THƠ CỦA ĐỖ PHỦ - BÀI 114 ĐÉN 116
Thầy Dương Anh Sơn
THƠ CỦA ĐỖ PHỦ
Bài 114
BẦN GIAO HÀNH 貧交行
Phiên thủ tác vân, phúc thủ vũ, 翻手作雲覆手雨,
Phân phân khinh bạc hà tu số? 紛紛輕薄何須數?
Quân bất kiến Quản, Bão bần thì giao, 君不見管鮑貧時交,
Thử đạo kim nhân khí như thổ. 此道今人棄如土。
Dịch nghĩa:
Lật bàn tay tạo ra mây, úp bàn tay làm ra mưa, - Những kẻ bạc nghĩa nhẹ tình nhan nhản, đếm sao cho xuể? – Anh thấy chăng tình giao hảo của Quản Trọng và Bão Thúc Nha thủa còn nghèo khó? – Đạo nghĩa đó, người đời nay vứt bỏ như đất cát!
Tạm chuyển lục bát:
BÀI CA VỂ TÌNH BẠN THỦA NGHÈO.
Lật tay: mây tạo, úp: mưa,
Bao người khinh bạc đếm thừa kể chi!
Giao tình Quản Bão thấy gì?!
Đạo kia như đất bỏ đi đời này!
Chú thích:
Bần Giao Hành là một bài làm theo thể “hành” là loại thể thơ cổ của nhạc phủ nhưng theo cách lối thơ Đường luật “thất ngôn tứ tuyệt” rất đặc sắc của Đỗ Phủ như là một cách nhìn sắc bén về thế thái nhân tình ở một thời kỳ nhà Đường đang suy thoái, đương thời có rất nhiều kẻ hám danh lợi, tình nghĩa bạn bè rất bạc bẻo lại hay đổi thay, biến hóa thất thường... Bài hành như một lời than của Đỗ Phủ về đạo nghĩa đang bị phân hóa và xuống cấp trong cuộc đời. Nếu người bạn Lý Bạch của Đỗ Phủ chọn con đường xa rời danh lợi, ngao du sơn thủy, tìm đến bầu trời phóng khoáng, tự do rất gần gũi với phong thái đạo gia ,Đỗ Phủ lại như một nhà Nho của Khổng Mạnh luôn phản ảnh chân thực về cuộc sống và mạnh dạn phê phán về thói tình của người đời. Ông xứng đáng được hậu thế tôn xưng là bậc “Thi
thánh 詩聖” của người Trung Hoa.
- Câu 1: Phiên thủ tác vân, phúc thủ vũ 翻手作雲覆手雨: Lật bàn tay lại tạo ra mây, úp bàn tay làm ra mưa. “Phiên thủ 翻手” nghĩa là lật bàn tay lên, “phúc thủ 覆手” là úp bàn tay xuống thường dùng để chỉ lòng dạ thay đổi của tình đời ! Kết hợp với “vân vũ” hay mây mưa nhằm nhấn mạnh thêm về sự biến hóa, đổi thay và phê phán thói tình tráo trở trong cuộc đời.
- Câu 2: Phân phân khinh bạc hà tu số?紛紛輕薄何須數?: Rất nhiều kẻ bạc nghĩa nhẹ tình đếm không xuể! Đỗ Phủ đã mạnh dạn phê phán thói tình đổi trắng thay đen của xã hội đương thời với giọng điệu chua chát đối với rất nhiều bọn người coi nhẹ đạo nghĩa đếm không xuể....
- Câu 3: Quân bất kiến Quản, Bão bần thì giao 君不見管鮑貧時交: Bạn có thấy chăng tình bạn giao kết của Quản Trọng và Bão Thúc Nha thuở còn nghèo khó? Nhà thơ đã dùng điển tích về tình bạn tri kỷ sắt son nổi tiếng trong văn học Trung Hoa. Tình bạn của hai người này từ khi còn hàn vi cho đến khi là quan quyền là một tình cảm thủy
chung ,sâu sắc và tràn đầy tình nghĩa chân thành được Đỗ Phủ dùng để nhắc nhở và phê phán cho thói tình của nhiều người đương thời!
- Câu 4: Thử đạo kim nhân khí như thổ 此道今人棄如土: Đạo nghĩa này, người đời nay bỏ đi như đất cát! Đây là một câu nói đầy chua chát của Đỗ Phủ trước sự suy đồi của đạo nghĩa làm người. Tình bạn chân thành tri kỷ và cao quý của Quản Trọng và Bão Thúc Nha đã bị người đời nay xem nhẹ và vất bỏ như đất bùn. Câu thơ như một tiếng
thở dài và than trách của họ Đỗ về tình đời và về một thời đại đạo lý suy đồi....
- phân phân 紛紛: rất nhiều, nhan nhản, đầy rẫy....
- khinh bạc 輕薄: sống cạn cợt, thiếu suy xét, sống tầm thường lại có thói bạc bẻo thiếu tình người...
- tu hà số 何須數: thật là đếm không hế, đếm không xuể số lượng...
- Quản Bão 管鮑: tức Quản Trọng 管仲 (khoảng 725-645 TCN) và Bão Thúc Nha 鲍叔牙(khoảng 723-644 TCN) (có khi dịch là Bào Thúc Nha) thời Xuân Thu là hai người được văn học Trung Hoa đề cao mối giao hảo thâm tình (Quản Bão chi giao 管鮑之交) trong điển tích như một gương sáng về tình bạn. Quản Trọng tên thực là Di Ngô 夷吾 tự là Trọng, người đương thời kính trọng tài năng chính trị, giáo dục, kinh tế, quân sự của ông nên gọi là Quản Tử. Ông sinh ra ở vùng Dĩnh Thượng, tỉnh An Huy. Khi còn hàn vi nghèo khó hai người góp vốn đi buôn chung với nhau, bao giờ Bão Thúc Nha cũng nhường phần hơn cho Quản Trọng vì biết gia cảnh khó khăn của bạn phải nuôi mẹ già và gia đình. Khi bị sung quân ra trận mạc, có khi Quản Trọng chạy phía sau, Bão Thúc Nha không xem Quản Trọng là hèn nhát vì còn vương bận việc lo lắng cho mẹ già. Bão Thúc Nha luôn bênh vực bạn vì biết rõ tài năng của Trọng là người mưu trí, có tầm nhìn rộng lớn. Về sau, Bão Thúc Nha đang là phò tá cho Công tử Tiểu Bạch,con vua nước Tề thời Xuân Thu, đã tiến cử Quản Trọng vào triều làm phò tá cho Công tử Củ. Khi nước Tề gặp bạo loạn, vua Tề Vô Tri bị giết, Công tử Củ Và Công tử Tiểu Bạch nghe tin liền rời trang ấp về triều tranh ngôi vua. Khi hai toán quân của hai công tử gặp nhau trên đường đi, Quản Trọng đã dùng tên bắn vào Công Tử Tiểu Bạch để Công tử Củ có cơ hội đi về kinh đô trước giành ngôi. Nhưng tên bắn lệch,Tiểu Bạch giả chết, về kinh đô trước lên ngôi lấy hiệu là Tề Hoàn Công và ra lệnh cho nước Lỗ phải giết Công tử Củ, bắt giam Quản Trọng. Tề Hoàn công muốn Bão Thúc Nha làm Thừa tướng để sắp xếp đất nước sau thời loạn lạc nhưng họ Bão lại mạnh dạn tiến cử Quản Trọng đang bị giam ở nước Lỗ làm Tể tướng. Tề Hoàn công không quên mối thù bị Quản Trọng bắn mình nhưng Bão Thúc Nha đã nói với nhà vua rằng :” Quản Trọng chẳng qua muốn giết ngài để chủ mình là Công tử Củ làm vua. Nhưng nếu quân thượng biết trọng dụng tài năng của Trọng, ông ấy sẽ đem mũi tên để bắn khắp nơi giúp quân thượng làm chủ thiên hạ !” Hoàn công đắn đo suy nghĩ và đồng ý với họ Bão, cho mời Quản Trọng về nhậm chức Tể tướng. Nhờ tài “kinh bang tế thế 經邦濟世” (sắp xếp quản lý đất nước và cứu giúp đời), Quản Trọng đã giúp Tề Hoàn công thâu tóm nhiều lãnh thổ rộng lớn, xây dựng nền chính trị vững vàng và kinh tế phát triển. Ông được tôn xưng là Quản Tử 管子 (Thầy Quản) như là một nhà tư tưởng lớn của người Trung Hoa...Quản Trọng vẫn thường nói về tình bạn với Bão Thúc Nha: ”Sinh ta ra là mẹ ta, hiểu ta là Bão Tử !”( 生我者父母,知我者鮑子也- Sinh thành giả chi mẫu, tri thành giả Bão Tử dã).
Tưởng cũng nên nói thêm về tư tưởng giáo dục và kinh bang tế thế của Quản Trọng. Trong một tác phẩm quan trọng của văn học Trung Hoa là cuốn “Quản Tử 管子”. Ông đã dạy người cầm cân nảy mực của một quốc gia về kế sách lâu dài cho đất nước là “Thụ Nhân 樹人” (nghĩa là trồng người, nuôi dưỡng con người với câu: “Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc, Thập niên kế mạc như thụ mộc, Bách niên chi kế mạc như thụ nhân ㇐年之計,莫如樹穀;十年之計,莫如樹木;百年之計,莫如樹人.” [Trong sách dị bản cổ “Quản Tử - thiên Quyển Tu 管子·權修,câu cuối đã ghi là: “...Chung thân chi kế, mạc như thụ nhân 終身之計, 莫如樹人 “ nghĩa là : Tính kế suốt đời, không bằng trồng người (giáo dưỡng con người). Về sau từ “Chung thân 終身” đổi thành “Bách niên 百年” tăng tiến đi từ “nhất niên” qua “thập niên” và thành tựu ở “bách niên” rất phù hợp, làm ý nghĩa từ một đời người bước sang vận mệnh của cả một đất nước, một xã hội trong việc xây dựng và giáo dục con người cho mai sau!
- bần thì giao 貧時交 : tình bạn đã có từ thời còn nghèo khó (bần). [ giao: mối giao tiếp, tình bạn bè kết nối để đi đến chỗ thâm giao]
- đạo 道: chữ đạo có nhiều nghĩa: con đường,đường đi, lời nói, đạo lý, đạo nghĩa, lẽ đạo..v..v.... Trong câu này chữ “đạo” muốn nói đến đạo nghĩa 道義 của Nho giáo trong các mối quan hệ trong cuộc sống (cương thường). Mặt khác, văn học chân chính của Trung Hoa luôn đề cao :” Văn chương có thể chuyên chở đạo 文以載道“ (Văn dĩ tải đạo) như là một mục đích cao cả cần hướng đến của nền văn chương đích thực.
- khí như thổ 棄如土: vứt bỏ như đất cát, như bùn đất không còn chút giá trị nào...
Bài 115
CAO ĐÔ HỘ THÔNG MÃ HÀNH 高都護驄馬行
An Tây đô hộ Hồ thanh thông, 安西都護胡青驄,
Thanh giá hốt nhiên lai hướng đông. 聲價欻然來向東。
Thử mã lâm trận cửu vô địch, 此馬臨陣久無敵,
Dữ nhân nhất tâm thành đại công. 與人㇐心成大功。
Công thành huệ dưỡng tuỳ sở trí, 功成惠養隨所致,
Phiêu phiêu viễn tự lưu sa chí. 飄飄遠自流沙至。
Hùng tư vị thụ phục lịch ân, 雄姿未受伏櫪恩,
Mãnh khí do tư chiến trường lợi. 猛氣猶思戰場利。
Oản xúc đề cao như bặc thiết, 腕促蹄高如踣鐵,
Giao hà kỷ xúc tằng băng liệt. 交河幾蹴曾冰裂。
Ngũ hoa tán tác vân mãn thân, 五花散作雲滿身,
Vạn lý phương khan hãn lưu huyết. 萬里方看汗流血。
Trường An tráng nhi bất cảm kỵ, 長安壯兒不敢騎,
Tẩu quá xiết điện khuynh thành tri. 走過掣電傾城知。
Thanh ty lạc đầu vị quân lão, 青絲絡頭為君老,
Hà do khước xuất Hoành Môn đạo. 何由卻出橫門道。
(Năm 749)
Dịch nghĩa:
Con ngựa xanh quý của quan đô hộ ở An Tây, - Danh tiếng và giá trị (của con ngựa) có gốc bên Hồ bỗng chốc vang truyền tới phương Đông. - Con ngựa này ra trận lâu nay không có đối thủ, - Cùng người chủ một lòng lập nên công lớn. (c.1-4)
Lập công xong lui về được đãi ngộ nuôi dưỡng tốt, - Từ nơi xa xôi cát bềnh bồng di chuyển đến. - Dáng hùng chưa chịu nép bên máng cỏ trong chuồng hưởng ơn huệ, - Khí thế mãnh liệt vẫn còn nghĩ đến ham muốn (chiến công) ngoài chiến trường. (c.5-8)
Cổ chân hối thúc, vó đưa cao lên, cứng như sắt khi nện xuống, - Nhiều lần trên sông Giao Hà, từng làm băng vỡ tung. - Những đốm lông đẹp năm màu tung ra như mây phủ khắp thân, - Chạy muôn dặm mới thấy mồ hôi chảy đỏ như máu. (c.9-12)
Đám trai tráng ở Trường An không dám cưỡi, - Nó chạy vụt qua nhanh như điện chớp khiến cả thành đều biết tiếng. - Dây cương xanh (nay) quấn quanh trên đầu mà già đi vì chủ, - Biết bao giờ vẫn còn được ra khỏi Hoành Môn (ra chiến trường)? (c.13-16)
Tạm chuyển lục bát:
BÀI HÀNH VỀ CON NGỰA XÁM
CỦA CAO ĐÔ HỘ.
An Tây Đô hộ ngựa quan,
Phương đông bỗng chốc vang lừng đến nơi.
Ngựa này vô địch lâu rồi!
Hết lòng một dạ cùng người lập công.
Lui về đãi ngộ việc xong,
Xa xôi cát chuyển bềnh bồng đến nơi.
Dáng hùng nép máng chịu thôi!
Chiến trường khí mạnh nghĩ vời còn ham .
Vó cao, chân nện vội vàng!
Giao Hà nhiều bận đã từng vỡ băng!
Năm màu mây đẹp khắp thân,
Chạy muôn dặm thấy đỏ tràn mồ hôi.
Trai Trường An chẳng cưỡi rồi,
Vút nhanh điện chớp biết thôi khắp thành.
Già theo chủ, thắt cương xanh,
16 Bao giờ ra được cổng thành Hoành Môn.
Chú thích:
** Đây cũng là mộ bài làm theo thể “Hành 行”, một thể thơ cổ nhạc phủ để miêu tả sự vật với nhiều cảm xúc của Đỗ Phủ. Bài thơ này, Đỗ Phủ đã ca ngợi chiến công lớn lao và khí phách của con chiến mã. Đồng thời,cũng gián tiếp ca ngợi tài năng chiến trận của viên võ tướng họ Cao. Qua đó, cũng như ghi lại những cảm nhận của mình về thời tao loạn cuối nhà Đường: một võ tướng tựa như con ngựa chiến giỏi giang phải về nghỉ ngơi hưởng già sớm thật là bỏ phí nhân tài. Mặt khác, nhà thơ cũng gián tiếp nói đến nhà Đường trên đà suy thoái cần phải biết trọng dụng nhân tài đích thật và chớ để hoang phí để có thể giữ gìn và phát triển đất nước ...
- Cao Đô hộ 高都護: tức Cao Tiên Chi 高仙芝, một võ tướng được cử đi trấn nhậm vùng An Tây Đô hộ phủ sát biên giới với nước Hồ, Thổ Phồn.. (gọi chung là Tây Vực) với chức Đô hộ vào cuối năm Khai Nguyên nhà Đường.
- thông mã 驄馬: ngựa màu xanh đen pha trắng là một giống ngựa quý của người Hồ bên Tây Vực (phía tây nước Trung Hoa)
- thanh giá 聲價: tiếng tăm và giá trị...
- hốt nhiên 欻然: bỗng chốc, nhanh chóng...
- Câu 1 và 2: nhà thơ giới thiệu viên võ tướng và con ngựa như những anh hùng có tiếng tăm.
- cửu vô địch 久無敵: lâu nay, từ lâu không có kẻ địch lại...
- huệ dưỡng 惠養 : được ban ơn, được nhận ơn huệ và nuôi dưỡng, chăm sóc...
- tùy sở trí 隨所致: theo về chỗ nghỉ ngơi...
- phiêu phiêu 飄飄: bềnh bồng, nhẹ nhàng, hiu hiu, phiêu bạc chốn xa...
- tự lưu sa chí 自流沙至: cát tự mình (tự) di chuyển (lưu) (theo cơn gió) đến (chí)...
- hùng tư 雄姿: dáng vẻ, bộ điệu, dáng dấp, tư thế (tư) rất hùng dũng (hùng)...
- vị thụ phục 未受伏: chưa (vị) chịu (thụ) nằm nép mình (phục)...
- lịch ân 櫪恩: ơn huệ (ân) được ban thưởng nơi máng cỏ của ngựa hay chuồng ngựa (lịch)
- mãnh khí 猛氣: khí thế mạnh mẽ...
- do tư chiến trường lợi 猶思戰場利: vẫn còn (do) ham muốn (lợi) nghĩ đến việc đi ra chiến trường..
- oản xúc 腕促: cổ chân (hay cổ tay - oản) co vội vàng (xúc)...
- đề cao 蹄高: vó ngựa đang cất lên cao...
- bặc thiếc 踣鐵: nện xuống, ngã xuống (bặc) như sắt cứng (thiếc)...
- Giao Hà 交河: một con sông ở vùng biên giới gần Tây Vực, Trung Hoa
- tằng băng liệt 曾冰裂: từng làm (tằng) cho băng giá phải tan tành (liệt)...
- ngũ hoa 五花: năm màu sắc đẹp đẽ (hoa)...
- tán tác vân 散作雲: phân tán ra,bung ra tạo thành mây. Chỉ bờm ngựa đẹp đẽ khi chạy bung ra ngư làn mây bay...
- hãn lưu huyết 汗流血: mồ hôi chảy như máu đỏ. Điển tích về “Thiên mã Đại uyển” loại ngựa nổi tiếng vùng Trung Á chạy rất khỏe, có mồ hôi như màu máu...
- bất cảm kỵ 不敢騎: không ai dám cưỡi...
- tẩu quá xiết điện 走過掣電: chạy qua như tia chớp...
- khuynh thành 傾城: nghiêng thành đổ nước, chỉ sắc đẹp làm đất nước nghiêng ngã, khắp thành, đầy thành...
- lạc đầu vị quân lão 絡頭為君老: quấn quanh (lạc) ở đầu mà già đi vì chủ...
- hà do khước 何由卻: bao giờ (hà) vẫn còn (khước) theo (do)...
- Hoành Môn 門道: cửa thành nằm ở phía tây kinh đô Trường An là nơi ra quân đi đối phó giặc giã phía tây biên giới...
Bài 116
CỬU NHẬT KHÚC GIANG 九日曲江
Xuyết tịch thù du hảo, 綴席茱萸好,
Phù chu hạm đạm suy. 浮舟菡萏衰。
Quí thu thì dục bán, 季秋時欲半 ,
Cửu nhật ý kiêm bi. 九日意兼悲。
Giang thuỷ thanh nguyên khúc, 江水清源曲,
Kinh Môn thử lộ nghi. 荊門此路疑。
Vãn lai cao hứng tận, 晚來高興盡,
Diêu đãng cúc hoa kỳ. 搖盪菊花期。
Dịch nghĩa:
Tô điểm bàn tiệc với cành thù-du rất đẹp, - Thuyền trôi qua (trên nước) làm cho hoa sen tàn úa. – Cuối thu đã trải qua gần nửa rồi, - Ngày Trùng Dương lòng càng thêm buồn. (c.1-4)
Nguồn nước sông trong vắt, chảy quanh co, - Con đường về Kinh Môn này không định được! – Chiều xuống ,mọi hứng thú đều tan hết, - Bâng khuâng khi mùa hoa cúc đến. (C.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
NGÀY TRÙNG DƯƠNG Ở KHÚC GIANG.
Thù-du bày tiệc đẹp xinh,
Thuyền trôi qua khiến hoa sen úa tàn.
Cuối thu đã nửa sắp sang,
Tiết Trùng Dương lại lòng càng buồn hơn!
Quanh co trong vắt nước sông,
Đường về chẳng định Kinh Môn rõ ràng.
Chiều về hứng thú đều tan!
Khi mùa hoa cúc bâng khuâng chạnh lòng!
Chú thích:
** Bài thơ này là một bài thơ đặc biệt của Đỗ Phủ nói lên những nổi niềm của mình nhân ngày mồng 9 (cửu nhật) tháng 9 âm lịch tức là ngày của tiết Trùng Dương theo phong tục của người Trung Hoa. Bài thơ chất chứa nỗi buồn của Đỗ Phủ làm ở Khúc Giang gầnTrường An năm 753 sau cơn biến loạn do An Lộc Sơn gây ra. Nó đã cho thấy tâm trạng của Đỗ Tử Mỹ về nỗi buồn thời loạn, lòng nhớ nhung quê hương ở Kinh Môn và cảm nhận sâu sắc về sự suy tàn của thiên nhiên, của thời đại và con người. Nếu Lý Bạch tìm cách lánh xa cuộc đời, phiêu bồng cùng năm tháng, Đỗ Phủ lại gần gũi với cuộc sống và ghi nhận nó qua biết bao nhiêu bài thơ nhận xét về thời thế và cuộc sống hiện thực...
- xuyết tịch 綴席 : tô điểm, trang trí bày trên (xuyết) bàn tiệc hay chiếu tiệc (tịch).....
- thù-du 茱萸: bên Trung Hoa, họ có phong tục đeo cành thù-du, theo truyền tích, để tránh tai họa.Có khi họ cũng bày biên trên bàn tiệc để trang điểm cho đẹp và có không khí của ngày “cửu nhật” hay còn gọi là Tiết Trùng Dương.
(Thù-du có ba loại: ngô thù-du 吳茱萸, thực thù-du 食茱萸, sơn thù-du 山茱萸)
- phù chu 浮舟: con thuyền (chu) đang nổi trôi (phù) hay di chuyển chậm trên sông nước...
- hạm đạm 菡萏: tên gọi khác của hoa sen (hà hoa 荷花)
- suy 衰: tàn úa, hư hao, gầy mòn....
- quý thu 季秋: cuối mùa thu sắp sang đông...(quý : cuối, nhỏ út, ba tháng là một quý)
- kiêm bi : nỗi buồn sầu (bi) gấp nhiều lần, vượt hơn lên (kiêm)...
- nguyên 源 : căn cội, nguồn gốc, gốc gác, nguồn nước...
- Kinh Môn 荊門 : tên một vùng đất ở Hồ Bắc có dòng họ và mồ mả của tổ tiên Đỗ Phủ.
- nghi 疑: nghi ngờ, không rõ ràng, còn mờ ảo, lấy làm lạ, do dự, không định hay quyết đoán được, tựa như, phảng phất...
- diêu đãng 搖盪: rung động, lay động, chập chờn, đong đưa, bâng khuâng...
- cúc hoa kỳ 菊花期: mùa hoa cúc nở tượng trưng cho mùa thu và tiết Trùng Dương theo phong tục Trung Hoa.
Dương Anh Sơn
(Lần đến: THƠ CỦA ĐỖ PHỦ - Bài 117, 118 và 119 )

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét