Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

Tham Luận 4: Tôn Giáo Và Chính Trị

 


THAM LUẬN 4: TÔN GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ 
Trần Xuân Thời 

Người có tín ngưỡng quan niệm hồn (tâm linh) và xác (xã hội) không thể tách rời nhau, nên các tôn giáo thường khích lệ giáo hữu tham gia chính trị để xây dựng đời sống toàn diện cả hồn lẫn xác.  Vì thế, luận điệu chúng ta nghe một số người viện dẫn Tôn giáo không làm chính trị để từ chối tham gia các hoạt động chống chủ nghĩa Cộng sản vô thần xem ra không mấy hợp lý qua các dữ kiện:

1-Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ban hành thông điệp về “Mối Bận Tâm Xã Hội- Sollicitudo Rei Socialis- ngày 30 tháng 12 năm 1987 nhằm hoằng dương nguyên tắc tôn trọng nhân phẩm vì nhân thế được tạo thành theo hình ảnh của đấng Tạo Hóa. Do đó, tín hữu không những mến Chúa mà còn phải yêu người. “Để đem đời sống Thánh Kinh vào trật tự thế giới nhằm phục vụ con người và xã hội, các tín hữu tuyệt đối không thể từ chối việc tham gia vào sinh hoạt chính trị.”

2- Tôn trọng nhân phẩm chẵng những trên bình diện giao tế phải giữ lễ, nghĩa, liêm, sỉ với tha nhân mà trong đời sống hằng ngày còn phải được thể hiện qua hành vi tôn trọng những quyền lợi cá nhân và xã hội bằng cách tạo cho con người cơ hội tham gia vào “Các việc hình thành chính sách, chương trình, kế hoạch chính trị trên bình diện quốc gia hay trong các định chế xã hội, cộng đồng phù hợp với phẩm giá con người”.

3- Nhân luật cũng đã quy định sự tôn trọng nhân quyền qua Hiến Pháp như HP của Anh quốc, Hoa Kỳ, Pháp quốc và các quốc gia tự do trên thế giới và nhất là trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mà hơn 190 quốc gia thành viên đã cam kết phổ biến và thi hành. Mặc dù có một số thành viên tuy đã ký kết nhưng thất tín, vì nhà cầm quyền Trung Cộng, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam không tôn trọng những gì họ đã ký kết và tôn thờ Tần Thu Hoàng, Karl Marx, Hồ Chí Minh toàn là cao thủ vô nhân đạo..

4- Muốn kiến tạo xã hội lành mạnh, mọi sinh hoạt phải được đặt trên căn bản hợp lý vì những hành động phi lý sẽ tạo nên sự bất hợp tác và khủng hoảng. Hơn nữa, thấy việc sai trái mà không cảnh giác tức là đồng lõa với bất công và tội ác. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô đã nhấn mạnh đến “Đức tính dũng cảm và sáng suốt, tranh đấu cho công bình và tinh thần đoàn kết xã hội”.

5- Nhiệm vụ tranh đấu cho công bình xã hội (social justice) gồm nhiệm vụ “Huấn luyện để trau dồi khả năng hầu giúp con người có những phán đoán chính xác và cần thiết về các môi trường địa phương, quốc gia, quốc tế, với những đặc thù về văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị của mỗi cộng đồng, dân tộc, từ đó mới có hành động phù hợp với tinh thần bác ái và tình yêu nhân hậu.”

6- Phương thức mà các vị Giáo Hoàng nêu lên là phương thức “Đối thoại trong sự tương kính để đi đến những giải pháp đồng nhịp và kiến hiệu”. Sở dĩ cộng đồng, xã hội, sinh hoạt thiếu hữu hiệu, rời rạc, vì thiếu sự trao đổi kiến thức, tránh né sự đối thọai. Những hành vi khích lệ sự tôn trọng nhân phẩm của con người là những hành vi tốt tạo được sự thăng tiến, ngược lại những hành vi tạo sự chia rẽ khiến cho sinh hoạt bị trì trệ, thoái hoá là những hành vi cần được cải tiến. Nho học cũng có quan niệm tương tự “Nhân tâm sinh nhất niệm, thiên địa tận giai tri”. Hễ con người nghĩ đến một ý niệm nào thì thiên địa đều biết. Người nghĩ đền điều thiện thì có thần linh giúp sức, và ngược lại, nghĩ đến điều ác có ma vương xuí dục.  Cũng vậy, Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác tự giai khởi. (Trang tử). Một ngày không tưởng đến sự lành, tức thì vạn ác rần rần nổi lên.

Thiên lý ước chế tất cả, từng lời nói, hành động, từng suy nghĩ, ý niệm của con người, mắt Thần đều soi xét rõ ràng như ánh điện. Kỳ thực, thiện ác của con người, không chỉ là nhìn thấy hành động đó, nghe thấy lời nói đó, dù cho ngay trong suy nghĩ lúc có lúc không, thì quả báo thiện ác đã tự phân rõ trắng đen, tốt xấu phân minh. Từ cổ chí kim, con người đều tin rằng: “Thiện ác tới bước cuối cùng đều có báo ứng; chỉ là sớm hay muộn mà thôi.”

Vậy mà ngày nay Trung Cộng lại đi ngược lại đạo lý, ép buộc con người nhồi nhét thuyết vô thần và triết học đấu tranh, không cho con người tin vào nhân quả, tự tung tự tác, dối gạt thế nhân, bức hại những học viên Pháp Luân Công tu luyện “Chân – Thiện – Nhẫn” đã 14 năm nay, lý Trời khó dung, ắt bị Trời trừng phạt. Hiện giờ đã có 140 triệu người dân Trung Quốc Đại lục thoái xuất khỏi các tổ chức Đảng, Đoàn, Đội của Trung Cộng, vì đã hiểu rõ chân tướng, triệt để đoạn tuyệt với Trung Cộng và nhận rõ bản chất tà ác của nó, lựa chọn thuận theo lý Trời, đây cũng chính là lựa chọn tương lai tươi sáng cho chính mình. (Thaí Thượng Cảm Ứng Thiên).

7- Với tinh thần tôn trọng nhân phẩm, các tôn giáo thường can đảm hướng dẫn hành động của nhân thế bằng cách nêu rõ những nguy hại của các tà thuyết bất nhân tạo nên nền văn hoá diệt vong (culture of death), trong đó có chủ nghĩa Cộng sản nhằm hủy diệt nhân loại.  

Đức Giáo Hoàng Piô thứ IX, đã cảnh giác thế giới về tà thuyết Cộng sản qua Thông điêp “Qui Pluribus. đoạn 16, ngày 16 tháng 11 năm 1846, hai năm trước khi bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Cộng Sản ra đời năm 1848. Tà thuyết CS đã gây thiệt hại về nhân mạng và tài sản của hằng trăm triệu người trên thế giới.

“This is the aim too of the prevalent but wrong method of teaching, especially in the philosophical disciplines, a method which deceives and corrupts incautious youth in a wretched manner and gives it as drink the poison of the serpent in the goblet of Babylon. To this goal also tends the unspeakable doctrine of Communism, as it is called, a doctrine most opposed to the very natural law. For if this doctrine were accepted, the complete destruction of everyone’s laws, government, property, and even of human society itself would follow.”

“ Đây cũng là mục đích của phương pháp giảng dạy phổ biến nhưng sai lầm, đặc biệt là trong các ngành triết học, một phương pháp lừa dối và làm hư hỏng những thanh niên thiếu thận trọng một cách đáng thương hại và cho họ uống chất độc của con rắn trong chiếc cốc Babylon. Cái học thuyết nguy hại mà ngươì ta gọi là Chủ nghĩa Cộng sản, tự bản chất là một học thuyết trái ngược nhất với luật tự nhiên, cũng hướng đến mục tiêu này. Vì nếu học thuyết này được chấp nhận, thì sự phá hủy hoàn toàn luật pháp, chính quyền, tài sản của mọi người, và thậm chí cả xã hội loài người-“

8- Nhận định nầy quả là lời cảnh giác, tiên liệu chính xác. Vì thái độ cứng rắn của Giáo hội đối với tà thuyết nhằm tiêu diệt nhân phẩm nên chế độ Cộng sản quyết tâm chống đối Tôn Giáo. Vì Thiên Chúa Giáo, cũng như các tôn giáo khác, không chấp nhận chế độ CS, không phải vì quyền lợi chính trị, tranh giành quyền lực trần thế, mà chính vì để bảo vệ chính nghĩa với triết lý và hành động chủ trương tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm và phúc lợi chung của nhân loại.

9-Sau do DGH Leo thu XIII

Trong Tông Thư năm thứ 80 “Octogesima Adveniens” k niệm năm thứ 80 Thông Điệp “Rérum Novarum”. Thông điệp Tân sự bàn về những sự việc mới xảy ra sau bản Tuyên Ngôn Cộng sản Quốc Tế do Giáo Hoàng Léô thứ XIII ban hành năm 1891. Thông Điệp Tân Sự-Rerum Novarum- thể hiện chủ thuyết xã hội Công Giáo chủ trương thăng tiến đới sống xã hội về các phương diện nhân quyến, văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị. Năm 2025, Đức Giáo Hoàng Lêô tứ XIV sẽ tiếp nối công trình của ĐGH Lêô thứ XIII trong công tác baỏ vệ nhân quyền và thăng tiến xã hội.

Đức Giáo Hoàng Phaolô đệ Lục (1971) đã nhấn mạnh về trách nhiệm chính trị của mỗi giáo hữu. “Giáo dân phải đảm nhận trách nhiệm canh tân thế giới như là nhiệm vụ thiêng liêng của mình và trong nhiệm vụ đó, nhờ được Phúc Âm soi sáng, Giáo hội hướng dẫn, lòng bác ái thúc đẩy, giáo dân phải trực tiếp và can đảm hành động”.

10-Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân khích lệ sự đoàn ngũ hoá.” Muốn hoạt động thành công, nhất thiết phải được đoàn ngũ hoá thành đoàn thể … nếu không sẽ không đủ sức chống lại áp lực của các định chế chính trị, xã hội”.

Điều 216 Bộ Giáo Luật nói đến “hoạt động chính trị đến bây giờ còn có những nhận định sai lầm như sợ làm chính trị, không nên làm chính trị, quan niệm đó bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về khoa chính trị …”

11- Thánh GH Gioan Phaolô II trong Tông Huấn “Người Tín Hữu Giáo Dân” (Christifideles Laici) đã dạy:

“Để đem đời sống Phúc Âm vào trật tự thế giới nhằm phục vụ con người và xã hội, các tín hữu tuyệt đối không thể từ chối việc tham gia vào sinh hoạt chính trị.”

Nghĩa là các sinh hoạt lên khuôn chính sách nhằm thực thi các kế hoạch liên quan đến đời sống con người như văn hoá, xã hội, kinh tế chính trị để cổ võ cho công ích, phục vụ phúc lợi chung của nhân quần xã hội. Không nên trốn tránh chính trị hoặc nghi ngờ việc chung. Công Đồng Vatican II cho biết Giáo hội ca ngợi và quý trọng việc làm của những giáo hữu dấn thân, nhận lãnh trách nhiệm nhằm phục vụ công ích. Quyết định chính trị ảnh hưởng đến mọi lãnh vực trong đời sống hằng ngày.

12-Xa lánh chính trị tức là xa lánh đời sống cộng đồng, xã hội. Tông Huấn Người Tín Hữu Giáo Dân nhấn mạnh “Kẻ thi hành quyền bính chính trị phải lấy tinh thần phục vụ làm nền tảng…người tín hữu phải thẳng thắn tranh đấu diệt trừ mọi toan tính như vận động, xoay xở, gian trá, trục lợi, xữ dụng các phương tiện mờ ám, bất hợp pháp để chiếm đoạt, duy trì và mở rộng quyền bính bằng mọi giá”. Vì vậy, người tín hữu cần quan tâm đến vấn đề huấn luyện chuyên môn và chính trị. “Việc giáo dục cần thiết cho mọi người, nhất là cho giới trẻ. Chính trị là một nghệ thuật khó khăn nhưng cũng rất cao qúy, phải đem lòng chân thành, dũng cảm để tận tâm phục vụ lợi ích cho mọi người”.

13- Mối bận tâm của Giáo hội là làm thế nào xây dựng một xã hội công chính, thịnh vượng, tôn trọng nhân phẩm của con người từ các đoàn thể nhỏ đến cơ chế chính trị quốc gia. Giáo hội chủ trương bảo vệ và phát huy tinh thần tự do, dân chủ.

Tạo hóa đã cho chúng ta lý trí để suy xét và tự do để hành động. Chỉ khi nào con người có tự do hành động mới chịu trách nhiệm về hành động của mình. “God, in the beginning, created man, He made him subject to his own free choice” (Sir.14:15.).

14-Vì tự do thái quá sẽ gây nguy hại cho tha nhân, nên từ cổ chí kim, các triết gia thường khuyên nhân thế phải biết tu thân vi bản. Nền giáo dục cổ, kim, đều chủ trương tiên học lễ, hậu học văn. Chủ đích của nền giáo dục phổ thông nhằm làm sáng đức tính của mình, để phục vụ nhân loại trong tinh thần chí thiện.

Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại dĩ ư chí thiện”.

Như vậy, chí thiện (holiness) là chủ đích căn bản của giáo dục. Tôn giáo nào cũng chủ trương học đạo để nên thánh hay chí thiện. Vì chỉ có chí thiện mới giải quyết được thế sự.

“Only in holiness would the human problems be solved”.

15-Vô số giáo hữu các tôn giáo đã hy sinh tánh mạng để tranh đấu cho mặt trận nhân quyền từ cổ chí kim trên toàn thế giới. Trong thời Đế Quốc La Mã, hai vị Thánh Phêrô và Phao Lồ đã hy sinh vì chính nghĩa bảo vệ nhân quyền. Năm 64 sau Công nguyên, dưới thời bạo chúa Néro (AD 54-68). Nero đã đốt thành La Mã để xây cung điện và đổ lổi cho giáo dân. Đến hậu bán thế k thứ 20, đảng Cộng Sản Hà Nội, sau khi chiếm được miền Bắc Viêt Nam (1954) đã manh tâm xâm lăng Miền Nam “dù phải đốt hết dãy Trường Sơn” và giết chết đến người Việt cuối cùng, để dâng toàn bộ tổ quốc Viêt Nam cho Cộng Sản quốc tế.

16- Những người con của Giáo hội phải là những hướng dẫn viên theo chương trình đã được chính Chúa Giêsu công bố trong giảng đường Nazareth: “Tín hữu là những người được mời gọi mang tin mừng đến cho người nghèo khó, loan báo sự giải phóng cho người bị tù đày, đem ánh sáng cho kẻ mù loà, tự do và công lý cho người bị áp bức.”

Các triều đại chuyên chế quân chủ trong quá khứ cũng như các chế độ độc tài tả phái hay hữu phái hiện nay đi ngược lại chủ trương tôn trọng nhân quyền nên đã xem các tôn giáo như kẻ thù và sát hại giáo dân. Dù bị sát hại, nhưng ảnh hưởng ngược lại, giáo dân của các tôn giáo càng ngày càng đông đảo khiến cho CSVN lập ra cái gọi là tôn giáo quốc doanh để quản chế giáo sự theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phong thánh HCM để tôn thờ.

Đối với Thiên Chúa Giáo thì từ thời đế quốc La Mã, Thiên Chúa Giáo, suốt 300 năm, bị sát hại, đến thế k thứ 4 sau Công nguyên, Công Giáo trở thành quốc giáo của Đế Quốc La Mã. Thậm chí khi nói đến Công Giáo là người ta nghĩ đến Công Giáo La Mã (Roman Catholic) hay khi nói đến dân La Mã người ta liên tưởng đến người Công Giáo. Phật giáo trong đời Nhà Đường tại Trung hoa cũng bị bách hai, hằng trăm ngôi chùa bị tàn phá và hằng ngàn sư, sải bị hoàn tục, hoặc bị sung quân.

17- Tinh thần Tôn giáo là tinh thần tự do, dân chủ, tôn trọng và hoằng dương những quyền tự do căn bản bất khả xâm phạm, bất khả tương nhượng của con người do Đấng Tạo Hoá ban cho nhân loại. Phong trào tôn trọng tự do, dân chủ, nhân quyền phát xuất từ các quốc gia Tây phương chịu ảnh hưởng của nền Văn Minh Thiên Chúa Giáo. Nhiều ý niệm trong triết pháp (law philosophy) của các bộ luật Âu, Mỹ bắt nguồn từ Kinh Thánh. Luật lệ và đạo lý như bóng với hình không tách rời nhau.

“Law and morals are inexplicably intertwined”.

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ năm 1776 đã ghi rõ:

“All men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness”. Mọi người sinh ra đều được bình đẳng, thụ hưởng những quyền bất khả nhượng do Tạo hóa ban cho, như các quyền Sống, Tự do và tìm kiếm Hạnh phúc.

Chính quyền Hoa Kỳ, qua Hiến Pháp, không ban bố các quyền bất khả nhượng mà có bổn phận bảo vệ các quyền tự nhiên bẩm sinh (innate) của công dân và cư dân Hoa Kỳ qua “Bill of Rights”, hay 10 tu chính đầu của bản Hiến Pháp. 

18-Tinh thần và thể chất như hồn với xác. Linh hồn kết hợp với thể xác tạo nên sự sống. Muốn có sự sống, hồn và xác không thể tách rời nhau được. Tôn giáo là tinh thần, chính quyền là thể xác. Hồn lành trong xác mạnh.

Chính quyền vô thần không thể là chính quyền lành mạnh. Để chứng minh thêm hiệu lực của ý niệm “Tinh thần lên khuôn cho hành động của thể xác”, trong bài diễn văn lịch sử đọc tại Gettysburg, tiểu bang Pennsylvania Hoa Kỳ năm 1863, Tổng Thống Abraham Lincoln đã tái xác nhận Hoa Kỳ được tái sinh trong Ơn Thánh Chúa là quốc gia tự do của dân, bởi dân, để phục vụ nhân dân và sẽ không biến mất trên thế gian:

“This nation, under God, shall have a new birth of freedom -- and that government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the earth.” (Abraham Lincoln, November 19, 1863)

19- Vì trí tuệ của con người có khả năng hữu hạn nên ngoài cuộc sống trần tục, có những điều mà chúng ta không am hiểu hay thu nhận được qua ngũ giác (perception) cho nên có chủ truơng Tin trước, hiểu sau.

“Có tin trước mới hiểu sau” theo chủ truơng trong thần học của các tôn giáo. St Augustine (354-430): ‘Believe in order to understand’ (credo ut intelligam). Tôn giáo nào cũng ám tàng những điễn mô huyền diệu như tin vào Linh hồn, Niết bàn, Thiên đáng, điạ ngục, tái sinh, hoá kiếp, đầu thai, là nhưng điều kiện tiên quyết khi nhâp đạo.

Ngược với khoa học vật lý, vì khoa học vật lý có thể kiểm chứng bằng thực nghiệm, còn thần học đặt căn bản trên sự tin tưởng nhất là những vấn đề thuộc thế giới thiêng liêng mà khoa học vật lý không giải thich được.

20- Tổng Thống Hoa Kỳ Calvin Coolidge (1922) đã nhận định:

Chỉ khi nào con người có tín ngưỡng mới mong được trưởng thành. “It is only when men begin to worship that they begin to grow”. Nói khác đi, “có tin tuởng, cầu nguyện mới được ơn, có xin mới được cho, có gõ cửa mới được mở”. Hy vọng được ơn Trên phù trợ là nguồn sống tinh thần giúp con người tu tâm, dưỡng tánh, hy vọng để trải qua những lúc khốn khó của cuộc đời, khác với chủ trương vô đạo của chủ nghĩa xã hội Cộng sản.

21- Quan niệm về quyền bất khả xâm phạm, bất khả nhượng là quyền bẩm sinh, khi sinh ra đã có, do Tạo hóa ban cho nhân loại là quan niệm thuộc phạm trù thần học (theology) siêu hình, vượt ra ngoài khả năng suy lý của những người theo chủ trương duy vật, vô thần, vì họ chỉ tin vào những gì trông thấy được (materialism/atheism) và không tin vào đời sống thiêng liêng.

22- Quan niệm về các quyền bất khả xâm phạm đã và đang ảnh hưởng đến tâm lý, tư duy và hành động của nhân dân hữu thần trên thế giới và các triết thuyết chính trị của các quốc gia dân chủ trên năm châu, bốn bể, trừ bốn nước theo chế độ vô thần là Trung hoa, Cuba, Bắc Hàn và Việt Nam.

23- Sứ mệnh bảo vệ Tự do, Dân chủ, Nhân quyền là sứ mệnh căn bản, là nền móng, là hạt giống cưu mang mầm mống của các cuộc cải cách (1)-Từ năm 1215 với văn bản Đại Hiến Chương (Magna Carta) ở Anh quốc. (2)-Sau đó các cuộc cách mạng “khai dân trí, chấn dân khí, hậu nhân sinh” tại Mỹ (1776), tại Pháp (1789), trong thế k thứ 18. (3) -Qua thế k thứ 19, vấn đề giải phóng nô lệ phát xuất từ Anh Quốc (1833), sau đó được khai triển tại Mỹ với cuộc nội chiến giải phóng nô lệ (1861-1865). (4)-Cũng trên đà dân chủ hoá, khối Cộng Sản Đông Âu sụp đã đổ vào đầu thập niên 1990. Khối CS Trung hoa, Cuba, Việt Nam, Bắc Hàn, Lào, cũng sẽ cáo chung nhanh chóng trước trào lưu tiến hoá của nhân loại.

24-Tư tưởng lên khuôn cho hành động. Vấn đề thực thi sứ mệnh bảo vệ các quyền tự do căn bản do Tạo Hóa ban cho nhân loại đã và đang là nguyên động lực điều hướng chính sách đối nội, đối ngoại của Hoa Kỳ và của các nước dân chủ văn minh. Quyết tâm bảo vệ chính nghĩa đã là nguyên động lực thúc đầy Hoa Kỳ lâm chiến để bảo vệ chính nghĩa (just cause) trong các cuộc chiến gần đây như thế chiến thứ II, chiến tranh Cao ly, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Trung Đông…

25- Thể chế cai trị tại Viêt Nam hiện nay (1) Là thể chế phản dân chủ, thoái hóa, tàn tích của chủ nghĩa Cộng Sản Quốc Tế. (2) Đảng CS Hà Nội đã thật sự công khai thề quyết tâm, một cách mù quáng, vô nhân đạo, hy sinh hằng triệu thanh niên miền Bắc để xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa. (3) Đảng CSHN chưa bao giờ chiến đấu cho dân tộc Việt Nam nên nhà cầm quyến CSHN không tôn trọng nhân phẩm, nhân quyền của nhân dân Việt Nam. (4) Ngược lại, chúng ta, người Việt quốc gia, luôn luôn tâm niệm “Lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo” thể hiện qua chính sách “Chiêu hồi” đã giúp hơn 200 ngàn cán binh CS quy thuận chính nghĩa quốc gia.

26-Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân khích lệ sự đoàn ngũ hóa.” Muốn hoạt động thành công, nhất thiết phải được đoàn ngũ hoá thành đoàn thể … nếu không sẽ không đủ sức chống lại áp lực của các định chế chính trị, xã hội”.

Điều 216 Bộ Giáo Luật nói đến hoạt động chính trị đến bây giờ còn có những nhận định sai lầm như sợ làm chính trị, không nên làm chính trị, quan niệm đó bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về phạm trù chính trị …Chính trị thể hiện ý niệm quản trị thế sự cho được chính trực, bắt nguồn từ sự quản trị Đô thị Nhã Điển, Hy Lạp, vào thế k thứ 5 trước Công nguyên đến thế giới ngày nay.

27- Trên đây đã dẫn chứng quan niệm của tôn giáo với chủ trương tôn trọng tự do, dân chủ, nhân quyền cho nhân loại nhằm vô hiệu hoá những luận điệu ngây thơ “Tôn giáo không làm chính trị”.

Lưc lượng tôn giáo hiện nay ở Việt Nam đông đảo đang tranh đấu cho tự do tôn giáo và các tự do căn bản cho toàn dân. Nho giáo chủ trương “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.  Phât Giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Hoà Hảo … đêù có truyền thống tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền.

CHIẾU NHỮNG NHẬN ĐỊNH NÊU TRÊN

28- Sau nửa thế k (1975-2025) chuẩn bị, đã đến lúc tâp thể đồng hương hải ngoại hợp tác với đồng bào hữu thần quốc nội yêu chuộng tự do, dân chủ, qua công tác thực thi

Quyền Dân Tộc Tự Quyết

Liên kết, nội công, ngoạị hợp để giải thể chủ nghĩa vô thần, vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo của chủ nghĩa Công sản, nhằm tái lập Tự Do, Dân Chủ, Hạnh Phúc Thực Sự cho toàn dân Viêt Nam thoát khỏi xiềng xích độc tài Công sản dưạ trên các nguyên tắc pháp lý quốc tế căn bản:

(1)-Ý niệm quyền “Dân Tộc Tự Quyết” đã được đề cập đến từ thế k thứ 16 “All nations have the right to govern themselves and can accept the political regime it wants, even if it is not the best “.- Các dân tộc có quyền tự trị và chấp nhận chế độ chính trị theo ý muốn, dù chế độ đó chưa được hoàn mỹ.

Năm 1918, Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson (1913-1921) đã từng tuyên bố “National aspirations must be respected, people may now be determined and governed only by their own consent. “Self-determination” is not a mere phrase; it is an imperative principle of action” - Nguyện vọng của các quốc gia phải được tôn trọng, các dân tộc từ nay có thể tự quản theo ý muốn của mình. Dân tộc tự quyết không phải chỉ là một câu nói, mà là một nguyên tắc hướng dẫn hành động.

(2)-Chương 1, Điều 1, khoản 2 của bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (United Nations Charter- 1945) đã ấn định:  “The purpose of the United Nations is to develop friendly relations among nations based on the respect for the people of equal rights and self-determination of peoples, and to take appropriate measures to strengthen the universal peace”. 

Mục đích của bản Hiến chương LHQ là để phát triển liên hệ thân hữu giữa các quốc gia đặt căn bản trên sự tôn trọng nguyên tắc công bằng và quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc và áp dụng những biện pháp thích nghi để thăng tiến nền hoà bình thế giới.  Chủ trương này còn được đề cập đến trong hai Công Ước về quyền chính trị (CCPR) và quyền kinh tế xã hội (FCESCR) do LHQ ban hành: “All peoples have the right of self-determination. By virtue of that right, they freely determine their political status and freely pursue their economic, social and cultural developments”-Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Bằng vào quyền này, họ được tự do quyết định về thể chế chính trị và tự do theo đuổi sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hóa của họ”.

(3)- Chương 15 của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Universal Declaration of Human Rights năm 1948) ấn định.

” Everyone has the right to self-determination and that no one should be arbitrarily deprived of a nationality or denied the right to change nationality”. - Mọi người đều có quyền tự quyết, không ai bị tước đoạt quốc tịch hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch.

(4)- “Right of a people to self-determination is a cardinal principle in modern international law – Jus cogens-. The right to freely choose their sovereignty and international political status with no interference”. - Quyền dân tộc tự quyết là quyền căn bản trong luật quốc tế hiện đại. Quyền tự do chọn chủ quyền và vị thế chính trị trên chính trường quốc tế mà không bị can thiệp.

29- Công sản Hà Nội đã vi phạm Quyền Dân Tộc Tự Quyết của Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hoà.

(1)-Hiệp định Geneve ngày 20 tháng 7 năm 1954 do Cộng sản Hà nội và thực dân Pháp ký kết đã tước đoạt quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Việt Nam khi quyết định chia cắt đất nước VN thành hai miền Nam Bắc trước sự phản đối của chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo. Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ đã bày tỏ thái độ qua lời phát biểu “Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở” và đến năm 1956, chính phủ VNCH bác bỏ đề nghị  hiệp  thương giữa hai Miền Nam Bắc vì  không thể có bầu  cử tự do tại Miền Bắc do CS kiểm soát và Việt Nam vốn là môt quôc gia thống nhất.  Hiệp ước Geneve chia cắt đất nước thành hai miền Nam Bắc vi phạm quyền dân tộc tự quyết của Quốc gia Việt Nam và của toàn dân.

(2)-Hiệp định Paris (Paris Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam) ngày 27 tháng 1 năm 1973 công nhận quyền Dân Tộc Tự Quyết của Miền Nam Việt Nam:  Chương IV Điều 9 (a) Quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam là quyền thiêng liêng, không thể chuyển nhượng và các quốc gia phải tôn trọng. (b) Nhân dân Miền Nam Việt Nam sẽ quyết định chính phủ tương lai cho Nam Việt Nam qua cuộc bầu cử thật sự tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế.  Trong thực tế CS Hà Nội đã vi phạm Hiệp Định Paris, xâm lăng VNCH và áp đặt chế độ độc tài CS lên nhân dân miền Nam Việt Nam từ 1975 đến nay. 

Chapter IV, Article 9 (a): “The South Vietnamese People’s right to self-determination is sacred, inalienable, and shall be respected by all countries. (b) The South Vietnamese People shall decide themselves the political future of South through genuinely free and democratic general elections under international supervision.”

Điều 19: Các quốc gia tham dự Hội nghị đồng ý triệu tập Hội Nghị quốc tế trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký thỏa ước để công nhận thỏa ước đã được ký kết, bảo đảm chấm dứt chiến tranh, duy trì hòa bình cho Việt Nam, tôn trọng những quyền căn bản của nhân dân Việt Nam và quyền dân tộc tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, đóng góp và bảo đảm hòa bình tại Đông Dương.

Article 19: “The parties agree on the convening of an international conference with 30 days of the signing of this agreement to acknowledge the signed agreements, to guarantee the ending of the war, the maintenance of peace in Vietnam, the respect of the Vietnamese people’s fundamental national rights, and the South Vietnamese people’s right to self-determination, and to contribute to and guarantee peace in Indo China.”

Thi hành điều 19 thượng dẫn, ngày 2 tháng 3 năm 1973, 12 quốc gia họp trước sự chứng kiến của Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc đã ký một văn kiện gọi là ACT of the Paris Agreement ending the War and restoring Peace for Vietnam.

(3)- Định Ước (Act of the Paris Agreement on ending the War and Restoring Peace in Viet Nam), do 12 quốc gia ký ngày 2 tháng 3 năm 1973 được xem như là bản “Tông Đồ Công Vụ” của 12 vị Bộ Trưởng Ngoại Giao của 12 thành viên tham gia vào Hòa Hội Paris, gồm có  Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Việt Nam Cộng Hòa, Canada, Nam Dương, Ba Lan, Hung Gia Lợi, Trung Cộng, Cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng. Bản Định Ước này quy định biện pháp áp dụng trong trường hợp có sự vi phạm Hiệp Ước Ba Lê.  Định ước này có tính cách quan trọng trong vấn đề đòi lại quyền dân tộc tự quyết cho Việt Nam khi Việt cộng vi phạm Hiệp Định Ba Lê xâm lăng Việt Nam Cộng Hoà, áp đặt chế độ CS lên toàn dân Việt từ 1975 đến nay. 

Điều 2 Bản Định Ước xác định nguyện vọng và các quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam phải được tôn trọng. -  Article 2 “The Agreement responds to the aspirations and fundamental national rights of the Vietnamese people, i.e.  the independence, sovereignty, unity, and territorial integrity of Viet-Nam, to the right of the South Vietnamese people to self-determination, and to the earnest desire for peace shared by all countries in the world. The Agreement constitutes a major contribution to peace, self-determination, national independence, and the improvement of relations among countries. The Agreement and the Protocols should be strictly respected and scrupulously implemented”. 

Điều 7(a) Nếu có sự vi phạm Hiệp Định Ba Lê nguy hại đến nền hòa bình, một hay nhiều quốc gia có quyền tham khảo với các quốc gia khác để quyết định biện pháp giải quyết (b) Hội Nghị Quốc Tế sẽ được tái triệu tập khi Hoa Kỳ và CS Hà Nội yêu cầu, (c) hoặc theo lời yêu cầu của sáu hay nhiều hơn trong 12 quốc gia tham dự vào bản Định Ước”.

Nếu chúng ta vận động mạnh mẽ với 9 quốc gia tự do trong 12 thành viên ký vào bản Định Ước thì chúng ta có cơ hội thành công.-    Article 7 “(a) In the event of a violation of the Agreement or the Protocols which threatens the peace, the independence, sovereignty, unity, or territorial integrity of Viet-Nam, or the right of the South Vietnamese people to self-determination, the party signatory to the Agreement and the Protocols shall, either individually or jointly, consult with the other Parties to this Act with a view to determining necessary remedial measures. (b) The International Conference on Viet-Nam shall be reconvened upon a joint request by the Government of the United States of America and the Government of the Democratic Republic of Viet-Nam on behalf of the party signatory to the Agreement or (c) upon a request by six or more of the Parties to this Act.”. 

30- Đạo luật Public Law 93-559 do Tổng Thống Gerald Ford ban hành ngày 30 tháng 12 năm 1974. 

Điều 34(b) ấn định vấn đề tái triệu tập Hội Nghị Ba Lê “Để giảm thiểu sự đau khổ của nhân dân và mang lai hòa bình thực sự cho Đông Dương, Quốc hội khẩn thiết yêu cầu Tổng Thống và Bộ Trưởng Ngoại Giao áp dụng biện pháp sau đây (4) tái nhóm Hội Nghị Ba Lê để tìm phương cách thực thi toàn vẹn các điều khoản của Hội nghị ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 về các thành viên liên hệ đến cuộc xung đột tại Việt Nam. -  Section 34(b) (4): “In order to lessen the human suffering in Indochina and to bring about a genuine peace there, the Congress urges and requests the President and the Secretary of State to undertake the following measure … (4) to reconvene the Paris Conference to seek full implementation of the provisions of the Agreement of January 27, 1973 on the part of the Vietnamese parties to the conflict”.

Đạo luật này chưa được thực hiện hay hủy bỏ, do đó còn có hiệu lực. Mặc dù nhân sự đã thay đổi trong các chính phủ, nhưng trách nhiệm thi hành các hiệp ước, đạo luật không phải vì thế mà bị thời tiêu.

31- Quyết Tâm Tái Lập Tự Do, Dân Chủ tại Việt Nam

“Avec la persévérance on vient à bout de tout”

Với sự kiên trì, chúng ta có thể vượt qua mọi thu thach. 


(1)-Các quốc gia tự do thường tôn trọng những gì họ đã ký kết, nghĩa là dùng phương thức vương đạo, giấy trắng mực đen. Phương thức bá đạo không phải sở trường của người quốc gia. Mỗi khi quyền lợi bị vi phạm, chúng ta có quyền đặt vấn đề, khiếu nại. Do đó chúng ta không ngại khi phải yêu cầu các quốc gia tự do tái xét và thực thi những điều đã ký kết, trước sự hiện diện của đại diện Liên Hiệp Quốc, tái lập quyền dân tộc tự quyết cho nhân dân Việt Nam như đã được quy định trong luật quốc tế và trong các văn kiện quốc tế đã được ký kết liên quan đến Việt Nam.

(2)-Kết quả nhanh hay chậm còn tùy hoàn cảnh, nhưng còn tốt hơn ngồi than thân trách phận, thoái thác, chê bai lẫn nhau hay nguyền rủa bóng tối. Chúng ta phải vận động tích cực trong tất cả các quốc gia có người Việt cư ngụ, vận động đồng loạt và liên tục. Nếu đã bắt đầu nhưng chưa thành công, thì phải bắt đầu lại, như Platon đã nói: “Hãy bắt đầu vì đó là ngưỡng cửa của sự thành công”. 

(3)-Quyền dân tộc tự quyết có thể thực thi qua các cuộc tổng tuyển cử, trưng cầu dân ý, bầu cử tự do. Tổ chức bầu cử tự do tại Việt Nam là một trong những giải pháp mà các cộng đồng, đoàn thể đang chuẩn bị và vận động. Tập thể người Việt Quốc Gia còn yêu cầu LHQ, Hoa Kỳ và các quốc gia tự do hỗ trợ giải pháp tổ chức bầu cử tự do như đã quy định trong các văn kiện quốc tế. Nghĩa là không đặt vấn đề vu vơ mà nói có sách, mách có chứng:

(4)-Điều 9(b) Hoà Ước Ba Lê ký ngày 27/1/73 đã quy định:

“The South Vietnam shall decide themselves the political future of South Vietnam through genuinely free and democratic general elections under the international supervision – Miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định thể chế chính trị cho tương lai Miền Nam Việt Nam bằng các cuộc bầu cử thực sự tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế”.

(5)-Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế`Nhân Quyền mà tất cả các nước hội viên đã ký kết khi gia nhập Liên Hiệp Quốc. 

Điều 21 Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ấn định:

(a) “Mọi người đều có quyền tham chính trực tiếp hoặc gián tiếp được tuyển chọn qua các cuộc bầu cử tự do. ”Everyone has the right to take part in the government of his country, directly or through freely chosen representatives”.  Cộng sản VN khủng bố và cấm đoán người Việt quốc gia ứng cử, các ứng cử viên đều do đảng Cộng Sản đề cử… “Đảng cử, dân bầu”.

(b) “Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc sử dụng các tiện ích công cộng. “Everyone has the right of equal access to public service in his country”. Cộng Sản VN dành mọi tiện nghi, đặc quyền đặc lợi, dịch vụ công cộng cho cán bộ, đảng viên cộng sản, kỳ thị và kìm kẹp người Việt quốc gia trong mọi dịch vụ, sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục.

(c)  Chính quyền phải lấy ý chí chung của toàn dân làm căn bản, ý chí này sẽ được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự bằng thể thức phổ thông đầu phiếu, kín, hoặc bằng các phương thức bầu cử tự do tương đương.-” The will of the people shall be the basis of the authority of government; this will shall be expressed in periodic and genuine elections which shall be by universal and equal suffrage and shall be held by secret vote or by equivalent free voting procedures”. 

32- Suốt 50 năm thống trị toàn cõi Việt Nam sau 1975, cộng sản Hà nội tự biên tự diễn, không do ý chí của toàn dân Việt Nam tấn phong thể hiện qua các cuộc bầu cử tự do. Đảng Cộng Sản xâm lăng Việt Nam đã hình thành một giai cấp tài phiệt mới và quyết tâm phân chia đặc quyền, đặc lợi giữa các đảng viên, để “áo xiêm buộc trói lấy nhau”, thống trị đất nước trong cảnh bần cùng hóa nhân dân, khiến cho Việt Nam trở thành nghèo khổ nhất thế giới. Cộng sản rất sợ nhân dân giàu mạnh, vì phú quý sinh lễ nghĩa, đồng baò sẽ đòi hỏi tự do, dân chủ và mỗi khi giàu mạnh sẽ có đủ phương tiện lật đổ chế độ cộng sản. 

33- Nếu giải quyết vấn đề chính trị cho Miền Nam Việt Nam theo những điều khoản của Hiệp Định Ba Lê 1973 và bản Tuyên Ngôn QTNQ thì “Toàn quốc Việt Nam” sẽ được tự do, dân chủ, phú cường và độc lập khỏi bị Hán hoá. Chúng ta hãy dồn nỗ lực vào mục tiêu chính là “Dân Chủ cho Việt Nam” (Democracy for Vietnam) trong tinh thần đánh thức lương tâm nhân loại, gây áp lực với khối Cộng sản qua nhiều lĩnh vực văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, ngoại giao, công pháp quốc tế, bang giao quốc tế từ các đơn vị sinh hoạt địa phương như thành phố, quận, tiểu bang, liên bang, đến cấp quốc gia, hoàn vũ.

34- Trong mọi tổ chức ái hữu dân, quân, cán, chính, xã hội, tôn giáo, cộng đồng Việt Nam hải ngoại nên có một cơ cấu tổ chức phụ trách chương trình bảo vệ nhân quyền với chương trình vận động đồng bào Việt Nam tự do tại hải ngoại và các cộng đồng tự do quốc tế hổ trợ công tác xây dựng dân chủ  cho Việt Nam.

Có như thế thì chúng ta mới thể hiện được thành tâm, thiện chí, thực sự lưu tâm đến quyền sống và nhân phẩm của đồng bào quốc nội một cách công khai, muôn người như một. Chỉ có những chính quyền do nhân dân thực sự tự do tuyển chọn mới lưu tâm đến quyền lợi của dân chúng.  Đây là vấn đề nhân đạo, là sứ mệnh thiêng liêng biểu lộ lương tâm chính trực. Chúng ta ở hải ngoại chỉ hưởng được hạnh phúc chân chính thực sự khi thấy đồng bào quốc nội được sống trong hạnh phúc. 

35-Trong trường hợp giải pháp bầu cử tự do được thực hiện, để tránh vấn đề hợp thức hóa chế độ phi nhân CS hiện hữu, câu hỏi mà một số người quan tâm là liệu chúng ta có chuẩn bị đâỳ đủ các lực lượng quần chúng quốc nội và hải ngoại để hỗ trợ giải pháp bầu cử tự do. Do đó “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao”.  Không ai đơn thương độc mã có thể hoàn thành sứ mênh. Chúng ta cần có tổ chức, có đủ đại diện tại các quốc gia tự do, tại các tiểu bang có người Việt cư ngụ và tên toàn cõi VN gồm hơn 70 đơn vị hành chánh cấp tỉnh và thị xã nhằm âm thầm vận động quần chúng trong công tác “khai dân trí, chấn dân khí”, phổ biến các tài liệu về quyền Dân Tộc Tự Quyết, bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các văn kiện liên quan đến những quyền bất khả xâm phạm của con người, hỗ trợ các nhà tranh đấu cho nhân quyền ở quốc nội, một cách trực diện và qua các phương  tiện truyền thông hiện đại.

Lưc lượng nầy gồm những người dấn thân, không phân biệt tuổi tác, giới tính, có tinh thần phục vụ đển hơi thở cuối cùng đang sinh sống tại hải ngoại hay quốc nội, có khả năng âm thầm hoạt động để chuẩn bị tư tưởng quần chúng vì tư tưởng lên khuôn cho hành động, nhằm ứng phó với tình thế biến chuyển và sẵn sàng hỗ trợ chính phủ, do đồng bào quốc nội tấn phong qua thủ tục bấu cử tự do tại quốc nội.  Đây là một trong những vấn đề trọng yếu cần s phối hợp của các đoàn thể cộng đồng, ái hữu, tôn giáo, xã hội, chính trị, dân, quân, cán, chính hải ngoại và đồng bào quốc nội. 

Toàn dân Việt Nam, vì tuơng lai của tổ quốc, sinh mệnh của dân tộc, quyết định giành lại quyền dân tộc tự quyết, để tồ chức tồng tuyển cử tự do, nhân dân tự do tuyển chon chính thể hợp pháp, do dân, ví dân và phuc vụ phúc lợi chung của toàn dân nhằm giải thể chế độ Công sản, tự biên, tự diễn, tay sai của Hán tộc, kẻ thù bắc phương truyền kiếp của dân tộc Viêt Nam, để tái lập tự do, dân chủ, hầu mang laị hạnh phúc thực sự cho toàn dân.

Xin ơn Trên phù hộ chúng ta. 

Trần Xuân Thời 



Tham Luận 3: Bản Chất Của Chủ nghĩa Tự do

 


THAM LUẬN 3: BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO
TrầnXuân Thời 

AI Overview

• You sent analysis on "The Nature of Liberalism," referencing Divine Law and John Locke.

• The document discusses Divine Law as the foundation for Western democracy and natural rights.

• It focuses on Locke's natural rights: life, liberty (not license), and property via labor theory.

By Gemini

Nền Giáo dục của Quốc gia Việt Nam (1945-1955) và Viêt Nam Công Hoà (1955-1975) chú trọng đến kiến thức “nghề nghiệp, kỹ thuật “ cái gọi là “Tây phương hoá ”kiến thức và nhẹ về giaó dục ” Ý thức hệ” để chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa vô thần Công sản trong cuộc chiến lâu dài chống sự bành trướng của Công sản. Đó cũng là sự thất bại của giai cấp quản trị nền giáo dục VN trong  giai đoạn lịch sử này,

THAM LUẬN 3:

Bản chất của Chủ nghĩa Tự do
Trần Xuân Thời

Nhân k niệm ngày Quân Lực VNCH 19-6-2026

Thiên Luật là cơ sở nền tảng của nền dân chủ và tự do, vì Thiên luật nhấn mạnh các quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm vốn có của con người và quy định trật tự đạo đức chi phối hành vi con người.  Thiên luật thể hiện qua các ý niệm và nguyên tắc bảo vệ công lý, nhân quyền, để bảo tồn sinh mạng của nhân loại chống lại những kẻ chủ trương duy vật “mạnh được yếu thua, độc tài đảng trị”. Nhân luật để duy trì an ninh, trật tự. “Natural law teaches us the necessity of self-preservation. Law and government are required if we are to protect order and security”.

1- Thiên luât đã là một trụ cột của triết học chính trị Tây phương, ảnh hưởng đến sự phát triển của các nguyên tắc dân chủ và việc thành lập các hệ thống pháp luật. Thiên luật khẳng định rằng một số quyền và giá trị đạo đức vốn có đối với con người và có thể được hiểu một cách phổ quát, độc lập với các đạo luật hoặc chuẩn mực xã hội do chính quyển ban hành. Nguyên tắc này đã là nguyên động lực thúc đẩy cuộc Cách mạng Hoa Kỳ năm 1776 và việc hình thành Hiến pháp Hoa Kỳ, nhằm bảo vệ và đảm bảo các quyền tự nhiên đã tồn tại từ khi con người mới sinh ra. Tuyên ngôn Độc lập và Tuyên ngôn Nhân quyền là những văn kiện quan trọng phản ảnh sự công nhận và bảo vệ những quyền tự nhiên này trong khuôn khổ luật pháp trị quốc, an dân của Hoa Kỳ và các nước Tây Phương, được gọi chung là nền Văn Minh Thiên Chúa Giáo.

Thiên luật hiện hữu để duy trì trật tự luân lý của vũ trụ (moral order of the universe), sự trường tồn của nhân thế  và những gì tốt đẹp nhất cho nhân loại.  “Natural law teaches us the necessity of self – preservation and promotes what is really good for human persons” 

2- “Ý tưởng về trật tự đạo đức trong vũ trụ (moral order of the universe) là ý tưởng vũ trụ được sắp xếp bởi một Đấng có quyền năng  với những cảm xúc vô hình về điều thiện và điều ác, hay một thế lực đạo đức. Trật tự này có thể thúc đẩy hành động và có hậu quả đối với cá nhân và tạo vật. Một số người nói rằng trật tự đạo đức cũng tồn tại như các định luật vật lý, chẳng hạn như trọng lực, và quy luật này không thể bị vi phạm mà không có hậu quả”.

The idea of a moral order in the universe is the idea that the universe is ordered by a higher power, invisible feelings of good and bad, or a moral force. This order can motivate actions and have consequences for individuals and others. Some say that the moral order is as abiding as physical laws, such as gravity, and that it cannot be disobeyed without consequences” (Principia)

3- Từ thế k thứ 7,  6 trước Công nguyên, trước khiqu ý vị chí tôn như Đức Thích Ca, Lão Tử, Khng Tử… ra đời, nhân luật ( man-made law) của Hy Lạp chịu ảnh hưởng của Thiên luật, còn gọi là luật Định mệnh chi phối toàn diện sinh hoạt của con người.” The power of fate that controls everything.” Thế thượng thường tình, Nguyễn Du tiên sinh, sau khi thể hiện tư tưởng Nho, Thích, Lão về thân phận của nhân vật Thuý Kiều, đã tóm lược “Chung cục thì chị cũng tại Trời”! hay “Ngẫm thay  muôn sự  tại Trời. Trời kia đã bắt làm người có thân. Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới được phần thanh cao.”  Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên, trong nhạc phẩm “Trăng Mờ Bên Suối” cũng đã liên tưởng đến Cao xanh: “Môt ngày xa nhau xóa bao hình bóng. Trời bày chia ly chi cho lòng héo?” 

4- Thiên luật, vào thế k thứ 5 trước Công Nguyên, tương đồng với luật hợp với lý trí, hợp với lương tri, những luật không hợp với lương tri được xem như vô hiệu.” Law did not conform to reason may be regarded as invalid.” Sau đó, Thiên luật đã được Marcus Tullius Cicero, Luât gia, Thượng Nghị Sĩ La Mã, triều đại Hoàng Đế Caesar, sinh năm 106 và qua đời năm 43 trước Công nguyên, minh đinh Thiên luật (natural law) gồm các đặc điểm:

“Thiên luật hợp với lẽ phải Tự nhiên: Thiên luật có tính ứng dụng phổ quát, không thay đổi và có tính cách vĩnh viễn. Việc cố gắng thay đổi luật này là tội lỗi, cũng không được phép cố gắng kháng cáo bất kỳ phần nào trong đó và không thể bãi bỏ nó hoàn toàn. Thượng Đế là tác giả của luật này, Người ban hành và là phán quan giám định sự thi hành luật”.

”True law is right in agreement with Nature: It is of universal application, unchanging and everlasting… It is a sin to try to alter this law, nor is it allowable to attempt to repeal any part of it, and it is impossible to abolish it entirely… God is the author of this law, its promulgator, and its enforcing judge.”

5- Thánh Augustine (354-430), sau Công nguyên, quan niệm quốc gia mà không có công lý không phải là một quốc gia, mà chỉ là những nhóm gian nhân hợp đảng. ““What are states without justice, but robber bands enlarged”. Nhận xét này ứng nghiệm với các xã hội do Công sản cầm quyền hiện nay như Trung Cộng, Việt Cộng, Lào, Hàn Cộng và Cuba.

6- Về phương diện xã ước (social contract), chính quyền phải thể hiện ý chí chung của nhân dân qua các cuộc bầu cử tự do, chứ không thể áp dụng luât lệ trái với nguyện vọng của nhân dân, hay yêu điều dân ghét và ghét điều dân yêu. “Only with his consent be he subject to the political power of another.” Đức Khổng Tử (551-479), hơn 2500 năm trước, đã giảng cho sĩ tử “Hà chính mãnh ư hổ” (Lễ ký),  chính sách hà khắc độc ác hơn cọp dữ - Remember this, my children: Oppressive government is more terrible than tigers”.  “Hà chính mãnh ư hổ” đã có lần được TT Ngô Đình Diệm chọn làm đề thi luận văn nhập học cho sinh viên thi nhập học  Học viện Quốc Gia Hành Chánh  VNCH.  “Good public administrator wins the people over by his virtuous behaviour and concern for their welfare rather than by force”. Người cai trị  được dân chúng tuân phục nhờ  phong cách cai trị nhân đạo lo cho sự sống hạnh phúc  của toàn dân thay vì áp bức bằng lưỡi lê, đầu súng.

7- Điều 1 bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1948 đã ấn định: “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền lợi. Họ được Tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và phải đối xử với nhau trong tinh thần huynh đệ.” “All human beings are born free and equal in dignity and rights. They are endowed with reason and conscience and should act towards one another in a spirit of brotherhood”.

8- Thiên luật là công lý mà Tạo hóa ban cho nhân loại nhằm mục đích hướng đạo nhân thế sống theo nguyên tắc lương thiện, không gây tác hại cho người khác và tôn trọng quyền lợi của mỗi người.  “Justice is to live honestly, not to injure others and to give everyone his due”. Tôn trọng quyền lợi của nhân thế là nguyên tắc chung hướng dẫn sư hình thành luât lệ của các bộ lạc, các quốc gia từ cổ chí kim.

9- Luât La Mã, nhất là bô luật canh cải “Corpus Juris Civilis” từ thời Hoàng Đế Justinian (482-565), vẫn được đề cập mỗi khi bàn về cổ luật.  “It is a vital pillar of modern law in many European nations, and influential in other countries”, với lời mở đầu: “Chúng tôi đã quyết định, với  ơn trợ giúp của Thiên Chúa, thực hiện một món quà, vì lợi ích chung, những gì mà nhiều vị hoàng đế trong quá khứ cho là cần được cải thiện, nhưng không ai trong số họ, trong thời gian đó, dám thực hiện”. “We have determined, with the help of God, now to make a present, for the common good, of what appeared to many past emperors to require improvement, but which none of them, in the meantime, ventured to put into effect”.

10- ”Luật Anh quốc nhận lãnh thẩm quyền từ Thiên luật. “English law derives its authority from natural law”. (Sir William Blackstone (1723-1780). Công pháp quốc tế đặt căn bản trên Thiên luật. “Public international law is purported to be founded on natural law” (Hugo de Groot (1583-1645).

Rất lâu trước khi các hiến pháp được soạn thảo hoặc các nghị viện được triệu tập, triết gia người Anh John Locke lập luận rằng mỗi người đã mang trong mình một thứ quyền năng mạnh mẽ: một tập hợp các quyền mà không vị vua, chính phủ hay đa số nào có thể hợp pháp tước đi. Từ thế k 17 đầy biến động, Locke, hoằng dương Thiên luật  nhấn mạnh rằng chúng ta sinh ra đã có những quyền Tự nhiên (natural rights)- quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu - những quyền tồn tại bất kể bất kỳ nhà cai trị nào dù có chọn thừa nhận hay không. Ý tưởng đơn giản này đã tiếp tục hình thành các hiến pháp dân chủ, các cuộc cách mạng và bản chất của  chủ nghĩa tự do hiện đại. Vậy những quyền tự nhiên này thực chất là gì, chúng xuất phát từ đâu, và tại sao chúng vẫn quan trọng? Hãy cùng phân tích lập luận của Locke từng bước một.

11- Quyền tự nhiên (natural rights) là những quyền mà Tạo hoá ban mỗi cá nhân được hưởng chỉ vì họ là con người. Các quyền bất khả xâm phạm này không phải được trao bởi chính phủ, hiến chương hay bất kỳ văn kiện pháp lý nào. Thay vào đó, chúng tồn tại trước khi bất kỳ cơ quan chính trị nào được thiết lập. Locke gọi chúng là “tự nhiên” chính xác bởi vì chúng phát sinh từ đấng Tạo hoá, ban cho con người, là bản chất của con người trong trật tự tự nhiên, chứ không phải từ quyết định của nhà nước.

Theo Locke, tất cả mọi người khi sinh ra đều có những quyền không thể bị tước đoạt và không ai có thể tước quyền đó một cách hợp pháp hoặc tự nguyện từ bỏ. Ba quyền mà ông nhấn mạnh nhất là quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu tài sản. Bởi vì những quyền này tồn tại trước  khi có chính phủ, Locke mô tả chúng là tiền chính trị ( pre political) trước  khi các định chế chính trị ra đời . Chính phủ có thể bảo vệ hoặc vi phạm chúng, nhưng không thể là cơ quan tạo ra chúng. Locke dựa những quyền này trên Thiên luât hay luật tự nhiên - một tập hợp các nguyên tắc đạo đức phổ quát chi phối hành vi con người ở khắp mọi nơi. Luật này có thể được khám phá thông qua lý trí của con người: Lý trí dạy rằng không ai được làm hại đến tính mạng, tự do hoặc tài sản của người khác vì tất cả mọi người đều bình đẳng và độc lập.

Locke lập luận rằng con người là tạo vật của một Đấng Tạo Hóa toàn năng và, theo nghĩa nào đó, thuộc về Thượng Đế.   Bởi vì chúng ta là “tác phẩm” của Thượng Đế, được ban xuống thế giới với một mục đích, không ai có quyền hủy hoại người khác hoặc coi họ như tài sản.  Quyền được sống, do đó, đi kèm với một nghĩa vụ tương ứng: cũng như bạn có quyền không bị tổn hại, bạn có nghĩa vụ tôn trọng quyền đó ở mọi người khác. Quyền tự nhiên và nghĩa vụ tự nhiên là hai mặt của cùng một vấn đề.

(1)- Quyền sống (The right to life): Quyền được sống là quyền cơ bản nhất trong ba quyền, tạo nền tảng cho tất cả các quyền khác. Locke cho rằng việc bảo tồn nhân loại là nguyên tắc cơ bản nhất của Thiên luật.  Từ đó, mỗi cá nhân vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ bảo vệ mạng sống của chính mình, và không ai có thẩm quyền tước đoạt mạng sống của người khác một cách tùy tiện. Tuy nhiên, có một giới hạn quan trọng. Locke lập luận rằng một kẻ giết người về thực chất đã từ bỏ quyền được sống của chính họ vì họ đã đứng ngoài luật lý trí. Nói cách khác, những người vi phạm quyền tự nhiên của người khác không thể yêu cầu được bảo vệ hoàn toàn bởi những quyền đó. Ý tưởng này vẫn còn hiện hữu trong các hệ thống pháp luật hiện đại, nơi việc bảo vệ mạng sống con người nằm ở trung tâm của luật hình sự.” Giết người đền mạng”.

(2) Quyền được tự do (The right to liberty): Tự do, theo Locke, là quyền tự do hành động theo ý muốn của chính mình. Nhưng quyền tự do này không phải là vô hạn. Nó bị giới hạn bởi quyền tự do bình đẳng của người khác. Locke rõ ràng cho rằng mỗi cá nhân nên được tự do lựa chọn cách sống của mình, miễn là họ không can thiệp vào quyền tự do của người khác. Đây là một sự phân biệt quan trọng. Locke tách riêng tự do khỏi sự tùy tiện.  Tự do có nghĩa là quyền tự do trong phạm vi của Thiên luật; còn sự tùy tiện có nghĩa là làm bất cứ điều gì mình muốn bất kể gây hại cho người khác ( tuỳ tiện là license to do wrong, như chủ trương vô nhân đạo của chủ nghĩa Cộng sản Muốn giết ai thì giết, muốn cướp đoạt ta tài sản thì cứ cướp. Sau khi xâm lăng Miền Nam năm 1975, Cộng sản chuyển chở hàng triệu tấn tài sản của nhân dân Miền Nam ra Bắc ).  Một cách hữu ích để hình dung ranh giới này là nguyên tắc rằng quyền tự do hành động của bạn kết thúc ở điểm mà nó bắt đầu làm tổn hại đến quyền của người khác. Quan niệm này đảm bảo rằng tự do cá nhân không dẫn đến hỗn loạn, mà thay vào đó tồn tại cùng quyền tự do của mọi người khác.

(3)-Quyền sở hữu tài sản (The right to property):  Quyền sở hữu là lập luận đặc biệt của Locke. Ông bắt đầu với một vấn nạn: nếu trái đất được trao cho tất cả nhân loại, làm thế nào một người nào đó có thể đúng đắn tuyên bố một phần của trái đất là của riêng mình?  Câu trả lời của ông là lý thuyết lao động nổi tiếng về sở hữu. Locke lập luận rằng: (1) mỗi người sở hữu cơ thể của chính mình và do đó.  (2) sở hữu lao động mà cơ thể họ thực hiện. Khi một cá nhân kết hợp lao động của mình với một thứ sản vật từ thiên nhiên — cày ruộng, thu hoạch trái cây, lấy nước, buôn bán — họ đã gắn một phần công lao của mình vào đó. Hành động kết hợp lao động đó biến tài nguyên chung thành tài sản riêng.  Locke không ủng hộ việc tích lũy vô giới hạn. Ông gắn kèm các điều kiện quan trọng, thường được tóm tắt là “điều kiện Lockean.” Một người chỉ có thể chiếm hữu tài sản miễn là còn dành đủ và chất lượng tương tự, cho người khác. Ông cũng bổ sung một giới hạn về sự tham lam, phí  phạm hư hỏng: người ta không nên lấy nhiều hơn nhu cầu, những gì có thể sử dụng trước khi nó hỏng. Những hạn chế này được thiết kế để giữ việc chiếm hữu tài sản được công bằng.

12- Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, (Universal Declaration of Human Rights) do Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1948, được hơn 190 quốc gia công nhận, cũng được soạn thảo đặt căn bản trên Thiên luật.  Phúc cho những quốc gia hưởng ứng ý niệm “Thuận Thiên giả tồn”nhờ đó mà dân chúng được sống trong tự do.

Vấn đề đặt ra không cần  phải chứng minh Thiên mệnh như quan niệm của Công sản hay một số khoa hoc gia vô thần, vì họ kiêu căng muốn thay quyền Tạo hoá. Đa số đảng viên CS trí tuệ nhỏ hơn hạt cải mà cứ tưởng mình là “đỉnh cao trí tuệ” và kết quả là đảng nói chi nghe nấy,. May thay “ mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”. Sau môt thời gian chiếm gần ½ thế giới từ 1950. Sau 1990 thế giới Cộng sản bị thu hẹp lại chỉ còn 5 nước nghèo đói, lạc hậu như Cuba, Bắc Hàn, Lào, Việt Nam và Trung cộng. 

Nếu thế giới tự do, nhất là Hoa Kỳ không mở rộng thương trường cho thế giới Công sản thì liệu Trung Cộng có được chỗi dậy về kinh tế như hiện nay. Điều đó chứng tỏ chế độ tư bản đã thành công và chế độ Cộng sản chỉ là gây tai hoạ cho nhân loại: Việt Nam miệng thì chống Mỹ cứu nước nhưng nếu Mỹ không bãi bỏ cấm vận, mở cửa cho thương nhân Mỹ mở công ty sản xuất thì nhân dân thất nghiệp, trở lại tình trạng khốn khổ của những năm 1975-1990? Công sản là những kẻ vong ân, bội nghĩa, gian trá, vô luân thường đạo lý, ăn cháo đá bát, vì tư lợi của bè đảng mà quên đi quyền lợi quốc gia dân tộc hơn 4000 năm văn hiến.

13- Thiên mệnh âm thầm điều hướng đời sống của nhân loại, nhờ đó đa số các quốc gia đồng tâm nhất chí “tôn trọng nhân quyền” để duy trì tinh thần dân chủ, duy trì sự trường tồn của nhân loại chống lại những thế lực âm mưu diệt chủng như chủ nghĩa Cộng sản quốc tế đã sát hại gần hai trăm triệu sinh linh trong suốt 100 năm qua.

Từ thuở tạo thiên lập địa, từ Đông chí Tây, từ Nam chí Bắc, đa số nhân thế đã tin vào một Đấng Tạo Hóa toàn năng, vô thủ vô chung, là đệ nhất Tác Nhân, (First Cause/agent) tạo nên muôn loài và vũ trụ.   Thánh Thomas Aquino, thế k thứ 13, qua sách Tổng Luận về Thần học- Summa Theologiae- đã minh định: Tạo hóa đã ẩn tàng trong tâm hồn của nhân thế.

”Tạo hóa nội tại ở trong vạn vật và trong nội tâm hay lương tri của mỗi người nên trên bình diện tự nhiên, Đấng Tạo hóa đã hiện hữu trong tâm trí họ rồi”. “The immanent creator is in all things and in the inner self or conscience of each person, so on the natural level, the creator already exists in their minds.”

14- Nhân thế đã viện dẫn Thiên luật qua hình thức bảo vệ “Dân quyền và Nhân quyền” làm nguyên động lực, đối kháng với các chính quyền độc tài như cuộc cách mạng Pháp, với bản tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền “Déclaration des droits de l'homme et du citoyen” ngày 26 tháng 8 năm 1789.  Trước đó cuộc cách mạng tại Hoa Kỳ, nhằm tranh đấu cho nhân quyền là quyền tự nhiên mà Tạo hóa đã ban cho nhân loại được tuyên xưng trọng thể trong lời mở đầu của bản Tuyên Ngôn Độc Lập. “Declaration of Independence of 1776”, ngày 4 tháng 7 năm 1776:

Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng Tạo hóa đã ban cho họ những Quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, rằng trong đó có quyền sống, quyền được Tự do và mưu cầu Hạnh phúc--Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các Chính phủ được lập ra trong Nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân-- Rằng bất cứ khi nào một Thể chế Chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì Nhân dân có Quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ”.  Thiên luât vì vậy là bản chất của chủ nghĩa tự do (liberalism) mà nhân loại của trên 190 quốc gia đang thụ hưởng.

“We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness.—That to secure these rights, Governments are instituted among Men, deriving their just powers from the consent of the governed,—That whenever any Form of Government becomes destructive of these ends, it is the Right of the People to alter or to abolish it, and to institute new Government, laying its foundation on such principles and organizing its powers in such form, as to them shall seem most likely to effect their Safety and Happiness”. 

15- Để hiểu được điều làm cho quyền tự nhiên của Locke trở nên đặc biệt, việc so sánh ông với Thomas Hobbes, một nhà tư tưởng hợp đồng xã hội (social contract) quan trọng khác, sẽ hữu ích. Cả hai đều bắt đầu lý thuyết chính trị của mình bằng cách tưởng tượng một xã  hội trong  “trạng thái tự nhiên” - một điều kiện của cuộc sống trước khi chính phủ tồn tại.

(1)- Đối với Hobbes (1588-1679) trạng thái tự nhiên là một cuộc chiến của tất cả chống lại tất cả” (war of every man against every man) tăm tối, nơi mà mỗi cá nhân đều có quyền tự nhiên gần như vô hạn đối với mọi thứ, bất kể lợi ích của người khác. Trong bối cảnh hỗn loạn này, lực lượng thúc đẩy duy nhất thực sự là tự sinh  tồn, và cuộc sống nổi tiếng là “cô đơn, nghèo nàn, tàn nhẫn, hung bạo và ngắn ngủi”. Hobbes trải nghiệm cuộc khủng hoảng tại Anh Quốc từ năm 1642 đến 1679 gồm 3 cuộc nôi chiến với sinh mạng của vua Charles I nên có quan niệm bi quan về nhân thế.

Karl Marx (1818-1883), hơn 300 năm sau, chịu ảnh  hưởng của Hobbes chủ trương chính quyền phải do giới công nhân năm giữ với toàn quyền hành động, cái gọi là “ chuyên chế vô sản” (proletariat dictatorship) vì “lich sử thế giơí là lịch sử giai cấp đấu tranh”.  Karl Marx chịu thêm  ảnh hưởng bởi cuộc Cách mạng k nghệ tại Âu Châu trong thế k thứ 18 mà Karl  Marx là một nạn nhân, sống nghèo khổ tại ngoại ô Luân Đôn.  Then chốt. Hobbes và Karl Marx trao cho các cá nhân một quyền rộng lớn, gần như không giới hạn để làm bất cứ điều gì cần thiết cho sự sống còn, gần với quan niệm “người là  chó sói đối với người” (man is a wolf to man). Quân đội và nhân dân Miền Bắc bị nhồi sọ, hận thù quân đội và nhân dân Miền Nam và quyết tâm sát phạt không khoan nhượng như thái độ cướp của, giết người của đoàn quân CS Bắc Việt xâm lăng VNCH năm 1975.

(2)-Locke nhìn nhận mọi việc rất khác. Ông tin rằng trạng thái tự nhiên được điều chỉnh bởi nhân nghĩa, đạo đức, lương tâm thể hiện qua Thiên luật hay luật tự nhiên. Nhờ đó có sự hòa ái giữa người với người trong tinh thần tôn trọng tình nhân loại, tôn trọng Thiên luật ban cho nhân loại tự do, bình đẳng, và có nghĩa vụ tôn trọng quyền sống, tự do và tài sản của nhau.

Ngược lại với Thomas Hobbes trao cho các cá nhân một quyền rộng lớn, gần như không giới hạn để làm bất cứ điều gì cần thiết cho sự sống còn, Locke quan niệm các quyền tự nhiên bị giới hạn bởi quyền của người khác. Tự do của bạn là thực sự, nhưng nó dừng lại khi nó có thể xâm phạm đến sinh mạng, tự do hoặc tài sản của người khác. Sự tương phản này có những hệ quả to lớn đối với loại chính phủ mà mỗi triết gia biện minh. Hobbes kết luận rằng con người phải từ bỏ quyền của mình cho một chủ quyền tuyệt đối – sau này Karl Marx cũng chủ trương môt chính quyền vô sản chuyên chế. như chính quyền của các chế độ Cộng sản Cuba, Việt Nam, Lào, Bắc Hàn và Trung Cộng ngày nay.

16- Những quyền do Tạo hoá ban cho nhân loại hay quyền tự nhiên không phải chỉ là một tuyên bố đạo đức trừu tượng. Theo Locke là trạng thái tự nhiên, mặc dù về nguyên tắc là hòa bình, nhưng gặp phải những vấn đề thực tế nghiêm trọng. Không có thẩm phán công bằng để giải quyết tranh chấp, không có quyền lực chung để giải thích luật tự nhiên một cách nhất quán, và không có quyền lực đáng tin cậy để thực thi nó.  Khi hai người không đồng ý về việc một quyền có bị vi phạm hay không, mỗi người có xu hướng phán xét theo lợi ích của mình. Kết quả là, ngay cả những bất đồng trung thực cũng có thể dẫn đến xung đột, và người mạnh có thể lợi dụng người yếu.  Để giải quyết vấn đề này, các cá nhân đồng ý thành lập một quốc gia chung bằng sự đồng thuận, thiết lập một quyền lực công bằng có khả năng giải quyết tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của họ một cách an toàn hơn. Thỏa thuận này là hợp đồng xã hội hay xã ước (social contract).

17- Ý niệm về sự giới hạn của chính quyền và quyền phản đối .

Ý niệm giới hạn chính quyền và quyền nhân dân được phản đối thể hiện sự tài tình trong khuôn khổ của Locke. Bởi vì con người tham gia vào hợp đồng đặc biệt để bảo vệ các quyền tự nhiên của họ, quyền lực của chính phủ là có điều kiện và giới hạn. Locke cho rằng nghĩa vụ tuân theo chính quyền dân sự phụ thuộc vào việc chính quyền đó bảo vệ các quyền tự nhiên của mỗi người, bao gồm cả quyền sở hữu tư nhân. 

Nếu một chính phủ trở nên độc đoán và bắt đầu vi phạm chính những quyền mà nó được tạo ra để bảo vệ, nó sẽ phá vỡ hợp đồng. Khi đó, Locke cho rằng, người dân vẫn giữ quyền kháng cự và thậm chí thay thế chính phủ đó. Locke đã xây dựng quyền cách mạng trực tiếp vào lý thuyết của mình. Chính phủ là người phục vụ quyền lợi của người dân, không phải là chủ nhân của họ..

Gần với quan niệm của Hobbes: con người về bản chất là sinh vật cô lập và độc lậpvà không có nghĩa vụ đối với nhau. Karl Marx chủ trương sự tuân phục tuyệt đối của toàn dân đối với chính quyền bằng phương pháp đàn áp, tù tội hay sát hại những kẻ bất đồng chính kiến. hay phản động”. Biết bao người Việt vô tội đã bị sát hại khi bị nghi ngờ là “phản động” khi mặt trận Việt Minh (sau 1950 gọi là  Việt Cộng) hoành hành ở Việt Nam từ sau năm 1945.

Những ý tưởng của Locke không chỉ gói gọn trong nước Anh thế k 17. Lập luận của ông rằng quyền về sự sống, tự do và tài sản tồn tại trước khi thành lập một chính quyền dân sự đã ảnh hưởng sâu sắc đến Cách mạng Hoa Kỳ năm 1776 và truyền thống rộng lớn hơn của chủ nghĩa tự do trên toàn thế giới hiện nay. John Locke là một trong những người sáng lập triết lý chính trị “tự do”, triết lý về quyền cá nhân và chính phủ giới hạn. Đây là triết lý mà Hiến pháp Hoa Kỳ và tất cả các hệ thống chính trị phương Tây hiện nay. Trong tác phẩm thứ  hai Luận  về  Chính quyền ( Locke, Second Treatise of Government) ông  đặt căn bản trên  luật tự nhiên để làm nền tảng cho triết lý của mình..

Locke ủng hộ xã ước hay hợp đồng xã hội và chính quyền dựa trên sự đồng thuận. Chính phủ phải tôn trọng quyền của cá nhân. Công thức của Locke về chính phủ hạn chế đã truyền cảm hứng cho các Nhà lập quốc Hoa Kỳ. Các Nhà lập quốc, trong Tuyên ngôn Độc lập, nói về cả quyền tự nhiên và luật tự nhiên. Ông khẳng định rằng con người trong trạng thái tự nhiên là tự do và bình đẳng, và có quyền làm theo ý muốn của mình—nhưng chỉ “trong giới hạn của luật tự nhiên”. Nghĩa là tôn trọng quyền lợi của toàn dân, chứ không phải quyền lợi của giới cầm quyền độc đoán như trong các chế độ độc tài.

Chúng ta thường nghĩ quyền cá nhân đi kèm với trách nhiệm tôn trọng quyền của người khác. Lập luận của Locke gợi ý rằng trách nhiệm này dựa trên nghĩa vụ và luật tự nhiên làm cơ sở cho đạo đức. Ông nói rằng cá nhân chỉ có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác khi “sự tồn tại của chính mình không bị đối lập.” Nếu mạng sống của tôi bị đe dọa, tôi không cần tôn trọng quyền của bất kỳ ai khác, tôi có thể làm bất cứ điều gì cần thiết để bảo vệ bản thân.: Đó là Quyền tự vệ hay quyền chống chế đô sự  hà khắc, phản dân chủ của chính quyền độc tài đảng trị.

Locke tin vào một mức độ nghĩa vụ tự nhiên để tôn trọng quyền của người khác. Tương tự, đối với những người xem Locke là một nhà tư tưởng luật tự nhiên.  Locke nói Chúa là nguồn gốc của luật tự nhiên.  

18- Một hệ thống tự do như của chúng ta bảo vệ quyền cá nhân, nhưng sự bền vững của nó phụ thuộc vào việc mọi người thực hiện những quyền đó một cách có trách nhiệm. Tiên trách k hậu trách nhân. Tuy chúng ta đã lâm nạn, lui binh khi chưa hoàn thành sứ mệnh baỏ quốc an dân. Một em bé té xuống, vẫn biết kiên trì đứng dậy mà đi, huống chi chúng ta. Nhân k niệm ngày Quân lực 19-6-2026, Dân-Quân-Can Chính VNCH hải ngoại và quốc nội quyết tâm đng lên đòi lại công đạo, muôn người như môt, tái lập tự do, dân chủ cho Việt Nam.   “Lui binh không phải thất bại. Thất bại là lui binh mà không chuẩn bị ngày Đông sơn tái khởi - Falling down is not failure. Failure comes when you stay where you have fallen” (Socrates).

Chính phủ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa quan niệm chính thể tự do, dân chủ là chính thể lý tưởng cho toàn dân Việt Nam và  đang vận động quốc tế thi hành Hiệp Định Ba Lê mà CS Bắc Việt đã vi phạm nhằm tái lập tự do, dân chủ, nhân quyền, hạnh phúc thực sự và sự toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Điều 9(b) Hiệp Định Ba Lê ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 đã quy định:

“The South Vietnam shall decide themselves the political future of South Vietnam through genuinely free and democratic general elections under the international supervision – Miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định thể chế chính trị cho tương lai Miền Nam Việt Nam bằng các cuộc bầu cử thực sự tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế”.

Đặt lại Sài Gòn tên thành phố cũ
Kéo nhau về đoàn tụ phố phường  xưa

Xin ơn Trên phù hộ chúng ta

Trần Xuân Thời

Văn Dĩ Tải Đạo - Truyền Nhi bất tác.- Tri hành hợp nhất.