nghe anh? Em thức để nhớ tới ai đã đến và đã xa khuất nẻo mù tăm. Hai năm, hai năm nữa, ta mới thực là của nhau cho suốt một đời. Biết em có còn sống để chờ đợi, biết anh có mãi mãi nuôi dưỡng một tình yêu nhỏ dại, hay rồi anh ơi, đây chỉ là giấc mơ, một tấn kịch trong đời em ngắn ngủi?” Sự hoang mang của Lam chuyền đến tôi như cơn bệnh truyền nhiễm hiểm nghèo. Tôi muốn trở về X. Muốn chung sống bên Lam. Tôi đã thay đổi được đời mình thì tôi cũng có thể khước từ hết thảy mọi thứ ở đời để chỉ cần có nàng. Trong lúc chờ đợi sự quyết định dứt khoát, tôi gởi tặng nàng chiếc nhẫn cưới. Đáp lại, Lam gởi tôi sợi dây chuyền có thánh giá thường ngày vẫn đeo ở cổ. Sau đó, những thư của nàng vơi bớt buồn rầu, cái ý nghĩa ly biệt mù tăm cũng tiêu dần, nhường lại cho những kể lể kỷ niệm, những dặn dò hy vọng. Một thư nàng viết: “Anh ơi, buổi sáng nào cuối, sao anh chẳng hôn em. Anh quên hôn em mất rồi anh ạ. Em muốn đứng lại, cố níu kéo nhưng không thể làm khác hơn là quay đi. Em nhìn theo anh từ một góc đường mà không dám đưa anh đến tận nơi vì ngại gặp mặt, phải chào hỏi người ta. Nên để anh đi, không một vẫy tay đưa tiễn, một lời cuối dặn dò. Nhìn chuyến xe ca chở anh rời thành phố mà em không ngăn được những giòng nước mắt âm thầm chia ly.”

Tôi được Đức viết thư báo tin Lam thi hỏng tú tài. Dù chưa nhận được thư chính thức của Lam nói về chuyện này, tôi vội vã viết một lá thư an ủi và phân tích những ý nghĩ không chính xác, nông nổi của nàng về việc thi cử. Tôi chờ tin. Một tháng trôi qua. Tôi sống trong cùng cực lo âu và thất vọng. Tôi trở về X. muộn bởi đang phải lo thi. Vừa tới X. tôi cùng Đức đến ngay đường Cao Thắng, số 32. Với tư cách là giáo sư và Tổng giám thị trường S. (Đức lên làm Tổng giám thị trường S. từ khi tôi ra đi), Đức hỏi người nhà cho gặp Lê thị Kiều Lam để có việc cần. Làm lại hồ sơ gì đó. Người nhà vào trong, trở ra thưa không có Lam ở nhà. Chúng tôi ra về. Một tuần lễ lưu lại X, tôi luẩn quẩn hoài bên khúc đường Cao Thắng, hy vọng sẽ gặp Lam, nhưng vô ích. Bên này một quán nước, từ tám giờ sáng đến mười hai giờ trưa, tôi nhìn ngó sang nhà Lam. Buổi chiều, từ hai giờ đến sáu giờ. Suốt một tuần như thế. Đức cũng không giúp tôi gì hơn sau lần cùng tôi đến nhà. Anh ta nói cũng không hiểu được. Quả thực, tôi cũng không hiểu.

Khi rời X. vào lại Sàigòn, tôi nhờ Đức đến nhà trao hộ Lam lá thư cuối cùng của tôi. Tôi gọi là cuối cùng, bởi vì, tôi đã viết nó với tâm trạng và lời lẽ của một người vĩnh viễn ra đi. Đến nay, tôi không còn nhớ hết tôi đã nói những gì trong ấy, nhưng tôi biết chắc rằng tôi đã bày tỏ hết nỗi thất vọng, đau xót của tôi vì sự tan vỡ, vĩnh biệt này. Với Lam, tôi nghĩ, có lẽ bởi tuổi trẻ và sự hoang mang dễ bị lung lạc để thất vọng, nàng đã không thấu hiểu hết tôi.

Ở Sàigòn khoảng vài tháng, sau đó, tôi xin làm giáo sư khế ước, được bổ nhiệm tới dạy tại P. một thị trấn miền duyên hải Trung phần. Đó là một nơi thực tĩnh lặng, và heo hút.

Tôi là người luôn luôn đến trường sớm nhất. Lý do: Không có đồng hồ, nằm mãi trong phòng suốt buổi sáng (tôi chỉ dạy một buổi chiều), nên muốn được ra ngoài. Hằng ngày, hễ tôi mở cửa bước ra là để đi dạy, còn trở về thì nằm lì luôn. Cơm nước đã nhờ đứa nhỏ ở cạnh lên hiệu ăn xách về giúp. Tôi trở nên trễ nải trong việc giao thiệp, và lười biếng trong việc ăn mặc. Hơn nữa ở trường, giáo sư trên ba chục nhưng nghe nói phe phái đã có tới ba bốn nhóm. Họ ăn nói gìn giữ, kênh kiệu, khách sáo thái quá. Ai cũng nghĩ rằng mình là một người quan trọng. Bởi thế, cách ăn mặc họ cũng phải tỏ ra là như thế: cà-vạt luôn luôn dính vào cổ, ngay cả những ngày nóng bức. Có người mỗi ngày một bộ đồ, một chiếc cà-vạt. Màu sắc phải harmonie.

Tôi ngồi ở dãy ghế dựa nhìn ra ngoài sân. Học sinh đã đông. Trời buổi nhiều nay tạnh ráo, nhưng gió lạnh. Những cành dương trong sân trường xơ xác sau những ngày mưa bão lụt lội. Đứa con gái người phu trường mang hai bình nước trà đặt lên bàn. Tôi chồm tới rót một tách nước trà nóng. Tôi bỗng nhìn thấy tấm bảng kê ở vách thấy ghi: “Yêu cầu quí vị Giáo sư nộp phiếu điểm tháng 12 cho Văn phòng kịp làm thành tích. Hạn chót: Trước ngày nghỉ Noel”, phía trên hàng chữ cũ vẫn không xóa: “Yêu cầu quí vị Giáo sư dạy dỗ như thường vì lụt đã rút hết nước. Văn phòng”.
“Hạn chót trước ngày nghỉ Noel”, tôi đọc thầm. Lại một mùa Giáng Sinh nữa sắp đến. Chỉ còn bốn hôm. Thốt nhiên tôi đưa tay lên cổ, cầm chiếc thánh giá của sợi dây chuyền, nói khẽ: “Bây giờ Lam ở đâu? ”

(Tạp chí VĂN Số đặc biệt GIÁNG SINH 1974)

MANG VIÊN LONG

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2016

Về Lại Chốn Xưa

GIỚI THIỆU
Xin hân hạnh giới thiệu đến quý Thầy Cô, quý Anh Chị Đồng Môn và quý Thân Hữu 
Bài VỀ LẠI CHỐN XƯA của thầy Mang Viên Long. Thầy là cựu giáo sư của trường Nguyễn Huệ Tuy Hòa, Phú Yên trước 1975.
Bài này do thầy Trần Công Tín chia sẻ. Xin chân thành cám ơn hai Thầy.
Trân trọng giới thiệu.
NHHN



Đất cũ ta lại về 
Đứng đi nơi chẳng động
Sao còn xót lệ khuya
Nhớ nhau một trời trống
(Quê Nhà – Thơ Đặng Tấn Tới)

Thân vừa nhận gói báo từ người phụ xe đò dừng lại, quẳng xuống trước sạp bán báo của anh như mọi ngày, thì chiếc taxi cũng vừa đỗ xịch gần kề trước quày; một người đàn ông vội bước xuống, tay xách chiếc va li da to - nhìn anh với đôi mắt lạ lẫm , có vẻ thích thú. Thân thoáng ngước lên nhìn, thấy gã lạ hoắt – cắm cúi bê gói báo vào sau quày, lúi cúi mở. Nghề bán báo cũng giống như nghề bán rau sống, trái cây – phải bán lúc còn tươi, để lâu – khô héo, không ai thèm để mắt rờ dến nữa. Đã bao phen Thân bị " tồn kho" phải bán báo ký vì bề bộn chuyện nhà! Hơn mười lăm năm lăn lộn với bao nghề kiếm sống, từ phụ hồ, sửa xe đạp, thợ điện, sửa kính đeo mắt, cho đến kèm trẻ, chạy xe thồ - cuối cùng Thân đã " trụ" lại với cái nghề bán báo nhờ một người bạn giúp để trái tim hở hai lá của Thân còn có thể thoi thóp chứ không quặn thắt hằng đêm như trước.

Đã lấy từng loại báo, tuần báo, tạp chí ra đặt thứ tự trên chiếc ghế dài sau quày chuẩn bị treo lên dây và sắp lên mặt quày như thường lệ thì người đàn ông bước đến gần Thân, yên lặng nhìn anh giây lâu - mỉm cười : “ Nè anh! bán cho một tờ báo – được không? “. Tuy đã từng gặp bao vị khách “ đại gia” khinh rẻ, có lúc bị xài xể, vô cớ ( mà có “cớ gì “ để đáng bị xài xể đâu? ) Thân tuy đã tập nín nhịn nhẫn nhục từ sau ngày ra khỏi trại, nhưng đôi lúc vẫn chưa bỏ được cái tính “ ngang như cua “, lại là cháu chắc mấy chục đời với lão họ Trương đã là máu thịt. Anh đáp lời người đàn ông:

- Đã bán báo mà sao lại không được? – Thân vừa ngạc nhiên, vừa bực mình – thưa, ông mua tờ nào?
- Tờ nào cũng được – người đàn ông thản nhiên lấy thuốc ra gắn lên môi, bật quẹt, hít một hơi - cười.
- Phụ nữ thời trang, hử? Thân hỏi lớn.
- Cũng tốt thôi! – người đàn ông cười lớn, chỉ xem… ảnh mấy nàng cũng đủ vốn rồi – cần gì đọc những cái khác cho đau đầu… phải không anh?

Thân rút tờ " Phụ Nữ Thời Trang"  số mới, in nhiều mầu. Có ảnh diễn viên kiêm người mẫu Thúy Mộng trong bộ áo tắm hai mảnh rất hấp dẫn, khiêu gợi, đang đứng ở bãi tắm - trao cho người đàn ông với cái nhìn sắc lẻm.


 Sạp báo (hình minh họa internet)

Đến lúc ấy, người đàn ông mới sáp lại - ôm choàng lấy Thân – reo lên; " Anh Thân! Anh quên thằng em… nối khố T 53 năm xưa thật rồi sao?". Thân dừng tay, mở to đôi mắt – ngước nhìn như soi lên gương mặt gã đàn ông xa lạ nhưng trông rất kiểu cách sang trọng. Cố nhớ. T53 thật ư? Hơn ba chục năm dâu bể, đổi thay – cái hình hài tạm bợ này làm sao mà nguyên vẹn để nhận ra đây?
Thân chợt hỏi :

- Có phải Trần Tiến không?
- Trần Tiến T 53 đây mà! Tiến-lè-phè đây mà!
Thân nắm thật chặt hai bàn tay người bạn trẻ năm xưa – cười lớn: “ Ha ha… hơn ba mươi năm rồi còn gì? Ba mươi năm mà hai thằng vẫn còn sống nhăn… còn nắm được tay nhau… Cậu đạo mạo, già, và … có vẻ hết lè phè rồi? “.

Thân kéo Tiến ngồi xuống chiếc ghế dài - “ Phải nói là hơn ba mươi năm bầm dập, nhưng không hề hấn gì, đúng không? “ – Tiến lấy thuốc ra mời Thân : “ Em đã chọn mỗi loại một tút thuốc anh vẫn thường hút để mang về biếu anh, hút cho đã ghiền, hút bù những ngày tháng lần mò đi “ bắt dế “ anh ạ…”. Trần Tiến cười thoải mái.

Sau một lần dời trại, mấy lần “ biên chế ” láng , cuối cùng Thân đã dược xếp chung vời nhóm sĩ quan tù binh trẻ mang cấp bậc chuẩn úy trong đó có Trần Tiến. Thân lớn hơn Tiến gần chục tuổi, nhưng cấp bậc thì huề nhau, nên được nằm chung một láng cuối trại. Thân chẳng mấy để ý đến mấy tay sĩ quan trẻ này, vì dường như suốt ngày họ nhởn nhơ, cười đùa, chọc ghẹo nhau – không lộ chút lo buồn gì? Thân nghĩ, có lẽ tuổi tác , và kèm theo là những hệ lụy của đời sống bộn bề, nên đã biến anh trở nên lầm lì, yên lặng? Còn tuổi trẻ, nhìn đời như một cuộc chơi – dâu bể có sá gì, đâu hề biết lo sợ ?

Sau vài ba tháng chung sống, Trần Tiến đã được Thân đặt cho một cái tên mà cả láng đều đồng tình – và ngay Tiến cũng rất vui nữa: “Tiến-lè-phè! “. Từ cách ăn mặc, đi đứng, nói năng - cho đến những giờ lao động cải tạo rất gay cấn, nghiêm trọng hằng ngày – Tiến đều… lè phè ! Nghĩa là không hề thấy cậu ta vội vã, lo lắng; cứ lè phè vậy măc cho ai làm gì thì làm. Đi chặt tre, lè phè – cho đến giờ về cũng có hai cây tre nho nhỏ ai đó bỏ lại vác lên vai đủng đỉnh như đi dạo . Đi nhổ mì, lè phè – cho đến khi nhặt đủ một bao cát, tấp tểnh sắp gần cuối hàng. Đi cuốc đất, lè phè – cuốc sau anh em cả nửa giờ, khiến tất cả phải ngồi nghỉ chờ cùng về. Đi cắt tranh, lè phè… Cái lè phè của Tiến khác với sự “ bất lực “ thấy rõ của Tín – anh chàng giáo sư mới ra trường non choẹt, dáng thư sinh, và chỉ cao khoảng hơn một mét năm mươi một chút!


 Tù cải tạo (hình minh họa - internet)

Với dáng người cao, dềnh dàng, đẹp trai, lính thiết giáp, giọng Nam đăc sệt – và lè phè ấy – khiến Thân để ý, gần gũi với Tiền nhiều hơn anh em trẻ khác. Thân trở nên “ thích “ cái lè phè rất dễ thương ấy của Tiến – coi đó là hình ảnh động viên anh quên đi bao nỗi lo toan về cảnh gia đình đang bị xáo trộn , muộn phiền!

Mà cũng rất lạ, tuy là “ chúa lè phè “ nhưng Tiến đều được bạn trẻ trang lứa mến phục. Có thể nói là sát đất. Tiến nhờ gì cũng làm. Kêu gì cũng có mặt. Một lần, đổi bình sérum đạm để lấy một lạng café, lạng đường cát trắng và gói thuốc Ruby mà Tiến-lè-phè đã lè phè ngồi pha café như đang ở nhà riêng của mình vào mỗi sáng chủ nhật ; gọi mấy người bạn trẻ quây quần ngồi tán gẫu chờ cậu ta pha xong ly café để mỗi người được uống một ngụm và hít một hơi thuốc Ruby. Lần đó, Tiến “ phái “ một cậu đến mời Thân uống café khi anh đang nằm tòn teng trên võng ; đang buồn vì suốt mấy hôm chủ nhật rồi chẳng được ai thăm nuôi, ngay cả Diệu - Thân vui vẻ nhận lời đến “ chia vui “, nhưng khi nhìn thấy mỗi người chỉ được hớp một ngụm, rít một hơi thuốc – Thân cười nói với Tiến : “ Tôi không thể “ phá mồi “ trong lúc này, cậu ạ! Tôi ngồi nhìn mấy cậu uống café và hút thuốc thơm , nghe mùi hương ngào ngạt vậy, cũng đã đỡ ghiền rồi! “. Tiến cũng cười vui : “ Anh Thân khỏi lo! Riêng anh được hai ngụm và hai hơi mà! “.

Thân biết Tiến rất ghiền café và thuốc lá, nên khi được trại phân phối cho gói thuốc quấn tay hiệu Cotin, đều chia thêm cho Tiến mấy điếu. Dĩ nhiên là không đủ thiếu gì khi mỗi tháng chỉ nhận một gói hai mươi điếu – nên Tiến vẫn thường la cà, săm soi ở các hàng ghế nhà họp, hay quanh láng trại khác, dể nhặt từng mẫu tàn thuốc đã được tận dụng hết cỡ vất bỏ vào buổi sáng rất sớm. Vài mẫu tàn, góp lại được một điếu nhỏ. Có thể phì phà thở khói rất lè phè sau bữa cơm.

Ở chiếc láng gom ba mươi cảnh đời từ tứ phương dồn lại này – sau Tiến-lè-phè là Tín-lùn , anh chàng dạy văn trắng trẻo, lờ mờ, ngờ nghệch. Đôi lúc nằm không, Tín ngồi trước mặt, Thân có ý nghĩ khôi hài về Tín : Anh chàng dáng phong lưu trưởng giả ngờ nghệch vậy làm sao mà dạy văn cho học sinh đệ nhị cấp nhỉ? Tổ phân công đi giã muối ớt – công việc nhẹ nhàng nhất, Tín “ giã “ muối ớt trong cái chén nhỏ bằng khúc cây thật to, chỉ sau hai ba lần “ giả nện “ thì chén dã vỡ tan tành! Trại cắt đi chặt tre cùng láng, luôn nhặt được vài cây nhỏ nhất bị chê bỏ lại, vác lên vai, lần nào cũng đều bị “ vệ binh “ la hét vì “ không đạt yêu cầu “, bắt phải đi chặt lại! Hình ảnh tương phản với Tín là ông giáo Đình dạy toán, lầm lì , trầm tư, bao giờ nét mặt cũng đăm chiêu lo lắng - luôn tìm cây to, lao động tốt v v v để được ghi tên vào danh sách “ lao động giỏi ” cuối ngày. Có một “ dấu ấn “ về ông khiến Thân khó hiểu, cảm thấy rất lạ và khó chịu là mỗi lúc nhìn thấy anh em nào trong láng ốm đau lấy thuốc gia đình tiếp tế lên trại ra uống, là ông sà tới xin một viên – bỏ vào miệng nuốt với chút nước, rồi cám ơn - im lặng ra đi… Có lẽ là ông quá sợ chết, nên luôn cảm thấy mình bị ốm đau, cần nhiều loại thuốc cho vào bụng để dự trữ? Nằm bên cạnh ông Đình, là vị chuẩn úy già tên Hậu – cả láng gọi ông là “ sĩ quan tiếp liệu “ (thực ra ông là sĩ quan tài chánh, chuyên đi phát lương) vì ông có thể mua giúp nhiều loại hàng đang khan hiếm, rất cần thiết cho anh em: Thuốc lá Điện Biên, Thăng Long chính hiệu, đường miếng, bánh kẹo, ngay cả đường cát trắng và nhất là lương khô nhãn hiệu Trung Quốc! Nhờ vậy, anh em còn giữ được chút tiền, chiếc nhẫn vàng kỷ niệm đính hôn, đồng hồ, bút máy, được cất dấu qua bao lần khám xét hay được gia đình thăm nuôi lén lút bỏ tiền vào bánh in, thực phẩm - đã được “ bồi dưỡng “ thêm đôi chút! Ông Hậu rất được ông phó trại tin dùng…

Một lần láng của Thân dược cắt đi lên huyện lỵ chuyển gạo, giữa mùa mưa. Đường xa, trơn trợt, tuy Tiến trẻ vậy – nhưng cũng chỉ đi trước Thân một người. Sau cùng vẫn là Tín – anh chàng ngớ ngẩn lẹt đẹt.

Tù cải tạo đi lao động (hình minh họa - internet)

Đến huyện ly, ai cũng vội vã vào kho lấy gạo, theo lệnh mỗi người đong đầy một bao cát gần lăm ký vác lên vai chứ không khiêng hai người một bao như lần trước. Trần Tiến bảo bạn lấy gạo giúp, lò dò ra đường, đổi chiếc nhẫn một chỉ vàng (đã cất dấu kỹ còn lại khá lâu) lấy một ký café, nửa ký đường, và hai gói Cotab. (nếu nhờ ông Hậu thì chỉ được một phần ba số ấy thôi). Cả toán đã lấy cơm vắt ăn trưa xong chuẩn bị vác gạo lên đường, Tiến-lè-phè mới chui vào hàng làm cả bọn lo hết hồn. Vậy là cậu ta lè phè đi sau Thân, chỉ trước một người là Tín, vừa đi – vừa gặm cơm!

Đi được một phần ba đường về trại thì cơn mưa lớn ập đến. Đường trơn, lại trợt hơn. Lệnh của gã vệ binh đã cho biết lúc khời hành là “ các anh làm gì thì làm, về trại gạo ướt là sẽ bị phạt! “. Ai cũng lấy tấm vài ny lông đang khoác bao bọc thật kỹ quanh bao cát gạo. Đi dò dẫm, cẩn trọng, để khỏi bị té ngã – nhưng dù tốc độ chậm vậy mà Tín và Tiến cũng đã bị rớt lại một quảng chừng năm mét! (Dường như Tiến muốn đi lè phè vậy để chờ Tín sao đó ?) Thân cũng đã cảm thấy mỏi rã vì khớp xương vai đêm qua bị sưng nhức bởi bệnh thấp khớp mãn tính. Anh đi trước Tiến vài mét. Gã vệ binh theo toán đi trước, thỉnh thoảng chạy lùi lại la thét Tín và Tiến. Gã cầm chiếc roi mây quơ quơ – trông rất dễ ngán. Thân luôn quay lại nhìn, theo dõi Tiến và Tín mỗi khi nghe tiếng la thét của gã vệ binh trẻ (có lẽ nhỏ tuổi hơn bọn học sinh đệ nhị cấp của Tín). Thân đã nhìn thấy Tín rất khổ sở, đã hết gắng sức đổi vai liên tục trên một đoạn đường ngắn, nhưng có lẽ sẽ không chịu nỗi hết hai phần ba đường còn lại.

Thân cắm cúi bước, nhìn xuống từng bước chân trơn trợt trên con đường lở lói, ngập bùn đất; chợt nghe tiếng roi “ tr …o ót..tr o ó t…” từ phía sau mình. Tín vừa bị nhận hai roi vì đã lùi xa Tiến mấy mét.

Tiếng mấy người đàn bà đang đi bên lề đường vọng lại thật to : “ Sao lại đánh người ta? “ - “ Không thấy ổng ấy kiệt sức rồi sao? ” - “ Hãy mở mắt ra xem kìa…”. Tiến la lớn : “ Cán bộ cho tôi với anh ấy khiêng chung được không? “ . Không đợi gã vệ binh trả lời, Tiến tự dừng lại, chạy vội vào bìa rừng bẻ một cành cây, cột chung hai bao gạo vào cây – phần gạo nặng gần sát vai Tiến, Tín có thể đỡ hai tay – không cần đặt lên vai nếu vai đang bị đau. Thân đi chậm, chờ Tiến – nói nhỏ : “ Lúc nào cậu mỏi, thay phiên cho tôi ! “ – Tiến cười tỉnh bơ : “ Em dư sức qua cầu mà anh! “…

Cách nay hai năm – rất tình cờ, một buổi sáng sớm trước giờ ra sạp báo -Thân mở mail đọc thư bạn bè, người thân – bỗng có thư của Trần Tiến! Cậu ấy nói đã tìm kiếm bao năm, mới biết được địa chỉ email bèn gởi thử thư đầu tiên hỏi thăm. Nếu nhận được, xin cho số phone để được trò chuyện dù đang ở xa ngàn dặm!

Thân vui mừng không ngờ gặp lại Tiến-lè-phè sau hơn ba mươi năm tưởng đã chôn sâu vào dĩ vãng mờ mịt tăm tối một thời. Anh trả lời thư Tiến ngay. Tối hôm ấy – điện thoại reo báo tin cuộc gọi. Lại không ngờ là của Tiến. Cậu ấy cho biết, sáng dậy vào mail đã “ gặp “ anh – bỏ buổi đi bộ trước giờ ra xe đi làm – gọi ngay cho Thân để được “ nghe tiếng nói của huynh trưởng có còn hơi hám như xưa không ? “. Thân đã nói chuyện đủ thứ trên đời với Tiến, hơn nửa giờ - bắt đầu bằng trả lời những câu hỏi của Tiến và tiếp theo là nghe Tiến trả lời mấy câu “phỏng vấn“ của Thân. Hơn ba mươi năm thăng trầm gian truân, nói sao cho vừa trong ngần ấy thời gian? Tiến hẹn sẽ mail khi đến sở. Và sẽ gọi tiếp lúc trở về…



Chiếc nhẫn đính hôn đã được Tiến cất dấu bao tháng có khắc đậm hai chữ “ T “ đã được đem đổi một ký café, nửa ký đường cát và hai gói Cotab nhưng người con gái nặng tình vẫn chờ đợi cậu ấy. Được ra trại – về quê, Tiến đã xin lễ cưới với nàng ngay tức khắc. Một năm sau, có thằng cu Tý đầu lòng. Và một năm sau nữa, là bay vèo một cái – rồi lù lù dẫn ba đứa con về thăm ông bà nội ngoại vào năm 2002. Tiến đang làm ở phòng điều hành lưu thông của thành phố Seattle, tiểu ban Washington. Thảo – vợ Tiến là một dược sĩ. - chủ nhân một Drug – Store bề thế . Con trai trưởng đã tốt nghiệp bác sĩ. Hai cô con gái đang học năm cuối và năm 2 đại học. Tiến cũng cho biết, cậu con trai cũng rất… lè phè và ngang ngạnh như cua, dám bỏ ra cả năm lương để đổi lấy một bảng số đặc biệt cho chiếc xe đời mới của mình; “ Hello VN “. Còn riêng cậu – suốt ngày không uống thức gì nhiều – ngoài chất- nước đen- đen…

Sau một tháng “gặp nhau“ qua mail và điện thoại – một hôm, Thân được người làm ở dịch vụ chuyễn tiền thị xã mang đến nhà 500USD do Tiến gởi về với dòng nhắn kèm theo “tặng anh món qùa nhỏ để anh Thân làm cái kiosque gỗ bán sách báo và văn phòng phẩm...“.

Chiếc kiosque gỗ có thể tháo rời, lắp ráp dễ dàng khi dời địa điểm buôn bán đã được hoàn thành, gần hai năm rồi mà Tiến không phone và mail đều đặn như trước. Sau hơn bốn lần mail và sau đó – thỉnh thoảng lại mail thăm hỏi vẫn bặt tin – Thân đành im lặng. Không hiểu rõ vì nguyên do gì?

Sáng nay Tiến lại xuất hiện mà không báo trước…
- Cậu giận tôi chuyện gì mà hơn hai năm đành đoạn “cắt đứt“ cái rẹt vậy? – Thân nhìn Tiến chờ đợi, có vẻ thích thú vì đã nói được điều ấm ức bấy lâu.
Tiến vội kéo áo ra khỏi quần, vạch lên – chỉ vào đường mổ thành vết sẹo dài từ giữa ngực xuống bụng – cười :
- Không phải anh mà vì cái này nè! – Tiến kể, trước khi nghỉ hưu công ty cho tôi được khám sức khỏe tổng quát lần cuối , khi khám bác sĩ phát hiện tôi bị ung thư đại tràng. Họ bắt gia đinh ký vào cam đoan, nếu phẩu thuật xét nghiệm kỹ lần cuối mà bệnh chỉ mới phát tiền giai đoạn đầu, họ sẽ cắt bỏ và bảo đảm dứt hẳn bệnh. Nhưng nếu đã vào giai đoạn một, có triệu chứng di căn lan rộng họ sẽ may lại như cũ – không giải phẩu được…
- Rồi thế nào? Thân nhìn vết sẹo to dài – nằm dọc giữa bụng – lo lắng.
- Cuối cùng… họ đã cắt bỏ được phần mầm bệnh! Tôi đã được… thoát chết sớm mà có thời gian về thăm anh và “thăm lại chốn xưa“ như bao lần anh em mình mơ ước đây! Hà hà…trở về thăm anh đây nè!

Ngay buổi chiều hôm ấy Tiến và Thân dã cùng nhau nhảy lên xe ôm đến bến xe thị xã, “thực hiện ước mơ“ đã từng ấp ủ : Lấy vé xe đò Thuận Thảo vào Tuy Hòa, thăm lại miền rừng núi Sơn Hòa - Củng Sơn, nơi khu trại T53 (và 51, 52, 54) đã được dựng lên cho “những tâm hồn lưu lạc” có nơi gặp nhau, trú ngụ. Xe vào bến Tuy Hòa đã xế chiều. Lấy phòng trọ, tắm rửa, nghỉ ngơi một lát là Thân rủ Tiến cùng đi thăm vài người bạn văn một thời tuổi trẻ lang bạt, cũng là để nhìn ngó sự chạy đua đổi thay chóng mặt của khu phố nhỏ hiền lành yên vắng năm xưa…

Buổi sáng sớm, sau ly café hả hê ở quán Cây Phượng, và tô bún cá đặc sản khó quên, cả hai đã vội lên taxi đến bến xe nội thành để kịp chuyến đầu ngày đi huyện lỵ Củng Sơn. Tuy đã lấy vé đi từ thành phố đến huyện lỵ, nhưng – cả hai đã dặn người tài xế cho xuống chặng đường đúng “ngay con lộ dẫn vào T 53 ngày xưa“. Người lái xe sau phút ngạc nhiên liếc nhìn Thân và Tiến – gật đầu, giọng vui vẻ; “Hai bác yên tâm! Tôi là người dân địa phương Củng Sơn mà!“.


Về Lại Chốn Xưa (hình minh họa)

Khi xe bắt đầu đi vào con đường giữa cánh rừng và đồi núi dẫn lên huyện lỵ - Thân và Tiến bổng nhiên im bặt; những mẫu chuyện nhắc kể đau buồn thuở xưa đã trở thành những tràng cười dòn thơ trẻ đã nhường lại cho nỗi tưởng nhớ ngậm ngùi. Cũng con đường này, cũng rừng núi nọ, cũng mây trời vời vợi xa xa – nhưng cuộc đời đã đổi thay bao điều lạ lẫm, chua xót! Bao người đã nằm xuống, bao người còn lênh đênh, bao người đang khốn khó bất hạnh và Tiến-lè-phè trẻ trung đã là một con người chững chạc, tóc hoa râm, vẫn chưa dứt nỗi sầu xa xứ quặn đau.

Cả hai đang mãi mê với nỗi tưởng nghĩ riêng, với những ghi nhận dâu bể đang hiện dần ra trước mắt sau ba mươi năm được trở lại; tiếng ngưởi tài xế vọng lên cùng lúc chiếc xe đang từ từ dừng lại bên đường. Phía tay trái là con lộ nhỏ dẫn sâu vào khu rừng: “Lối vào T 53 đây rồi! Mời hai bác…“.

Thân và Tiến vội vã xuống xe, sau lời cám ơn gã lái xe chịu chơi và cái cười thân tình cùng bà hành khách; cả hai như đã về tới quê nhà sau bao năm xa cách. Xe tiếp tục lao đi trong bụi đỏ, Tiến và Thân đến ngồi trên một mô đá dưới gốc cây dõi mắt trông vào con đường đã từng bao lần in dấu gian nan sâu hút phía trong giữa rừng cây yên vắng.

Tiến lấy gói thuốc từ áo khoát, thong thả bật quẹt – châm lửa, rít một hơi dài. Cậu chuyền gói thuốc cho Thân. Vẫn lặng lẽ.
- Anh Thân còn nhớ, hay có liên lạc được với quý vị cùng láng mình nhiều không nhỉ? – Tiến bổng quay lại nhìn Thân cũng đang nhả khói – những điếu thuốc chờ đợi một đời người thật đằm thắm, ngọt ngào biết bao!
- Cậu còn nhớ ông Đình - giáo sư toán, thường xin thuốc uống không?
- Làm sao quên ông ấy dược!
- Chết lâu rồi!
- Thật sao?
- Ai dám nói chơi! – Thân nhếch cười, sau ngày về hai năm, ông ta đã chết…
- Sớm vậy à?
- Đôi lúc tôi nghĩ, ông ta chết sớm vì quá… sợ chết – Thân cười buồn – cộng với nỗi phiền muộn mọc rễ dày lan sâu trong lòng ông như khối u ác tính, không thể cắt bỏ!
Thân hút một hơi thuốc dài – thở khói, nhìn đám khói bay dạt lên cao – cười thoải mái : “Cậu nhớ Tín lắt chắc thư sinh chứ?“.
- Ông này đã làm tôi suýt bị mấy roi mây của gã vệ binh – sao không nhớ?
- Đang ở Pháp… - Thân nhìn - Tiến đang lơ mơ ngước mặt lên bầu trời chói chang nắng như muốn tìm kiếm cái gì còn ẩn khuất đâu đó – Chắc cậu ấy sang Pháp hành nghề… chặt tre, cắt tranh gì đó?
Tiến chợt quay lại : “Tôi quên nói với anh, tháng trước tay Hậu – “sĩ quan tiếp liệu“ café, thuốc lá, đường cục, lương khô Trung quốc cho láng mình có tìm đến thăm tôi qua mấy người bạn T54 đang ở Cali đưa đến…”

Mặt trời chói nắng. Rừng cây lặng yên.
Bất giác – Thân thở dài: “ Chúng ta đi…”

Cả hai lửng thửng đếm bước vào con đường dẫn đến khu láng trại năm xưa, như hai kẻ thong dong – nhàn rổi – thơ thẩn trờ về quê nhà mà không có một bóng người ra đón…

Quê  nhà, Tháng 8 năm 2008
Mang Viên Long


Thầy Mang Viên Long