Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - QUANG ĐẶNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - QUANG ĐẶNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 2, 2022

Mùa Vui

 


MÙA VUI

Quang Đặng 

27 Tết cửa hàng hoa tươi Dalat Hasfarm quận 7 khách ra vô tấp nập. Hai hàng người xếp hàng dài cả trong nhà lẫn ngoài sân chờ thanh toán tiền. Mỗi người ôm trong tay những bó hoa xuất nhập khẩu chất lượng cao đẹp độc lạ với cái giá thấp nhất vài triệu. 28 Tết các sạp hoa tươi trên đường Phạm Ngũ Lão chợ Thái Bình không một chỗ chen chân. Người mua chen lấn lựa chọn, người bán khản cả giọng vừa tính tiền vừa thoăn thoắt gói hàng. 29 Tết xe cộ nườm nượp ở công viên 23/9. Giá hoa ở đây đã hạ sát giá sàn. Một cặp hoa cúc mai tươi roi rói cao cỡ tám tấc chỉ 100.000đ. Dù bình dân hay cao cấp nhìn cảnh mua bán đông vui không ai nghĩ thành phố vừa qua cơn bạo bệnh. Cái Tết không hẹn vẫn đến. Sài Gòn hồi sinh hay trân quí niềm vui sau những mất mát? 

22 tháng Chạp qua phường đóng tiền thuế đất. Ngoài sân nơi cái bàn phát giấy báo tử mấy tháng trước là một tiểu cảnh xuân có mấy cán bộ phường trẻ đang rủ nhau tíu tít chụp hình. Bác bảo vệ lớn tuổi nở nụ cười thật tươi khi một người dân hỏi Tết có về quê không? Cũng gương mặt đó những ngày đỉnh dịch luôn căng thẳng nhắc nhở tuân thủ 5K bộ mấy ông mấy bà không sợ con virus hả?

24 tháng Chạp tổ trưởng bấm chuông từng nhà. Những cái đầu ló ra từ ban công hỏi vói xuống có gì không em? Dạ phường phát bộ kit test để dân kiểm tra sức khỏe yên tâm ăn Tết. Xời ơi! tưởng phát quà Tết. Những cánh cửa vội vàng mở ra rồi khép lại. Nắng xuân ngọt lịm trên những cây mai hé hé nụ, tiếng máy rè rè vui tai của người mài dao kéo dạo cuối hẻm, hàng bò viên và café đầu hẻm khách ngồi tràn cả lối đi. Mọi khó khăn mới hôm nào giờ như xa tít tắp. Những ngày xếp hàng chờ đến lượt ngoáy mũi, con hẻm cụt có mấy mươi ngôi nhà mà hai người ra đi vì Covid, tiếng vali kéo xềnh xệch không đến những vùng đất xa lạ mà đến các bệnh viện dã chiến, thu dung. Cuộc rượt đuổi từ Corona Vũ Hán đến Delta giờ là Omicron rồi biến thể gì gì nữa khiến ai nấy đều mệt mỏi. Mấy bộ kit test vừa được phát đã vội lãng quên trong góc tủ, quyền lực của mùa xuân mạnh hơn. Dọn dẹp nhà cửa, hối hả mua sắm, đi chợ hoa, du xuân phố ông đồ, đường hoa Nguyễn Huệ, Tao Đàn, Phú Mỹ Hưng. Sân bay Tân Sơn Nhất ngày nào vắng như chùa bà Đanh giờ đông như trẩy hội. Người Sài Gòn sau thời gian bị kỳ thị xa lánh nay lại được chào đón khắp nơi. Mùa xuân như cú hích vực dậy thành phố từng được mệnh danh không ngủ. Mọi việc suy cho cùng đều tuân theo sự xoay vần của tạo hóa. Đông đi xuân đến, hết đêm đến ngày, hoa nở lại tàn, sum họp rồi chia phôi. Người Sài Gòn chưa quên nhưng phải sống trước đã.  

Đêm 29 Sài Gòn đón giao thừa. Không gian vắng lặng như tờ. Trước balcon mỗi nhà bàn thờ nghi ngút khói hương. Phía đông tòa nhà Bitexco màn đêm vẫn ngự trị. Không pháo hoa, tiếng còi tàu thưa thớt chỉ có chuông chùa Lâm Tế và chuông nhà thờ Huyện Sỹ gióng giả như mọi khi. Tàn hết tuần hương một năm mới bắt đầu. Thoảng trong gió hương hoa cúc và nhạc Văn Cao nhà ai mở nhè nhẹ: Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về. Mùa bình thường mùa vui nay đã về…

QUANG ĐẶNG      


Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

Bún Sứa Bà Cửu

 


BÚN SỨA BÀ CỬU

Quang Đặng 

Mỗi lần về Tuy Hòa - Nha Trang bạn bè hay rủ đi ăn bún sứa. Quán nào cũng quảng cáo rất hấp dẫn. Quán nào công thức cũng na ná nhau. Nước lèo nấu từ xương cá ngọt và trong, cá dầm, chả cá hấp hay chiên bỏ thêm vài chân sứa kèm theo một dĩa rau sống. “Rằng ngon thì thật là ngon” rất tiếc chưa lần nào được ăn món bún sứa ưa thích họa chăng trong ký ức. 

Thập niên 60-70 ở thị xã Tuy Hòa ai cũng biết gánh bún sứa bà Cửu ở đường Phan Đình Phùng gần Ngã Năm. Gọi O Cửu mới đúng vì người Huế nhưng dân Tuy Hòa gọi bà nghe quen tai hơn. Đến tận giờ tôi vẫn nhớ như in vóc dáng của bà. Người tầm thước, gương mặt nhỏ, tóc búi phía sau, thường mặc cái áo bà ba trắng ngắn tay quần đen, rất hiền và hay cười. Lý do tôi nhớ rõ từng chi tiết vì chiều nào cỡ 2- 3g bà cùng gánh bún nặng trĩu cũng xuất hiện trước tiệm tạp hóa Hữu Dụng của dì tôi. 

So với các tiệm bún sứa bây giờ thì cách chế biến và nguyên liệu của bà Cửu gần với mì Quảng hơn. Nước lèo hầm bằng xương heo tao hột điều đỏ quạch thơm mùi mắm ruốc. Thịt ba chỉ rim với tôm. Càng ghẹ luộc lột sẵn. Rau ghém trộn giá sống bắp chuối. Đậu phụng rang giã dập, bánh tráng nướng và một thứ không thể thiếu là sứa chân. Bà Cửu còn xào ớt, sả, mắm ruốc (giống sa tế) ai thích ăn cay nêm vào. 

Mỗi khi có khách đầu tiên bà cho bún vào tô rồi lần lượt bỏ tôm thịt rim, càng ghẹ và chân sứa một bên. Sau đó chan nước lèo, nêm hành ngò, bỏ đậu phụng rang, bánh tráng bẻ nhỏ cuối cùng rắt lên một ít tiêu. Lần nào đón tô bún thơm lừng từ tay bà tôi cũng nuốt nước miếng liên tục, hai mắt để hết vào cái tô nhưng không quên vắt một miếng chanh, gắp một đũa rau, bỏ ít ớt xào trộn đều lên bắt đầu thưởng thức. Miếng thịt ba chỉ beo béo, con tôm rim đậm đà, thịt ghẹ ngọt, mùi thơm nồng của rau, vị bùi của đậu phụng, bánh tráng giòn rụm nhất là mấy miếng sứa chân nhai sần sật thỉnh thoảng lại cắn một miếng ớt xanh, húp một miếng nước lèo ngọt lự... Chao ôi! Mồ hôi mồ kê tuôn ra nhễ nhại vì trời nóng vì ớt cay xè nhưng mùi vị thơm ngon của tô bún không sao cưỡng lại nổi. So với vật giá khi ấy tô bún sứa chất lượng của bà Cửu không hề rẻ nhưng ăn một lần là ghiền thậm chí nhớ đến mấy mươi năm sau. 

Theo lời con dì tôi sau năm 75 bà Cửu không bán nữa. Bà Cửu mất, đệ tử là O Tường hiện đang sống ở Tuy Hòa cũng thôi bán nhưng tô bún thì còn mãi trong tâm tưởng nhiều người. Bạn bè cùng lứa tuổi của tôi còn ở Tuy Hòa, đi xa hay cách nửa vòng trái đất cũng nhớ quay quắt tô bún ngày xưa. Có lần Xuân Trâm ở Mỹ gọi điện về, sao mình nhớ bún sứa bà Cửu quá! Phạm Phú Trực anh của Trâm lúc còn sống cũng thỉnh thoảng nhắc, giờ mà có tô bún sứa bà Cửu thì tuyệt! Tôi đã đi qua nhiều vùng miền thành thị có, nông thôn có nhưng không thấy ai bán thứ bún sứa như thế. Cách đây không lâu một cô bạn ở Tuy Hòa post lên Fb tô bún sứa tự tay làm giống hệt bà Cửu đồng thời bạn cô ấy ở Huế cũng post lên món bún tương tự nhưng gọi là bún giấm nuốc. Vào Google tìm hiểu đây là món bún thông dụng ở Huế mùa hè. Cùng họ với sứa nhưng nuốc nhỏ hơn được chia làm hai phần. Phần tai thường được dùng làm gỏi và phần chân nuốc chính là linh hồn của món bún nuốc. Trên đường tha phương bà Cửu đã mang theo món bún quê hương vào Tuy Hòa thay nuốc bằng sứa thành món bún đặc biệt mang tên bà. 

Thỉnh thoảng về Tuy Hòa mùa sứa mấy người em con dì tôi thường đãi món bún này. Khách quan mà nói chất lượng và mùi vị không thua gì tô bún sứa bà Cửu ngày trước. Nhưng hình như thiêu thiếu thứ gì. Thiếu gánh bún nằm ở góc phố thân quen, thiếu dáng áo bà ba trắng loay hoay tất bật của bà Cửu và nhất là không khí oi bức ngày hè nhưng êm đềm của thị xã thời chiến tranh. Nêm các ký ức ấy sẽ có tô bún mang tên món nhớ. Không biết ở Tuy Hòa còn ai nhớ đường Phan Đình Phùng gần Ngã Năm từng có một gánh bún sứa rất ngon. 

QUANG ĐẶNG - tháng 5/2021

(Cám ơn tư liệu của Trà Huỳnh và Bích Vân Phan)                                          

 


Thứ Hai, 14 tháng 9, 2020

Đời Và Phim



Tản Mạn Cuối Tuần - ĐỜI VÀ PHIM
Quang Đặng

Năm 2019 có một bộ phim mà những người yêu thích điện ảnh không thể bỏ qua là KÝ SINH TRÙNG. Ngoài các yếu tố như kịch bản logic, âm nhạc hay, đạo diễn giỏi, dàn diễn viên xuất sắc phim còn phản ảnh sâu sắc sự khác biệt giữa hai tầng lớp giàu và nghèo điển hình ở Hàn Quốc. Phim sau đó đoạt giải Cành Cọ Vàng liên hoan phim Cannes ở Pháp và thắng bốn giải Oscar trong đó có Oscar danh giá phim hay nhất.

Truyện phim được tóm tắt như sau: Gia đình họ Kim sống nghèo khổ dưới một tầng hầm tồi tàn ở Seoul. Từ ô cửa kính nhìn ra đụng ngay mặt đường và những người tiểu bậy. Người con trai của họ tình cờ được một người bạn giới thiệu làm gia sư cho con gái một gia đình giàu có. Choáng ngợp vì cuộc sống xa hoa của gia chủ, anh ta cùng cha, mẹ, cô em gái lần lượt giở các âm mưu và thủ đoạn để có mặt ở ngôi biệt thự trong vai trò tài xế, quản gia, gia sư. Mọi việc suông sẽ cho đến khi bà Moon - gwang người quản gia cũ và chồng xuất hiện. Bộ mặt thật của nhà họ Kim cùng vợ chồng bà Moon- gwang đều bị bóc trần sau đó là cảnh tiêu diệt lẫn nhau của hai gia đình cùng khổ dưới tầng hầm ngôi biệt thự. Trong bữa tiệc sinh nhật của con trai chủ nhà, chồng bà Moon gwang tức giận vì cái chết của vợ đã dùng dao đâm chết con gái họ Kim. Ngay sau đó ông ta cũng bị bà Kim giết chết. Chứng kiến cảnh hỗn loạn, con trai của chủ nhà bị ngất xỉu. Giám đốc Park trong lúc lấy chìa khóa từ xác chồng bà Moon - gwang để chở con trai đi cấp cứu đã bịt mũi vì mùi hôi bốc ra từ xác chết. Phẫn nộ trước thái độ khinh miệt cũng từng xảy ra với mình, ông Kim đã đâm chết giám đốc Park. Phim kết thúc bằng qui luật trả vay: những kẻ ăn bám (Ký Sinh Trùng) không thoát khỏi số phận của mình, trở về nơi xuất phát thậm chí còn nghiệt ngã hơn.

Trong phim có nhiều chi tiết rất đắt và "mùi nghèo" là một trong số đó. Đó có thể là mùi của những ngôi nhà ẩm thấp thiếu ánh sáng, mùi xà bông rẻ tiền, mùi quần áo giặt phơi thiếu nắng, mùi mồ hôi… và cái chun mũi hít hít của những người ở tầng lớp thượng lưu khi phát hiện mùi này đã đẩy bộ phim lên cao trào bằng một bữa tiệc sinh nhật đẫm máu. Tuy chỉ một chi tiết nhỏ nhưng đạo diễn kiêm tác giả kịch bản phim Bong Joon - ho đã khai thác tâm lý nhân vật rất hiệu quả. Tài xế Kim thật ra không thù oán gì với giám đốc Park và không giết chủ của mình trừ phi giám đốc Park không đưa tay bịt mũi. Tiếc thay cử chỉ này từng lặp lại nhiều lần và mũi dao oan nghiệt chính là giọt nước tràn ly của mặc cảm đói nghèo.

Sài Gòn những ngày công trình metro chưa rào chắn khu trung tâm quận Một. Hàng đêm cỡ 9, 10g ai đi ngang qua bùng binh Quách Thị Trang đều thấy một cảnh tượng se lòng.
Chừng mươi đôi quang gánh quà vặt tụ tập trên khoảng đất trống trước công viên 23/9 cách chợ Bến Thành và khách sạn năm sao New World vài bước chân. Những người bán xếp các đôi quang gánh thành một vòng tròn, ngày nắng cũng như ngày mưa đều lấy áo mưa che kín phía ngoài để bảo vệ số vốn liếng ít ỏi đồng thời sẽ ngủ trong vòng tròn ấy. Theo một bài báo tất cả đều là đồng hương một tỉnh miền Trung. Ban ngày họ chia nhau rong ruổi khắp đường phố Sài Gòn với các gánh cóc, ổi, đậu phụng, bánh tráng trộn, trứng cút… ban đêm để tiết kiệm tiền trọ rủ nhau về đây ngủ giữa trời. Nhiều người miền Trung thành đạt ở đất này bắt đầu từ hai bàn tay trắng, ai dám chắc không có những mầm ươm đại học, bác sĩ, kỹ sư trong đôi mắt của các bà, mẹ, chị đang nằm thao thức dưới khách sạn ngàn sao? Sài Gòn là nơi hội tụ của dân tứ xứ, cơ hội chia đều cho bất cứ ai. Ngược lại mọi người góp phần vào sự phát triển của thành phố, một sự hổ tương qua lại.

Mới nghe qua hai đề tài nói trên chẳng liên quan gì đến nhau. Động lực kiếm sống của mỗi bên rất rõ ràng. Một bên là đời thật mưu sinh bằng chính sức lao động của mình, một bên là hư cấu sống bám vào người khác để tồn tại. Thế nhưng từ khóa "ký sinh trùng" nóng lên thời gian gần đây cho thấy có vài sự trùng hợp. Dựa vào nội dung phim có tên "Ký Sinh Trùng" là chính xác nhưng cũng mấy từ đó gán cho những người bán hàng rong lao động chân chính ngoài đời rõ thật là… Sự nhầm lẫn tai hại này dẫn đến một sự trùng hợp khác: đừng chạm đến lòng tự trọng của người nghèo thông qua thông điệp ở cuối phim và sự phẫn nộ của dư luận. Cuối cùng là sự trùng hợp tất yếu: sau khi phim trình chiếu và phát ngôn lệch lạc cả hai đều nổi tiếng!

QUANG ĐẶNG


Thứ Ba, 12 tháng 5, 2020

Ngày Không Như Mọi Ngày



NGÀY KHÔNG NHƯ MỌI NGÀY
Quang Đặng

Tôi thường thức dậy rất sớm lúc chùa Lâm Tế gần nhà đổ những hồi chuông đầu tiên. Sau đó ngồi vào bàn và viết. Từ hôm dịch Covid- 19 lan rộng thói quen cũng thay đổi. Thay vì viết lại mở máy đọc tin tức vì thật ra cũng chẳng viết được, con virus đáng sợ đã đánh bật mọi ý tưởng đang lởn vởn trong đầu.

Lúc dịch bệnh chỉ mới xuất hiện ở Vũ Hán, hàng ngày tôi đọc lướt qua các tin vì ngỡ cũng giống các trận dịch trước không ảnh hưởng gì nhiều đến Việt Nam, thậm chí đầu tháng hai còn về Tuy Hòa dự một buổi họp lớp. Nhưng đến khi tình hình Vũ Hán trở nên nghiêm trọng và số người dương tính với virus trong nước tăng dần tôi không còn thờ ơ như trước nữa. 

Thoạt tiên tôi thu nạp nhiều nguồn tin. TV, báo mạng, Facebook, Zalo, tin trong nước, tin ngoài nước. Lúc này những gì liên quan đến cơn sốt Vũ Hán đều không bỏ sót: con số tử vong nhảy múa, ngôi chợ bán động vật hoang dã, đường phố không một bóng người, các bệnh viện dã chiến, nhật ký của một nhà văn. Tiếp theo là Hàn Quốc, Ý, các nước Châu Âu rồi Mỹ cùng một kịch bản lây lan và chết chóc tăng chóng mặt y hệt Vũ Hán. Tin trong nước thì nay địa phương này xuất hiện ổ dịch, mai khu phố kia bị cách ly. Các chuyến bay từ nước ngoài về chở theo không ít người mang mầm bệnh. Học sinh nghỉ học. Lương thực, thực phẩm ở các siêu thị, chợ cháy hàng. Hàng không, xe lửa, xe taxi, xe bus, du lịch, hàng quán, mọi dịch vụ đều ngưng trệ.

Không dưng nạp cùng một lúc số lượng lớn tin tức cộng với việc hạn chế đi ra ngoài khiến đầu óc tôi trở nên quá tải, căng thẳng thấy rõ. Tưởng chỉ mỗi mình tôi, hóa ra nhiều người cũng rơi vào trạng thái tương tự. Có lần tôi gọi điện cho nhà văn NM. Mãi một lúc sau mới có tiếng trả lời: Anh đang thiu thiu ngủ. Thời tiết lúc này thật khó chịu, sắp giao mùa nên người anh cứ bần thần. Không phải do thời tiết, anh ở lâu trong nhà nên đâm ra như thế. Còn hỏi nhà văn ĐCL đang làm gì, viết gì? Anh đang lơ ngơ không làm gì hết. Tôi có cảm giác đang sống lại những ngày Tết Mậu Thân năm 68 hay tháng 4/75. Lúc nào cũng hoang mang, nơm nớp lo sợ chẳng làm được gì việc gì ngoại trừ nghe ngóng tin tức và chạy đi mua nhu yếu phẩm. Tôi định sẽ thôi đọc tin tức hay hạn chế bớt nhưng không thể nhất là khi Coronavirus xuất hiện ở một hẻm đường Bùi Viện gần nhà và sau đó là ổ dịch bar Buddha ở quận 2.

Sở dĩ tôi nhắc những ngày chạy loạn hồi nhỏ vì tin tức lúc này đưa đến dồn dập kiểu đánh nhau tới đâu rồi? Kẻ thù giấu mặt đang tấn công gần hết thế giới. Tin Covid- 19 tràn ngập trên các phương tiện truyền thông. Giữa một rừng tin tức nóng hổi thật, giả lẫn lộn bỗng dưng sức đọc của tôi khựng lại. Không phải tôi bị bội thực hay tin tức bão hòa mà do ngày nào cũng chỉ đọc một loại tin nên cảm xúc chai đi, chưa kể nếu cứ sa vào các tin tức bi quan rất dễ nảy sinh ý nghĩ tiêu cực. Nghĩ như thế nên thay vì đọc ngấu nghiến mọi thứ như trước, hàng ngày tôi chỉ xem bảng tổng kết số người nhiễm virus, số người tử vong, số ca hồi phục ở một vài điểm nóng trên thế giới như Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Anh, Pháp và một vài tin chính. Không lâu sau đó tôi viết được trở lại. Chủ biên NM cũng vừa khoe cuốn sách được thực hiện trong mấy tháng ngồi nhà. Các bài viết mới của nhà văn ĐCL cũng dần xuất hiện trên FB. Tôi cho rằng đây không phải sự trùng hợp ngẫu nhiên mà là khả năng thích ứng trước những vụ việc có tính chất kéo dài cho dù cao trào đến đâu.

Nói như thế không có nghĩa tôi không còn quan tâm các tin tức dịch bệnh chỉ có điều đọc khác đi. Chẳng hạn vào Youtube xem Vũ Hán thời tiền Covid- 19 đẹp và hiện đại như thế nào rồi so sánh hạc vàng trong thơ Tô Hiệu ở Hoàng Hạc Lâu ngày trước với bầy quạ bay đen kịt bầu trời Vũ Hán hiện tại. Cũng như xem lượng không khí ô nhiễm giảm đáng kể ở các thành phố lớn như Vũ Hán, Châu Âu, New York, Hà Nội, Sài Gòn trong thời gian cách ly.

Thú thật ở Sài Gòn 40 mấy năm tôi chỉ thích Sài Gòn mấy ngày Tết: sạch đẹp, bình yên, vắng lặng. Mùa Covid- 19 bất ngờ trả Sài Gòn về những ngày Tết kéo dài. Không khói bụi, kẹt xe, huyên náo hình ảnh Sài Gòn đẹp đến nao lòng trên các trang mạng. Mùa hoa dầu tháng tư cũng khiến cho người Sài Gòn có cái nhìn khác hơn về thành phố. Trên các con đường quanh khu vực nhà thờ Đức Bà, những cánh hoa dầu bay xoay xoay trong gió trước khi rơi xuống đường tạo thành những đám lá nâu trông thật lãng mạn. Tương tự tôi cũng thích xem hình ảnh phố cổ Hội An, phố cổ Hà Nội, kinh thành Huế trong những ngày giãn cách xã hội. Hiếm khi nào các di tích này được nghỉ ngơi dài ngày với nét cổ kính và trầm mặc vốn có. Hay hình ảnh tương phản giữa chết chóc và bình yên ở các thành phố của Ý. Một bên là quan tài nằm chật cứng ở các nhà thờ cùng những thành phố ma với vô số lâu đài, thành quách nổi tiếng và một bên là đàn cá bơi lội tung tăng dưới làn nước trong xanh tại các điểm du lịch bị phong tỏa hay tiếng hát, tiếng đàn vang lên từ balcon các ngôi nhà để xoa dịu nỗi đau dịch bệnh. Riêng New York hình ảnh các hố chôn tập thể nạn nhân Coronavirus ở đảo Hart làm cho tôi xúc động mạnh và gợi nhớ chuyến đi năm nào. Quảng trường Times Square, cầu Brooklyn, tượng Nữ Thần Tự Do, nhà hát Broadway, Wall Street, Rockefeller Center… mất bao lâu để New York hồi phục?

Bên cạnh đó tôi cũng thường vào trang nhà của những người bạn thích gần gũi với thiên nhiên, ưa chuộng cuộc sống giản dị, bình yên. Bình minh trên bãi biển. Lọ hoa hồng giá rẻ giải cứu nông dân Đà lạt mùa dịch. Chén mắm ruột cá bò ngày hè miền Trung. Bài hát với các ca từ chiêm nghiệm kiếp người của họ Trịnh. Một bài thơ, đoản văn hay viết vội. Cuốn phim định xem từ rất lâu giờ mới có dịp. Đại dịch dường như khiến người ta sống chậm lại, đơn giản hơn, thiên về khuynh hướngTôi yêu những gì đến tự nhiên”(1) và cũng xít lại gần nhau hơn.

Tôi và một nhóm bạn Messenger vừa theo dõi cuộc trùng phùng rất cảm động của vợ chồng người bạn: vợ Ý, chồng Việt. Cả hai đều là nhà văn. Anh chị lấy nhau lúc anh sang Ý du học cách đây mấy mươi năm. Đến tuổi hưu họ về Việt Nam sống. Hàng năm cả hai đều về Ý thăm nhà và lần nào chị cũng ở nán thêm với gia đình một thời gian. Lần này cũng vậy, tháng 2/2020 anh về Việt Nam trước và khi đến lượt chị các chuyến bay từ Ý về Việt Nam đều bị hủy bỏ vì Coronavirus. Không thể để vợ một mình bên ấy anh tìm đủ mọi cách trở về tâm dịch. Hàng ngày chúng tôi vào messenger hồi hộp dõi theo chuyến hành trình đầy bão táp của anh. Có vé rồi lại hủy, lên phi trường rồi lại về không biết mấy lần. Trời không phụ lòng người, Sài Gòn- Doha- Rome cuối cùng anh cũng có mặt ở Milan giống như lời dự báo trên bìa cuốn sách “Milano- Sài Gòn đang về hay sang?” của anh vừa xuất bản cách đây không lâu.

Từ câu chuyện vợ chồng người bạn, tôi chợt nhớ đến trường hợp của ông ngoại tôi, liên quan đến một trận dịch tả xảy ra ở Tuy Hòa cách đây hơn 100 năm (căn cứ vào năm sinh của bà ngoại 1900). Ông ngoại tôi có ba anh em. Ông ngoại lớn nhất thứ hai, người thứ ba không rõ có lẽ đã mất từ lúc nhỏ. Người thứ tư là bà cô Bốn lấy chồng ở Phan Rang. Người thứ năm là bà cô Năm tức chủ tiệm chạp phô bà Năm Chên (gọi theo tên người con gái đầu) ở Ngã Năm Tuy Hòa trước năm 1975 ai cũng biết. Theo lời má tôi kể (thuật lại lời ông ngoại) ba anh em ông ngoại mồ côi cha mẹ rất sớm lúc ông mười mấy tuổi và bà cô Năm còn là một cô bé lên mấy. Nguyên nhân ông bà cố chết trong một trận dịch tả lớn ở Tuy Hòa người chết rất nhiều. Lúc hạ huyệt chính quyền địa phương hồi đó bắt rải vôi trắng xuống mộ cũng như chung quanh nhà để khử trùng. Đây là câu chuyện tôi nghe không biết bao nhiêu lần, chứng nhân lại là những người thân yêu sống chung quanh nhưng cứ nghe xong rồi quên như nghe chuyện cổ tích. Covid- 19 bất ngờ làm tôi nhớ lại. Lạc hậu hay văn minh, dịch bệnh thời đại nào cũng rất đáng sợ.

Cũng trong thời gian giãn cách xã hội, một người bạn gởi cho tôi line cuốn phim “Tình yêu thời thổ tả” phỏng theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn người Colombia Gabriel Garcia Marquez tác giả cuốn “Trăm năm cô đơn”. Phim lấy bối cảnh cảng biển Caribbean vào những năm 1880 khi đại dịch thổ tả cướp đi mạng sống nhiều người. Theo tôi chi tiết đắt giá nhất trong phim là chiếc tàu thủy chở đôi tình nhân lớn tuổi với lá cờ vàng dấu hiệu có người bị bệnh thổ tả trôi giữa dòng sông. Khoan nói đến cách bảo vệ mối tình vượt thời gian rất hay và lãng mạn của nhân vật nam chính, ở đây tôi chỉ muốn nói đại dịch nguy hiểm như thế nào. Chỉ cần giương lá cờ báo hiệu dịch bệnh thuyền bè nào cũng phải tránh xa. 

Một người bạn vừa post lên FB dòng status rất ấn tượng: “Thế hệ của chúng ta chứng kiến hai sự kiện lịch sử quan trọng: 30/4/1975 và Covid- 19. Xét về bản chất hai sự việc hoàn toàn khác nhau song về mặt cảm xúc lại giống hệt nhau: bồn chồn, lo lắng, Que sera, sera? 45 năm trôi qua, cuộc đời mỗi người đều đã có đáp án. Virus cũng vậy sớm hay muộn cũng sẽ tìm được vaccine. Đọng lại gì sau các biến cố mới là điều đáng suy ngẫm: thay đổi cách sống, lãng quên quá khứ, hướng đến tương lai? Hay như vợ chồng người bạn nhà văn sau những bất trắc, chia xa chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại”.(2)

1/ Và Tôi Cũng Yêu Em: sáng tác nhạc sĩ Đức Huy
2/ Thơ Tình Cuối Mùa Thu: thơ Xuân Quỳnh

QUANG ĐẶNG (tháng 5/2020)

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2019

Tôi Đi Dạy



TÔI ĐI DẠY
Quang Đặng

Hàng năm vào ngày 20/11 mấy người bạn giáo viên hay hỏi tôi có ai chúc mừng không? Thật ra tôi đi dạy chỉ có ba năm, khoảng thời gian quá ngắn không đủ để ai nhớ và nhớ ai. Thế nhưng có một số chuyện không hiểu sao lại nhớ rất rõ, có thể do đầu óc hồi đó còn non trẻ tiếp nhận mọi thứ như “gió vào nhà trống”. Và giờ đây sau mấy mươi năm, thỉnh thoảng nhớ lại chuyện cũ lại bật cười, cười ha hả hay cười ra nước mắt hổng biết nữa!

Năm 1977 sau khi tốt nghiệp trường CĐSP Nha Trang khóa I tôi được đổi về trường cấp I, II xã An Chấn, huyện Tuy An. Tuy là trường xã nhưng qui tụ toàn các tay hài cự phách của Tuy Hòa như anh BTP, DTH, ĐHE, thầy NVT. Ngoại trừ thầy hiệu trưởng người Bắc và một số ít giáo viên người địa phương còn lại đều là dân Tuy Hòa. Vì quen biết nhau nên mỗi lần hội họp đều chuyện trò, cười đùa rất thoải mái. Ngoài mấy thầy có tính hài hước, dân Phú Yên hình như ai cũng có chút ít máu tiếu lâm trong người. NQ dạy ở thôn Phú Lương là nhân vật điển hình.

Có lần liên hoan cuối năm NQ xin góp vui văn nghệ bài hát có tựa đề “An Chấn Quê Tôi”. Giới thiệu xong NQ hùng hồn cất tiếng hát: “Hôm nay ta dìa An Chấn quơ hương ta”, vừa mới nghe câu đầu thầy NVT giơ tay nói lớn: “Có ý kiến, có ý kiến! xin thầy Q cho biết tác giả bài hát là ai, hầu nẵm tới giờ tui chưa nghe bài này”. Q ngừng hát, dõng dạc trả lời: của tui rồi tiếp tục hát với chất giọng tự tin to ồm ồm thiếu điếu muốn bể tung phòng họp. Hôm đó hội đồng giáo viên cười bò lăn bò càng vì cái sáng tác tự biên tự diễn phi âm nhạc của nhà giáo kiêm nông dân NQ thôn Phú Lương.

Bên cạnh những tiếng cười tự phát như NQ thì người gây cười thâm thúy nhất có lẽ là thầy NVT. Khi hài thầy không bao giờ cười và luôn giúp chúng tôi gỡ rối các tình huống tréo ngoe. Hồi đó trường An Chấn cũng như các trường khác trong huyện hay tổ chức những cuộc diễu hành, cổ động cho các phong trào, ngày lễ lớn. Thường trong những dịp như thế thầy và trò sắp thành hai hàng, trò đi trước, thầy đi sau vừa đi vừa hô to các khẩu hiệu quanh mấy con đường làng của xã. Hôm đó mọi việc cũng diễn ra y như thế, sau khi tốp học sinh cuối cùng rời khỏi cổng trường thì anh DTH hiệu phó hô to: “Các thầy cô giáo sẵn sàng chưa? Đề nghị tất cả đi hàng hai!”. Cánh giáo viên hàng ngũ chỉnh tề tính dợm bước thì thầy NVT đưa tay ngăn lại: “khoan! Đứng lại! Tụi bay nghe gì không? Nghe gì thầy? Nếu tao nghe không lầm thì cha DTH biểu tụi mình đi “hàng hai” nghĩa là đi chân chữ bát chứ không phải đi thành hai hàng”. Đám giáo viên trẻ nhìn nhau ngơ ngác, hổng lẽ…? nào ngờ nhìn sang bên cạnh thấy hiệu phó DTH đang ôm bụng cười rũ rượi. Đúng là không có gì qua mắt nổi sư phụ NVT.

Ngoài những tình huống gây cười khách quan, đám giáo viên trẻ mới ra trường chúng tôi còn bị các cựu giáo chức xí gạt thường xuyên. Có lần anh BTP chở về trường mấy két nước ngọt. Hôm sau họp anh nhiệt tình khui ra mời không sót một người nào. Trong những năm 77-78 thì nước ngọt là thứ nước giải khát xa xỉ thành thử các giáo viên đều thắc mắc hàng ở đâu ra và nhân dịp gì được mời. Anh BTP chẳng những không nói lý do còn liên tục khuyến khích “ Uống đi mấy em! Cứ uống đi, uống đi, théc méc làm gì cho mau già”. Năm đó đứa nào cũng 21, 22 tuổi nhưng rất ngây thơ cứ thế vô tư uống, uống một chai chưa đã còn lấy thêm vài chai đem về nhà trọ để dành uống từ từ. Đến chừng cuối tháng lãnh lương ai nấy đều tá hỏa vì bị trừ lương. Mặt đứa nào đứa nấy đang nghệch ra không hiểu tại sao thì thầy NVT lấy tay vỗ đét một cái vào đùi: “Chết cha, tụi mình bị cha BTP lừa rồi! ”. Đám bồ chao lao nhao: sao thầy? sao thầy? Nhìn kỹ nè, vừa nói thầy vừa chỉ vào dòng chữ gạch dưới đỏ chót cuối bảng lương: trừ tiền nước ngọt. Tuy méo mặt vì đồng lương tháng đó bị teo tóp, bù lại ai nấy được một trận cười thỏa thuê vì trong danh sách trừ lương có cả thầy NVT, chuyên gia đi xí gạt người khác.  

Thế nhưng việc bị ép ăn uống rồi trừ lương vẫn diễn ra dài dài sau đó. Thường thì cuối tháng trường hay cử một giáo viên ra Chí Thạnh lãnh lương, không hiểu sao chúng tôi lại “chọn mặt gởi tiền” cho HVC dân Nha Trang, tay ăn hàng số một. Lần nào lãnh lương xong HVC cũng theo xe lam vô thẳng Tuy Hòa rồi trở về với một túi đồ ăn hôm thì bánh bao, hôm thì hột vịt lộn, nem nướng những món ăn vượt quá tiêu chuẩn đồng lương eo hẹp của nhà giáo lúc bấy giờ. Được cái ngoài tính tình hiền lành HVC còn là nhà ngoại giao số 1, chuyên săn lùng cá tôm đầu thừa đuôi thẹo của một cơ sở sản xuất hải sản gần đó giúp chúng tôi cải thiện bữa ăn. Thành thử nhiều lúc tức anh ách, miệng la ong óng “ai mượn ông mua?” nhưng khi thấy nụ cười hềnh hệch của HVC lại mũi lòng, tháng sau cử đi lãnh lương tiếp. Rõ khổ!

Ngoại trừ những lúc bị HVC khoái ăn sang dụ dỗ chứ thực đơn hàng ngày của chúng tôi không chỉ “sáng ăn khoai” mà cứ lẩn quẩn hết khoai lang luộc, khoai lang lùi rồi lại cháo khoai lang sang lắm là chè khoai lang (An Chấn là vùng đất rất thích hợp trồng khoai lang). Nói chung việc ăn uống hồi đó rất đơn giản (muốn cầu kỳ cũng không được vì tiền đâu), món mặn hàng ngày là một rổ cá mành, loại cá rẻ tiền nhất sau đó ra quơ quào rau muống, rau mồng tơi trong vườn rồi lén múc vài muỗng nước mắm nhĩ của chủ nhà trọ đang muối cạnh bếp là xong.

Bên cạnh việc ăn uống thì việc ở trọ tại địa phương của chúng tôi cũng có nhiều điều đáng nói. Trường An Chấn tuy nằm tại xã nhưng các giáo viên thường ở nhờ nhà dân hay ở ngay trong trường tiểu học các thôn gần đó như Phú Quí, Phú Phong, Mỹ Quang. Ban ngày trường vẫn giảng dạy bình thường, ban đêm chúng tôi kê bàn lại ngủ. Việc đang ngủ bị lọt xuống đất hay sáng dậy ê ẩm khắp cả người là “chuyện thường ngày ở huyện”, may mà xương cốt hồi đó chắc khỏe chứ như bây giờ thì e… hèm! Có lần tôi và mấy người bạn trọ ở trường tiểu học Phú Quí, sát bên cạnh cái đình cùng tên Phú Quí. Ở nông thôn đình là nơi rất linh thiêng và cũng là nơi buổi tối dân làng hội họp . Đêm đó đình cũng có cuộc họp và chấm dứt lúc 9 giờ. Cỡ hai giờ sáng tôi và một người bạn thức dậy đi vệ sinh bất ngờ nghe một tràng âm thanh lúc lớn lúc nhỏ từ trong đình vang ra. Cả hai đứng tại chỗ, lưỡi ríu lại… tiếng gì… tiếng gì vậy mày? Tao… tao… cũng hổng biết nữa. Bao nhiêu câu chuyện ma quái đồn thổi trước đây về ngôi đình không dưng tới tấp trổi dậy trong đầu khiến chúng tôi đã sợ càng sợ hơn. Tràng âm thanh cứ thế kéo dài được một lúc thì nín bặt và một bóng đen từ trong đình loạng choạng bước ra. Bóng đen mỗi lúc tiến lại gần thì hồn vía chúng tôi cũng bay đâu mất. Cả hai đứng sững há hốc miệng ú ớ không thốt nên lời, rất muốn bỏ chạy mà chạy không được. Khi chỉ cách nhau vài bước chân bóng đen đột ngột dừng lại, đưa tay dụi mắt hỏi: “Ủa họp xong rồi hả mấy cô?" Nghe giọng nói quen quen tôi đánh bạo tiến lại gần nhìn cho rõ. Trời đất! Ba thằng Lành học lớp 6B tôi chủ nhiệm, nhà ở cạnh đình đi họp ngủ quên. Sau lần gặp gỡ đứng tim đó, mỗi tối trước khi đi ngủ chúng tôi hay ra đình xem còn sót tiếng ngáy nào không.

Nhưng có một sự cố đến tận giờ tôi vẫn không thể nào giải thích nổi. Đó là lần tôi trọ ở gần trường cấp II. Từ sân trường có thể thấy nhà tôi đang trọ. Tôi nhớ đêm ấy không có trăng, trời tối đen như mực. Sau khi họp xong, mấy anh giáo viên trong tổ văn đưa tôi về đến tận ngõ. Từ đầu ngõ nhìn vào có thể thấy ánh đèn dầu leo lét trong nhà hắt ra. Đinh ninh đến đây rồi không thể bị lạc, chia tay các đồng nghiệp tôi xăm xăm bước vào. Quái lạ, từ đầu ngõ vào đến nhà chỉ có mấy chục mét không hiểu sao suốt cả buổi tối tôi vẫn chưa vào được trong nhà. Tay giơ cao cây đèn hột vịt khỏi đầu, tôi nhớ mình cứ đi lòng vòng, lòng vòng mãi giống như lạc vào một trận đồ bát quái không tìm ra lối đi. Cho đến khi mồ hôi vã ra như tắm, chân vấp phải bậc thềm xi măng cứng mới biết đã vào đến nhà. Sáng ra nhìn lại chỗ đi lạc hồi tối, đó là miếng đất trồng sắn nước bên hông nhà trên có mấy ngôi mộ đã cũ. Không cần tìm hiểu lý do, ngay hôm sau tôi dọn xuống trường tiểu học Mỹ Quang ở chung với mấy người bạn dù phải đi xa hơn mấy cây số. Thật ra do đầu óc tưởng tượng khá phong phú cộng thêm thói quen ánh đèn điện của thành phố chứ nông thôn hồi đó khá an toàn. Ban đêm chúng tôi thường rủ nhau đi họp, coi văn nghệ, xem phim từ xã này qua xã khác. Có lần còn băng rừng suốt đêm từ An Lĩnh xuống ga Chí Thạnh cho kịp tàu trong một lần đi lao động.

Nói chung đời sống thiếu thốn ở nông thôn quả là một thách thức không nhỏ đối với cánh giáo viên thành phố. Và một trong những thiếu thốn tế nhị nhưng không thể không nói ra là thiếu nhà vệ sinh. Ở nông thôn nhà vệ sinh hồi đó rất hiếm. Trường học không có, nhà dân cũng không nên chúng tôi bắt chước dân địa phương cách“ giải quyết nỗi buồn”. Bãi biển, gò dưa, ruộng lúa khi lâm vào tình thế chẳng đặng đừng nơi nào cũng có thể là bãi đáp.  Buồn cười nhất là lần dạy ở An Hòa, trường cấp II do Unicep cất rất đẹp nằm trên một ngọn đồi trông ra đầm Ô Loan khá thơ mộng. Sát bên cạnh trường có một miếng trống cây cối um tùm đó là nơi  gặp gỡ của hội đồng giáo viên. Tờ mờ sáng hễ thấy thầy cô nào mặc đồ ngủ xăm xăm đi về hướng đầm Ô Loan là hiểu ngay. Nhiều lúc hành sự xong trên đường về gặp nhau không dám chào, mặt sượng ngắt giả vờ ngó bâng quơ trên trời như đi dạo thật ra đang ngượng chín người!

Sinh hoạt thường nhật ở nông thôn cũng khiến cho các giáo viên thành phố lâm vào những tình huống lỡ khóc, lỡ cười. Học sinh cấp II hồi đó thường được giáo viên hướng dẫn đi lao động một buổi trong tuần. Mang tiếng hướng dẫn học sinh chứ bản thân giáo viên cái cuốc không biết cầm, cỏ không nhổ cứ nhè lúa mà nhổ. Được cái học sinh ở nông thôn lớn tuổi và rất hiền luôn thông cảm với cô giáo, trường ra chỉ tiêu làm cỏ hay trồng bắp đám ruộng nào là các em giành làm hết tuy thỉnh thoảng vẫn lấy tay che miệng cười khúc khích khi thấy cô giáo cầm cái liềm cắt lúa không giống ai hay té ngã đùi đụi trên bờ ruộng. Bên cạnh việc giảng dạy ở trường phổ thông, ban đêm chúng tôi còn phải dạy ở các lớp bổ túc, học viên đa số là cán bộ trong xã. Vì không phải dân địa phương nên chúng tôi không biết rõ ai là cán bộ, ai là dân thường cứ thế giảng dạy vô tư theo kiểu “điếc không sợ súng”.

Sau một tuần đi dạy, mỗi chiều thứ bảy chúng tôi lại rủ nhau đạp xe về Tuy Hòa. Sau khi băng qua con đường đất nối liền chợ Xổm với quốc lộ IA, đến dốc Mít cả bọn xuống xe dắt bộ. Từ trên đỉnh dốc chúng tôi bắt đầu thả dốc. Xe cộ hồi đó không nhiều như bây giờ nên ai nấy đều buông tay thắng để tận thưởng cái thú nghe gió phần phật bên tai mát vô cùng. Đám con gái ngày ấy đứa nào cũng ốm nhom, ốm nhách nên xe cứ bon bon chạy trước, báo hại mấy thầy theo không kịp la oai oáii: “từ từ thôi mấy em! Chờ qua dới coi chừng tới… tới… tới… Nha Trang bây giờ!”

Cũng đoạn đường lắm đèo dốc của Tuy An tôi có một kỷ niệm khó quên. Hôm đó sau khi học bồi dưỡng nghiệp vụ ở trường bổ túc Phú Tân, tôi và cô em họ dạy ở An Mỹ dắt xe đạp lên đèo Quán Cau để về An Hòa. Đến giữa đèo thấy đường vắng hai chị em leo lên xe xổ dốc. Mới chạy được một đoạn thì xe đạp của tôi bị đứt thắng, sau một hồi lạng quạng chiếc xe lao vun vút xuống đèo. Tay chân run lẩy bẩy,  mặt cắt không còn hột máu tôi đinh ninh phen này chết chắc. May sao có chiếc xe hơi phía sau trờ tới ép chiếc xe đạp của tôi ngã chúi bên lề đường. Một trong bốn người ngồi trên chiếc xe hơi quen với má tôi về Tuy Hòa méc lại: “Con chị gan thiệt, tui thấy nó đi xe đạp xổ dốc vun vút trên đèo Quán Cau!” . Sau cú té nhớ đời ấy, mỗi lần đi đâu xa tôi cũng đi bằng xe lam, gác lại giấc mộng yêng hùng xe đạp nửa mùa của mình.

Ba năm đi dạy không nhiều nhưng để lại dấu ấn sâu đậm trong tôi. Đó là bước chập chững vào đời trước những đổi thay thời cuộc. Ba năm cũng đủ để tôi làm quen với những cái tên như Sông Cầu, Chí Thạnh, An Hiệp, An Hòa, An Mỹ, An Chấn, An Xuân. Bên cạnh những thiếu thốn, buồn vui nông thôn ngày ấy còn đọng lại trong tôi những nghĩ suy. Đó là tấm lòng của người dân địa phương, của đồng nghiệp, học trò và nhất là sự yên bình của làng quê ngày ấy. Một câu hỏi thường đặt ra cho những ai từng trải qua giai đoạn khó khăn này là tại sao khi ấy con người lại đối xử tử tế với nhau?

Ngày nay bức tranh xám xịt của nông thôn trên các phương tiện thông tin đại chúng hẳn làm cho nhiều người thất vọng. Thành phố có tệ nạn nào y như rằng nông thôn đều có. Đổ lỗi cho nghèo khó ư? e rằng không thể đời sống nông thôn bây giờ khác xa nông thôn 40 năm về trước. Câu trả lời xin dành cho những người trẻ tuổi. Bài học đắt giá nhất của chúng tôi về cái thời nghèo mà không hèn là tình người.

Lâu rồi chưa về chốn cũ, mong tất cả bình yên ...                                             
QUANG ĐẶNG (12/2017)

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2019

Xăm Hường Ngày Tết



Nhắc đến Tết xưa nhiều người lớn tuổi như tôi thầm tiếc, so với cái Tết hiện đại và đơn giản bây giờ Tết xưa tuy cũ kỹ nhưng niềm vui có phần phong phú hơn. Bên cạnh những tập tục truyền thống như dựng cây nêu, xông đất lấy hên, đến nhà chúc Tết thì tụ tập bà con, bạn bè với các trò chơi như lắc bầu cua, cờ cá ngựa, đánh bài hay đổ xăm hường cũng thú vị không kém. Cờ cá ngựa hay lắc bầu cua con nít đứa nào cũng biết. Còn đánh bài nói hơi “cù lần” một chút từ nhỏ đến giờ ai rủ đến là tôi chịu thua. Tuy cũng biết sơ sơ tên mấy lá bài như rô, bích, chuồn, đầm nhưng hỏi thế nào là xì lát, xì tố, tiến lên, bài cào thì lắc đầu. Riêng về xăm hường tôi rất thích thậm chí còn ghiền nữa đằng khác. Và mỗi lần Tết đến âm vang rộn rã của những hột súc sắc trong cái tô bằng sứ (dù trong trí nhớ) cũng thấy bâng khuâng…

Bộ Xăm Hường (internet)

Theo Google thì xăm hường là một trò chơi tao nhã ngày Tết xuất phát từ cung đình Huế. Một bộ xăm hường gồm ba món chính: các thẻ xăm, sáu con súc sắc và một cái tô sứ. Trò chơi căn cứ vào kết quả của sáu hột súc sắc để dành những cái thẻ có ghi các học vị thi cử thời xưa và số điểm như: tú tài, cử nhân, tiến sĩ, thám hoa, bảng nhãn và trạng nguyên. Mỗi bộ xăm hường gồm có 63 thẻ. Cao nhất là trạng nguyên còn gọi trạng anh (1 thẻ) có giá trị 32 điểm, 1 thẻ bảng nhãn và 1 thẻ thám hoa còn gọi là trạng em (16 điểm/thẻ), 4 thẻ hội nguyên (8 điểm/thẻ), 8 thẻ tiến sĩ (4 điểm/thẻ), 16 thẻ cử nhân (2 điểm/thẻ) và 32 thẻ tú tài (1 điểm/thẻ). Sáu con súc sắc mỗi con có sáu mặt nhất, nhì, tam, tứ, ngũ, lục. Trong đó con nhất và con tứ (hường) sơn màu đỏ. Số lượng người chơi không nhất định. Ví dụ 6 người thì mỗi người giữ lại 32 thẻ, bảy người thì người có trạng được quyền bán hết. Cách tính điểm của xăm hường được qui định như sau:
- nhất hường: một mặt tứ lấy thẻ tú tài
- nhị hường: hai mặt tứ lấy thẻ cử nhân
- tam hường: ba mặt tứ lấy thẻ hội nguyên
- tứ hường: bốn mặt tứ lấy thẻ trạng nguyên
- ngũ hường: năm mặt tứ lấy cả ba thẻ trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa
- lục phú hường: sáu mặt tứ. Trường hợp này rất hiếm nhưng không phải không xảy ra. Người thua cuộc phải chung gấp đôi số thẻ cho người thắng cuộc (32 thẻ/người)
Các mặt đen của bộ súc sắc được tính thẻ như sau:
- tứ tự: bốn mặt đen giống nhau lấy thẻ tiến sĩ
- ngũ tử: năm mặt đen giống nhau lấy thẻ trạng nguyên
- lục phú: sáu mặt đen giống nhau thắng toàn bộ
Trên đây tôi chỉ lược kê vài trường hợp đơn giản chứ luật chơi của tam hường rất đa dạng. Ví dụ như đổ sáu mặt nhất, nhì, tam, tứ, ngũ, lục gọi là “suốt” nhận một thẻ trạng em. Tam hường mà ba mặt đen còn lại giống nhau gọi là “tam hường phân sông” nhận một thẻ trạng em và một thẻ tam hường vị chi là 24 điểm. Tứ tự  mà bốn mặt đen giống nhau, hai mặt đen còn lại có tổng điểm bằng một trong bốn mặt đen còn lại gọi là “tứ tự cáp” lấy thẻ trạng em. Ngoài ra tứ hường hay ngũ hường nhỏ điểm hơn trạng sẽ bị giựt vào tay người khác. Nói chung một ván xăm hường luôn tạo sự bất ngờ cho người chơi từ đầu đến cuối, chỉ đến khi kết thúc (hết thẻ) mới biết ai thắng, ai thua.
Mới nghe qua có vẻ phức tạp nhưng chỉ cần chơi thử vài ván sẽ hiểu ngay luật chơi và khi đã chơi rành thì rất mê, điển hình như tôi mê xăm hường từ lúc nhỏ. Tuy nhiên nếu ai hỏi trò chơi này xuất hiện ở Phú Yên từ khi nào lại rất mù mờ. Những người có thể trả lời được hầu như đã khuất núi, tra Google thì một vài tài liệu cho rằng xăm hường chỉ phổ biến ở Huế đến các vùng xứ Quảng còn từ Bình Định, Phú Yên trở vào không ai biết trò chơi này. Thực tế cho thấy trước đây ở Tuy Hòa nhiều người biết chơi xăm hường (còn gọi đổ xâm hường) và tôi, thế hệ thứ n kế tiếp là một ví dụ.

Hột súc sắc (internet)

Hầu hết những người mê xăm hường đều sắm riêng một bộ trong nhà để chơi khỏi phải đi mượn. Tôi không nhớ bộ xăm hường của nhà mình có từ khi nào, chỉ nhớ mang máng năm tôi bảy, tám tuổi chồng của dì tôi chủ tiệm tạp hóa HD ở đường Phan Đình Phùng đi Sài Gòn mua giùm anh chị em mỗi nhà một bộ (đó cũng là lý do vì sao bà con bên ngoại của tôi từ con nít cho đến người già đều mê xăm hường). Vật liệu dùng làm các thẻ xăm hường thường là xương thú vật, tre hay nhựa tốt còn ngà voi rất hiếm vì giá thành cao. Bộ xăm hường nhà tôi không biết làm thứ xương gì mà 60 năm qua vết mực tuy có phai chút đỉnh nhưng tất cả vẫn còn nguyên vẹn, bóng láng. Sáu hột súc sắc ngã màu theo thời gian vì làm bằng nhựa. Còn cái tô sứ số phận lênh đênh giống chủ, dọn nhà mấy lần vẫn nguyên vẹn với tháng năm. Trong xăm hường tô sứ đóng vai trò không nhỏ. Phải là loại sứ tốt, độ nông vừa phải, không quá nhỏ để hột rơi ra ngoài, không quá rộng đủ để các con súc sắc va vào thành tô tạo tiếng vang thanh và xa.
Thường trước khi vào “ trận” chúng tôi trải chiếu dưới nền nhà hay ngồi trên bộ ván rộng để cái tô ở giữa, bày thẻ trạng anh, hai thẻ trạng em và các thẻ tam hường, tứ tự lên một cái hộp cao gọi là mâm trên để phân biệt với các thẻ nhất hường, nhị hường( bọn trẻ hồi đó còn gọi là binh nhì, binh nhất) mâm dưới. Một ván xăm hường được gọi là suông sẽ khi trạng ra sớm và hết thẻ sớm. Tuy nhiên kịch tính và sức hấp dẫn của xăm hường ở chỗ giựt trạng và cá ăn thẻ. Nhiều ván trạng bị giật lia chia không khí hào hứng vô cùng. Có những ván đổ hoài không ra trạng phải cá để giết thời gian, đôi lúc chỉ cần nhị hường cũng thắng thôi thì cười thả ga, reo hò ầm ĩ.  

Ngày Tết gia đình đổ xăm hường (internet)

Đặc điểm của xăm hường là vui chơi mấy ngày Tết, qua mùng rồi hết hứng thú giống như hết Tết thấy mứt, dưa món, dưa kiệu không còn ý vị nữa. Vì không kéo dài nhiều ngày, tính minh bạch lại cao (phù thuộc vào sự may rủi, nhiều người thấy) nên độ sát phạt và ăn thua trong xăm hường không đáng kể. Chủ yếu để thử thời vận, người nào đổ được trạng hay suốt hy vọng một năm mới may mắn, hanh thông. Ưu điểm lớn nhất của xăm hường theo tôi là niềm vui và sự đoàn tụ vì hiếm có dịp nào bà con, anh em, bạn bè tụ họp đông đủ như thế. Thời khắc thích hợp nhất để chơi xăm hường bắt đầu từ ngày mùng Một tết. Ngày này theo thông lệ bà con bên ngoại của tôi đều tập trung về nhà thờ họ. Sau khi cúng lạy tổ tiên, chúc Tết ông bà, lì xì mừng tuổi cho con nít các “sòng” xăm hường ở đây cũng bắt đầu hoạt động. Sòng nhà trên dành người lớn. Chiếc chiếu trải giữa sân dành cho sòng con nít. Tiếng loảng xoảng của những hột súc sắc reo trong cái tô, tiếng cười giòn giã lúc giựt được trạng, tiếng pháo đì đùng từ phố xa với tôi đó là âm thanh của những mùa xuân hạnh phúc.

Đổ Xăm Hường vui Xuân (internet)

Ở nhà tôi xăm hường thường bắt đầu chơi từ chiều mồng ba cho đến mùng tám Tết. Ngoài bà con, bạn bè của ba má tôi cũng rất thích tham gia. Tôi còn nhớ chín, mười tuổi đã lóc cóc sang nhà từng người vòng tay thưa: “ Má con mời bà, mời ông, mời bác, mời chú, mời dì sang nhà con đổ xăm hường”. Bao nhiêu năm tôi vẫn hình dung những cuộc chơi đó, vẫn nhớ cả dáng ngồi, cách gieo hột súc sắc rất đặc trưng của từng người. Giờ thì ba má tôi cùng nhiều người họ hàng, bạn bè đã bày cuộc chơi xăm hường nơi cuối trời xa lắc nhưng tiếng cười của họ vẫn lẩn quất đâu đây mỗi độ xuân về.
Đám con nít cũng hăng hái tham gia xăm hường không kém người lớn. Từ lúc biết hai phép tính cộng, trừ tôi đã biết chơi xăm hường. Khá nhiều giai thoại buồn cười chung quanh chuyện đổ xăm hường hồi nhỏ. Như ngày giáp Tết ra hàng bán đồ đất nung như nồi, ông lò cuối chợ Tuy Hòa mua một cái ổ bịp* có khe đút chiến lợi phẩm( tiền lì xì) thật rộng đặng dễ khèo để chơi xăm hường. Hay thổi phù phù vào mấy hột súc sắc niệm câu thần chú “úm ba la, úm ba la trạng ơi trạng hỡi ra giùm con”, thỉnh thoảng lại tréo mấy ngón tay bên này, xòe mấy ngón bên kia đủ kiểu cốt làm sao đổ cho hường, ra trạng. Trong xăm hường cũng không phân biệt người lớn, con nít. Có lần cậu tôi, người tiếu lâm nhất dòng họ khiến cho đám cháu cười nghiêng ngả khi giựt được trạng từ tay anh con trai: “Thôi nha con! Tình cha con từ nay đứt đoạn.” Có thể nói xăm hường là một trò chơi mà người lớn con nít, kẻ thắng người thua đều vui như Tết.

Bộ Xăm Hường (internet)

Sau năm 75 anh em, bà con của tôi tứ tản bốn phương trời. Bộ xăm hường nhà tôi vẫn còn đó nhưng cũng giống như rượu ngon không có bạn hiền, Tết thì cứ Tết chẳng ai muốn bày cuộc chơi. Một số bộ xăm hường khác theo tôi được biết bị thất lạc hay theo chủ di tản ra nước ngoài. Mới đây nghe nói một người bà con bên Mỹ có tiệm phở đã lấy xương bò phơi khô rồi cưa, đục đẽo, sơn phết thành một bộ tuy không đẹp lắm nhưng chơi đỡ ghiền. Tết dương lịch 2019 vừa rồi qua livestream tôi cũng nghe tiếng súc sắc reo, tiếng nói cười ồn ã, cảnh giựt trạng thích thú của các em họ nơi xứ người. Hôm qua Cali tôi cũng thấy dì tôi, một bà cụ 80 tuổi rất khéo tay ngồi tẩn mẫn chẻ từng khúc cây nhỏ sơn màu trắng rồi chấm đỏ lên cho giống nhất hường, nhị hường thấy mà thương. Trong cuộc sống có những thứ tưởng như bình thường, nhỏ nhoi lại là chất xúc tác mạnh mẽ đến đời sống tinh thần.
Còn tôi mấy mươi năm chưa về Tuy Hòa ăn Tết, không biết ngoài đó bây giờ còn ai đổ xăm hường? Giới trẻ hiện nay chỉ cần một cái click chuột biết ngay tình hình mùa xuân trên toàn thế giới, nhẩn nha ngồi phó thác sự may rủi vào những hột súc sắc họa chăng chỉ có thế hệ lớn tuổi như tôi. Nhưng lâu quá không nhớ ai còn ai mất, giờ tìm đủ tay cho một ván xăm hường e rằng hơi khó phải không những “người muôn năm cũ”?

*Ổ bịp trong Nam gọi là con heo.

QUANG ĐẶNG (tháng giêng/2019)


Thứ Ba, 27 tháng 11, 2018

Ciné Một Thời

GIỚI THIỆU
Xin hân hạnh giới thiệu đến quý Thầy, Cô, quý Đồng Môn và quý Thân Hữu
Bài CINÉ MỘT THỜI của CHSNH Quang Đặng. Tác giả đưa ta trở lại quá khứ, những kỷ niệm "ghiền Ciné" thời học trò và của người Sài Gòn trước 1975. Nét văn hóa bình dân nhưng rất đẹp của một thời đã qua. Bài viết hay, giá trị và là một tài liệu quí.
Trân trọng giới thiệu.
NHHN



Mỗi người tùy theo thời điểm đều có những sở thích khác nhau. Năm học lớp nhì, lớp nhất (lớp 4, 5 bây giờ) tôi rất mê cải lương, đặc biệt mê kép Hoài Trúc Phương. Mỗi lần đoàn Sao Ngàn Phương về Tuy Hòa, chiều nào tan học tôi và người dì họ học cùng lớp cũng ôm cặp vô rạp Diên Hồng coi đào kép tập tuồng. Hồi đó thiếu gì kép nổi tiếng như Thanh Sang, Thành Được, Tấn Tài, Dũng Thanh Lâm, Hùng Cường, Thanh Tú không hiểu sao hai dì cháu cứ mê tít Hoài trúc Phương (đúng là con nít!) Lớn hơn một chút cỡ lớp đệ thất, đệ lục (lớp 6, 7 bây giờ) tự dưng hết mê cải lương chuyển sang mê ciné và niềm đam mê này kéo dài cho đến tận bây giờ.

Thị xã Tuy Hòa hồi đó có hai rạp chiếu phim kiêm cải lương là rạp Đại Nam và rạp Diên Hồng. Mỗi lần có phim mới hay đoàn hát nào ở Sài Gòn ra là xuất hiện chiếc xe hơi cũ màu trắng có gắn chiếc loa và mấy tấm bảng quảng cáo chạy từ đầu đến cuối thị xã nói ra rả: Kính thưa bà con cô bác, đúng 8 giờ tối nay tại rạp Diên Hồng đoàn Cải lương Thanh Minh Thanh Nga chúng tôi sẽ trình diễn vở tuồng Nửa Đời Hương Phấn của soạn giả Hà Triều Hoa Phượng… xe chạy tới đâu đám con nít chạy theo lượm mấy tờ quảng cáo rần rần theo đó. Một nét văn hóa đáng yêu của Tuy Hòa khi ấy là khán giả đi xem hát ăn mặc rất lịch sự đặc biệt khán giả trung niên. Đàn ông thường mặc áo đóng thùng đi giày, đàn bà lúc nào cũng mặc áo dài điển hình như những người lớn trong gia đình tôi và những người quen biết ở thị xã. Mấy đứa con nít được cha mẹ dắt theo cũng mặc áo đầm hay đồ Tây rất nghiêm chỉnh. 

Nhà tôi khi ấy ở dưới đường Bùi Nguyên Ngãi, sáng chủ nhật nào đám nhóc trong nhà cũng rủ đám nhóc hàng xóm chất nhau trên hai chiếc xích lô trực chỉ rạp Diên Hồng. Đứa nhỏ nhất đứng sát thành xe, mấy đứa lớn được ngồi trên nệm, hai thằng con trai lóc chóc phải ngồi dưới càng xe. Bù lại khi lên con dốc cao đường Trần Hưng Đạo, mấy đứa lớn phải xuống xe đẩy phụ bác xích lô. Trong con mắt của những đứa trẻ chín, mười tuổi khi ấy thế giới điện ảnh không chỉ gói gọn trong nội dung mấy cuốn phim mà còn tập trung vào mấy chiếc xe bán nước mía, cóc chẻ, ổi ngâm, đậu phộng rang, chuối chiên trước rạp Diên Hồng. Trong số đó đáng kể nhất là mấy bịch bánh men có hình một tài tử cải lương, kịch nghệ hay điện ảnh nổi tiếng thời bấy giờ như Kim Cương, Vân Hùng, La Thoại Tân, Túy Phượng, Kiều Chinh, Thanh Nga, Bo Bo Hoàng, Bạch Tuyết, Hữu Phước, đứa nào có được hình của cô đào Thẩm Thúy Hằng nổi danh số một hồi đó coi như may mắn số dzách! Vì phải nhín lại tiền mua quà vặt nên thay vì mua vé ngồi hàng giữa chúng tôi phải mua vé hai bên cánh gà ngồi trên bậc thềm xi măng vừa ê mông vừa mỏi cổ muốn chết! Thế nhưng khi đèn trong rạp phụt tắt báo hiệu đến giờ chiếu phim lại vô cùng hào hứng. Đám con trai vừa vỗ tay vừa huýt sáo ầm ĩ, gặp những hôm chiếu phim chiến đấu càng hăng hái hơn. Mỗi lần phe chính diện xuất hiện là vỗ tay la lớn: phe ta tới… phe ta tới! Mấy đứa con gái thì khóc sướt mướt khi xem những phim tình cảm Ấn Độ như phim Con Thơ Bên Dòng Suối, đến những đoạn như chiếc nôi em bé bị bỏ giữa rừng trời mưa xuống dòng nước từ từ cuốn trôi khóc thôi là khóc!

Cũng chuyện khóc khi xem phim tôi có một kỷ niệm khá buồn cười. Năm lớp đệ lục tôi và mấy đứa bạn rủ nhau cúp cua mặc nguyên bộ đồng phục áo dài trắng đi xem phim HongKong San San Cô Gái Đôi Tám ở rạp Diên Hồng. Đến đoạn cao trào đứa nào đứa nấy đang khóc sụt sùi thì có ánh đèn pin rọi thẳng mặt từng đứa kèm theo câu nói: Thúy Nga khóc, Hồng A khóc, Quang khóc, Diệu Minh khóc, Minh Vui khóc, Xuân Lan khóc. Nhìn kỹ thấy một đám nam sinh Nguyễn Huệ ngồi hàng ghế phía trước cười hô hố. Hôm sau đi học thật tình không biết giấu mấy cặp mắt sưng húp vào chỗ nào.

Sau này nghĩ lại, sở thích xem phim của tôi có lẽ ảnh hưởng từ gen bên ngoại. Những năm đầu thập niên 60 một người cậu của tôi ở Tuy Hòa đã sở hữu một chiếc máy quay và chiếu phim. Trong những dịp họ hàng tụ họp đông đảo như giỗ chạp cậu tôi thường đem phim ra chiếu. Tuy chỉ là phim câm đen trắng và lần nào cũng chỉ chiếu chừng ấy phim nhưng đám cháu nhỏ nội ngoại vô cùng khoái chí. Đầu tiên là phim Tom & Jerry, sau đó là phim Charlot và bao giờ cũng chấm dứt với mấy cuộn phim quay cảnh sinh hoạt nhà ngoại. Ngày nay một đứa trẻ lên năm cũng có thể quay một đoạn phim bằng smartphone hay máy tính bảng nhưng vào thời chúng tôi thì chiếc máy quay phim của cậu tôi văn minh số một. Điều làm cho những người cháu thuộc thế hệ 5X và 6X như tôi đến giờ vẫn cảm kích là những thước phim quay hình ảnh ông bà ngoại lúc còn sống, cảnh đưa dâu trong đám cưới một người dì ở Ninh Hòa, cảnh ông cháu sì sụp lạy trong một ngày dãy mả đầu xuân. Giờ thì nhiều đứa cháu xấp xỉ tuổi ông bà ngoại năm xưa, một số trôi dạt tận đâu đâu trên bản đồ thế giới song yêu thương còn đọng mãi trong những thước phim ký ức.

Cũng trong những năm 60 một số bà con bên ngoại của tôi hùn vốn thuê lại rạp Diên Hồng để kinh doanh. Một người cậu khác của tôi chịu trách nhiệm về nguồn phim, ông là người rất nghệ sĩ tính và tiếp cận khá nhanh nhạy với nền điện ảnh thời bấy giờ. Hàng tuần phim được chuyển từ Sài Gòn ra Tuy Hòa bằng xe đò Hiệp Hưng và số khán giả trung thành của rạp Diên Hồng khi đó không ai khác hơn là đám cháu. Các phim như Ben-Hur, Cầu Sông Kwai, Tarzan Chúa tể Rừng Xanh, Những Người Khốn Khổ (Les Misérables), Vô Gia Đình (Sans Famille), Thành Công Vĩ Đại (Giant), Hố Sâu Chôn Tình Hận và một số phim Ấn Độ nổi tiếng được chiếu trong thời gian này. Những cái tên như Elizabeth Taylor, James Dean, Charles Bronson, Lý Lệ Hoa, Lâm Đại, Lăng Ba, Savitri, Ganeshan (tài tử Ấn Độ) như một luồng gió mới thổi vào không khí lặng yên của tỉnh nhỏ. 

Không lâu sau đó khoảng năm 1970 Tuy Hòa xuất hiện một rạp chiếu phim được coi như hiện đại và hoành tráng nhất từ trước đến giờ là rạp Hưng Đạo. Đây là khoảng thời gian bùng nổ của loại phim chưởng, võ hiệp HongKong với các tài tử như Khương Đại Vệ, Vương Vũ, Trần Tinh, Địch Long, Lý Tiểu Long, La Liệt, Trịnh Phối Phối cùng những tựa phim đình đám như Đường Sơn Đại Huynh, Thập Tứ Nữ Anh Hào, Độc Thủ Đại Hiệp, Tinh Võ Môn, Như Lai Thần Chưởng. Các phim Việt Nam như Người Tình Không Chân Dung, Chân Trời Tím, Như Hạt Mưa Sa, Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang với các tài tử Trần Quang, Kiều Chinh, Thẩm Thúy Hằng, Hùng Cường, Kim Vui, Thanh Lan cũng xuất hiện nhiều nhưng không địch lại nổi phim võ hiệp HongKong. Tôi còn nhớ loại đồ chơi bắt chước Lý Tiểu Long của thiếu niên thời đó là hai khúc gỗ nối với nhau bằng một dây xích gọi là nhị côn khúc.

Nhưng theo tôi không nơi nào xem ciné lý thú cho bằng Sài Gòn và Tuyết Anh, cô bạn học chung lớp 12 của tôi ở trường Văn Học đã mở cánh cửa điện ảnh Sài Gòn ngày ấy cho tôi. So với sự hiểu biết về ciné của một học sinh tỉnh nhỏ thì kiến thức điện ảnh của Tuyết Anh một thiếu nữ sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn phải nói rất đáng nể. Điều này xem ra cũng dễ hiểu vì Sài Gòn bao giờ cũng là nơi tiếp xúc sớm nhất với các nền điện ảnh văn minh trên thế giới. Thế nên tôi không hề ngạc nhiên khi Tuyết Anh nhớ vanh vách tên của các tài tử điện ảnh nổi tiếng cũng như thói quen xem tên tài tử trước rồi mới bước vào rạp.

Điều thú vị nữa khi xem phim ở Sài Gòn là bên cạnh những phim mới như Nữ Hoàng Sissi, Docteur Zhivago, Tình Thù Rực Nắng (Meurtres Au Soleil), Giai Điệu Hạnh Phúc (The Sound Of Music), Romeo & Juliet, Love Story, Mùa Thu Lá Bay, Tuyết Anh còn rủ tôi đi xem những phim cũ rất hay Tuy Hòa chưa hề chiếu như Jane Eyre, Đỉnh Gió Hú, Vũ Điệu Trong Bóng Mờ (La Valse Dans L’ombre), Cuốn Theo Chiều Gió, Kỳ Nghỉ Hè La Mã (Vacance Romaine). Từ đó tôi bắt đầu làm quen với những cái tên như Audrey Hepburn, Omar Sharif, Christopher Mitchum, Olivia Hussey, Romy Schneider, Alain Delon, Vivien Leigh.

Được một cái dù chiếu phim mới hay cũ các rạp ở Sài Gòn hay chiếu thường trực (permanent) rất tiện cho người xem. Mỗi rạp lại chiếu một loại phim khác nhau nên chúng tôi chỉ cần tới lui vài rạp ở khu trung tâm như Eden, Lê Lợi, Rex, Vĩnh Lợi, Quốc Tế là đáp ứng được yêu cầu. Như xem phim kinh điển cũ đến rạp Vĩnh Lợi, phim mới thì rạp Rex hay Quốc Tế là lựa chọn hàng đầu. Hai rạp này thời đó đã trang bị hệ thống âm thanh nổi và màn ảnh rộng (Cinémascope). Tôi còn nhớ hình ảnh những trận đấu sống động được dàn dựng công phu trong phim Cléopâtre hay cảnh cô đào Julie Andrews ca hát giữa đồng cỏ mênh mông trong đoạn mở đầu của phim Giai Điệu Hạnh Phúc thật sự mãn nhãn người xem khi coi ở rạp Quốc Tế. Bên cạnh thú vui xem phim tôi cũng phát hiện những nét văn hóa rất ư Sài Gòn khi ấy như văn hóa ăn mặc lịch lãm khi đi xem phim, văn hóa xếp hàng trật tự khi mua vé, văn hóa im lặng tôn trọng sự thưởng lãm của người khác trong rạp, có thể nói đây là quãng thời gian xem phim đáng nhớ nhất cả về chất lẫn lượng của tôi.

Bẵng đi một thời gian sau năm 1975 thú vui xem phim của tôi không còn nữa. Cơm áo gạo tiền đã cuốn phăng thú tiêu khiển này theo dòng đời của nó. Mãi cho đến những năm cuối thập niên 80 tôi mới được xem phim Võ Tắc Thiên do Phan Nghinh Tử đóng, đây cũng là bộ phim video Đài Loan hiếm hoi trong thời bao cấp ở Sài Gòn. Tôi vẫn nhớ mỗi buổi chiều đi làm về vội vàng ăn cơm cho nhanh rủ nhau đến công ty xem phim. Một chiếc TV 19 inch chiếu trong căn phòng cho hơn 50 người xem là niềm hạnh phúc lớn lao đối với một công nhân viên trong thời buổi khó khăn.

Mấy mươi năm trôi qua kể từ bộ phim video thời khao khát văn hóa, phim ảnh đã bước những bước tiến dài. Phim Việt Nam, phim nước ngoài, phim mới, phim cũ phủ sóng liên tục 24/24 trên truyền hình. Sự ra đời của internet cũng tạo điều kiện cho người xem thưởng thức phim ở bất cứ nơi đâu. Các rạp ciné đời mới thi nhau mọc lên như nấm khắp Sài Gòn. Nhiều hôm đi ngang rạp ciné gần nhà thấy poster (trước đây gọi programme) hấp dẫn quá muốn vào xem nhưng ngó quanh quất toàn khán giả tuổi teen nên ngại. Thế nhưng mỗi khi có phim hay, đám bạn già chúng tôi lại rủ nhau đến rạp. Thật ra xem phim ở rạp có những cái hay mà màn ảnh nhỏ ở nhà không thể mang lại được. Đó là hệ thống âm thanh, ánh sáng, màn ảnh chuyên nghiệp giúp khán giả có những phút giây cảm xúc thăng hoa trọn vẹn nhất. Là sự cộng hưởng giữa khán giả với khán giả tuy chỉ diễn ra trong im lặng nhưng là sự đồng cảm duy nhất.

Đôi khi tôi tự hỏi vì sao mình ghiền ciné? Câu hỏi đơn giản nhưng một đứa trẻ khóc sướt mướt khi xem phim Con Thơ Bên Dòng Suối ở rạp Diên Hồng ngày nào không trả lời được. Đến một lúc nào đó khi sự trải nghiệm nhiều bằng số tuổi hiện hữu mọi việc mới sáng tỏ. Cuộc đời và phim ảnh dường như là một (cuộc đời lắm khi còn phong phú hơn) và nghệ thuật thứ bảy là đỉnh cao tổng hợp cúa nhiều môn nghê thuật khác. Đó là lý do vì sao tôi xem phim Cánh Đồng Bất Tận nếu không vì hai cái tên nhà văn Nguyễn Ngọc Tư và Quốc Trung (âm nhạc), cũng như xem phim La la Land đến hai lần vì những bản nhạc trong phim quá lôi cuốn. Còn bài hát I Dreamed A Dream đã nghe nhiều người hát nhưng khi Anne Hathaway vai cô gái điếm Fantine trong phim Những người Khốn Khổ run run cất tiếng: tôi đã mơ rằng tình yêu không bao giờ chết… nhưng có những giấc mơ không thể thành hiện thực… thì cảm xúc của tôi trào dâng hơn bao giờ hết. Hay xúc động dường nào với hình ảnh Jean Valjean (Những Người Khốn Khổ) xé nát tấm giấy thông hành oan nghiệt quăng lên trời cao, một trong những mảnh giấy rách bay chới với trên nền trời xám đen tựa như phận người nhỏ nhoi và hèn mọn bên dưới. Rồi câu đối đáp đầy tâm cảnh giữa anh kép hát Linh Phụng với người thầy trong phim Song Lang mới chiếu gần đây: Con hát được chưa thầy? - Đã yêu bao giờ chưa? Cứ yêu đi sẽ hát được.

Phim ảnh nói chung là mảnh đất màu mỡ để người xem thụ hưởng mọi giá trị cái đẹp và bộc lộ những cảm xúc của mình.

Trong cuộc triển lãm "Sài Gòn một thế kỷ vàng son" mới đây, hiện vật gây cho tôi nhiều xúc động nhất là các posters phim từ những năm 1935- 1975. Chủ nhân của bộ sưu tập cẩn trọng giở từng tờ poster ố vàng cho tôi xem. Điều làm tôi bất ngờ là sự đa dạng số lượng phim cũng như rạp chiếu phim ở Sài Gòn khi ấy. Có những rạp tôi chưa một lần nghe nói đến như A-Sam, Thanh Bình, Rạng Đông, Việt Long, Nam Việt. Có những phim đã chiếu từ khi tôi chưa ra đời hay còn rất nhỏ như Les Amants Fugitifs (1935), Cuốn Theo Chiều Gió (1955), Cầu Sông Kwai (1958). Hình ảnh, lời giới thiệu, lịch chiếu phim trong các posters còn phản ảnh rõ nét đời sống văn hóa phong phú của Sài Gòn trong những thập kỷ này. Anh Lúa, người sở hữu bộ sưu tập đồng thời cũng là chủ nhân của quán café Lúa có không gian đầy ắp hoài niệm Sài Gòn xưa bộc bạch: “thú sưu tầm, gìn giữ đồ vật xưa cũ ở Sài Gòn của tôi được thừa hưởng từ những thế hệ đi trước của gia đình”. Sài Gòn nên chăng cần lắm những thế hệ vàng như thế này?

Từ hình ảnh những posters phim trong buổi triển lãm, tôi nhớ lần về Tuy Hòa gần đây nhất của mình. Ngang qua mấy rạp ciné cũ bùi ngùi nhớ một thời tuổi nhỏ xem phim. Nhìn hàng chữ “ Hí Viện Hưng Đạo” trên nóc rạp Hưng Đạo tưởng như thấy mình và mấy nhỏ bạn mới hôm nào còn mặc áo dài trắng tíu tít rủ nhau đi xem phim Thập Tứ Nữ Anh Hào. Về qua xóm Nguyễn Công Trứ thấy rạp Đại Nam đóng cửa im lìm, nhìn lên tấm bảng CLB Nhạc Xanh (nghe đâu có thời là vũ trường) nếu không phải người cũ đố ai biết nơi này từng là một rạp chiếu phim. Lên rạp Diên Hồng thấy tấm bảng “Nhà Văn Hóa” nằm khiêm tốn trên tường, chịu chẳng thể nào hình dung kỷ niệm xưa. Tất cả như một cuốn phim lâu ngày đứt quãng, phủ bụi. 

Rồi chợt nhớ đến những rạp ciné cũ ở Sài Gòn cùng chung số phận. Nhiều rạp không những mất tên mà còn mất dấu. Đứng trước tòa nhà Vincom lộng lẫy dân Sài Gòn cứ tiếc hoài một Passage Eden thân thuộc, nơi cuối góc có rạp ciné cùng tên Eden. Cách đó không xa là khách sạn Rex, tiền thân của nó là một trong những rạp ciné sang trọng bậc nhất Sài Gòn. Đi ngược đường Lê Thánh Tôn một đoạn sẽ gặp phòng trà Không Tên, nơi từng có một rạp ciné có tên Lê Lợi. Rạp Vĩnh Lợi chuyên chiếu phim cũ rất hay nằm cạnh bệnh viện Sài Gòn thì không còn vết tích, thay vào đó một dãy nhà hàng mới toanh. Xa hơn chút nữa là hai rạp Quốc tế và Khải Hoàn, trên nền rạp Quốc Tế cũ giờ mọc lên một cao ốc, rạp Khải Hoàn thì biến thành một quán bar.

Còn nhiều rạp ciné cũ ở Sài Gòn chưa nhắc đến nhưng cái kết có lẽ không khả quan hơn những rạp kể trên bao nhiêu. Thời cuộc và cơn lốc internet đã làm thay đổi diện mạo các rạp ciné cũ cũng như cách thưởng lãm của người xem. Sự thay đổi tất yếu này giống như câu nói của Tôn Ngộ Không khi Đường Tăng tiếc rẻ cuốn kinh thư bị rách trong phim Tây Du Ký: Bạch sư phụ, trời đất còn không trọn vẹn huống gì kinh thư! 

QUANG ĐẶNG (tháng 9/2018)