Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - NGUYỄN QUANG DUY. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - NGUYỄN QUANG DUY. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2022

Lê Thị Trang Đài. Chính Trị Gia Gốc Việt Đầu Tiên Thắng Cử Dân Biểu Liên Bang Úc

 

Dân Biểu Liên Bang Úc Lê Đài

LÊ THỊ TRANG ĐÀI, CHÍNH TRỊ GIA GỐC VIỆT ĐẦU TIÊN THẮNG CỬ DÂN BIỂU LIÊN BANG ÚC 
Nguyễn Quang Duy 

Ứng cử viên độc lập Lê Đài (Lê Thị Trang Đài), một người Việt tị nạn cộng sản, vừa giành được ghế dân biểu khu vực Fowler, chiến thắng một chính trị gia lãnh đạo đảng Lao Động, cựu Thủ hiến tiểu bang New South Wales, cựu Thượng Nghị sĩ Liên Bang bà Kristina Keneally.

Fowler là một khu vực an toàn của đảng Lao Động nên đây là chiến thắng của cử tri lao động phản kháng lại hệ thống chính trị của đảng Lao Động và một bài học cho chúng ta cùng suy ngẫm.

Đơn vị bầu cử “an toàn” của đảng Lao Động

Khu vực Fowler nằm phía tây nam thành phố Sydney là một khu vực đa văn hóa, đa sắc tộc với trên một nửa dân số là di dân, trên 15% là người gốc Việt và chỉ trên 10% là có cả cha lẫn mẹ sinh ra tại Úc.

Người di dân lại thường bỏ phiếu cho đảng Lao Động, nên các dân cử của đảng Lao động thay nhau nắm giữ khu vực này từ khi được thành lập vào năm 1984 đến nay.

Vì là đơn vị bầu cử an toàn nên các dân cử đảng Lao Động chỉ lo phục vụ chính sách “Đảng”, hơn là quan tâm đến nguyện vọng của cư dân địa phương, còn đảng Tự Do không thèm để ý đến khu vực này.

Tỷ lệ thất nghiệp tại Fowler cao gần gấp đôi mức trung bình của cả nước, mức lương do đó thấp hơn so với mức lương trung bình toàn nước Úc, có cư dân phải làm đến hai, ba công việc bán thời gian mới đủ trang trải cuộc sống vô cùng khó khăn.

Fowler là một khu vực nghèo, kém an ninh và chậm phát triển, giới tiểu thương trong khu vực không được đảng nào thực sự quan tâm nâng đỡ. Nhà thương, trường học, đường xá, cảnh sát, các phục vụ công cộng đều thua kém các khu vực khác trong vùng.

Không riêng khu vực Fowler, hầu hết các khu vực có đông di dân và đông người Việt sinh sống đều cùng chung hoàn cảnh chính trị, kinh tế và xã hội.

Không phục vụ đảng phái chính trị

Bà Lê Đài từ Sài Gòn đi tỵ nạn cùng gia đình năm 1975 khi mới 7 tuổi, và ở Hong Kong 4 năm trước khi đến Úc năm 1979. Bà có chồng người Úc và một con trai. Gia đình bà luôn sống trong khu vực Fowler.

Học xong trung học bà đi làm cho một tờ báo địa phương, rồi trở thành ký giả cho đài ABC, đi học lại và tốt nghiệp ngành Chính trị tại Đại Học Macquarie.

Trong cuộc bầu cử bổ túc cho khu vực Cabramatta năm 2008, bà Lê Đài ứng cử đại diện cho đảng Tự Do giúp đảng này tăng số phiếu +21.8% so với cuộc bầu cử năm 2007, nhưng vẫn thua ứng cử viên đảng Lao Động.

Trong kỳ bầu cử định kỳ tiểu bang New South Wales năm 2011, bà Đài tiếp tục tranh cử đại diện đảng Tự Do tăng thêm +5.1% số phiếu, nhưng vẫn không đủ phiếu để đánh bại ứng cử viên đảng Lao Động.

Năm 2012, bà Đài ứng cử độc lập và đã thắng cử Nghị Viên Hội Đồng Thành Phố Fairfield.

Đến năm 2016, bà Đài bị đảng Tự Do cấm tham gia đảng 10 năm vì đã tự động thành lập một liên danh độc lập tranh cử ghế Thị trưởng Fairfield, thách thức ứng cử viên được đảng Tự Do ủng hộ.

Năm 2017, bà Đài đã vận động Hội Đồng Thành Phố Fairfield thông qua Nghị Quyết công nhận cờ Vàng là biểu tượng của người Việt tự do.

Năm 2019, bà Đài tiếp tục tranh cử đại diện khu vực Cabramatta, bà đạt được số phiếu hơn ứng cử viên đảng Tự Do và các đảng khác, nhưng vẫn thua số phiếu của ứng cử viên đảng Lao Động.

Năm 2021, bà Đài được bầu làm Phó Thị Trưởng thành phố Fairfield.

Mỗi lần thất cử, bà Đài lại gặt thêm những kinh nghiệm để bước vào tranh cử dân biểu liên bang 2022 với khẩu hiệu “Tôi sẽ ở Quốc Hội để phục vụ BẠN, chứ không phải phục vụ bất kỳ đảng phái chính trị nào.” (I will be there to serve YOU, and not any political parties.)

Làn sóng phản đối bên trong đảng Lao Động

Người xứng đáng để đại diện đảng Lao Động ra tranh cử lần này là luật sư Lê Tú, một người trẻ làm việc trong văn phòng dân biểu Chris Hayes, được chính ông Hayes đề cử thay ông tranh ghế Fowler và được sự ủng hộ của cơ sở đảng tại địa phương.

Nhưng cô Lê Tú đã bị Ban lãnh đạo đảng Lao Động gạt sang một bên để nhường chỗ cho cựu thủ hiến New South Wales, cựu Thượng nghị sỹ Kristina Keneally.

Mặc dù là một chính trị gia chuyên nghiệp lãnh đạo đảng Lao Động bà Keneally sinh sống tại Scotland Island, khu vực bờ biển giầu có ở phía bắc của thành phố Sydney, cách đơn vị Fowler đến hơn 2 giờ lái xe.

Bà được đảng Lao Động “thả dù” xuống đơn vị Fowler để đưa vào Hạ Viện và Nội Các Lao Động với chức vụ bộ trưởng bộ Nội Vụ, một vai trò vô cùng quan trọng coi cả Cơ Quan Tình Báo Úc (ASIO) và Cảnh Sát Liên Bang.

Bà Keneally là “kẻ xa lạ” thuộc tầng lớp quý tộc khác xa với giới cử tri lao động nghèo, đa sắc tộc, đa văn hóa đơn vị Fowler.

Kinh nghiệm chính trị và kiến thức lãnh đạo tiểu bang và liên bang bà có thừa nhưng sự gần gũi với cử tri sắc tộc và khả năng lãnh đạo hạ tầng hầu như không có.

Bà là người “từ trên trời rơi xuống”, là người của “Đảng” chứ không phải là người của Dân, một người của phe cánh hữu của đảng Lao Động, được lãnh tụ đảng đưa về cai trị dân sắc tộc.

Năm 2016, chính dân biểu Chris Hayes cũng là nạn nhân của phe cánh trong đảng Lao Động. Khi ấy tôi đang đại diện cho Khối 8406 Úc Châu chúng tôi đã cùng nhiều tổ chức khác vận động để ông Chris Hayes không bị thuyên chuyển sang 1 đơn vị bầu cử khác, nhường ghế Fowler cho một dân biểu trẻ cánh hữu thuộc thành phần lãnh đạo.

Tình trạng bè cánh, phản dân chủ của giới lãnh đạo đảng Lao Động đã tạo ra một làn sóng công khai phản đối tại đơn vị Fowler, chính ông Chris Hayes đã lên tiếng kêu gọi cử tri Fowler dồn phiếu cho ứng cử viên địa phương.

Cử tri làm cách mạng

Bà Lê Đài một chính trị gia cơ sở (grassroots), xuất thân từ quần chúng sắc tộc, và bản thân là người tị nạn cộng sản đã nhân cơ hội xin phép dân biểu Chris Hayes để lấy hình ảnh và lời kêu gọi cử tri “dồn phiếu cho ứng cử viên địa phương” của ông làm bích trương tranh cử.

Để cứu bồ trước ngày bầu cử Thủ lãnh đảng Lao Động ông Anthony Albaneses đã thân chinh đến đơn vị Fowler vận động cho bà Kristina Keneally. Nhưng không thể cứu vãn tình thế 18.6% cử tri lao động đã từ chối bỏ phiếu cho bà Keneally.

Bà Lê Đài còn được đảng Tự Do và đảng Đoàn Kết Nước Úc (United Australia) cho phiếu, nên với hơn 99.98% phiếu đã kiểm, bà nhận được ít nhất 52.32% tổng số phiếu, trong khi ứng cử viên đảng Lao Động Kristina Kneally chỉ được 47.68% phiếu.

Bà Lê Đài thắng cử nhưng chiến thắng của bà từ một cuộc cách mạng “quần chúng nổi dậy” chống lại tình trạng bè cánh, phản dân chủ của giới lãnh đạo đảng Lao Động.

Từ nay đơn vị Fowler sẽ không còn là ghế an toàn Lao Động nữa, từ nay tiếng nói của cử tri sẽ được các đảng chính trị và chính quyền lắng nghe.

Người chiến thắng cũng chính là các đảng viên đảng Lao Động tại cơ sở Fowler, vì đây là một bài học đắt giá cho tầng lớp lãnh đạo đảng Lao Động họ không được coi thường các cộng đồng và cử tri gốc sắc tộc cũng như thành viên đảng bộ địa phương.

Bà Lê Đài thực sự thắng cử bằng sức mình, bằng lá phiếu của cử tri, thay vì dựa vào “Đảng” để cuối cùng làm công bộc phục vụ trả ơn “Đảng”, là bài học cho tất cả những ai quan tâm, và muốn tham gia vào chính trường Úc.

Chính trị Úc cần thay đổi…

Ở Hạ Viện, đảng Lao Động được 76 ghế vừa đủ ghế để thành lập chính phủ đa số, Liên Đảng Tự Do Quốc Gia chỉ được 55 ghế, đảng Xanh được 4 ghế, 2 đảng nhỏ 2 ghế, độc lập được 10 ghế, còn lại 4 ghế chưa rõ kết quả.

Trong cuộc bầu cử 2022, Liên Đảng Tự Do Quốc Gia mất -5.7% chỉ còn 35.7 % tổng số cử tri ủng hộ, trong khi đảng Lao Động mất -0.5% chỉ còn 32.8 % tổng số cử tri ủng hộ. Như vậy, đảng Lao Động thắng cử và cầm quyền nhưng đại diện cho chưa tới 1/3 tổng số cử tri Úc.

Khuynh hướng cử tri Úc bầu cho các ứng cử viên độc lập và các đảng nhỏ càng ngày càng trở nên rõ nét.

Bầu cử 2022 có tới 10 dân biểu độc lập và tất cả đều là phụ nữ, nó cho thấy nữ giới Úc đã nhận thức được các đảng chính trị không còn đại diện cho tiếng nói và quyền lợi của cử tri và của nước Úc.

Xét cho cùng nước Úc cần thay đổi hệ thống chính trị, cần một thể chế cộng hòa, cần một hiến pháp mới, một hệ thống bầu cử mới mà người cầm quyền phải thực sự đại diện cho đại đa số cử tri.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

24/05/2022


Chủ Nhật, 11 tháng 7, 2021

Túc Cầu Việt Nam Cộng Hòa Một Thời Để Nhớ Để Thương

 

Túc cầu VNCH (internet)

TÚC CẦU VIỆT NAM CỘNG HÒA MỘT THỜI ĐỂ NHỚ ĐỂ THƯƠNG
Nguyễn Quang Duy

Tôi sinh năm 1959, vào năm đó lần đầu tiên đội tuyển Túc Cầu Việt Nam Cộng Hòa đoạt huy chương Vàng Đông Nam Á Vận Hội tổ chức tại Thái Lan.

Tôi lớn lên với nhiều kỷ niệm và học hỏi từ tinh thần túc cầu Việt Nam Cộng Hòa, giờ càng nghĩ càng thấy nhớ thương, ngậm ngùi về thời kỳ vàng son nền túc cầu Việt Nam. 

Huyền Vũ có một không hai

Ký giả Huyền Vũ (internet)

Ngày nay người mê đá banh được xem trực tiếp truyền hình nên khó có thể hình dung được sự đam mê theo dõi các trận đấu qua lời tường thuật trên radio của ký giả Huyền 

Cứ mỗi trận đấu mà Huyền Vũ tường thuật thì y như khắp hang cùng ngõ hẻm, trên rừng thiêng núi thẳm dân mê đá banh đều bu quanh chiếc radio tưởng tượng những gì đang diễn ra trên sân cỏ.

Không chỉ ở các tiền đồn heo hút gió những binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa lắng nghe Huyền Vũ tường thuật, một người theo cộng sản đã kể tôi nghe ngay trong chiến khu bộ đội cũng ham thích theo dõi Huyền Vũ trực tiếp truyền thanh.

Từ giọng nói vô cùng thu hút người nghe, đến cách sáng tạo ngôn ngữ làm giàu từ ngữ Việt Nam, cách tường trình hết sức độc đáo các trận đấu và và kiến thức về túc cầu có một không hai, đến nay người Việt không có ai có thể thay thế được Huyền Vũ.

Từ ngữ “dzô! dzô! dzô!” mà các dân nhậu mời chúc rượu nhau là do Huyền Vũ sáng tạo, thường xuyên lập đi lập lại khi tường thuật các trận đá banh, riết thành từ ngữ hết sức phổ thông nói đến ai cũng biết.

Huyền Vũ tên thật là Nguyễn Ngọc Nhung, sinh năm 1914 và mất năm 2005, là chủ bút Tạp chí Thể thao hàng tuần và chủ bút báo Nguồn Sống.

Với kiến thức uyên thâm về túc cầu, Huyền Vũ đã hướng dẫn bạn đọc cách chơi, luật lệ túc cầu, đồng thời giải thích cặn kẽ cho bạn đọc về chiến thuật và chiến lược của từng đội, trong từng trận đấu và xây dựng một tinh thần thể thao thắng không kiêu thua không nản.

Về cách viết tôi học được từ Huyền Vũ là luôn luôn có những bạn đọc tuyệt đối ủng hộ một đội banh, cũng như trong chính trị có những bạn đọc luôn ủng hộ một khuynh hướng chính trị, nên khi bình luận người viết không được thiên vị bên nào như thế thì các bài viết mới có giá trị lâu dài và người viết mới giữ được uy tín với bạn đọc. 

Vài đoạn tường thuật

Trên báo Thanh Niên, ngày 24/4/2016, nhà văn Lê Văn Nghĩa coi ký giả Huyền Vũ như một huyền thoại, bởi thế sau hơn nửa thế kỷ ông vẫn nhớ một số đoạn Huyền Vũ tường thuật trong trận đội Việt Nam thắng đội Do Thái 2-0 để được tham dự Thế Vận Hội năm 1964 xin trích dẫn lại như sau:

“Hôm nay là trận tranh tài túc cầu vòng loại giải vô địch Thế vận hội 1964 giữa hai đội túc cầu Do Thái và Việt Nam. Về đội ta có mặt cầu thủ Phạm Huỳnh Tam Lang, Dương Văn Thà, Phạm Văn Lắm, Phạm Văn Mỹ… Đặc biệt là thủ môn Phạm Văn Rạng, với đôi tay lưỡng thủ vạn năng…

“…thủ môn Phạm Văn Rạng đã đi vào huyền thoại bắt bóng của đội tuyển khi vào năm 1958, trong trận đội tuyển Thanh Niên thi đấu giao hữu với Câu Lạc Bộ vô địch Thụy Điển. Đội bạn, vì đã bị dẫn trước tỷ số nên cố san bằng khung thành của đội tuyển Thanh Niên. Có một đường banh mà không ai mê túc cầu có thể quên được đó là khi trung phong đội bạn là Djupden đánh đầu quả da vào từ góc trái. Cả cầu trường im phăng phắc. Còn trung phong đội bạn giơ cao cánh tay chuẩn bị mừng bàn thắng thì bất ngờ… Phạm Văn Rạng đã búng ngược người như một con tôm, dùng tay đẩy bóng qua xà ngang cứu một bàn thua trông thấy…

“…Mũi tên vàng Thới Vinh bên cánh trái đang lao xuống… lao xuống… Quả da đã đi tới khung thành rồi. Ngôn đang lừa banh, qua rồi. Tam Lang đang đứng đợi bên trong, đưa banh. Tam Lang bỏ cho Đỗ Thới Vinh. Ngôn ở phía sau sẵn sàng “S… ú… t”…, cú sút như trái phá nhưng quả da đụng khung thành bật ra… Ta đã uổng một dịp thắng bằng vàng…

“…Chúng ta còn nhớ lại, tại Đông Nam Á vận hội năm 1959, đội tuyển túc cầu của ta đã đoạt huy chương vàng nhờ công của các tuyển thủ Đỗ Thới Vinh, Hải, Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Văn Nhung và không thể thiếu thủ môn vàng Phạm Văn Rạng. Đội tuyển túc cầu xứ chùa Tháp phải chia tay với chức vô địch khi thua đội tuyển túc cầu Việt Nam với tỷ số 1-3. Chính tay thái tử Xiêm trao cho đội tuyển túc cầu Việt Nam chiếc cúp vàng vô địch...

“… Nào bây giờ ta trở lại trận đấu. Quả da đang ở trong chân của Tenkitút. Tenkitút tạt ngang cánh trái cho Mohamet Jali. Jali dẫn banh xuống nhưng bất ngờ, từ phía sau Tam Lang đã bắn ra như một mũi tên… Ô… số 8 của đội Do Thái là Baroak đã kịp thời lao đến cản đường banh của Tam Lang.

“…Tới trước khung thành rồi, Ngầu đang lừa banh, qua rồi, Há đứng đợi bên trong, đưa banh, Há bỏ cho Ngầu, Liêm ở phía sau sẵn sàng, cú sút như trái phá… nhưng quả da đụng khung thành bật ra…

“… Tam Lang lại được banh từ giữa sân, đưa dài lên, cú sút của Tư chéo góc… Dzô! Dzô! Dzô! tuyệt tác. Sân cỏ nổ tung!...

“… Rồi Đực, rồi Rạng với đường banh huê mỹ vặn chéo người cứu một bàn thua trông thấy khiến khán giả choáng váng…”.

Từ hồi còn rất nhỏ nhưng tôi đã yêu thích giọng tường thuật của Huyền Vũ, rồi mê đá những trái banh bằng nhựa trên sân xi măng hay trên đường nhựa, đến nay đầu gối vẫn đầy những vết thẹo kỷ niệm thời ấu thơ. 

Vài giải thưởng quốc tế khác

Hình từ internet

Đến năm 1966, đội tuyển Việt Nam Cộng Hòa lại đoạt cúp vàng Merdeka, tổ chức tại Mã Lai Á. Đội banh Việt Nam đã liên tiếp hạ Tân Gia Ba (5-0), Nhật (3-0), Mã Lai Á (5-2), Đài Loan (6-1) và thua Ấn Độ (0-1). Cuối cùng Việt Nam vào chung kết thắng Miến Điện (1-0).

Tại Đông Nam Á Vận Hội kỳ IV năm 1967, đội Việt Nam đoạt huy chương Bạc, khi thắng Lào (5-0), Thái Lan (5-0), nhưng thua Miến Điện (1-2) khi vào chung kết.

Năm 1973, tại Đông Nam Á Vận Hội ở Tân Gia Ba, đội tuyển Việt Nam lại dành huy chương bạc, sau khi vào chung kết lại thua Miến Điện khi trận đấu chỉ còn 8 phút thì kết thúc, với tỷ số 3-2. 

Giải túc cầu Quốc Khánh

Hình từ internet

Những trận đấu quốc tế cuối cùng diễn ra trên sân cỏ Việt Nam Cộng Hòa đã bắt đầu từ ngày 1/11/1974 với bảy nước tham dự là Đài Loan, Nam Dương, Cam Bốt, Lào, Mã Lai Á, Thái Lan và Việt Nam.

Việt Nam đã thắng Thái Lan (3-2), thắng Lào (1-0), hòa với Đài Loan (1-1), thua Mã Lai Á trận đầu (1-5) nhưng thắng vòng loại (1-0).

Trận chung kết giữa hai đội Nam Dương và Việt Nam có sự hiện diện của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu diễn ra tại sân vận động Cộng Hòa vào ngày 10/11/1974.

Tôi còn nhớ sau nhiều tiếng đồng hồ sắp hàng mới mua được vé, ngay sau đó đã có người muốn mua lại với giá gấp chục lần, nhưng chúng tôi quyết định không bán, để vào xem trận đấu và ủng hộ đội nhà.

Mặc dầu là trận đấu kỷ niệm Quốc Khánh với trên 20 ngàn khán giả tham dự, nhưng không có cảnh cờ xí, hình tượng lãnh đạo, phô trương chính trị như ngày nay.

Chưa kể tinh thần không thiên vị khi đội bạn Nam Dương chơi hay vẫn được khán giả Việt Nam nhiệt tình ủng hộ.

Trước trận đấu nhiều người tin rằng đội Nam Dương sẽ thắng và sẽ đoạt huy chương vàng, biết vậy nên ngay từ hiệp đầu đội Việt Nam đã dùng chiến thuật tập trung tấn công nhờ vậy đã ghi được bàn thắng đầu tiên.

Bước sang hiệp nhì đội Nam Dương liên tục phản công, đội Việt Nam quay về thế phòng thủ, nhưng gần cuối trận đấu do sơ hở phía đội Nam Dương, Việt Nam ghi thêm một bàn thắng, nhiều khán giả mừng rỡ ôm nhau nước mắt chảy thành dòng.

Tôi nhớ hôm ấy cả hai đội đều chơi rất đẹp, nhưng có thể vì không phải sân nhà và thời tiết trở lạnh có thể không thích hợp với đội Nam Dương, nên về thể lực đội bạn không giữ được đến phút cuối.

Ngay sau đó là lễ phát thưởng do chính Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trao huy chương cho các đội, mọi người đều vui mừng ở lại sân dự lễ đến phút cuối và dư âm trận đấu vẫn còn cả tháng sau. 

Cao trào túc cầu

Hình từ internet

Ở miền Nam hầu như mỗi tỉnh đều có một đội banh hằng năm đều tổ chức các giải Liên Quân Khu và giải Toàn quốc, thêm vào đó là các đội chuyên nghiệp vang bóng một thời như Quan Thuế, Không Quân, Hải Quân, Tổng Tham Mưu, Tổng Nha Cảnh Sát, Cảng Sài Gòn và Đội tuyển Quốc Gia.

Túc cầu đã trở thành cao trào tập luyện thể thao, giữ gìn sức khỏe thể chất và tinh thần, khắp miền Nam gần như trường trung học, đơn vị quân đội, cơ quan, khu phố nào cũng có đội banh riêng.

Các cầu thủ Việt Nam đều là thần tượng của tôi, nên viết về người này mà không viết về người khác thì quả là thiếu sót, vả lại lâu rồi cũng không nhớ hết, nếu viết e rằng sẽ có những lầm lỗi đáng tiếc. 

Đội banh lớp tôi

Hình từ internet

Nhưng tôi đặc biệt yêu quý cầu thủ Tam Lang, phần vì ông là chồng ca sĩ Bạch Tuyết người mà tôi yêu thích, ông còn là cựu học sinh trường Trương Vĩnh Ký và nhà ở ngay trong sân vận động Lam Sơn nơi đội banh lớp 6-9/4 và 10-12/B2 (1971-77) của chúng tôi thường xuyên tập luyện.

Sân Lam Sơn thuộc khuôn viên trường Trương Vĩnh Ký, một người bạn của chúng tôi là con trai của Bác coi trường có chìa khóa cửa sau thông ra sân vận động nên cứ rảnh là chúng tôi kéo nhau sang sân tập đá.

Đá xong chúng tôi lại kéo sang nhà Dũng mập cạnh bên sân uống nước, nghỉ ngơi, nói chuyện trên trời dưới đất, những ước mong thời tuổi trẻ.

Đội banh có Biền nhỏ con nhất lớp, nhưng nhanh nhẹn, đá banh thì phải nói tuyệt vời, tôi nhớ có một lần đá với một lớp lớn hơn, đội chúng tôi thắng 12-0, riêng Biền đã ghi 10 bàn thắng.

Chúng tôi kháo nhau Biền dân Bến Tre nên từ nhỏ lấy dừa khô thay banh để đá, nhà Biền may banh da nên chúng tôi thường đến để đặt mua banh, Ba của Biền chỉ lấy giá tượng trưng, mấy chục năm nay không gặp lại Biền không biết giờ ra sao.

Ngoài Biền ra các bạn khác như Dũng mập, Việt Hùng, Hùng Đô, Văn Hùng, Hiệp, Lợi Nhi, Ân, Tuấn, Hồng, Phương, Lỳ, Hồng Hoàng Thượng, Minh, Chánh, Oánh, Huệ và nhiều bạn khác.

So với các bạn tôi nhỏ con, chạy không nhanh, nói chung là đá dở hơn các bạn, thường giữ vị trí hậu duệ, nên thủ môn Huệ luôn miệng réo tên tôi khi banh đến sát khung thành và cuộc đời tôi chưa một lần ghi bàn thắng.

Đôi khi, chúng tôi lên sân vận động Tao Đàn để đấu giao hữu với các trường trung học khác tại Sài Gòn, hay các lớp khác ở chung trường Trương Vĩnh Ký.

Khi ra trường mỗi đứa mỗi nơi, sau hơn 40 năm đứa còn đứa mất cứ nhớ đến đá banh là nhớ đến các bạn, nhớ đến tuổi thanh niên ở miền Nam vùng đất tự do.

Túc cầu dạy cho tôi tinh thần đồng đội, đã chơi phải chơi hết mình, chơi đẹp, chơi đúng luật để giữ tiếng, chơi toàn đội, biết rõ vai trò của mình trong đội banh, còn thắng thua là chuyện bình thường, thắng không kiêu thua không nản.

Tinh thần túc cầu học hỏi được từ Huyền Vũ, từ các cầu thủ Việt Nam Cộng Hòa và từ các bạn bè cùng lớp đã giúp tôi rất nhiều trong cuộc sống nơi đất khách quê người, bởi vậy cứ mỗi lần nghĩ đến túc cầu Việt Nam Cộng Hòa tôi lại nhớ đến một thời đầy thương đầy nhớ.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

3/7/2021


Thứ Tư, 16 tháng 6, 2021

Chỉ Tự Do Chính Trị Mới Giúp Việt Nam Chống Được Tham Nhũng

 

Hình minh họa - internet

CHỈ TỰ DO CHÍNH TRỊ MỚI GIÚP VIỆT NAM CHỐNG ĐƯỢC THAM NHŨNG
Nguyễn Quang Duy

Được BBC tiếng Việt phỏng vấn về bản chất tham nhũng tại Việt Nam kinh tế gia Bùi Kiến Thành cho biết trong thời kỳ kháng chiến, đời sống khó khăn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nên không có tham nhũng.

Đến 30/4/1975 đoàn quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, vào miền Nam, tận mắt thấy xã hội tư sản, cán bộ cộng sản mới nảy sinh ham muốn nhà cao cửa rộng, cuộc sống xa hoa, nên:

"Đạo đức cách mạng đã bị phá vỡ, tinh thần và lối sống hưởng thụ đã ngự trị, tư tưởng chính trị suy thoáị, đạo đức dần dần phai nhạt…, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài.” (https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-57383538)

Cách suy nghĩ của ông Bùi Kiến Thành làm người đọc dễ hiểu lầm về bản chất của chủ nghĩa cộng sản và bản chất của chủ nghĩa (tự do) cá nhân.

Vì ngay từ thời kháng chiến chống Pháp, ngày 6/9/1950 Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân trang Tổng cục Cung cấp đã bị xử bắn tại Thái Nguyên về tội tham nhũng:

“…Châu đã dùng quyền lực ‘ban phát’ ăn mặc, nên Châu đã giở trò ăn cắp công quỹ, cứ mỗi cái màn cấp cho bộ đội Châu ăn bớt 2 tấc vải xô, nên bộ đội cứ ngồi lên là đầu chạm đình màn. Còn áo trấn thủ, Châu ăn cắp bông lót rồi độn bao tải vào, nhiều người biết đấy nhưng không dám ho he…”

Đó là phát súng đầu tiên mở màn phong trào Chỉnh Huấn Chỉnh Quân, sau đó trên báo Nhân Dân cũng xuất hiện khá nhiều bài chống tham ô lãng phí.

Sau khi tiếp thu miền Bắc các văn kiện Đại Hội đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi rõ tệ nạn tham nhũng hoành hành tại miền Bắc Việt Nam.

Trong dân gian lưu truyền những câu ca dao về tệ nạn tham nhũng như:

“Mỗi người làm việc bằng hai / Để cho cán bộ mua đài, mua xe / Mỗi người làm việc bằng ba / Để cho chủ nhiệm xây nhà, lát sân”; hay

“Thủ kho to hơn thủ trưởng / Vào nhà thủ trưởng tưởng là kho / Nhà thủ kho to hơn nhà thủ trưởng.”

Như thế, tham nhũng và tư lợi đã có ngay khi đảng Cộng satn mới cầm quyền vì hệ thống cộng sản vận hành theo cách tóm thâu quyền lực và ban phát quyền lợi cho đảng viên trung thành.

Ở miền Nam, sau ngày 30/4/1975 đảng Cộng sản tước đoạt nhà cửa và tài sản của người dân miền Nam rồi phân chia cho cán bộ như chiến lợi phẩm chính là một hình thức ban phát quyền lợi hay thưởng công cho những đảng viên trung thành. 

Đảng Cộng sản “hư thối” vì ai?

Kinh tế gia Bùi Kiến Thành còn nhìn vào mặt trái của chủ nghĩa cá nhân đơn giản hóa vấn nạn tham nhũng bằng cách ví von:

"Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, tôi thấy, như đang là một thùng táo, mà trong đó đã có quá nhiều quả hư thối, nếu không dứt khoát loại bỏ, thì cả thùng sẽ bị tiêu diệt.

"Hay cũng như một quả mít trên cây, bị sâu chích thối hết một phần, nếu không kiên quyết cắt bỏ phần thối, thì cả trái sẽ thối hết và tự nó sẽ rụng, mà không cần đến một ‘thế lực phản động’ nào rung cây, phá hoại cả."

Theo tôi nếu nhặt được các quả táo hư hay cắt bỏ được phần thối của quả mít mà giải quyết được tình trạng tham nhũng và vô số những tiêu cực khác thì đảng Cộng sản đã làm rồi không phải đợi đến ngày nay.

Ngày 8/3/2016 tại "Hội nghị tổng kết phòng chống tham nhũng và lãng phí" Thiếu tướng công an Phan Anh Minh cho biết theo Chỉ thị 15 của Bộ Chính trị thì việc theo dõi và xét xử đảng viên là chuyện nội bộ của đảng Cộng sản:

“Công an không được quyền tổ chức trinh sát đảng viên nên không thể phát hiện được tham nhũng".

Nên thực chất các cuộc chiến chống tham nhũng, kể cả vụ Đại tá Trần Dụ Châu bị xử tử trong thời kháng chiến chống Pháp nói bên trên, chỉ là những cuộc thanh trừng nội bộ đảng Cộng sản. 

Văn hóa giả dối

Trong bài phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành có nhắc đến “đạo đức cách mạng” của hai nhân vật là “thần tượng” của ông Thành.

Thứ nhất là bà Nguyễn thị Bình, Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tại Hội Đàm Paris, người mà trong một thời gian dài đã được đồn thổi là con gái của cụ Nguyễn An Ninh.

Cho đến mãi sau này khi con cháu cụ Nguyễn An Ninh lên tiếng bà Nguyễn thị Bình có tập kết ra Bắc nhưng không tham gia vào các hoạt động của cộng sản.

Lúc ấy mới có thông tin “chính thức” về người mà ông Thành nói đến tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa cháu kêu cụ Phan Chu Trinh là ông ngoại (không rõ thông tin này có thật không).

Nhân vật thứ hai là Hồ Chí Minh, những người như ông Hoàng Tùng, ông Đoàn Duy Thành, ông Bùi Tín và cả guồng máy của đảng Cộng sản trong một thời gian dài đã tạo ra nhiều huyền thoại khác nhau nhằm che đậy việc ông Hồ ra lệnh xử tử điền chủ Nguyễn thị Năm.

Nhờ những thông tin từ các huyền thoại tôi mới biết đến bà Nguyễn thị Năm và nhờ đó mới phát hiện bài “Địa chủ ác ghê” của C.B. (Của Bác) đăng trên báo Nhân Dân.

Tôi đã công bố tài liệu này trên trang talawas ngày 25/1/2007, trong bài viết ”Vai trò của Hồ Chí Minh trong Cải cách ruộng đất”. (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9078&rb=0302)

Đến năm 2014 qua tác phẩm “Đèn Cù” tác giả Trần Đĩnh, từng làm việc cho báo Nhân Dân, đã xác nhận bài “Địa chủ ác ghê” do chính ông Hồ viết.

Tác giả Trần Đĩnh còn cho biết: ông Hồ đã “che mặt, bịt râu” đến tham dự cuộc đấu tố và cuộc xử bắn bà Nguyễn thị Năm.

Tôi nhắc đến Cải cách ruộng đất vì nó đã tiêu diệt cả tầng lớp nho sĩ và trí thức tại miền Bắc, nó phá vỡ nền móng tín ngưỡng và văn hóa truyền thống Việt Nam, phá vỡ mọi nền tảng giúp giảm thiểu nạn tham nhũng tại miền Bắc trước đây. 

Tự do cá nhân

Tôi có thể tự tin mà nói rằng miền Bắc đã được miền Nam giải phóng từ một xã hội đơn điệu từ cách ăn mặc, sinh hoạt đến cách suy nghĩ để ngày càng tự do và đa dạng hơn.

Ngày nay các ước muốn tự do cá nhân như tự do cư trú, đi lại, làm ăn buôn bán, đến việc riêng tư, ăn nói, thờ phụng và nhiều quyền tự do khác của người dân cả hai miền Bắc Nam đã không còn bị nhà cầm quyền cộng sản giới hạn hay cấm đoán như trước đây.

Nói rõ hơn là đảng Cộng sản không còn khả năng kiểm soát hay họ chỉ còn đủ năng lực tập trung vào việc kiểm soát chính trị và bảo vệ chế độ.

Người dân Việt và nhất là tầng lớp thanh niên sinh viên những người trẻ đã được thưởng thức trái ngọt của tự do cá nhân càng ngày càng tránh xa đảng Cộng sản, nên Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng phải nhìn nhận tình trạng “chán Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” tại Việt Nam.

Nhưng vì thiếu tự do chính trị nên xã hội mới bộc phát những tệ nạn như tham nhũng, hối lộ, thiếu minh bạch trong thu chi tiền từ thiện, mê tín dị đoan và rất nhiều tật hư, thói xấu phát sinh từ chủ nghĩa cá nhân.

Vậy chúng ta thử tìm hiểu xem sự liên đới giữa tự do cá nhân và tự do chính trị ra sao.

Tự do được phân loại thành tự do cá nhân (đã được kể ra ở phần trên) và tự do chính trị.

Tự do chính trị bao gồm các quyền lập hiến, quyền tự do bầu cử, ứng cử, lập đảng chính trị, đối lập, báo chí, ngôn luận, biểu tình… những quyền mà người Việt chưa có.

Tự do chính trị thường được gọi là tự do dân chủ vì nhờ đó mới có được một thể chế dân chủ tam quyền phân lập rõ ràng.

Từ đó mới có được một hệ thống luật pháp công minh chống lại tham nhũng và những tiêu cực do tự do cá nhân gây ra.

Luật pháp công minh cũng giúp bảo vệ những quyền tự do cá nhân không để nhà nước hay nhân viên nhà nước lạm quyền hay tước quyền mà người dân đã giành được. 

Đổi mới chính trị

Kinh tế gia Bùi Kiến Thành có nhắc đến Đại hội VI (1986), một Đại Hội mà đảng Cộng sản đã phải công khai tuyên bố “đổi mới không thì chết”, sau đó chính Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Trần Xuân Bách đã phải nhìn nhận rằng thay đổi chính trị là điều tất nhiên:

“Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân.”

Trong khi một người cộng sản như ông Trần Xuân Bách nhìn nhận đảng Cộng sản phải thay đổi cả chính trị lẫn kinh tế, thì thành phần trí thức và chính trị gia Mỹ theo chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism) và thành phần thiên cộng lại cổ vũ việc công nhận thể chế cộng sản và thương mãi tự do với các nước theo cộng sản.

Họ dựa trên một giả thuyết vô cùng đơn giản là khi Mỹ và các quốc gia Tây Phương mở cửa giao thương thì cộng sản sẽ có “thiện chí” tự thay đổi để chấp nhận tự do dân chủ.

Trên thực tế đảng Cộng sản Trung Hoa đã không nới lỏng tự do chính trị mà còn sử dụng mọi thủ đoạn để đạt được tham vọng bá chủ hoàn cầu.

Những sai lầm về mặt tư tưởng của chủ nghĩa tân tự do và toàn cầu hóa gây cho nước Mỹ ngày càng tụt hậu, công nhân mất việc, giới trẻ không có việc làm, xã hội phân hóa, chính trị rối ren, mất quyền kiểm soát các tổ chức quốc tế và lề luật chung cho toàn thế giới.

Hiện nay, tôi thấy Hà Nội một bên thì cậy nhờ Trung Quốc, bên kia thì dựa vào phía Mỹ để sống còn nên con đường đi tới của quốc gia đang bế tắc.

Trong 30 năm qua, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam luôn phải vay mượn quốc tế mà chi tiêu với nhiều sai trái, lãng phí và tham nhũng, cứ xem vụ đường sắt Cát Linh - Hà Đông thì rõ.

Nay, đến lúc họ phải trả cả tiền vốn lẫn tiền lời, nên họ đang rơi vào tình trạng thiếu ngoại tệ để trả nợ.

Bị các chủ nợ quốc tế kiểm soát nên đảng Cộng sản không thể lộ liễu in tiền như thập niên 1980, dẫn đến tình trạng ngân sách cứu trợ đã công bố nhưng thiếu tiền mặt để chi và thiếu cả ngoại tệ để mua thuốc chủng ngừa Covid 19.

Khiến nhà cầm quyền phải lập Quỹ Vaccine phòng chống Covid-19 xin từ tiền quà sáng của đứa trẻ đến tiền hưu bổng của cụ già, điều này đã nói rõ thực trạng và thực lực của đảng Cộng sản Việt Nam. 

Cần có tự do chính trị

Theo ông Bùi Kiến Thành thì "Thực trạng tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, có thể coi như là một thứ virus nguy hiểm hơn cả Covid-19.”, nên tôi nhận thấy lối thoát là phải lấy tự do chính trị làm thuốc ngừa tham nhũng và các tiêu cực do chủ nghĩa cá nhân gây ra.

Nói đến tự do chính trị thì phải trở lại các điều mà Đảng Cộng sản sau này gạt bỏ, gồm quyền lập hiến và các quyền chính trị được ghi rõ trong Hiến Pháp năm 1946.

Các hiến pháp sau này chỉ là những bản sao các Cương lĩnh của đảng Cộng sản, đều đã không được mang ra trưng cầu dân ý, vì thế muốn giải quyết những bế tắc tại Việt Nam thì phải bắt đầu lại từ đầu.

Người dân Việt trong và ngoài nước phải giành lại quyền lập hiến, bầu lên một Quốc Hội Lập Hiến, soạn một Hiến Pháp, xây dựng một thể chế tam quyền phân lập, soạn ra những điều luật mới chống tham nhũng và chống lại mọi tiêu cực xã hội do chủ nghĩa cá nhân gây ra.

Đây là con đường duy nhất để có thể đưa đất nước Việt Nam đến tự do, dân chủ, giàu mạnh, bảo toàn chủ quyền quốc gia.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

16/6/2021




Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Cờ Vàng Trong Xã Hội Đa Văn Hóa Tại Úc Và Vụ Nhóm Du Học Sinh Xúc Phạm Lá Cờ

 

Cờ Việt Nam Cộng Hòa và cờ Úc

CỜ VÀNG TRONG XÃ HỘI ĐA VĂN HÓA TẠI ÚC VÀ VỤ NHÓM DU HỌC SINH XÚC PHẠM LÁ CỜ
Nguyễn Quang Duy

Trên trang của Viện Bảo Tàng Quốc Gia Úc (The National Museum of Australia) có bài viết “Chấm dứt chính sách nước Úc của người da trắng” (End of the White Australia policy), với bức hình lá cờ Việt Nam Cộng Hòa bên cạnh lá cờ các quốc gia khác, và Thủ tướng Úc Harold Gorden, bên cạnh ông Nguyễn Văn Thiệu, ông Nguyễn Cao Kỳ và lãnh đạo các quốc gia khác trong Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (SEATO). (https://www.nma.gov.au/defining-moments/resources/end-of-white-australia-policy)

Tại sao bức hình với lá cờ Vàng được lấy làm biểu tượng cho việc chấm dứt chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tại Úc?

Tại sao việc xúc phạm lá cờ Vàng cần được hiểu đến nơi đến chốn?

Chúng ta có gì để học hỏi từ chủ nghĩa đa văn hóa tại Úc (Multiculturalism)?

Xin được ngắn gọn giải thích các câu hỏi nói trên trong bài viết dưới đây. 

Hình thành chủ nghĩa quốc gia Úc

Cuối thế kỷ thứ 19, người Úc bắt đầu bàn luận để hình thành một chủ nghĩa quốc gia, vừa ôn hòa đấu tranh giành độc lập từ nước Anh, vừa xây dựng một nước Úc độc lập và thịnh vượng.

Lúc ấy, lên đến 90% dân số Úc là người da trắng, có nguồn gốc từ hai sắc tộc Anh và Ái Nhĩ Lan, đều nói tiếng Anh, theo Thiên Chúa Giáo và cùng gốc văn hóa Anglo Saxon.

Dân số khi ấy chỉ trên 3 triệu người, nên người Úc da trắng lo sợ là người Á Châu sẽ di cư cướp công ăn việc làm và xóa bỏ văn hóa và tôn giáo của họ.

Vì thế, ngay khi được Anh Quốc trao trả độc lập, năm 1901 Chính phủ Úc đã ban hành các Đạo luật xác định nước Úc của người da trắng.

Chủ nghĩa quốc gia nước Úc thuộc người da trắng là một chủ nghĩa phân biệt chủng tộc vì những người Úc thuộc các sắc dân Á châu và hải đảo Thái Bình Dương đang sống tại Úc bị đối xử khác biệt với người Úc da trắng, và có trên 250 bộ tộc thổ dân không được xem là công dân Úc, không được đối xử bình đẳng hay được đi bầu. 

Chính sách di dân và đồng hóa

Sau thế chiến thứ 2 Chính phủ Úc thay đổi cách suy nghĩ, với một dân số chỉ trên 7 triệu nếu bị quốc gia khác xâm lăng người Úc khó có thể bảo vệ và muốn đất nước phát triển cần phải có di dân.

Chính phủ Úc thay đổi chính sách di trú bắt đầu nhận di dân từ các quốc gia Âu châu, đồng thời đề ra chính sách đồng hóa và chính sách hội nhập, buộc di dân phải chấp nhận Anh ngữ là ngôn ngữ sinh hoạt và chấp nhận văn hóa của người Úc da trắng.

Nhiều di dân từ các quốc gia Âu châu không cảm thấy nước Úc là “ngôi nhà” để họ định cư nên về lại Âu Châu và hậu quả người từ Âu châu không còn muốn di dân đến Úc. 

Kết thúc chủ nghĩa nước Úc của người da trắng

Sau Thế Chiến thứ 2, Trung Hoa lục địa, rồi Bắc Hàn và Bắc Việt lọt vào tay cộng sản, du kích quân cộng sản nổi dậy khắp các quốc gia Đông Nam Châu Á (Thái Lan, Malaysia, Indonesia).

Chính phủ Úc tin rằng phải tích cực ngăn chặn được sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Á châu nên thay đổi chính sách quốc phòng gia nhập Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (SEATO), xem Úc như một quốc gia có lợi ích gắn liền với Châu Á.

Chính phủ Úc gởi 60,000 binh sĩ Úc tham chiến tại miền Nam Việt Nam, với 521 binh sĩ hy sinh và chừng 3,000 binh sĩ bị thương.

Như vậy, lá cờ Vàng ba sọc đỏ không chỉ là di sản của người miền Nam Việt Nam, mà còn là di sản là một phần của lịch sử nước Úc nên mới được Viện Bảo tàng Quốc Gia Úc chính thức ghi nhận. 

Chủ nghĩa đa văn hóa (Multiculturalism)

Khi chủ nghĩa quốc gia nước Úc của người da trắng chấm dứt thì cần có một hệ tư tưởng mới làm nền tảng xây dựng văn hóa, giáo dục, xã hội, kinh tế, chính trị và nhất là luật pháp cho nước Úc.

Chính phủ Úc từng bước xây dựng chủ nghĩa đa văn hóa nhìn nhận mọi công dân Úc bình đẳng về quyền và trách nhiệm, nên công nhận mọi tư tưởng, cách sống, văn hóa của từng cá nhân.

Nhưng đồng thời mỗi cá nhân phải chấp nhận và tôn trọng văn hóa của các thành viên khác trong xã hội và sinh hoạt trong phạm vi mà luật pháp Úc cho phép.

Mỗi cá nhân lại thuộc về một hay nhiều văn hóa khác nhau, như một người có thể thuộc về một nhóm văn hóa sắc tộc và đồng thời thuộc về nhóm văn hóa của người đồng tính, hay trẻ em có cha mẹ thuộc hai sắc tộc có thể được ảnh hưởng bởi 2 nền văn hóa khác nhau.

Cùng một sắc tộc lại có nhiều nhóm văn hóa khác nhau như người Việt tới Úc từ miền Nam hay miền Bắc, hay người thổ dân có đến hơn 200 văn hóa bộ tộc khác nhau.

Nói cách khác trong xã hội đa văn hóa mỗi người mỗi khác, nên một người muốn được người khác tôn trọng và được xã hội tôn trọng, thì họ phải tôn trọng sự khác biệt của người khác và của xã hội.

Ngày nay Chủ nghĩa đa văn hóa đã trở thành chủ nghĩa quốc gia cho nước Úc, nhưng đương nhiên vẫn còn những điều chưa được hoàn mỹ cần tiếp tục tìm ra những giải pháp cụ thể và tránh bị tái diễn như trường hợp của nhóm học sinh xúc phạm cờ Vàng trong ngày 30/4/2021 vừa qua. 

Cộng đồng Người Việt tự do tại Úc

Sau khi chủ nghĩa nước Úc của người da trắng bị bãi bỏ, người Đông Timor, người Lebanon và người Việt là 3 nhóm tị nạn đầu tiên được nhận đến Úc định cư, khi ấy chủ nghĩa đa văn hóa còn rất sơ khai.

Người Việt tị nạn đã nhanh chóng thích ứng với chủ nghĩa đa văn hóa, lập hội đoàn sinh hoạt, tổ chức hội chợ Tết, xây Chùa, lập Trung tâm sinh hoạt Công giáo, Hội Thánh Tin Lành, mở trường dạy tiếng Việt, tổ chức tết Trung Thu, mở khu vực buôn bán và tổ chức biểu tình biểu lộ chính kiến.

Các sinh hoạt về văn hóa, giáo dục, thương mãi và chính trị của người Việt tị nạn nói trên đều không được cho phép trong giai đoạn chủ nghĩa nước Úc của người da trắng còn tồn tại.

Đặc biệt, người Việt tị nạn luôn tìm mọi cách để vinh danh lá cờ Vàng, nên đến nay đã có tới 10 thành phố và hầu như tất cả các chính trị gia Úc công nhận cờ Vàng vừa là di sản và vừa là biểu tượng của người Việt tự do.

Người Việt tị nạn xem nước Úc như một miền đất mới nên sẵn sàng nhận bất cứ công việc, từ làm ở nông trại đến các hãng xưởng, nhiều người đi học lại, nhanh chóng mua nhà hay mở doanh nghiệp.

Sự thành công của người Việt tị nạn đã thúc đẩy các Chính Phủ Úc sau này hoàn chỉnh các chính sách đa văn hóa, xây dựng thành công một nước Úc với trên 200 bộ tộc thổ dân và cả trăm cộng động sắc tộc từ khắp nơi trên thế giới đến định cư.

Ba bài viết dưới đây về Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc xin gởi đến bạn đọc:

https://www.bbc.com/vietnamese/forum-51489281

https://www.bbc.com/vietnamese/forum-51585546

https://www.bbc.com/vietnamese/forum-51694763

Vụ xúc phạm cờ Vàng

Ngày 30/4 được người Việt tị nạn xem là ngày Quốc Hận, ý nghĩa ở đây không phải là hận thù mà là hận chính mình đã không làm tròn trách nhiệm để quê nhà lọt vào tay cộng sản nên phải bỏ nước ra đi.

Hận như thế không mang bản chất bạo động như tổ chức tấn công tòa Đại Sứ cộng sản hay tấn công những du học sinh.

Nhưng ngày 30/4 năm nay một nhóm học sinh từ Việt Nam sang đã xúc phạm lá cờ Vàng, với những hành vi và lời lẽ đầy bạo động, đe dọa và hận thù làm dấy lên tranh luận từ nhiều phía.

Ngay khi nhận được thông tin về hành vi phạm pháp của nhóm học sinh, Cộng Đồng đã viết thư và gởi video đến trường Trung Học Marrickville.

Nhà trường đã thấy rõ mức độ nghiêm trọng nên đã đình chỉ việc học và quyết định đuổi nhóm học sinh này, cũng như đã chuyển cho cảnh sát điều tra.

Trong phạm vi luật lệ hiện hành, cảnh sát đang truy tố tội hủy hoại tài sản cộng đồng và tiến hành điều tra xem đây là hành động của cá nhân hay có tổ chức hoặc chính quyền đứng đằng sau thu xếp hay xúi dục.

Cộng Đồng còn xét thấy nhóm học sinh vi phạm chính sách đa văn hóa Úc nên có bổn phận phải làm rõ vấn đề, tránh những hành vi phạm pháp tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho nước Úc.

Bởi thế Cộng Đồng mới làm việc với chính giới Úc, đích thân ông David Elliott Bộ Trưởng Cảnh Sát tiểu bang New South Wales đã điều động đơn vị Chống Khủng Bố và Hận Thù mở cuộc điều tra và hồ sơ đã được chuyển sang Bộ Nội Vụ để thẩm vấn và điều tra các đối tượng.

Cộng Đồng cho biết đã vận động được trên 16,000 chữ ký, vào ngày thứ ba 24/5/2021 đã chính thức gửi văn thư đến Tổng Trưởng Di Trú Alex Hawke để yêu cầu xem xét hủy visa của nhóm học sinh.

Nói một cách dễ hiểu, một người đến nhà bạn ở tạm, nhưng lại vừa phá hoại vừa xúc phạm đến giá trị di sản của gia đình bạn, việc đuổi người này là việc không có gì phải bàn cãi, nhưng nước Úc có luật pháp nên ngay cả đuổi người thuê nhà cũng phải đuổi cho đúng với luật pháp.

Còn một rừng thông tin và tranh cãi trên các mạng xã hội, thì vừa biểu hiện phong cách “đa văn hóa” lại vừa nói lên sự quan tâm của dư luận đối với sự kiện xúc phạm lá cờ Vàng.

Việt Nam một xã hội đa văn hóa…

Trước năm 1945, sự khác biệt về văn hóa và chính trị giữa 3 miền Bắc, Trung và Nam đã rất lớn, chưa kể có trên 50 các sắc tộc thiểu số với đặc thù văn hóa rất khác biệt.

Trong thời Việt Nam Cộng Hòa sự khác biệt về văn hóa và chính trị cũng đã được tôi trình bày qua bài viết “Chủ nghĩa nào đã làm Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ năm 1975?”.

Chủ nghĩa nào làm Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ? - BBC News Tiếng Việt



Cho đến 30/4/1975, miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản còn miền Nam theo chủ nghĩa tự do, và di sản đó cho đến nay vẫn để lại sự khác biệt giữa Bắc và Nam rõ rệt.

Hai thành phố Sài Gòn lẫn Hà Nội đều tiếp nhận những đợt di dân nên nhìn chung cả hai đều là những thành phố đa văn hóa.

Nhưng văn hóa ở Sài Gòn rất khác với văn hóa ở Hà Nội và văn hóa các vùng miền trên đất nước Việt Nam, nên nhìn chung xã hội Việt Nam cũng là một xã hội đa văn hóa.

Trong khi ấy thì hệ thống chính trị vẫn đơn nguyên (nghĩ một chiều) và độc đảng nên càng ngày khoảng cách giữa đảng Cộng sản và người dân càng xa cách.

Thể chế từ chính trị đến pháp luật tại Việt Nam vẫn khô cứng, bảo thủ và giới lãnh đạo tìm mọi mưu mô né tránh cải cách chân thực nên bộ máy càng ngày càng lỗi thời trước sức tiến của xã hội ngày một đa dạng.

Già rồi vẫn nghèo…

Ngày nay chủ nghĩa đa văn hóa đã trở thành nền tảng tư tưởng được nhiều quốc gia trên thế giới, như Úc, Canada, New Zealand, Singapore, Đài Loan, Anh,... giúp các quốc gia này vừa xây dựng một xã hội khoan dung và đoàn kết, vừa để thu hút người trẻ di dân.

Trong khi ấy do những chính sách lạc hậu tại Việt Nam, những làn sóng người Việt không ngừng bỏ nước ra đi tìm đến những xứ sở tự do, nơi mà mọi người được đối xử bình đẳng và được tôn trọng.

Ở mỗi miền đất mới người Việt lại học hỏi để thích ứng với văn hóa ở xứ người, nên có thể thấy người Việt ở Úc suy nghĩ và cách sống rất khác với người Việt ở Việt Nam, và khác với người Việt ở các xứ sở khác trên thế giới.

Việt Nam hiện đang đối đầu với nạn “chưa giàu đã già”, nói đúng hơn là “già rồi vẫn nghèo”, vì người già càng ngày càng đông trong khi người trẻ, kể cả những người là con em của đảng viên đảng cộng sản, rất muốn bỏ nước ra đi.

Nếu nhà cầm quyền Việt Nam không chịu nhìn nhận xã hội đa văn hóa thì đừng nói đến việc người trẻ ở hải ngoại trở về, mà phải nghĩ đến việc người trẻ bằng mọi giá sẽ tiếp tục bỏ nước ra đi.

Bài học từ nước Úc

Nước Úc đã thành công trong việc chuyển đổi từ chủ nghĩa quốc gia phân biệt chủng tộc nước Úc của người da trắng sang chủ nghĩa quốc gia đa văn hóa (Multiculturalism) là một bài học cho người Việt tìm hiểu và học hỏi.

Chấp nhận chủ nghĩa đa văn hóa là chấp nhận nối kết mọi tư tưởng, tình cảm, truyền thống, ước mong, ý hướng trong tâm trí của mọi người Việt từ khắp nơi trên thế giới, còn quan tâm đến vận mệnh quốc gia và dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
1/6/2021