Hiển thị các bài đăng có nhãn Sưu Tầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sưu Tầm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Bi Kịch Tình Yêu Của Thiên Tài Piano Chopin!!!

 


BI KỊCH TÌNH YÊU CỦA THIÊN TÀI PIANO CHOPIN !!!

'Duy duong Nguyen' via TVBQGVN

Frédéric Chopin (1810–1849) được xem là một trong những thiên tài âm nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại và là biểu tượng lớn nhất của âm nhạc Ba Lan.


Nếu Mozart là thần đồng, Beethoven là người khổng lồ của nhạc giao hưởng, thì Chopin được mệnh danh là: "Nhà thơ của đàn piano". Gần như toàn bộ cuộc đời sáng tác của ông gắn liền với cây đàn piano.

Ông sinh ngày 1/3/1810 (một số tài liệu ghi 22/2/1810) tại vùng quê gần Warsaw. Từ nhỏ ông đã bộc lộ tài năng phi thường:

- 7 tuổi đã sáng tác những tác phẩm đầu tiên.
- 8 tuổi biểu diễn trước công chúng.

Tuổi thiếu niên đã được gọi là "Mozart của Ba Lan".

Nhưng khác với nhiều nghệ sĩ thích sân khấu lớn, Chopin là người hướng nội. Ông thích những phòng hòa nhạc nhỏ và không gian thân mật hơn là những buổi biểu diễn trước hàng nghìn khán giả.

Không giống như Mozart là thiên tài được cả châu Âu ngưỡng mộ, Chopin là người nghệ sĩ khiến người ta thương cảm nhiều hơn là ngưỡng mộ. Âm nhạc của ông đẹp, mong manh và chất chứa nỗi buồn như chính cuộc đời ông. 

Và giữa cuộc đời ngắn ngủi ấy, có một người phụ nữ hơn ông 6 tuổi, đã bước vào, thay đổi tất cả, đó là George Sand - người được cho rằng đã ảnh hưởng rất nhiều đến sáng tác của ông. Đó là câu chuyện về hai tâm hồn thiên tài yêu nhau, nhưng cuối cùng lại làm tổn thương nhau.

Mùa thu năm 1836, tại Paris, khi Chopin 26 tuổi đã là một trong những nghệ sĩ piano nổi tiếng nhất châu Âu. Mỗi khi ông ngồi trước phím đàn, cả căn phòng như nín thở.

Chopin đươc khá nhiều phụ nữ đẹp quan tâm. Sức mạnh của ông chính là sự lịch lãm, thanh tao, trí tuệ sắc sảo, chưa kể đến tài năng âm nhạc.

Nhưng phía sau ánh hào quang là một con người mảnh mai, yếu đuối và nhạy cảm, thường chìm đắm trong nỗi nhớ quê hương Ba Lan.

Chopin sống trong thời kỳ đầy biến động của Ba Lan. Khi đất nước bị chia cắt và mất độc lập, ông phải sống phần lớn cuộc đời lưu vong tại Paris. Nhưng trái tim ông luôn hướng về Ba Lan. Ông luôn mang trong mình nhớ quê hương da diết. Điều này thể hiện qua nhiều tác phẩm của ông với nỗi buồn, sự hoài niệm và lòng yêu nước sâu sắc.

Trước khi đến với George Sand, Chopin từng có một tình yêu đẹp với nữ bá tước trẻ Maria Wodzińska. Tuy nhiên, do sức khỏe của ông ngày càng yếu và gia đình nhà gái phản đối, mối tình này nhanh chóng tan vỡ, để lại trong ông nhiều nuối tiếc và tổn thương.

Chopin và nữ văn sĩ George Sand quen biết nhau vào năm 1836 trong buổi gặp mặt của giới quý tộc tại nhà của nữ bá tước d’Agu tại Paris. 

Sau khi nhà soạn nhạc chơi một số đoản khúc của mình trước các vị khách thì nữ chủ nhân đến gần và giới thiệu với ông một nhân vật khá kỳ lạ. 

Đó là một người phụ nữ mặc bộ vest đàn ông, đi đôi ủng cao và miệng hút xì gà - nữ văn sĩ nổi tiếng khắp Paris: George Sand. 

Khi đó George Sand đã 32 tuổi, còn Chopin mới 26. Sand đã trải qua cuộc hôn nhân không thành công và đã có hai con. Bà đã ly hôn chồng, có thói quen hút thuốc lá, mặc quần áo đàn ông. Bà thường xuyên xuất hiện một mình và phát biểu những quan điểm khiến xã hội bảo thủ lúc bấy giờ kinh ngạc.

Tính cách bà đối lập với Chopin: mạnh mẽ, táo bạo và độc lập. Hoàn toàn đối lập với người nhạc sĩ trầm lặng trước mặt bà.
Sau lần gặp đầu tiên, Chopin không hề có thiện cảm. Ông thậm chí còn hỏi bạn bè: "George Sand thật sự là phụ nữ sao?"

Trước khi rời khỏi nhà bá tước d’Agu, Chopin lại chạm trán với George Sand. Lần này cuộc trò chuyện diễn ra khá lâu. George Sand đã bị người nhạc sĩ trẻ hút hồn và không lâu sau thì các cuộc gặp của họ trở nên thường xuyên, bà cố tình đến những nơi có mặt Chopin. Và hai người đã có những buổi hẹn hò riêng để chia sẻ về cuộc sống và những niềm đam mê của mình.

Phải mất gần hai năm thì Chopin mới hiểu ra là ông không thể sống thiếu người phụ nữ này, mặc dù tính cách của họ khác nhau. 

George Sand nhìn thấy ở Chopin điều mà người khác không nhận ra. Không phải danh tiếng hay tài năng mà chính là sự mong manh của ông. Bà hiểu rằng phía sau thiên tài ấy là một tâm hồn luôn cần được che chở. 

Trong khi đó, Chopin bị thu hút bởi trí tuệ và sức mạnh của George Sand. Bên cạnh bà, ông cảm thấy an toàn, như một con thuyền tìm được bến đỗ bình an.

Người phụ nữ ấy trở thành tình yêu lớn nhất đời ông. Tình yêu của hai người đến thật chậm nhưng vô cùng sâu đậm.

Năm 1838, họ chính thức ở bên nhau. Không may là bệnh lao phổi của Chopin ngày càng trầm trọng, Sand đã bỏ cả việc sáng tác để chăm sóc ông cả ngày lẫn đêm. 

Mùa đông năm ấy, George Sand quyết định đến Tây Ban Nha, nơi có khí hậu trong lành có lợi cho Chopin hơn. Bà đưa Chopin cùng hai người con đến đảo Mallorca của Tây Ban Nha để nghỉ dưỡng. Họ hy vọng khí hậu ấm áp sẽ giúp cải thiện sức khỏe của Chopin. Nhưng mọi chuyện không diễn ra như mong đợi.

Mưa kéo dài, thời tiết lạnh giá. Từ người tình, Sand biến thành một nữ y tá. Không lâu sau chủ nhà trọ biết được bệnh tình của Chopin, yêu cầu họ rời đi ngay. Cả gia đình phải sống trong một tu viện cũ giữa núi non hoang vắng. Chopin liên tục sốt, thậm chí còn ho ra máu. 

Sau đó, họ quyết định trở lại Pháp nhưng không một con tàu nào muốn chở một hành khách mang bệnh. George Sand đã phải đi khắp thành phố cảng để nài xin sự thương cảm đối với nhà soạn nhạc bất hạnh. Cuối cùng, một chủ tàu chở gia súc đã đồng ý. Lên thuyền, sau này Chopin kể lại "Những con gia súc còn được đối xử tốt hơn chúng tôi." Nhưng George Sand không một lời kêu than.

Thật kỳ lạ. Trong những ngày khổ cực nhất ấy, Chopin lại sáng tác nên những tác phẩm đẹp nhất. Tiếng mưa rơi trên mái tu viện, tiếng gió rít ngoài cửa sổ, nỗi cô đơn của người xa xứ. Tất cả hòa vào âm nhạc.

Nhiều người tin rằng một số khúc nhạc nổi tiếng nhất của ông được thai nghén từ những tháng ngày ở Mallorca.

Suốt gần mười năm sau đó, George Sand trở thành trung tâm cuộc sống của Chopin.

Mỗi mùa hè, họ cùng đến điền trang Nohant ở miền quê nước Pháp. Ở đó có vườn cây, có hoa hồng, có những buổi chiều yên tĩnh, có tiếng đàn piano vang lên giữa những cánh đồng. Đó là quãng thời gian hạnh phúc nhất đời Chopin.

Ông sáng tác liên tục. Những bản nhạc mang tên: Ballade, Nocturne, Polonaise, Mazurka. Những kiệt tác nối tiếp nhau ra đời.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nếu không có George Sand, có lẽ thế giới đã không có phần lớn những tuyệt phẩm của Chopin.

Nhưng tình yêu đôi khi không tan vỡ vì hết yêu, mà là vì những vết nứt nhỏ âm thầm lớn lên theo năm tháng. Chopin ngày càng yếu. George Sand ngày càng mạnh mẽ và quyết đoán.

Những mâu thuẫn giữa họ bắt đầu nảy sinh. Sand thì luôn hiểu và cảm nhận một cách tinh tế âm nhạc của Chopin và ngưỡng mộ tài năng của ông. Ngược lại, Chopin thì quay lưng lại với văn học, ít quan tâm đến sáng tác của Sand, thậm chí ông không đọc hết những tác phẩm của bà. Mối quan hệ của họ đã bị rạn nứt và luôn có nguy cơ tan vỡ.

Người nhạc sĩ nhạy cảm bắt đầu cảm thấy mình không còn được thấu hiểu như trước. Người phụ nữ từng chăm sóc ông suốt nhiều năm cũng dần mệt mỏi. 

Nữ văn sĩ vẫn yêu Chopin như xưa và ra sức giúp đỡ ông nhưng đề nghị sống ly thân. Điều này khiến Chopin cảm thấy bị xúc phạm. Ông thường xuyên ghen với bà, vì cho rằng Sand đã có người yêu mới.

Sau cùng, những đổ vỡ trong quan hệ với hai người con riêng của George Sand đẩy mâu thuẫn của họ lên cao . Con trai của bà ghen mẹ với người đàn ông xa lạ. Còn đứa con gái lớn thì ngược lại - hùa với “bố dượng” chống lại mẹ.

Quan hệ của họ ngày càng trở nên tồi tệ. Đến năm 1847, Chopin không thể chịu đựng được nữa, ông thu xếp đồ đạc và ra đi. Sand không ngăn cản.

Thời gian đầu, họ còn viết thư cho nhau, nhưng con gái của Sand kể với Chopin về sự phản bội của mẹ.

Rồi chẳng bao lâu, họ cũng chấm dứt thư từ. Lần cuối cùng, Chopin và Sand gặp nhau tình cờ vào nửa năm trước khi nhạc sĩ qua đời. Ông không nói chuyện với người tình cũ của mình, nhưng tỏ ra thân mật với con gái của bà.

Chopin không bao giờ thực sự vượt qua được cú sốc ấy. Ông vẫn tiếp tục biểu diễn, vẫn tiếp tục sáng tác. Nhưng những người bạn thân đều nhận thấy điều gì đó đã mất đi trong ông.

Năm 1848, do tình hình chính trị bất ổn ở Paris và sức khỏe ngày càng suy kiệt (căn bệnh lao), Chopin đã sang Anh. Chuyến đi này được thực hiện theo lời mời và sự sắp xếp của cô học trò người Scotland, Jane Stirling. 

Tại đây, ông biểu diễn tại London và được giới quý tộc Anh đón nhận nồng nhiệt, dù ông phải mang theo mình cơ thể ốm yếu và chịu đựng nỗi đau tinh thần do không sao nguôi ngoai được đoạn tình cảm với George Sand.

Một năm sau, vào ngày 17/10/1849. Chopin qua đời tại Paris khi mới 39 tuổi. Theo di nguyện, trái tim ông được đưa trở về Warsaw và hiện vẫn được lưu giữ tại Holy Cross Church ở Ba Lan.

George Sand không có mặt. Họ không gặp lại nhau lần nào nữa sau cuộc chia tay. Dù khi biết về bệnh tình của Chopin, George Sand đã muốn dứt bỏ công việc để đến với ông nhưng bạn bè đã ngăn cản vì sợ rằng sự xúc động mạnh sẽ làm cho bệnh tình của Chopin càng thêm trầm trọng.

Trước khi qua đời, Chopin vẫn đau đáu ngóng chờ George Sand đến. Ông không thể tin được là bà đã không bao giờ trở lại với mình. Những lời nói cuối cùng của Frederic Chopin thật xót xa: “Bà ấy đã hứa với tôi là sẽ không để tôi chết mà không có bà ấy ở bên cạnh, tôi sẽ chết trên tay bà ấy”.

George Sand sống thọ hơn Chopin 27 năm, bà mất năm 1876 ở tuổi 72. Sau Chopin, bà cũng đã tìm được bến đỗ bình an bên người đàn ông khác.

Nhiều năm sau, bà vẫn thừa nhận rằng Chopin là một trong những con người đặc biệt nhất từng bước vào cuộc đời mình.

Tình yêu của họ đã để lại dấu ấn trong lịch sử nghệ thuật. Đôi khi, những bản nhạc đẹp nhất không được sinh ra từ hạnh phúc. Mà được viết nên từ tình yêu, nỗi nhớ và những trái tim từng yêu nhau rất sâu đậm.

Và mỗi khi giai điệu dịu dàng của Nocturne vang lên, người ta vẫn có thể hình dung đâu đó bóng dáng của người nhạc sĩ Ba Lan gầy gò năm ấy, đang ngồi bên cây đàn piano, nhớ về người phụ nữ đã từng là cả thế giới của mình. 

Mối tình của họ kéo dài gần 10 năm và mang lại cho cả hai nhiều đau khổ. Có lẽ, hôn nhân hạnh phúc và cuộc sống gia đình êm ấm là những khái niệm quá phức tạp đối với các thiên tài dưới một mái nhà.

(FB Trang Nguyen tổng hợp) 

Thân mến 
TQĐ


Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

Tết Đoan Ngọ - Tết Sâu Bọ

 


TẾT ĐOAN NGỌ - TẾT SÂU BỌ
From: Bê Ta

Hôm nay là 5 tháng 5 Âm lịch - Tết Đoan Ngọ

Ý nghĩa của Tết Đoan Ngọ

  • “Đoan” nghĩa là mở đầu, bắt đầu.
  • “Ngọ” là giờ Ngọ (khoảng 11 giờ đến 13 giờ trưa) trong hệ Can Chi.

Vì vậy, Đoan Ngọ có nghĩa là thời điểm bắt đầu của giờ Ngọ ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, được xem là lúc dương khí mạnh nhất trong năm.

Ở Việt Nam, ngày này gắn liền với quan niệm:

  • Cầu mong sức khỏe, tránh bệnh tật.
  • Xua đuổi sâu bọ, côn trùng gây hại mùa màng.
  • Tưởng nhớ tổ tiên và cầu cho gia đình bình an.

Tại sao gọi là “Tết diệt sâu bọ”?

Theo dân gian, đây là thời điểm chuyển mùa, sâu bệnh phát triển mạnh. Người xưa tin rằng ăn một số món đặc biệt vào sáng sớm sẽ giúp “diệt sâu bọ” trong cơ thể và phòng bệnh.

Các món thường dùng gồm:

  • Cơm rượu
  • Bánh tro
  • Các loại trái cây mùa hè như mận, vải, xoài.

Nguồn gốc

Tết Đoan Ngọ có nguồn gốc từ văn hóa Đông Á, đặc biệt là Trung +. Tại Trung + , lễ này gắn với  chuyện về Khuất Nguyên, một vị đại thần và nhà thơ yêu nước đã tự vẫn xuống sông. Người dân thả bánh và chèo thuyền để tưởng nhớ ông.

Tuy nhiên, khi du nhập vào Việt Nam, ngày lễ này phát triển theo hướng riêng, gắn nhiều hơn với nông nghiệp, sức khỏe và sinh hoạt gia đình hơn là câu chuyện Khuất Nguyên.

Phong tục phổ biến ở Việt Nam

  • Cúng gia tiên.
  • Ăn cơm rượu vào sáng sớm.
  • Ăn trái cây đầu mùa.
  • Hái lá thuốc nam vào giờ Ngọ vì tin rằng dược tính mạnh nhất.
  • Dọn dẹp nhà cửa, cầu sức khỏe và may mắn.

Ngày nay, Tết Đoan Ngọ vẫn là một trong những ngày lễ truyền thống quan trọng của người Việt, đặc biệt ở các gia đình còn giữ nếp sống văn hóa dân gian.

From: Bê Ta

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

 


BỘ TỔNG THAM MƯU QLVNCH
LÂM VĨNH THẾ

Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) là cơ quan đầu não, chịu trách nhiệm về tất cả mọi vấn đề liên quan đến việc chỉ huy và tham mưu cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) trong suốt cuộc chiến tranh dài 20 năm giữa hai miền Nam Bắc của Việt Nam (1955-1975).  Bài viết này cố gắng ghi lại những nét chính về lịch sử, tổ chức, nhiệm vụ và điều hành của BTTMQLVNCH trong khoảng thời gian đó.

Huy Hiệu của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH
Lịch Sử

Cổng Chính của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH

Chiến Tranh Việt-Pháp (1946-1954) chính thức bắt đầu từ đêm 19-12-1946 sau lời kêu gọi Toàn Quốc Kháng Chiến của Chủ Tịch Hồ Chí Minh.  Đến đầu năm 1949, Pháp đã thấy rõ là họ đã bị sa lầy, không thể nào thắng được, và cách tốt nhứt để rút ra khỏi cuộc chiến tranh sa lầy đó là phải tìm một giải pháp chính trị cho Việt Nam.  Ngày 8-3-1949, Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và Cựu Hoàng Bảo Đại đã ký Thỏa Ước Élysée thành lập Quốc Gia Việt Nam với Cựu Hoàng Bảo Đại là Quốc Trưởng. [1]Ngày 8-12-1950 Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được chính thức thành lập nhưng lúc đó phần lớn các đơn vị vẫn còn đặt dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Pháp.  Ngày 15-7-1951, Đức Quốc Trưởng Bảo Đại ký sắc lệnh tổng động viên: tất cả thanh niên trong tuổi từ 18 đến 28 đều phải nhập ngũ, với những người có bằng từ Cao Đẳng Tiểu Học trở lên sẽ được theo học các khóa đào tạo sĩ quan tại Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định (ngoài Bắc) hoặc Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức (trong Nam). [2] Ngày 1-5-1952, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập, đặt trụ sở tại đường Galliéni (về sau đổi tên thành đường Trần Hưng Đạo), thuộc Quận 5, Sài Gòn.  Sau ngày 26-10-1955, ngày chính thể Cộng Hòa được chính thức thành lập, [3] cơ quan này đổi tên thành Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và trụ sở được dời về Trại Trần Hưng Đạo nằm trên đường Võ Tánh, gần Phi trường Tân Sơn Nhứt.  Ngày 19-6-1965, do sự bất hòa đưa đến tranh chấp giữa các chính trị gia dân sự ở Miền Nam, đại diện là Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu (1905-1970) [4] và Thủ Tướng Phan Huy Quát (1908-1979), [5] chính quyền VNCH rơi vào tay các tướng lãnh và ngày 19-6 Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ (1930-2011) [6] thành lập Nội Các Chiến Tranh, đặt tên cho ngày 19-6 là Ngày Quân Lực, và từ đó quân đội VNCH chính thức mang tên là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH).  Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH tiếp tục sử dụng trụ sở trên đường Võ Tánh, gần Phi trường Tân Sơn Nhứt, mãi cho đến ngày 30-4-1975. [7]

Tổ Chức

 BTTMQLVNCH được tổ chức theo sơ đồ sau đây:

Sơ đồ tổ chức Bộ Tổng Tham Mưu (1952)

(Ghi Chú: Tác giả chưa tìm được hình sơ đồ tổ chức mới hơn; về sau cả 2 Quân Chủng Không Quân và Hải Quân đều phát triển lớn mạnh và có Bộ Tư Lệnh riêng, BTTMQLVNCH không còn các Ban Không Quân và Ban Hải Quân nữa)

Sau khi quân đội nắm quyền vào năm 1965, như đã trình bày bên trên, Bộ TTMQLVNCH được hoàn thiện, và cơ cấu tổ chức gồm các bộ phận cho từng loại công tác với các cấp chỉ huy vào tháng 4-1975 như sau:

• Các Tổng Cục:

     ° Tổng Cục Tiếp Vận: Tổng Cục Trưởng là Trung Tướng Đồng Văn Khuyên (kiêm nhiệm Phó Tổng Tham Mưu Trưởng), tốt nghiệp Khóa 1 Thủ Đức (1952)


     ° Tổng Cục Quân Huấn: Tổng Cục Trưởng là Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, tốt nghiệp Khóa 1 Nam Định (1952)


     ° Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị: Tổng Cục Trưởng là Trung Tướng Trần Văn Trung, tốt nghiệp Khóa 1 Võ Bị Huế (1949)

• Các Phòng:


     ° Phòng 1: phụ trách về Nhân Sự, với Trưởng Phòng là Đại Tá Lại Đức Chuẩn, tốt nghiệp Khóa 5 Đà Lạt (tháng 4-1952)


     ° Phòng 2: phụ trách về Tình Báo, với Trưởng Phòng là Đại Tá Hoàng Ngọc Lung, [8] tốt nghiệp Khóa 1 Nam Định (1952)


     ° Phòng 3: phụ trách về Hành Quân, với Trưởng phòng là Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, tốt nghiệp Khóa 6 Đà Lạt (tháng 10-1952), và với đơn vị chính yếu là Trung Tâm Hành Quân
     ° Phòng 4: phụ trách về Tiếp Vận; từ ngày 16-11-1964, Phòng 4 đã được nâng lên thành Tổng Cục Tiếp Vận (đã trình bày bên trên)


     ° Phòng 5: phụ trách về Tâm Lý Chiến, với Trưởng Phòng là Đại Tá Lê Ngọc Định, tốt nghiệp Khóa 1 Nam Định (1952)
     ° Phòng 6: phụ trách về Phản Gián, với Trưởng Phòng là Đại Tá Lê Hữu Tiến, tốt nghiệp Khóa 1 Thủ Đức (1952)


     ° Phòng 7: phụ trách về Trinh Sát Kỹ Thuật, với Trưởng Phòng là Đại Tá Phạm Hữu Nhơn, tốt nghiệp Khóa 1 Nam Định (1952)
     ° Phòng Tổng Quản Trị: tách ra từ Phòng 1, phụ trách về Quản Trị Nhân Viên, với Trưởng Phòng là Đại Tá Trần Văn Thân, tốt nghiệp Khóa 2 Thủ Đức (1953)

• Các Đơn Vị khác:


     ° Tổng Hành Dinh: Chỉ Huy Trưởng là Đại Tá Trần Văn Thăng, tốt nghiệp Khóa 3 Thủ Đức (1953)
     ° Nha Tổng Thanh Tra Quân Lực: với Tổng Thanh Tra là Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, tốt nghiệp Khóa 4 Đà Lạt (1951)
     ° Nha Kỹ Thuật: phụ trách Tình Báo Chiến Lược, công tác chính là gởi người xâm nhập Miền Bắc, phát thanh với 2 đài Tiếng Nói Tự Do và Gươm Thiêng Ái Quốc, với Giám Đốc là Đại Tá Đoàn Văn Nu, tốt nghiệp Khóa 9 Đà Lạt (1953)
     ° Trung Tâm Hành Quân: có nhiệm vụ “điều khiển và theo dõi mọi cuộc hành quân trên toàn quốc. Trung tâm Hành quân BTTM là một Bộ Tổng Tham mưu thu hẹp, có đủ các đại diện thẩm quyền từ các Phòng của Bộ Tổng Tham mưu, các Bộ Tư lệnh Không quân, Hải quân, các binh chủng yểm trợ hành quân và tiếp vận.” [9]
     ° Trung Tâm Truyền Tin: gồm có 2 đơn vị: 1) Trung Tâm Truyền Tin Diện Địa cố định do Tiểu Đoàn 650 thuộc Liên Đoàn 65 Khai Thác Truyền Tin Diện Địa quản trị, với những phương tiện viễn liên cố định; và, 2) Trung Tâm Truyền Tin Chiến Thuật lưu động do Tiểu Đoàn Truyền Tin BTTM điều khiển và quản trị
     ° Bộ Chỉ Huy Quân Cảnh: Chỉ Huy Trưởng là Đại Tá Nguyễn Văn Kinh, tốt nghiệp Khóa 5 Thủ Đức (1955); ngành Quân Cảnh có các nhiệm vụ như sau:
          – Duy trì quân phong, quân kỷ
          – Hộ tống, hướng dẫn các đoàn quân xa
          – Điều hành các đồn quân cảnh, các trại quân kỷ, các trại giam tù binh, áp giải quân phạm, tù binh, và bảo vệ các cơ sở của quân đội
     ° Bộ Tư Lệnh Địa Phương Quân và Nghĩa Quân: với Tư Lệnh là Trung Tướng Nguyễn Văn Mạnh, tốt nghiệp Khóa 1 Võ Bị Huế (1949)
     ° Đoàn Nữ Quân Nhân: với Chỉ Huy Trưởng là Trung Tá Hồ Thị Vẻ

Đứng đầu Bộ TTM là một vị tướng lãnh cao cấp mang danh hiệu là Tổng Tham Mưu Trưởng, lần lượt do các tướng lãnh cao cấp sau đây đảm nhận:


Thống Tướng Lê Văn Tỵ (1904-1964): [10]
Tốt nghiệp Trường Võ Bị Fréjus, Pháp (1933), vinh thăng Thiếu Tướng ngày 1-12-1954 và nhậm chức Tổng Tham Mưu Trưởng vào ngày 11-12-1954 cho đến tháng 7-1963.  Thống Tướng Lê Vân Tỵ là vị Anh Cả của Quân Đội, và là vị Tướng 5 sao duy nhứt của QLVNCH.


Đại Tướng Trần Thiện Khiêm (1925-2021) [11]
Tốt nghiệp Khóa 1 Đà Lạt (1947), vinh thăng Thiếu Tướng ngày 6-12-1962, nhậm chức Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng thay thế Đại Tướng Lê Văn Tỵ đi Hoa Kỳ chữa bệnh ngày 27-7-1963 cho đến ngày 20-8-1963 khi ông bàn giao cho Trung Tướng Trần Văn Đôn.


Trung Tướng Trần Văn Đôn (1917-1998) [12]
Tốt nghiệp Trường Võ Bị Tông, Sơn Tây, Bắc Việt (1942), vinh thăng Thiếu Tướng ngày 10-4-1955, nhậm chức Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng ngày 20-8-1963 cho đến ngày 5-1-1964 khi ông bàn giao cho Trung Tướng Lê Văn Kim


Trung Tướng Lê Văn Kim (1918-1987) [13]
Tốt nghiệp Trường Pháo Binh Poitiers, Pháp (1940), vinh thăng Thiếu Tướng ngày 10-2-1956, giữ chức Tổng Tham Mưu Trưởng trong một thời gian rất ngắn: từ ngày 5-1 đến ngày 30-1-1964 khi ông cùng các Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, và Mai Hữu Xuân bị Trung Tướng Nguyễn Khánh đảo chánh, giam giữ tại Đà Lạt một thời gian


Đại Tướng Nguyễn Khánh (1927-2013) [14]
Tốt nghiệp Thiếu Úy ngày 1-7-1947 từ Trường Võ Bị Liên Quân Viễn Đông (thành lập tháng 7-1946 tại Đà Lạt, chỉ đào tạo có 1 khóa duy nhứt, bế giảng tháng 7-1947, rồi dọn về Nước Ngọt, Vũng Tàu), [15] vinh thăng Thiếu Tướng ngày 21-1-1960, và ngày 8-10-1964 tự phong làm Tổng Tư Lệnh (không có một thông tin chính thức nào cả gì về chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng).  Chiều ngày 20-2-1965, Tướng Khánh rời chức Tổng Tư Lệnh, bàn giao cho Trung Tường Trần Văn Minh, và ngày 25-2-1965 ông bị các tướng trẻ buộc phải ra khỏi Việt Nam đi làm Đại Sứ Lưu Động.


Trung Tướng Trần Văn Minh (1923-2009) [16]
Tốt nghiệp Trường Võ Bị Tông, Sơn Tây, Bắc Việt với cấp bậc Chuẩn Úy (1942); vinh thăng Thiếu Tướng ngày 30-4-1955; đảm nhận chức vụ Tổng Tư Lệnh thay cho Tướng Khánh ngày 21-2-1965; ngày 14-5-1965 trở lại mang danh hiệu Tổng Tham Mưu Trưởng, và ngày 15-7-1965 bàn giao chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng cho Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có (Tướng Có sau đó thăng Trung Tướng vào ngày 1-11-1965).


Trung Tướng Nguyễn Hữu Có (1925-2012) [17]
Tốt nghiệp Thủ Khoa Khóa 1 Trường Võ Bị Huế với cấp bậc Thiếu Úy (1949); vinh thăng Thiếu Tướng ngày 2-11-1963 sau cuộc đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, và ngày 15-7-1965 đảm nhận chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng do Trung Tướng Trần Văn Minh bàn giao; ngày 15-10-1965, bàn giao chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng cho Thiếu Tướng Cao Văn Viên.


Đại Tướng Cao Văn Viên (1921-2008) [18]
Tốt nghiệp Thủ Khoa Trường Võ Bị Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu) với cấp bậc Thiếu Úy (1949); vinh thăng Thiếu Tướng đặc cách tại mặt trận ngày 3-3-1964; đảm nhận chức vụ Tổng Tham Mưu Tưởng do Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có bàn giao vào ngày 15-10-1965 và giữ chức vụ này mãi cho đến ngày 28-4-1975 khi ông được Phòng Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ (Defense Attaché Office = DAO) di tản ra khỏi Việt Nam để qua Mỹ.


Trung Tướng Vĩnh Lộc (1923-2009) [19]
Tốt nghiệp Thiếu Úy Trường Võ Bị Địa Phương tại Huế (1950); vinh thăng Chuẩn Tướng ngày 11-8-1964; được Tổng Thống Dương Văn Minh cử nhiệm Tổng Tham Mưu Trưởng ngày 29-4 và là vị Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng của QLVNCH, chỉ giữ chức vụ có một ngày; sáng ngày 30-4-1975 ông di tản khỏi Việt Nam trên Tuần Dương Hạm Tây Sa HQ-615 do Hải Quân Thiếu Tá Phạm Văn Diên (tốt nghiệp Khóa 14, Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, tháng 12-1965) làm Hạm Trưởng.

Nhiệm Vụ
Theo Hiến Pháp 1967 của VNCH, Điều 60 ghi rõ là: “Tổng Thống là Tổng Tư lệnh Tối cao của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.” [20] Bộ TTMQLVNCH được “đặt trực tiếp dưới quyền chỉ huy của Nguyên thủ quốc gia Việt Nam Cộng hòa, chịu trách nhiệm xây dựng những kế hoạch về chiến lược và chiến thuật, nhận định tình hình chiến sự, tổ chức và phối trí những cuộc hành quân đủ mọi tầm mức để đối phó và tiêu diệt đối phương, đồng thời điều hành tất cả mọi việc liên quan đến quân đội với mục đích giữ gìn an ninh và bảo vệ lãnh thổ.” [21]
Như vậy, các nhiệm vụ chính của Bộ TTMQLVNCH bao gồm:
• cố vấn Tổng Thống VNCH trong tất cả các vấn đề thuộc về lãnh vực quân sự
• phân tích, đánh giá, và nhận định tình hình quân sự chung cho cả nước
• nghiên cứu, soạn thảo, đề nghị, và thực hiện các kế hoạch về chiến lược và chiến thuật
• tổ chức, phối trí, điều hợp, và theo dõi tất cả các cuộc hành quân ở cấp quân đoàn và sư đoàn
• điều động các Lực Lượng Tổng Trừ Bì: Sư Đoàn Nhảy Đù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), các Liên Đoàn Biệt Động Quân, và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù
• điều hành tất cả mọi việc liên quan đến vấn đề nhân sự: quân số, thăng cấp, thưởng phạt, huy chương
Trong các nhiệm vụ chính vừa kể trên, quan trọng nhứt, trong suốt thời gian 20 năm của Chiến Tranh Việt Nam (1954-1975), là việc BTTM có quyền điều động các Lực Lượng Tổng Trừ Bị.
Lực Lượng Tổng Trừ Bị gồm toàn các đơn vị thiện chiến nhứt của QLVNCH: đó là Sư Đoàn Nhảy Dù, Sư Đoàn TQLC, 3 Liên Đoàn 5, 6, 7 của Biệt Động Quân, và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.   Dựa trên tình hình của các mặt trận đang diễn ra, Bô TTM sẽ điều động các đơn vị của Lực Lượng Tổng Trừ Bi đến tiếp viện, giải vây cho các đơn vị bạn tại các trận đánh lớn, thì dụ như cuộc Tổng Tấn Công của Cộng quân trong thời gian Tết Mậu Thân (1968), như các trận An Lộc và Quảng Trị trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Điều Hành
Như trên đã trình bày, nhiệm vụ và công tác của Bộ TTM rất là phức tạp.  Vì vậy, để phụ giúp Tổng Tham Mưu Trưởng, ngoài các vị Tổng Cục Trưởng và các vị Trưởng Phòng như đã trình bày trong phần Tổ Chức, trực tiếp dưới quyền Tổng Tham Mưu Trưởng còn có một số tướng lãnh cao cấp đảm nhận các mảng công tác, với các chức vụ như sau:

1- Tổng Tham Mưu Phó: Trung Tướng Nguyễn Văn Mạnh kiêm Tư Lệnh Địa Phương Quân và Nghĩa Quân


2- Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng Đặc Trách Hành Quân: Trung Tướng Lê Nguyên Khang, tốt nghiệp Khóa 1 Nam Định (1952), cựu Tư Lệnh TQLC và Quân Đoàn 3
3- Tham Mưu Trưởng: Trung Tướng Đồng Văn Khuyên kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận


4- Phụ Tá Tham Mưu Trưởng: Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng, tốt nghiệp Trường Sĩ Quan Pháp tại Việt Nam (1945), cựu Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt


5- Tham Mưu Phó Đặc Trách Nhân Viên: Thiếu Tướng Nguyễn Xuân Trang, tốt nghiệp Trường Võ Bị Nước Ngọt, Vũng Tàu (1948), cựu Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng Pháo Binh 
6- Trung Tướng NGUYỄN BẢO TRỊ Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn.
7- Trung Tướng TRẦN VĂN TRUNG Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. 
8- Đại Tá NGUYỄN KỲ NGUYỆN (không có hình) Chánh văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. 
9- Đại Tá LẠI ĐỨC CHUẨN Trưởng phòng 1 Bộ Tổng Tham Mưu. 
10- Đại Tá HOÀNG NGỌC LUNG Trưởng phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu. 
11- Chuẩn Tướng TRẦN ĐÌNH THỌ Trưởng phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu. 
12- Đại Tá LÊ NGỌC ĐỊNH Trưởng phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu.  
13- Đại Tá LÊ HỮU TIẾN (không có hình) Trưởng phòng 6 Bộ Tổng Tham Mưu. 
14- Chuẩn Tướng PHẠM HỮU NHƠN Trưởng phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu. 
15- Đại Tá TRẦN VĂN THÂN (không có hình) Trưởng phòng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu. 
16- Đại Tá TRẦN VĂN THĂNG Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh.

Khác với Bộ Tham Mưu Liên Quân (Joint Chiefs of Staff = JCS) của Quân Đội Mỹ, mà quyền hành của vị Chủ Tịch Bộ Tham Mưu (Chairman of the JCS, tương đương với vị Tổng Tham Mưu Trưởng của QLVNCH) đã được xác định rất rõ ràng trong một Đạo Luật do Quốc Hội Mỹ thông qua và ban hành năm 1968, [22] Bộ TTM QLVNCH không được một đạo luật nào của VNCH xác định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn cả.  Tất cả đều tùy theo ý đồ và quyết định của vị “Nguyên thủ quốc gia Việt Nam Cộng hòa” tức là Tổng Thống VNCH.  Dựa vào Điều 60 của Hiến Pháp VNCH Năm 1967, như đã ghi rõ bên trên, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã cho thiết lập một hệ thống viễn liên ngay trong Dinh Độc Lập để ông có thể trực tiếp liên lạc, làm việc và ra lệnh cho các vị Tư Lệnh Quân Đoàn không thông qua Bộ TTM gì nữa hết, khiến cho cái chức vụ cao nhứt của QLVNCH, Tổng Tham Mưu Trưởng, trở thành một chức vụ “ngồi chơi xơi nước.”  Đại Tướng Cao Văn Viên, vị Tổng Tham Mưu Trưởng giữ chức vụ lâu nhứt  trong lịch sử của QLVNCH, tất cả gần 10 năm, từ ngày 15-10-1965 cho đến ngày 28-4-1975, rất bất mãn với cách làm việc đó của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nên đã nhiều lần xin từ chức nhưng không được Tổng Thống chấp thuận.  Vì vậy, ông không thực sự làm việc nữa, không tham gia đóng góp ý kiến gì cả về quân sự cho Tổng Thống Thiệu nữa,  mà chỉ làm 2 việc không dính líu gì đến chức vụ của ông: 1) đi học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, và, 2) Tập Yoga. [23] Xin kể ra một vài chuyện cực kỳ quan trọng về quân sự mà Đại Tướng Cao,Văn Viên, với tư cách là Tổng Tham Mưu Trưởng, đã hoàn toàn bị bất ngờ trước những quyết định độc đoán và tai hại của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vào những tháng cuối cùng của cuộc chiến.

• Triệt Thoái Vùng 2:  Sau khi mất Ban Mê Thuột, ngày 11-3-1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu triệu tập một buổi họp tại Dinh Độc Lập với sự tham gia của các vị tướng lãnh cao cấp sau đây: 1) Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng; 2) Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, và 3) Trung Tướng Đặng Văn Quang, Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống (cựu Tư Lệnh Quân Đoàn 4).  Sau khi nói qua về tình hình chiến sự, Tổng Thống Thiệu nói ra ngay quyết định của ông như sau: “Với khả năng và lực lượng chúng ta đang có, chắc chắn chúng ta không thể bảo vệ được tất cả lãnh thổ mà chúng ta muốn bảo vệ.  Như vậy, chúng ta nên tái phối trí lực lượng và bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thật sự quan trọng.” [24] Như vậy, rõ ràng là buổi họp không phải để các vị tướng lãnh cao cấp đó, trong đó có vị Tổng Tham Mưu Trưởng, thảo luận và cho ý kiến, mà chỉ là để thông báo và để có được sự đồng ý của họ mà thôi.  Ba ngày sau, ngày 14-3-1975, Tổng Thống Thiệu triệu tập một cuộc họp tại Cam Ranh, với thành phần tham dự giống như cuộc họp ngày 11-3-1975 tại Dinh Độc Lập cộng thêm Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Vùng II.  Tại cuộc họp này, Tổng Thống Thiệu trực tiếp ra lệnh cho Tướng Phú “triệt thoái toàn bộ lực lượng của Quân đoàn 2/Quân khu 2 khỏi Cao nguyên, di chuyển về các tỉnh duyên hải miền Trung thuộc lãnh thổ Quân khu 2.  [25] Kết quả là cuộc triệt thoái tai hại của Quân Đoàn 2, và là khởi điểm cho sự sụp dỗ quá sức nhanh chóng của VNCH

• Bỏ Huế: Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Tổng Trưởng Kế Hoạch tại thời điểm tháng 3-1975, đã kể lại chuyện bỏ ngõ Thành phố Huế như sau:
“ngày 25 tháng Ba 1975, một cuộc họp tại Dinh Độc Lập dưới quyền chủ tọa của Tổng thống Thiệu lúc 9 giờ 30 sáng. Hiện diện: ngoài Phó Tổng thống Trần Văn Hương và Thủ tướng Trần Thiện Khiêm còn có Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang, Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc, Tổng trưởng Kế hoạch Nguyễn Tiến Hưng.
Các tin xấu liên tục của chiến trường khiến tất cả im lặng và cùng nghiên cứu bản đồ. Sau khi Tướng Khuyên trình bày về tình hình QK I và II, Tổng thống Thiệu nhấc máy điện thoại gọi Tướng Trưởng hỏi xem có giữ được Huế hay không. Rồi ông nhắc lại câu trả lời từ đầu giây bên kia:
Trung tướng Trưởng: “Nếu có lệnh, thì giữ.”
Tổng thống Thiệu: “Liệu giữ được bao lâu?
Trung tướng Trưởng: “Ngày một ngày hai.
Tổng thống Thiệu: “Vậy nếu không giữ được, phải quyết định ngay, và nếu quyết định (bỏ Huế) thì phải làm cho lẹ.
Xoay qua mọi người, tổng thống Thiệu thở dài: “Mình trông cậy vào ba ‘enclaves’ (cứ điểm), mà bây giờ chỉ còn một ở Đà Nẵng.” Nghe vậy, ông Bắc và tôi bàng hoàng nhìn nhau. Như vậy là đã có lệnh rút khỏi Huế của Nguyễn Văn Thiệu.” [26]
Qua lời kể của Tiến Sĩ Hưng bên trên, chúng ta thấy rõ là, một lần nữa, Tổng Thống Thiệu đã đơn phương quyết định bỏ Huế, hoàn toàn không có thảo luận gì cả với các vị được mời tham dự buổi họp ngày 25-3-1975 này, trong đó có cả Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH.

Thay Lời Kết
Trong hoàn cảnh bị xâm lược từ Miền Bắc Cộng sản, quốc gia ở phía Nam vĩ tuyến 17 là VNCH bắt buộc phải tự vệ, và phải xây dựng một quân đội để chống lại các cuộc tấn công của Cộng quân.  QLVNCH ra đời để làm nhiệm vụ thiêng liêng đó, và, trên thực tế, đã chiến thắng tất cả các cuộc tổng tấn công của kẻ địch trong suốt cuộc chiến.  Và cơ quan đầu não của quân đôi, BộTTM QLVNCH, đã đóng một vai trò quan trọng trong các chiến thắng đó.  Bộ TTMQLVNCH đã được tổ chức thật hoàn bị với đầy đủ các đơn vị chức năng do các cấp chỉ huy có đầy đủ khả năng và kinh nghiệm lãnh đao.  Thật đáng tiếc, vào những ngày tháng cuối của cuộc tranh tự vệ này, Bộ TTMQLVNCH đã bị vô hiệu hóa bởi những quyết định đơn phương, độc đoán, và cũng hết sức sai lầm của vị nguyên thủ quốc gia, mà trên nguyên tắc, theo đúng Hiến Pháp, là Tổng Tư Lệnh của QLVNCH, đưa đến sự sụp đổ quá sức nhanh chóng của Miền Nam.


Lâm Vĩnh Thế