Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

Mưa Trên Biển Vắng

 


MƯA TRÊN BIỂN VẮNG 
Nhất Hùng 

Trân trọng 
NHHN 

Dân Ca Miền Tây Sôi Động

 


DÂN CA MIỀN TÂY SÔI ĐỘNG
Góc Dân Ca

DÂN CA MIỀN TÂY SÔI ĐỘNG – CHIẾC ÁO BÀ BA, BÔNG ĐIÊN ĐIỂN | MỞ TO Dân Ca... ([TiếngQuêHương] 

https://youtube.com/watch?v=2zUKCt8phAI&is=-R5XEO_-e5VQgN7h

Trân trọng
NHHN

Kính mời quý vị thưởng thức


Tự Niệm

 


TỰ NIỆM 
Nhất Hùng 

Trân trọng 
NHHN 

Chuyện Hai Người Phi Công VNCH Và Bắc Việt

 


CHUYỆN HAI NGƯỜI PHI CÔNG VNCH VÀ BẮC VIỆT
SVSQKQ

Chuyn Hai Người Phi công VNCH và Bc Vit - SVSQKQ // Bài thật dể thương và cm động 

Bài viết ghi lại theo lời kể của một SVSQ/KQ để nói lên sự tuyên truyền láo khoét và che lấp của người cộng sản Việt Nam. SVSQKQ

• Ngày 11 tháng 4 năm 1975: Khóa chúng tôi gồm 15 người, là khóa phản lực đàn em cuối cùng của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa mãn khóa tại trường bay Webb AFB, Big Spring, TX

• Ngày 20 tháng 4-1975: Chuyến phi cơ hành khách PANAM 747 cuối cùng chở chúng tôi hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất trong khung cảnh nhốn nháo và lo âu hỗn độn của những người di tản rời Việt Nam.

• Ngày 21/4/1975: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đọc bài diễn văn từ chức tại Thượng Viện và tố cáo Mỹ đã bỏ và cúp viện trợ cho Việt Nam một cách vô trách nhiệm.

• Ngày 30/4/1975: Tân Tổng Thống Dương văn Minh lên đài phát thanh kêu gọi anh em quân nhân các cấp buông súng đầu hàng vô điều kiện.

Cuộc đổi đời
Tháng 5/1975: Cộng sản kêu gọi các sĩ quan quân đội VNCH, từ cấp thiếu úy tới cấp tướng đi trình diện để học tập chỉ có 3 ngày rồi sau đó trở về lại với gia đình (sau này mới biết là đi học tập cải tạo mút chỉ, có khi tới 17..20 năm, có khi bị chết trong tù, hoặc bị tàn tật hay bị bệnh hậu, khi trở về thành phế nhân hoặc chết sớm), anh em Sĩ Quan VNCH bị gạt một cách dễ dàng. Đúng là câu “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm“

Sau khi về nước, vì còn mang cấp bậc Sinh Viên Sĩ Quan nên tôi không bị đi cải tạo, chỉ đi trình diện ở địa phương và bị theo dõi chặt chẽ bởi lũ công an phường khóm.

Cuối năm 1975, tôi lập gia đình và vợ tôi quê ở Vĩnh Long, lên Sài Gòn ở với tôi nhưng vì mẹ chồng nàng dâu không thuận, nên bà xã tôi ở với tôi được vài tháng rồi trở về ở lại Vĩnh Long quê nàng ta, còn tôi thì ở lại Sài Gòn, cuối tuần thứ sáu thì về Vĩnh Long, rồi chiều chủ nhật thì đón xe đò lên Sài Gòn, y như lính đi nghỉ phép vậy.

Một ngày cuối tuần sau khi đi thăm bà xã ở Vĩnh Long, tôi mua vé xe đò để trở lên Sài Gòn (vì tôi hộ khẩu ở thành phố), tôi ngồi ở chặng giữa, ghế bìa sát cửa sổ, người ngồi kế bên tôi là một người đàn ông người Bắc, trông mập mạp và cao ráo, tuổi chừng khoảng 35-40. Xe đang chạy khoảng hơn nửa tiếng, tôi đang ngủ gà ngủ gục, lúc đó đang đeo chiếc nhẫn của Không Quân Mỹ (USAF) bên ngón tay phải (nhưng khi công an hay lính cộng sản xét giấy tờ thì tôi sẽ lật mặt chiếc nhẫn vô lòng bàn tay để giấu, giống như đeo nhẫn bình thường) thì người đàn ông ngồi kế tôi dùng cùi chỏ thúc vào hông tôi nhè nhẹ hỏi:

- Ê, có phải chú mày là... giặc lái?

Tôi tỉnh dậy:
- Sao chú biết?
- Tao nghe nói bọn giặc lái ngụy nó thường đeo chiếc nhẫn không quân Mỹ, vậy chắc chú mày là giặc lái phải không?


Tôi hỏi:
- Ủa vậy chú là...?
- Tao là... "người lái“ của Không Quân Nhân Dân.
- Ủa vậy chắc chú còn bay?
- Không, tao làm phó thường dân rồi, đâu còn bay bổng chi nữa.
- Ủa sao vậy chú? Trông chú còn trẻ, khỏe mạnh lắm mà?
- Tao bị đuổi ra khỏi đảng và bây giờ làm dân bình thường thôi.
- Thật vậy hả, tại sao vậy chú?

- Số là như vầy:

Tao là người lái máy bay Mig-19, là máy bay phản lực 2 máy, giống máy bay A-37 hay F-5 của chú mày, nhưng nó không có khả năng không chiến mạnh như Mig-17 hay Mig -21 để đương đầu với phi cơ F-4 con ma của Mỹ, nhưng tao thích lên đấu với chiếc F một lẽ năm (F-105) của Mỹ, vì chiếc này nó to và bay nhanh. Chủ đích là mang bom nhiều ở dưới cánh và bụng, nhưng khả năng không chiến hoặc tự vệ rất yếu.

Một ngày kia khoảng trung tuần tháng sáu năm 1972, tao đang ngồi ở phòng trực tác chiến, thì nghe loa phóng thanh báo động: Có phi cơ F-105 của Mỹ ở hướng Đông Nam Hà Nội, có phi cơ địch, có phi cơ địch...!!! Tụi tao mừng lắm, vì nếu gặp F-105 thì hên lắm, còn thọ được. Chớ nếu gặp F-4 thì phiền lắm, thì coi như chết chắc, tới số! Mig-19 tụi tao không đủ sức độ với F-4 của Mỹ.

Tao bay về hướng Đông Nam, hướng dẫn thẳng ra biển, trên cao độ khoảng 5000 mét, thì tao thấy nhiều đốm đen theo hướng hai giờ (hướng tay phải), nhìn rõ tao thấy toàn F-4, chớ đâu phải F-105. Tao lẩm bẩm chửi thề mẹ kiếp cái đài không lưu báo cáo loét, chết cha tao rồi... Tao chửi thề trong miệng, liền đẩy tay ga lên tối đa, bay thẳng lên trên cao thêm khoảng 7000-8000 mét, hy vọng trốn vào trong mây cho nó chắc ăn, nhưng tao đã lầm to: ít nhất có 30 chiếc F-4 bay giăng hàng ngang ở trên từng mây cao này, tao bay gần sát bọn nó, thậm chí còn thấy tụi Mỹ đội nón an toàn (helmet) thật rõ, tao liền kéo cần để nhảy dù ngay (eject/ bailout) liền tức tốc....

- Chú nhảy dù ??? Trời đất ???
- Chớ còn gì nữa, nếu chần chờ thì sẽ bị ăn cái hỏa tiển (sidewider) của nó là chết banh xác. Tao nhẩy dù ra bay lơ lửng trên trời xanh rồi từ từ hạ xuống, tao còn thấy chiếc Mig-19 của tao nó rớt xuống đất nổ tan tành với một cục lửa màu đỏ cam rất to, có vài chiếc F-4 của Mỹ nó bay vào vèo vèo bên tao, nó thấy tao nhưng nó không bắn, thật là tao rất có phúc... đại phước...

Tao cũng nghe nói là bọn Mỹ rất anh hùng, nó không bao giờ bắn người ngã ngựa, kinh nghiệm trong thế chiến thứ hai. Tao rớt xuống một cánh rừng, bị vướng tòn ten trên một cây thật cao, nhưng may phước là thân hình tao còn nguyên, lành lặn không có gì bị thương cả, nhưng tao thấy ở dưới gốc cây có chừng khoảng 10 thằng du kích xã, hầu hết là mang súng trường SKZ và đứa nào cũng đang nhắm vào tao để muốn bắn chết tao, đứa đứng đứa ngồi.

Tao hét lên: Này đừng bắn, Không Quân Nhân Dân... Không Quân Nhân Dân! và đồng thời tao vỗ vào cánh vai trái bình bịch vào cụm tay tao có may lá cờ đỏ sao vàng to tổ bố để phân biệt là người lái phe ta với giặc Mỹ. Tao tiếp tục la thất thanh: Ông là Không Quân Nhân Dân, Không Quân Nhân Dân đừng bắn!!! Đ. má đừng bắn!!! Tiếp theo tao nghe một tiếng súng nổ ... Đoành!

Tao mở mắt ra thì thấy đang nằm trên giường nhà thương, áo choàng màu trắng, chân phải tao đang bị băng bột treo lên cao và đang bị vô nước biển, cô y tá đứng bên giường nói: Thưa đồng chí Thượng Úy, đồng chí đang nằm điều trị tại nhà thương Bạch Mai, Hà Nội.

Chừng khoảng nửa tiếng thì có phái đoàn vô thăm tao, dẫn đầu là một thượng tá là người lái xếp của tao và kế tiếp theo sau là các người lái Mig-17, Mig-21 vô để chúc mừng tao, nói là hôm ấy tao bắn hạ 3 chiếc F-4 và sau đó máy bay tao bị hết xăng, tao phải nhẩy dù ra và phi cơ địch đã bắn trúng chân phải của tao, họ cấp cho tao giấy khen là chiến sĩ anh hùng diệt máy bay Mỹ và truy thăng tao lên Đại Úy và nói là kể từ phút này vì bị thương tích nơi chân, nên tao không thể bay được nữa và họ đã dành cho tao một nhiệm sở mới đó là làm việc tại phòng huấn luyện, để giảng dạy dưới đất cho các học viên người lái.

Tao rất buồn vì thú thật tao rất thích đi bay lắm, nhưng tao phải thầm cám ơn mấy thằng du kích xã vì nó bắn tao bị thương chân, nên bị loại ra khỏi đi bay, chớ nếu còn bay thì có ngày nát thây với bọn F-4....

Tôi hỏi tiếp:
- Rồi sao hả chú?
- Tao làm việc tại phòng huấn luyện được vài năm, thì đến ngày 30-4-1975. Miền Bắc tấn công và chiếm miền Nam, tụi tao thì nói với nhau: Miền Nam thua vì bị thằng Mỹ bỏ rơi nửa chừng, tụi mình có đánh đâu mà thắng, còn miền Nam có đánh đâu mà thua.

Sau 30-4-1975, tao nhận được một lá thư từ trong Nam gởi tới nhà tao tại Hà Nội, trong thư nói là tao có một thằng em trai, nó đi vô Nam hồi năm 1955, sau này nó lớn lên tốt nghiệp ở trường Võ Bị Đà Lạt, rồi giữ chức Đại Úy nhảy dù, bây giờ nó đi cải tạo ở suối Máu, nhờ anh đó bảo lãnh ra dùm, dẫu sao cũng là anh em ruột thịt. Tao động lòng máu mủ, tao mới đứng ra điền đơn xin bảo lãnh cho thằng em ra trại.

Kết quả là thằng em không ra tù, mà tao lại bị chúng nó điều tra lại lý lịch, tụi nó nói là tao khai gian và che dấu có thằng em Mỹ ngụy ác ôn, rồi kể từ đó tao bị trục xuất ra khỏi đảng. Cho tao ra làm phó thường dân, tao xin về miền Nam ở nhà gia đình thằng em tại tỉnh Vĩnh Long này. Thứ nhất là tại vì tao thích ở trong Nam thoải mái hơn, thứ hai là thấy có cán bộ trong nhà tụi công an phường xã nó đỡ ăn hiếp gia đình em tao.

Sau khi ở miền Nam được vài tháng tao mới phát hiện được là trong Nam, thằng cha nông dân, thằng tài xế xe đò ...còn có hai bà vợ lẽ, con gái miền Nam rất đẹp, khêu gợi, ăn mặc đều đẹp cả, ngay cả đi ngủ cũng mặc đồ ngủ riêng. Cái khổ miền Bắc là đàn bà chỉ được cấp một năm có hai bộ đồ, nó mặc hoài hôi rình, nhìn thấy mắc ói, chán lắm mày ơi! Thành thử giải phóng miền Nam đâu chưa thấy, chớ tao thấy là giải phóng tao trước.

Tuy nói vậy, cũng phải làm gì để kiếm ăn, tao thì đi đi về về Hà Nội - Sài Gòn bằng đường xe hỏa Bắc Nam, tao thấy trên tàu hỏa, người ta đi hầu hết là đi buôn, vậy mà họ sống rất khuây khỏa, đâu cần đi làm công nhân cho nhà nước suốt đời nghèo mạt, tao bèn nghĩ ra cái nghề đi buôn, mua đi bán lại. Miền Nam gọi nôm na là nghề chợ trời, ở trong Nam, tao đi mua xe đạp mini,

xe đạp Pháp Peugeot 5 lip, xe gắn máy Honda, đồng hồ Seiko không người lái, có hai cửa sổ, mền nỉ US, mền dù lính, mùng ngủ lính Mỹ, máy may Singer, hộp quẹt Zippo, bột ngọt... đem ra ngoài Bắc bán, còn từ Bắc vô Nam thì tao chỉ mua đồ của Liên Sô, thuốc Tetra lon nhôm vàng Bulgary chống sốt rét, đại khái là mua một lời năm, sau một năm tao chỉ cần đi hai ba chuyến là đủ sống trong năm, đời sống rất thoải mái sung sướng, không còn giặc giã chết chóc, ăn cơm thì toàn độn thịt, chớ không độn bo bo, sướng thật vì sống bằng nghề đi buôn...

Nói xong anh ta kéo hai tay áo lên, trên hai cánh lịch tay đeo ít nhất là mười mấy cái đồng hồ Seiko trên hai cánh tay và chiếc áo khoác bên ngoài thì có nhiều túi kéo chứa toàn là hộp quẹt Zippo, mặc giống như chiếc áo giáp.

- À quên nữa, thế chiếc nhẫn Không Quân mày đang đeo có định bán không, tao mua nó thật đấy!

Tôi trả lời:
- Chiếc nhẫn này của tôi quý lắm, là kỷ vật của tôi để kỷ niệm hồi học bay bên Mỹ, tôi không bán đâu.


Ông ta hỏi tiếp:
- À nghe nói bọn mày đi Mỹ học bay nó có cấp cho mỗi đứa một cái áo khoác màu xanh lá cây, bên trong có vải satin màu cam đẹp lắm, mày còn giữ không? Nếu có bán cho tao đi.

Tôi trả lời:
- Trong lúc loạn lạc, hồi miền Bắc mới chiếm miền Nam, tôi vất đi hết rồi đâu dám giữ, vì mình là dân "Mỹ ngụy“. À chú đi buôn lên xuống như vậy có bị công an hay trạm xét làm khó dễ không?

Chú ta hể hả cười nói:
- Có gì đâu, hễ tụi nó xét, là tao rút túi ra tờ giấy chứng nhận liệt sĩ, anh hùng diệt máy bay Mỹ, là tụi nó cho qua tuốt, vả lại tao là cựu Đại Úy có giấy tờ chứng minh mà mày, tụi nó thấy là run rồi. Coi vậy có tờ giấy tùy thân mắc dịch này cũng có lúc được nhờ cậy, chưa kể buồn buồn tao đeo cái huy chương bác Hồ phi công anh hùng ở ngực áo là tụi nó phát khiếp...ha ha.

À tao thấy trong hình bọn giặc lái chú mày mặc đồ bay đẹp và trông oai quá, đồ bay gì mà toàn là giây kéo (zipper), ăn mặc khít khao, có khăn quàng cổ màu tím, màu cam, hông đeo súng cá nhân, dây nịt súng có đầy đạn tùm lum, mang dao, máy truyền tin, súng bắn cứu nguy (flare gun) áo lưới mưu sinh (survival vest), coi chằng quá, đội mũ vải xanh dương (calo) trong oai ghê, tao thấy còn mê, chắc mấy em trong Nam khoái mấy chú mày lắm phải không? Tao thấy thằng nào trông cũng bảnh trai hết?

Tôi trả lời:
- Thì đồ bay của chú cũng đẹp lắm mà?

Chú ta trả lời:
- Đẹp cái con khỉ khô, đồ bay mà của tụi tao mặc còn cài nút, mặc hai mảnh trên dưới, trông giống mấy thằng công nhân xí nghiệp chết mẹ, nhìn muốn mửa, còn lái Mig 17 giờ này còn mang nón bay bằng da (leather helmet), giống lính lái xe tăng vào đệ nhất thế chiến, trừ cái đám lái Mig 21 thì còn đội nón bay hao hao giống Mỹ, nhưng vẫn không đẹp bằng của Mỹ, còn mặt mày thì thằng nào trông cũng thấy ngố ngố, miệng hô hốc, vì tối ngày lo luyện bài chính trị Bác và Đảng, thì làm sao ga lăng được.

Nói ba hoa chích chòe, mà xe đã chạy tới Phú Lâm, xe đò chạy vô bến xe Xa Cảng miền Tây, có cả ngàn người đang lô nhô, bụi bặm, khói xe ngộp trời, xe ngừng tại bến, thấy chú ấy đang đợi các lơ xe thả xe đạp, máy may xuống. Tôi tình nguyện đứng giữ đồ cho chú ấy, bên cạnh chiếc cyclo máy đang nổ máy nghe xình xịch. Sau khi chất được hai chiếc xe đạp mini, một máy may, vài bọc hàng lỉnh kỉnh lên xe, chú ta đã ngồi gọn hẳn trong cyclo máy.

Chú ấy nói lần cuối:
- Bây giờ tao lên thành phố, đón tàu hỏa về Bắc, thôi tạm biệt chú em, nhớ giữ gìn sức khỏe nhé, cám ơn đã giữ đồ cho tôi lúc nẫy, thôi mình đi nhe.
Tôi giơ tay lên chào theo kiểu nhà binh, chú ấy cũng chào lại y chang.

Tôi đón xe lam về Sài Gòn cư xá Nguyễn Thiện Thuật, trong lòng không bao giờ quên lại câu chuyện gặp lại anh phi công Mig Hà Nội này, trông cũng thật tội nghiệp. Đúng là đất nước mất, mất tất cả, cộng sản thà bắt giết lầm, chứ không tha lầm, đa nghi như Tào Tháo. Vậy mà cũng có người nhẹ dạ nghe theo, rồi chết ân hận.
Tôi rất hối hận không có dịp hỏi tên của anh ta.

Chợ trời
Vào năm 1976, sau nước mất, tôi sống bằng nghề chợ trời (nghề chánh là làm việc cho hãng in (printing shop) trong thành phố nên không bị đi vùng kinh tế mới, nhưng đó là cái nghề để qua mắt công an phường khóm, chớ thật ra phải sống bằng nghề mua đi bán lại còn là gọi nghề chợ trời, khi thì buôn thuốc tây ở khu Huỳnh Thúc Kháng, Hàm Nghi. Khi thì đi mua bán vàng và đô la Mỹ ở khu Lê Thánh Tôn, thấy vậy mà sống rất phây phả, ung dung.

Một bữa kia vào đầu năm 1979. Tình cờ tôi gặp lại anh phi công Mig-19 Hà Nội (hồi gặp trên xe đò Sài Gòn-Vĩnh Long). Lúc này trông anh ta thấy khác ra, không khác người Sài Gòn, tuy hơi ốm nhưng trông rất khỏe. Anh ta đang lái chiếc xe gắn máy Honda 50cc kiểu đàn ông màu đen, ngồi sau xe là một cô cũng khá trẻ đẹp ngồi ôm eo ếch (thoạt tiên tôi tưởng là anh ta chạy xe ôm).

Tôi hỏi:
- Giời ơi trái đất tròn, bây giờ gặp lại chú, trông chú đẹp trai quá, chú còn nhớ tôi không?
- A thì ra anh... anh là phi công tôi gặp trên xe đò năm 1975 phải không?
- Đúng rồi đó, a còn cô ngồi ở phía sau là...?
- Bà xã mình đó.“ Anh ta dựng xe và nói tiếp:
- Bà ấy nguyên là vợ một Thiếu Tá phi công của chế độ Sài Gòn, đi học tập và chết trong trại cải tạo năm 1977. Sau đó bà ấy phải lam lũ khổ sở buôn bán chợ trời để nuôi hai đứa con nhỏ, có vài lần bị công an nó bắt, mình là bạn bè bán hàng với bà ấy. Tôi lên đồn công an xin nó thả bà ra và mình nói là bà con của mình và xin đặc biệt thả ra, chứ không nó bắt đầy đi vùng kinh tế mới, nhận bừa là bà con nó vừa nể mình là cựu cán bộ.

Sau đó mình thấy tình cảnh đắng lòng mẹ góa con côi, còn tôi thì còn độc thân, vả lại làm ăn qua lại riết có cảm tình. Lấy nhau rồi tôi về nhà bà ấy ở khu đường Trương Minh Giảng, gần nhà thờ Ba Chuông (Sài Gòn) cho tiện. Buôn bán thì cũng tạm được, có điều lúc nào cũng cảm thấy bị rình rập bởi công an cộng sản, đất nước mang tiếng là Độc Lập - Tự Do, nhưng lúc nào cũng phập phòng lo sợ không biết bị bắt bất cứ lúc nào, vả lại thằng em Đại Úy Nhảy Dù đi học tập mới chết năm ngoái, còn ông chồng cũ của bà xã mình thì cũng chết trong trại tù ở Hoàng Liên Sơn (Bắc Việt), nên tôi buồn khổ lắm. Tôi không còn luyến tiếc ra miền Bắc nữa, chỉ ở trong Nam thôi.

- À chú mày có đường dây nào đi ra nước ngoài không? Chúng tôi không muốn sống sống ở đất nước này nữa!

Tôi nói:
- Nếu chú thím đi chui thì lỡ bị bắt thì rất là nguy hiểm, vì chú là chính gốc cán bộ, còn nếu đi theo kiểu bán chính thức, tức là theo kiểu người Hoa thì đường này thì nó tính mỗi đầu người là 7 cây vàng, nhưng nó chắc và an toàn hơn, nhưng nó sẽ đặt tên chú là tên Hoa kiều chớ không lấy tên Việt Nam
- Số tiền đó tụi này lo được, nhưng chú em biết tổ chức đó ở đâu không?
- Tôi cũng đang đi tìm, nếu có sẽ cho chú thím hay
- Nếu muốn gặp, thì vợ chồng tụi này hằng ngày ở đây. Chỗ quán nước mía cạnh cây cột đèn và sẽ thấy có chiếc Honda màu đen này, thì tụi này có mặt ở đó.
- Thôi tạm biệt chú và chúc chú thím may mắn.

Vượt Biên

Vào tháng 6/1979, vợ chồng chúng tôi đi vượt biển đường Vĩnh Long, ghe chở khoảng 300 người và sau một tuần lênh đênh trên biển thì đến đảo Tanjung Pinang, Indonesia. Cũng may là tàu đi vào tháng này biển rất êm và may mắn không gặp hải tặcThái Lan hoặc Mã Lai lộng hành, ở được hai tháng thì một ngày kia, tôi đang ở trại A đi qua khu trại B để thăm coi có ai quen không. Tình cờ tôi thấy một người đàn ông trông rất quen, anh ta đang sửa lại cái lều của mình.

Tôi hỏi đại:
- Chú còn nhớ tôi không, có phải chú lái Mig-19?

Chú đưa lên miệng một ngón tay:
- Này nói khẽ chứ, mình đây, sao chú em đến đảo này hồi nào. Tôi đi đường Bến Đáy ở Trà Vinh, tới đây vợ chồng chúng tôi ở trong lều này.

Tôi hỏi:
- Chú sắp được phỏng vấn bởi phái đoàn Mỹ chưa? à có điều này mình cần nói với chú là phải khai thành thật, không dấu diếm, phải khai báo sự thật về lý lịch cũ của chú nhé, đừng khai gian. Mỹ họ rất ghét ai nói láo, khai gian và nhớ khai đúng sự thật thì không bị trở ngại xin tỵ nạn theo diện chính trị (political asylum) nhé. Thôi chào chú thím và chúc may mắn.

Tuần lễ sau là ngày tôi được phái đoàn Mỹ kêu lên phỏng vấn, mình mừng hết cỡ, vì ở trại tỵ nạn tuy không có làm gì, nhưng ngày nó kéo dài đăng đẳng. Chỉ trông lên đường định cư qua Mỹ, rồi có đi làm cơ cực cũng chịu.

Phái đoàn Mỹ gồm có một ông Mỹ trắng già khoảng 50-60 tuổi, một cô Việt Nam (ở bên Mỹ qua) làm thông dịch viên và một người Mỹ trắng mang mắt kiếng đen, râu rậm. Trông giống điệp viên Gestapo hay CIA với khuôn mặt rất lạnh lùng như pho tượng.

Nghe tôi học bay bên Mỹ mới về nước, ông Mỹ mang kiếng đen hỏi tôi bằng tiếng Mỹ:

- What is your name and your serial number?
Tôi nói:
- Yes sir, my name is ... and serial number is...

Ông ta hỏi tiếp:

- Do you know how to fly T-37 and can you let me know how to start the engine?

Tôi bình tỉnh trả lời:
- Carburator switch on, throtlle on, mixture to cold, prime switch to on, navigator light to on, ignition switch on and hold.

Ông ta hỏi tiếp:
- What is the name of your jet engine and thrust?

Tôi trả lời:
- Each engine has 1025 lbs thrust, has two J-69-T engines
Tôi trả lời rành rẽ không lúng túng, không nói vấp vì đó là nghề củ của tôi mà (trong cuốn Dash 1 trước khi pre flight hay bị IP hỏi.)

Ông ta nói:
- Very good, now you can go and let us interview the next one
Tôi đứng dậy chào tay kiểu nhà binh rồi đi ra.

Buổi chiều hôm đó, tôi gặp lại anh ta (Mig-19) ở khu giếng lấy nước, thấy anh ta đang khom lưng khệ nệ khiêng hai thùng nước về cho gia đình xài.

Tôi chận lại hỏi nhỏ:
- Sao bữa nay chú có được phái đoàn Mỹ phỏng vấn không?
- Có chứ, hú hồn hú vía“

Tôi hỏi:
- Chú khai thật hết phải không?
- Vâng theo lời chú em tôi khai thật hết
- Họ hỏi gì?
- Có ông Mỹ trắng mang mắt kiếng đen, có râu rậm, ông hỏi tôi bằng tiếng Việt. Trời đất ơi! ổng ta nói tiếng Việt theo giọng Bắc mới khiếp chứ
- Thế họ hỏi chú cái gì?

- Ổng Mỹ hỏi: Nghe nói ông là người lái phi cơ Mig-19, xin ông cho biết, ông thuộc phi đoàn nào và căn cứ nào?
Tôi trả lời: Phi đoàn 925 tại Yên Bái, Bắc Việt
Ông ta nói tiếp: Anh học lái Mig-19 ở đâu?
Tôi trả lời: Tân Cương, Trung Quốc
Ông ta hỏi tiếp:ông có thể nói cho tôi biết cách đề (start) của phi cơ Mig-19?
Tôi trả lời: Đề máy như vầy... như vầy
Ông ta hỏi tiếp: Lý do nào mà ông muốn xin qua Mỹ?
Tôi trả lời: Tôi muốn ở thế giới Tự Do, tôi không thể nào sống dưới chế độ cộng sản. Tôi không thích cộng sản và tôi xin phép được tỵ nạn chính trị tại nước Mỹ

Ông ta chỉ tay qua vợ con tôi hỏi: Còn người đàn bà này là ai và hai đứa nhỏ này?
Vợ tôi trả lời: Tôi tên... và ... tuổi, nghề nghiệp nội trợ. Chồng cũ tôi tên là... cấp bực Thiếu tá, lái phi cơ khu trục A1H, phi đoàn 518 đóng ở Biên Hòa. Lúc trước chồng tôi học bay T-28 ở tại Keesler, thành phố Biloxi, tiểu bang Mississippi, và đã chết trong tù cải tạo trại Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt năm 1977. Tôi có hai đứa con với ảnh, đưa con gái được 11 tuổi và đứa con trai 8 tuổi. Vào năm 1978, tôi lấy anh này và anh ấy là người rất tốt, đến năm 1979 chúng tôi vượt biển đến trại tỵ nạn này.

Ông Mỹ trả lời: Cám ơn ông bà, hồ sơ phỏng vấn của ông bà đã xong, xin ông bà ra về. Chúng tôi sẽ điều tra và sẽ thông báo cho ông bà biết sau
Chú ta trả lời:
- Chỉ vậy thôi, bây giờ mình như cá nằm trên thớt, không biết ra sao nữa. Có điều là vái trời là họ cho đi định cư bên Mỹ, đợi bao lâu cũng được, chớ đừng gởi trả về Việt Nam là chết bỏ mẹ

Huyền diệu thay, một tháng sau gia đình tôi và gia đình anh ta được đi khám sức khỏe tại bệnh viện Tanjung Pinang và tuần sau thì lên thuyền đi Singapore để định cư bên Mỹ.

Gặp lại anh trên thuyền tôi hỏi:
- Chúc mừng chú và gia đình được đi Mỹ, à chú biết định cư ở tiểu bang nào không?
Anh ta trả lời:
- Mình được gia đình Mỹ bảo lãnh, sang định cư ở Newyork, còn anh đi tiểu bang nào vậy?

Tôi trả lời:
- Tôi được bảo lãnh về tiểu bang Cali, thôi xin gặp lại chú thím nhé

Anh ta trả lời:
- Cám ơn anh đã chỉ bảo cặn kẽ lúc phỏng vấn, thôi tụi mình đi nha, hẹn sớm gặp lại

20 Năm Sau: Little Saigon - California

20 năm sau tình cờ tôi gặp lại chị ở Little Saigon, con cái đều thành công và công ăn việc làm ổn định. Nhưng đổi lại với nét buồn trên khuôn mắt chị và tôi nhìn thấy trên bàn thờ hình ảnh hai vị phi công đã cất cánh bay cao, ở một nơi mãi mãi Tự Do, không có bóng dáng cộng sản đang từng ngày dày xéo trên quê hương Việt Nam bé nhỏ thân thương.

Sau khi định cư ở Mỹ, tôi đi làm cho một hãng đóng máy bay F-16 ở tại San Diego được 20 năm. Một ngày cuối tuần năm 2000, vào trung tuần tháng 5, vợ chồng tôi rủ nhau đi lên Santa Ana để đi chợ Việt Nam mua thức ăn và nhân tiện ghé một nhà hàng bán phở tại khu Westminster. Chúng tôi vào nhà hàng ăn, vừa ngồi ghế xong, là có một người đàn bà, cầm menu đưa chúng tôi và hỏi:

- Thưa ông bà dùng chi và đây là thực đơn, xin ông bà lựa chọn món ăn

Tôi ngẩng lên nhìn và trông thấy bà này quen quen ở đâu nè, tuy nét mặt khoảng trên 50 tuổi nhưng nét đẹp vẫn còn đó. Tôi hỏi đại:

- Hình như bà chủ tên... lúc trước ở Sài Gòn, khu nhà thờ Ba Chuông thì phải?

Bà ta trả lời và mừng rỡ:
- A hình như đây là chú... mình hồi đó có làm ăn trên đường Lê Thánh Tôn

Tôi mừng quá nói:
- Đúng rồi! chính mình đây, ủa anh đâu rồi chị? anh khỏe không?

Bà ta sầm nét mặt và buồn rười rượi nói:
- Anh mất hơn hai năm rồi, anh bị đột quỵ (Stroke) khi đang ở trong bếp. Anh ấy đi làm technician trên 15 năm ở một hãng điện tử, thì xin về hồi hưu rồi để dành chút tiền để mở tiệm phở này. Tính ra hai vợ chồng già sống qua ngày, không phải đi làm vì hai đứa con đã lớn hết rồi. Con bé thì học ở UCI xong ra làm bác sĩ ở bệnh viện Fountain Valley, còn thằng con trai học xong ở UC Davis ra làm kỹ sư cho hãng Boeing ở Long Beach, tụi nó có gia đình hết rồi.

Bây giờ anh ấy mất rồi, tôi buồn quá, cũng nhờ có công việc ở nhà hàng bề bộn nên thời giờ qua mau và bớt lo buồn. Bây giờ tôi có thờ linh cốt (Tro) anh ấy trong chùa Điều Ngự và thờ linh vi thì ở nhà và trong văn phòng nhỏ trong tiệm này. Chị dẫn chúng tôi vô văn phòng nhỏ của chị, trên tường có thờ hai linh vị của: Thiếu Tá Phi Công thuộc PĐ 518 và anh phi công Mig-19. Tôi đốt nén nhang lên khấn vái và kính chúc hai anh chóng siêu thoát lên cõi niết bàn. Hai anh đã cất cánh bay về miền viễn cực lạc, ở một nơi mãi mãi tự do, không còn khổ đau như trần thế.

Chị nói: Khi không anh em đánh giết lẫn nhau cũng vì ngoại bang, anh em cũng một nhà, cùng một nước, nói cùng ngôn ngữ vả lại có chiến tranh cũng vì ngoại bang gây ra, chị cầu mong cho đất nước mình, một ngày không còn cộng sản, có thể chế tự do dân chủ và không bao giờ có chiến tranh nữa.“


Mỹ Trục Xuất Thêm 110 Người Việt Về Nội Bài

 

Nhóm người bị Mỹ trục xuất làm thủ tục tại phi trường Nội Bài hôm 12 Tháng Chín. (Hình: VietNamNet)


MỸ TRỤC XUẤT THÊM 110 NGƯỜI VIỆT VỀ NỘI BÀI
(N.H.K) [dt]

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Có tổng cộng 110 người Việt Nam bị phía Mỹ trục xuất trong đợt mới nhất về tới phi trường Nội Bài hôm 12 Tháng Chín.

Theo báo VietNamNet, trong số này có 42 người quê Sài Gòn, số còn lại đi từ An Giang, Đồng Nai, Khánh Hòa, Đồng Tháp…

Sau khi về đến Hà Nội, những người này bị công an xác minh thông tin và thân nhân để đưa về nơi cư trú ban đầu trước khi qua Mỹ.

Đáng lưu ý, nhà chức trách cho biết trong số 110 người có một số trường hợp liên quan đến đường dây đưa người từ Việt Nam nhập cảnh trái phép vào Hoa Kỳ.

Do các trường hợp này đang được xác minh nên chưa được công bố cụ thể.

Hồi đầu tháng trước, Công An TP.HCM tiếp nhận thêm 47 công dân Việt Nam có hộ khẩu ở Sài Gòn, bị chính quyền Mỹ trục xuất về phi trường Nội Bài, Hà Nội.

Thời điểm đó, báo Tiền Phong dẫn nguồn Phòng Quản Lý Xuất Nhập Cảnh Công An TP.HCM nói rằng, phần lớn trong số họ trước khi xuất cảnh cư trú tại Sài Gòn, đã vi phạm pháp luật tại Hoa Kỳ và bị bàn giao cho phía Việt Nam theo các thỏa thuận hợp tác song phương.

Theo Công An TP.HCM, số lượng công dân bị trục xuất gia tăng cũng phản ánh xu hướng nhiều quốc gia, trong đó có Mỹ đang siết chặt chính sách nhập cư và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về pháp luật, cư trú.

Trước đó, hồi Tháng Ba và Tháng Năm vừa qua, Công An TP.HCM cũng đã tiếp nhận tổng cộng 67 người Việt Nam có hộ khẩu ở Sài Gòn bị chính quyền Hoa Kỳ trục xuất.

Qua sự việc trên, họ khuyến cáo công dân Việt Nam không tham gia xuất nhập cảnh trái phép, cư trú hoặc lao động bất hợp pháp, sử dụng giấy tờ giả hay tiếp tay cho các đường dây đưa người ra ngoại quốc trái phép…


Trong số 110 người bị Mỹ trục xuất có 42 người quê Sài Gòn. (Hình: Chụp qua màn hình)

Theo thống kê, từ đầu năm 2026 đến nay đã có hàng trăm trường hợp công dân Việt Nam ở các tỉnh thành bị trục xuất, trong đó Sài Gòn tiếp nhận nhiều nhất, chủ yếu từ Mỹ và Cambodia.

Phân tích do Trung Tâm Asian American Studies Center của đại học UCLA thực hiện cho thấy, trong năm 2025, Cảnh Sát Di Trú (ICE) bắt di dân gốc Á Châu tăng gần bốn lần so với năm trước đó, từ 2,000 người trong năm 2024 tăng lên hơn 7,000 trong năm 2025. 
(N.H.K) [dt]


Tổng Thống Trump Chỉ Trích Mamdani và AOC Cười Trong Lễ Tưởng Niệm 9/11: "Hoàn Toàn Không Thích Hợp"

 


TỔNG THỐNG TRUMP CHỈ TRÍCH MAMDANI VÀ AOC CƯỜI TRONG LỄ TƯỞNG NIỆM 9/11: “HOÀN TOÀN KHÔNG THÍCH HỢP”
Phân tích và biên tập: Luan Vo

Tổng thống Trump tối Chủ Nhật lên tiếng chỉ trích Thị trưởng Thành phố New York Zohan Mamdani và Dân biểu Alexandria Ocasio-Cortez sau khi hai người bị ghi hình đang cười với nhau trong lễ tưởng niệm các nạn nhân vụ khủng bố 9/11 hôm Thứ Sáu. “Tôi nghĩ điều đó thật tệ,” Tổng thống Trump nói với các phóng viên khi rời phi trường Shannon tại Ireland. “Đó không phải là nơi để cười, đặc biệt trong trường hợp này.”

“Tôi nghĩ điều đó thật tệ,” Tổng thống Trump nhắc lại. “Việc họ cười với nhau vào một phần rất quan trọng của buổi lễ là không thích hợp.”

Khoảnh khắc giữa Mamdani và Ocasio-Cortez xảy ra trong lúc các thân nhân đau buồn đang đọc tên những người thân thiệt mạng trong các cuộc tấn công của al-Qaeda ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi Trung tâm Thương mại Thế giới bị phá hủy. Hình ảnh Mamdani và Ocasio-Cortez cười với nhau đã gây phản ứng từ một số nhân vật bảo thủ và Cộng Hòa.

Meghan McCain, cựu người dẫn chương trình “The View” và là con gái của cố Thượng nghị sĩ John McCain thuộc Đảng Cộng Hòa tại Arizona, viết trên X: “Tại sao hai người này lại cười?!?” Thượng nghị sĩ Ted Cruz thuộc Đảng Cộng Hòa tại Texas cũng đặt câu hỏi: “Làm sao có thể cười trong lúc tên của những người bị sát hại trong ngày 9/11 đang được đọc lên? Tại sao lại làm như vậy?”

Một nguồn tin nói với The Post rằng hai người cười với nhau sau khi Mamdani bị để lại đứng một mình trong buổi lễ, sau khi Thống đốc Kathy Hochul, Tổng chưởng lý tiểu bang Letitia James và Thượng nghị sĩ Chuck Schumer rời đi sớm. “Không ai muốn đứng cạnh ông ấy,” người này nói. “Thật khó xử.”

Nguồn tin này cũng cho biết Mamdani, lần đầu tham dự buổi lễ trong cương vị thị trưởng, đã ở lại cho đến cuối buổi lễ và nói chuyện với gia đình các nạn nhân. Tuy nhiên, người này nhìn nhận rằng bất cứ khoảnh khắc nào có vẻ không thích hợp cũng sẽ bị chú ý.



“Ông ấy không giúp ích gì cho trường hợp của mình,” nguồn tin nói. “Người này không giữ khoảng cách với những người nói rằng nước Mỹ đáng bị tấn công.”

Michael Ragusa, người đứng đầu bộ phận an ninh cho cựu Thị trưởng Rudolph Giuliani, cho rằng đoạn phim được phổ biến rộng rãi đã bị tách khỏi hoàn cảnh của sự việc. Ông viết trên X rằng máy quay chỉ ghi lại lúc Ocasio-Cortez đến chào Mamdani.

“Nhiều chính khách khác cũng cười và nói chuyện phía sau tôi. Cả Cộng Hòa lẫn Dân Chủ,” Ragusa viết. Ông nói thêm rằng mình là một đảng viên Cộng Hòa lâu năm và đã nhiều lần chỉ trích cả Mamdani lẫn Ocasio-Cortez.

Nguồn: New York Post
Phân tích và biên tập: Luan Vo


Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

Trả Lời Một Câu Hỏi

 

Ông Bằng Phong Đặng Văn Âu trả lời phỏng vấn

TRẢ LỜI MỘT CÂU HỎI
BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

Mời quý vị đọc và tiếp tay phổ biến:

Tôi nhận khá nhiều câu hỏi của độc giả và bạn hữu qua điện thoại hoặc Email: “Tại sao tình trạng chính trị của Hoa Kỳ xuống cấp một cách thê thảm?”

Trước hết, tôi xin cảm ơn độc giả và bằng hữu đã đặt câu hỏi cho tôi vì đã tín nhiệm tôi. Tôi xin mạo muội trả lời:

Hoa Kỳ là một quốc gia tư bản, theo chế độ dân chủ, tôn trọng quyền sống, quyền hưởng tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Hoa Kỳ từng đem quân đi đánh Cộng sản ở Triều Tiên và Việt Nam. Tức là Hoa Kỳ ý thức rằng chủ nghĩa Cộng sản của Karl Marx và Lenin là một thảm họa cho nhân loại. Nhưng thật là oái oăm! Hoa Kỳ cho phép ông Charles E. Ruthenberg cùng những người khác thành lập Communist Party of America vào năm 1919 trên đất nước của mình. Ruthenberg được bầu làm Tổng Thư ký đầu tiên của tổ chức này.

Nếu không đến Hoa Kỳ tị nạn Cộng sản, thì tôi không hề biết tại Hoa Kỳ có đảng Cộng sản hoạt động. Tôi cầm súng chống lại bọn xâm lược miền Bắc, chiến đấu bên cạnh những chiến sĩ Hoa Kỳ một cách tích cực, mà không ngờ nước Mỹ cũng có đảng Cộng sản, thì chiến đấu để làm gì?

Các Tổ phụ lập quốc Hoa Kỳ đặt lý tưởng của mình dựa trên Đức Tin. Khẩu hiệu quốc gia của Hoa Kỳ là “In God We Trust”; và Lời Tuyên thệ Trung thành có câu “one nation under God.”

Trong khi đó, lý tưởng Marxist của Karl Marx và Lenin là vô thần, phủ nhận Thiên Chúa. Tức là, theo quan điểm của tôi, những ai đi theo sự rao giảng của Charles E. Ruthenberg đều đi ngược lại niềm tin vào Thiên Chúa. Cộng sản giáo của Karl Marx dạy tín đồ: “Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa” Do đó, người nào yêu nước, đối với Cộng sản giáo, đều mang tội phản động. Những nhà cách mạng ái quốc như Cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Lý Đông A, Trương Tử Anh đều bị Cộng sản giáo coi như phản động. Tổng thống John F. Kennedy tuyên bố: “Hãy tự hỏi mình đã làm gì cho Tổ Quốc, hơn là đòi hỏi Tổ Quốc đã làm gì cho mình” cũng bị giết một cách khó hiểu, bởi vì cho đến nay chẳng biết ai là thủ phạm đích thực.

Cơ Đốc giáo hay Ki-tô giáo tôn thờ tình yêu thương. Cộng sản giáo của Karl Marx, theo nhận định của tôi, tôn thờ lòng căm thù và đấu tranh giai cấp.

Cơ Đốc giáo hay Ki-tô giáo tôn trọng quyền tự do tư tưởng và quyền tự do ngôn luận. Trong khi đó, Cộng sản giáo của Karl Marx tiêu diệt quyền tự do tư tưởng và quyền tự do ngôn luận — hai đặc ân mà tôi tin rằng Thiên Chúa dành riêng cho loài người.

Chiến lược đấu tranh của Cộng sản giáo là:

1/ Trường Kỳ Mai Phục: tức là kiên nhẫn rình rập sự sơ hở hoặc khiếm khuyết của đối phương để chớp thời cơ.

2/ Chui Sâu, Trèo Cao: tức là âm thầm đóng vai người ủng hộ đối phương để ngoi lên địa vị lãnh đạo đối phương.

Đạo lý của Cộng sản giáo:

1/ Cứu Cánh Biện Minh Phương Tiện: tức là thi hành bất cứ biện pháp nào, dù vô luân hay phi đạo đức đến thế nào, miễn là đạt được mục đích.

2/ Mục Đích Bất Di Bất Dịch của Cộng sản giáo: cướp chính quyền để biến xã hội thành một “Trại Súc Vật” như tên cuốn sách của nhà báo người Anh George Orwell.

Đảng Dân chủ Hoa Kỳ hiện nay chưa đổi quốc hiệu thành “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Hoa Kỳ” giống như Việt Cộng, vì chưa thể. Nhưng theo quan điểm của tôi, trên phương diện hành động, đảng Dân chủ Hoa Kỳ có những điểm khiến tôi liên tưởng đến Việt Cộng.

1/ Việt Cộng thì đảng cử, dân bầu. Đảng Dân chủ thì, theo nhận định của tôi, có những quyết định về ứng viên không giống với quá trình tranh cử sơ bộ truyền thống. Bằng chứng là bà Kamala Harris trở thành ứng viên Tổng thống của đảng Dân chủ năm 2024 sau khi Tổng thống Joe Biden rút khỏi cuộc đua; bà không trải qua một cuộc tranh cử sơ bộ để giành vị trí ứng viên Tổng thống.

2/ Hoa Kỳ là quốc gia dân chủ pháp trị. Tôi cho rằng chính sách biên giới của chính quyền Dân chủ trước đây đã tạo điều kiện cho một số lượng lớn người nhập cư bất hợp pháp vào Hoa Kỳ.

3/ Về vụ Mar-a-Lago, FBI đã khám xét tư gia của cựu Tổng thống Donald Trump ngày 8 tháng 8 năm 2022 theo một lệnh khám xét được tòa án liên bang phê chuẩn. Tôi phản đối cách thức và hoàn cảnh của cuộc khám xét này.

4/ Về cuộc điều tra liên quan đến Nga, tôi cho rằng các cơ quan chính phủ đã sử dụng những cuộc điều tra và cáo buộc một cách hồ đồ mà tôi tin rằng đã gây tổn hại nghiêm trọng đến Tổng thống Donald Trump.

Đảng Dân chủ còn rất nhiều chiêu trò khuất tất, không xứng đáng với sự minh bạch của thể chế dân chủ, nhưng nếu kể hết ra thì sẽ làm cho độc giả mệt mắt.

Xin độc giả hiểu cho rằng tôi không phải là kẻ cuồng Trump mà phê phán sự xuống cấp về đạo đức của đảng Dân chủ. Những hành vi của đảng Dân Chủ rất giống Cộng sản. Bộ trưởng Robert F. Kennedy Jr. gần đây đã bày tỏ rằng nếu người cha của ông, Robert F. Kennedy, và người bác của ông, Tổng thống John F. Kennedy, còn sống đến ngày nay, họ sẽ không nhận ra diện mạo của Đảng Dân.

Tại Đại hội giữa kỳ của Đảng Cộng hòa năm 2026, Tổng thống Donald Trump đã công khai chỉ trích Đảng Dân chủ là phản quốc.

Có hai sự kiện mà theo tôi, nhân loại không thể nào quên:

1/ Ngày 25 tháng 1 năm 2006, Hội đồng Nghị viện của Hội đồng Châu Âu thông qua Nghị quyết 1481, với tiêu đề Need for international condemnation of crimes of totalitarian communist regimes, lên án những tội ác diệt chủng của các chế độ Cộng sản toàn trị.

2/ Ngày 12 tháng 6 năm 2007, Tổng thống George W. Bush khánh thành Đài Tưởng niệm các Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản tại Washington, D.C. Đài tưởng niệm được dựng để tưởng niệm hơn 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản theo cách diễn đạt của Victims of Communism Memorial Foundation.

Đó là hai sự kiện mà tôi cho rằng nhân loại không thể nào quên.

Tại sao đảng Dân chủ lại đẩy nước Mỹ vào con đường mà tôi gọi là “Cộng sản giáo” của Karl Marx? Tôi nghĩ rằng những Dân biểu, Nghị sĩ đảng Dân chủ không ngu đến độ đẩy nước Mỹ vào con đường mà Hội đồng Nghị viện của Hội đồng Châu Âu đã lên án những tội ác diệt chủng của các chế độ Cộng sản toàn trị. Đài Tưởng niệm các Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản không đủ làm sáng mắt quần chúng Hoa Kỳ hay sao?

Tôi cho rằng một số người trong Đảng Dân chủ và một số cơ quan truyền thông khuynh tả đã bị cái mà người ta gọi là Thế Lực Ngầm (Deep State) chi phối, bắt làm con tin nên mới nhắm mắt hãm hại đất nước mình.

Cuộc bầu cử giữa kỳ năm nay mà đảng Dân chủ thắng thế đàng hoàng, không gian lận, thì theo tôi, đó sẽ là một dấu hiệu cho thấy một bộ phận lớn dân chúng Hoa Kỳ đang đi theo một hướng chính trị mà tôi hết sức lo ngại. Tôi liên tưởng điều đó với những gì đã xảy ra tại miền Nam Việt Nam năm 1963 và những biến cố sau đó dẫn đến sự mất nước ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Tổng thống Abraham Lincoln đã nhấn mạnh một ý tưởng nổi tiếng về trách nhiệm của chính người Mỹ đối với vận mệnh đất nước. Tôi muốn nhắc lại ý tưởng ấy như một lời cảnh tỉnh: nước Mỹ có thể bị tổn thương nghiêm trọng từ chính những chia rẽ và sai lầm của người Mỹ.

Không ai thấy được đảng Dân chủ có một kế sách nào để “Build Back Better”, như khẩu hiệu Joe Biden từng sử dụng trong chiến dịch tranh cử. Người ta chỉ thấy đảng Dân chủ, theo nhận định của tôi, đòi cắt ngân sách cảnh sát, ủng hộ những chính sách bầu cử mà tôi cho rằng không đủ chặt chẽ trong việc xác minh tư cách cử tri, cổ xúy chủ nghĩa xã hội và bênh vực những người nhập cư bất hợp pháp được hưởng các chương trình trợ cấp và an sinh xã hội mà không phải công dân Hoa Kỳ nào cũng được hưởng.

Nếu cuộc bầu cử giữa kỳ năm nay mà đảng Dân chủ thắng cả hai viện Quốc hội, chẳng cần phải là nhà tiên tri, chúng ta cũng sẽ phải suy nghĩ nghiêm túc về tương lai nước Mỹ. Tôi có thể tóm tắt một câu mà không sợ sai lầm:

"Hễ dính tới Cộng sản, thì Quốc gia bị nhân loại khinh bỉ, vì bọn gọi là lãnh đạo đều là một bè lũ nói dối không biết ngượng và ăn cắp của nhân dân mà không thấy xấu hổ!"

Bằng Phong Đặng Văn Âu


Telephone: 714-276-5600





Trà Tối Cùng Em

 


TRÀ TỐI CÙNG EM 
Chương Hà

Sau những vật vã, bươn chải cuộc đời, không gì quý hơn buổi tối cùng nhau ngồi thư thả uống trà, ngắm trăng, gậm nhấm niềm hạnh phúc bình yên.

Trà Tối Cùng Em
thơ nhạc Chương Hà
Suno hổ trợ
pps Nhật Thụy Vi


Trân trọng
NHHN

Kính mời quý vị thưởng thức



Những Mùa Trung Thu

 


NHỮNG MÙA TRUNG THU
Dư Thị Diễm Buồn

Bài gởi đến các diễn đàn để tùy nghi

Kính mời quý anh chị thưởng thức "Những Mùa Trung Thu"
để nhớ về thời tuổi thanh xuân đã qua, rất xa... nhưng dễ nhớ khó quên. 
Kính chúc tất cả an vui khỏe mạnh. DTDB

          Em ra đời mùa thu năm 1970, vào ngày rằm tháng tám Âm lịch. Đem so với ngày dương lịch đúng y chang trong tờ giấy khai sanh của em. Mẹ thường kể cho cả nhà nghe, vào những lúc vui nào đó hay là ngày mừng sinh nhựt của em:
-  Nằm trong nhà bảo sanh mẹ nghe tiếng hò, tiếng hát, tiếng reo vui rộn rã của thiếu nhi cùng tiếng phèng la, tiếng chiên trống múa lân của đoàn dâng cộ đèn mừng Tết Trung Thu, hay Tết Nhi Đồng của nước ta thuở đó, vào thời Việt Nam Cộng Hòa. Theo lẽ mẹ đặt cho con cái tên là Thu, là Nguyệt, là Hằng, là Nga, là Thu Nga, là Thu Hằng, là Nguyệt Thu hay Thu Nguyệt… Mới đúng nghĩa với ngày sanh tháng đẻ của con gái mẹ. Nhưng lần về thăm đâu hai tháng trước khi con chào đời, lúc ra đi, ba đưa cho mẹ phong thư, bảo chừng nào làm khai sanh thì dở ra mà xem... Trong thư, ba đã đặt tên cho con cái tên rồi!
          Mẹ em chép miệng trầm ngâm một hồi, tiếp:
-  Quê hương mình chinh chiến triền miên. Ba con theo đơn vị đóng quân mãi ở miệt rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ… tận Cà Mau lận. Tội nghiệp ba, biết khoảng giữa tháng đó đứa con đầu lòng chào đời, mà ông hằng mong đợi nhưng vẫn không ở nhà được, để nghe “Con khóc oa, oa… khi lọt lòng mẹ. Còn ông bà, họ hàng thì cười tươi vui mừng đón con…”
Em lớn khôn dần trong vòng tay mẹ, và tình thương yêu vô bờ của hai đấng sanh thành. Ba em làm lính chiến luôn xa nhà, cả trong những mùa Trung Thu là ngày ra đời con gái cưng của mình, mà ông cũng ít khi có dịp về nhà vui với vợ con...
Rồi mùa Trung Thu năm em vào học lớp Năm (lớp một) của trường nữ Tiểu học Trưng Vương. Đó là ngôi trường nữ, hai tầng có vách tường, mái ngói màu gạch tôm, khang trang nằm trên đường ông bà Nguyễn Trung Long (Mỹ Tho). Đường nầy đi ra bến bắc Rạch Miễu qua sông có nhiều cồn nhỏ, cồn lớn… cồn Ông Đạo Dừa, rồi đi về tỉnh Bến Tre.
Địa phận tỉnh Định Tường có Thành phố Mỹ Tho, nổi tiếng hiền hòa nằm mơ màng trên nhánh của dòng sông Cửu Long… Mà những câu hò, câu hát bình dân khen ngợi ở nhiều khía cạnh nào đó về thành phố yên bình và êm ả nầy:
“Mỹ Tho đẹp lắm, đi tắm Cầu Dầu/ Anh hỏi em đang ở nơi đâu? Để cha mẹ anh đến cau trầu cưới em…” Hoặc: “Mỹ Tho có kẹo hột điều/ Có cô thôn nữ mỹ miều dễ thương/ Ai về Chợ Cũ, Trung Lương/ Hồng đào chín mộng, có đường mạch nha/ Đêm thu đẹp ánh trăng ngà/ Mái chèo dưa đẩy qua nhà thăm em…” Và miệng truyền miệng trong dân gian: “Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ/ Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu/ Anh về học lấy chữ nhu/ Chín trăng em đợi, mười thu em chờ…” 
Ở xứ mình, thường tiệm buôn bán trong các chợ, chủ nhà ở phía sau, hoặc trên lầu, còn phía trước, mặt tiền thì bày hàng để buôn bán.
Mỗi năm, cứ vào cuối tháng sáu, đầu tháng bảy Âm lịch là thành phố Mỹ Tho trong các cửa tiệm thấy rõ rệt màu sắc tươi vui rộn ràng. Bởi các dãy phố tiệm ở chợ gần như đều trưng bày bán các loại bánh Trung Thu. Họ còn treo bán đầy đủ các loại lồng đèn giấy màu sặc sỡ, có vẽ thêm hoa, bướm hoặc những nét đặc biệt lên hình dáng mỗi thứ lồng đèn như: Đèn kéo quân, đèn cá chép, đèn con rồng, đèn ngôi sao, đèn máy bay, đèn xe tăng, thiết giáp, đèn tàu, đèn chuồn chuồn, đèn trái bí, đèn xếp…
Bánh trung thu thập cẩm có bốn trứng, ba trứng, hai trứng, một trứng hột vịt muối để trong nhưn có lạp xưởng, thịt khô, vi cá… đó là những bánh mặn. Còn bánh trung thu thập cẩm chay không có thịt và hột vịt, bánh nhưn đậu đỏ, nhưn mứt… cùng bánh dẻo nhưn hột sen, nhưn đậu xanh…
Riêng em thích nhứt vẫn là bánh ông Địa. Chắc là bánh có hình dáng như ông Địa trên bàn thờ nên gọị là bánh ông Địa? Trên đầu bánh có sợi chỉ đỏ dài để xách trên tay, để đeo vào cổ. Bánh ông địa ăn ngọt, giòn thơm mùi trái vị, ngũ vị hương, mùi quế… rất đặc biệt.
          Trong dãy phố công chức đó, có nhà của gia đình em ở. Vào tối mười ba, mười bốn, rằm tháng tám là trẻ con đốt lồng đèn cầm tay chạy chơi quanh xóm. Nhà nhà treo lồng đèn trong nhà ngoài ngõ, hương khói nhang, mùi bánh trung thu thơm tho cúng ở bàn thờ Ông Thiên, cùng mùi trà Tàu, hoa, quả… thơm lừng phảng phất trong gió thoảng bay.
          Em vui vẻ tung tăng chạy nhảy, theo đuôi các bạn quanh quẩn trước sân của năm bảy căn nhà quen biết gần bên, ở trong xóm chớ không dám đi xa hơn. Vì mẹ đã căn dặn em từ mấy ngày trước:
-  Tối con được đốt lồng đèn chơi trong vài nhà gần, để khi mẹ gọi thì nghe mà lên tiếng… Không được đi xa, mẹ gọi không có tiếng trả lời của con mẹ sẽ lo... thì sẽ có đòn nghe chưa!
          Em vâng dạ nghe lời, vì không phải mẹ em không có lý do… Bởi gần đây giặc giã càng sôi động… Đêm đêm Việt cộng thường pháo kích ầm ầm vào thành phố… Đạn pháo vô tình tàn phá nhà cửa, thây phơi, máu đổ… khiến sanh linh đồ thán, trời sầu, đất thảm. Và từ đó tuổi thơ em... sớm nhuốm màu chinh chiến đau thương!
Đã hai mùa Trung Thu rồi, bận rộn ba em không về! Vì đoàn quân ba em trấn giữ, chặn thù… khi ở Vị Thanh, Cờ Đỏ (một địa danh ở mền Tây), khi Tịnh Biên, Đồng Tháp Mười nơi nổi tiếng “đỉa lội như bánh canh”. Còn thường trực ở chỗ có “muỗi kêu như sáo thổi” và nhiều con vắt… Đó là rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ… Bởi ba em là lính chiến thuộc Sư Đoàn 21/BB, còn có biệt danh nghe hay và oai hùng lắm là Sét Miền Tây đó mà.
          Hôm nay, vài ngày rằm tháng Tám “Mùa Trung Thu, Tết nhi đồng” của chúng em. Khi trời nhá nhem chạng vạng thì phố xá đã lên đèn… Tiếng hát vang vang rền vọng, tiếng chiên trống lân giục giã trên các nẻo đường của thành phố, làm lòng dạ em nôn nao, náo nức, rồi em nhãy lưng tưng, hát líu lo bài ca về Trung Thu như mấy đứa nhỏ nhà kế bên…
Mấy đứa cùng xóm đến trước hàng rào nhà, rủ rê em nhập bọn đi dâng cộ đèn, hoặc cầm đèn qua nhà chúng chơi. Nhưng nghe lời má dặn, và nhớ ba khiến em muốn khóc quá! Em lắc đầu xua tay nguầy nguậy có ý bảo với chúng là em không đi đâu.
Ba em đang dãi dầu ngoài trận tuyến! Với những người lính chiến như ba thì làm sao có ngày lễ. Cho dù là lễ Tết hay phép thường niên cũng vậy, ít khi được như ý… Ba em chợt đi, chợt đến bất ngờ ghé thăm nhà chớ không hẹn trước khi nào sẽ trở về.
Đêm nay các nhà trong xóm đều đốt lồng đèn trước cửa. Hương trầm, bánh, trái, hòa với mùi thơm của nước trà Quam Âm Kỳ Chưởng… Nhà nhà ấm cúng mừng đón Trung Thu. Riêng nhà em lạnh lẽo vắng vẻ buồn tênh, má không đốt đèn ở sân trước dù là đèn điện.
Chiều đi học về sau khi ăn cơm, má còn căn dặn em:
-  Con ra sân đốt lồng đèn chơi một mình, đừng đi đâu nghe… Nhà mình ba không về, nên đêm nay không có mừng Trung Thu. Ít bữa ba về mình sẽ ăn Trung Thu muộn, nghe con…
Em cầm lồng đèn đi tới đi lui trong sân nhà với chú mèo tam thể, “meo, meo…” tiếng kêu, quấn quít bên chân em. Gió hiu hiu mát rượi, đưa đẩy cây lệ liễu hông nhà, làm những cành lá tha thướt lay động lồng bóng trăng tròn in trên sân. Trăng thu đêm nay rực rỡ tỏa ánh sáng thanh thoát xuống muôn loài trên trần thế, nhẹ nhàng êm ả...
Em nghe trẻ hàng xóm hát những bài Trung Thu: “…Đêm Trung Thu em đốt đèn đi chơi… Em đốt đèn đi khắp phố phường… Đèn Ông Sao với đèn cá chép, đèn thiên nga với đèn trái bí…”
Và em còn nghe anh chị con nhỏ Bạch Nhạn nhà bên cạnh hát ca... khiến em ganh tị thấy mắc ghét lắm! Em cũng biết hát vậy chớ bộ! Em liền rống họng, cất tiếng hát lanh lảnh, vang vang... cố tình cho tụi nó ngán chơi:
“Hôm nay đêm rằm, rằm là rằm tháng Tám? Ông Trăng kia đã lên cao rồi ông nhìn chúng em ông tủm tỉm cười! Ông Trăng ơi, nầy ông Trăng ơi, xuống đây với chúng em cùng vui chơi! Ông Trăng ơi nầy ông Trăng ơi, Xuống đây chúng ta cùng ca hát vang trời… Có chi nữa không? Có trống ếch cà lùng tùng xèng… Có chi nữa không?  Có bánh ngọt thơm phưng phức… Có chi nữa không? Có những đèn Trung Thu ở miền Nam tự do, ấm no hạnh phúc… ông Trăng ơi! Ông Trăng ơi, xuống đây với chúng em cùng vui chơi… Xuống đây chúng ta cùng ca hát vang trời… ông Trăng ơi… nầy ông Trăng ơi, ơi…”
          Tiếng vỗ tay lớn và nhanh, làm em ngạc nhiên quá đỗi! Mèn ơi, ai mà vỗ tay khen tặng em dữ vậy cà? Chắc chị anh mấy con nhỏ hàng xóm chớ gì? Chớ tụi nó thì còn khuya à, chúng nó ganh tị chẳng thèm nghe em hát, thiếu điều muốn bịt hai cái lỗ tai lại nữa kìa, chớ ở đó mà chúng vỗ tay khen em hát bao giờ…
          Nhưng chao ôi, sừng sững lồng dưới ánh trăng rằm lộng lẫy! Người lính chiến hiên ngang, oai phong đứng đó! Ông mặc bộ trây-di màu cỏ úa, đầu đội nón sắt, và trên thắt lưng cây súng nhỏ… Giầy sô cao ống bám bụi đường xa, mùi nắng cháy khen khét quen thuộc… ông trìu mến nhìn em mỉm miệng cười! Rồi ông hơi khum lưng xuống, đưa hai tay đón chờ…
Thảy cái lồng đèn dưới sân, em phóng tới ôm chầm thật chặt lấy ba. Hôn tứ tung lên mặt, lên mũi, lên ngực, lên áo ba…
Giọng em rộn ràng, vui mừng và ơi ới gọi lớn:
-  Mẹ ơi, mẹ ơi ba về! Ba về, ba về mẹ ơi…
          Trong nhà nhanh chân bước ra tới hàng ba. Mẹ nhìn hai cha con em nở nụ cười mà mắt hoen dòng lệ hạnh phúc. Thế là đèn điện nhà em được thắp sáng! Lồng đèn treo hai bên cửa trước, sân sau được ba châm lửa đốt đèn cầy. Ánh lửa dạ giấy màu, hồng, vàng, tím, xanh… tươi trẻ, vui mắt. Trong nhà mẹ lúi húi nấu nước châm trà, cắt bánh trung thu… Em vui mừng chạy qua mẹ, rồi chạy sang ba… Em ôm cổ ba, nói cười líu lo như con chim chích chòe vào buổi bình minh nắng ấm… Nhà em, những nhà trên trần thế được thắp sáng ánh trăng vàng thanh thoát của đêm Trung thu.
          Ngày 30 tháng 4 năm 1975 miền bị giặc cưỡng chiếm! Năm đó trẻ con chúng em không có lễ Trung Thu! Ba em bị bắt tù cải tạo… nhà cửa em trống trơn vì phải bán lần, bán hồi các đồ vật trong nhà… Rồi má em đi bán chợ trời… Đó là kế sinh nhai duy nhứt của mẹ con em, và chắt chiu dành dụm để dành đi thăm nuôi ba.
          Những năm về sau, vào đêm rằm tháng tám không ai còn nghe tiếng hát hò, trống múa lân của đoàn dâng cộ đèn nữa. Chợ búa không có bánh trung thu bày bán tự do khắp nơi như xưa. Có chăng họ chỉ làm chui, bán lén… vì đó là mặt hàng xa xí phẩm! Thành phố em ở nhà nhà xác xao, cửa đóng then gày dưới trăng. Mặc dù ánh trăng thu vẫn sáng tỏ nhưng lòng em sao cảm thấy dìu dịu hắt hiu buồn! Những đứa nhỏ hàng xóm sống gần nhà em thưa dần, vì chúng theo gia đình về quê ngoại, quê nội, hoặc đi kinh tế mới… Và em không có đèn lồng trái bí dễ xếp cất, dễ đốt mẹ mua cho như những năm qua!
Sau bao nhiêu năm giặc chiếm miền. Là bấy nhiêu năm ba em bị giặc nhốt trong tù cải tạo! Hôm nay không định trước, mẹ dắt em đi thăm ba, lại lọt đúng vào ngày rằm của mùa Trung Thu.
Mẹ con em vượt qua biết bao nhiêu chặng đường lồi lõm có khi đi bằng xe hơi. Có lúc lội bộ, có lúc bằng xe tàu mo, đò chèo… Khi thì mẹ gánh em ngồi trong thúng bên đầu gióng nầy, đầu gióng kia chất chồng đồ ăn, áo quần cũ, thuốc men.
Mẹ và em đi từ một hai giờ khuya đến chiều tối ngày sau mới đến nơi! Khi đến trại tù thì đã quá giờ thăm nuôi, mẹ con em và một vài bà khác cùng cảnh ngộ cũng đi thăm nuôi chồng con. Những kẻ lỡ bước chúng em được chủ vườn ở gần trại tù (cách mấy cây số) tốt bụng cho ngủ trong trại ruộng của nhà họ.
Tối đó, mọi người lỡ đường vùi mình vào đống cỏ khô dưới nền đất sét nứt nẻ, thiếp đi vì mệt mỏi… May mà cả đêm qua trời không mưa, nhưng gió núi tê tái lạnh lùng rung cây ào ào.
Hai mẹ con em nằm chèo queo một góc trong tại ruộng không vách, không phên. Em nhìn trăng qua nhiều lỗ trống không trên mái chòi. Trăng rằm lên cao, càng lên cao ánh trăng càng sáng vằng vặc. Sương khuya xuống mịt mù đỉnh núi và chập chờn trên dải đồi mờ ảo xa xa. Tiếng côn trùng về đêm, hòa cùng tiếng dế tỉ tê… Những con chim ăn đêm bay qua ẩn hiện mịt mờ, kêu oang oác trên trời cao, cùng tiếng gió hú qua đồi làm xào xạc nhành cây lá chung quanh, khiến em sợ hãi rúc vào lòng mẹ.
Để rồi sáng dậy ra mặt, tay, chân… người nào cũng đầy vết muỗi cắn. Bầy muỗi đêm qua được ăn bữa giỗ no nê! Chúng thiệt là ác độc, nỡ đành hút máu của những kẻ lỡ đường ngủ trong trại ruộng!
Mẹ em lồm cồm ngồi dậy khi nghe vẳng tiếng gà gáy trong xóm xa… Bà sửa soạn lại túi nải chờ rạng đông đi vào trại tù thăm chồng. Bỗng bà thấy hai bóng đen lù lù xuất hiện khi mờ khi tỏ trong màn sương sớm. Càng lúc họ đến càng gần… mẹ em sợ quá gọi mấy người kia thức dậy, để cùng đối phó nếu rủi gặp kẻ xấu, hoặc chuyện không may!
Họ càng đến gần trời cũng sáng thấy rõ hơn… Thì ra là hai người thanh niên đi giỡ bẫy chim, chuột, gà rừng… Nói chuyện một hồi thì mấy bà cùng mẹ con em vào nhà cha mẹ họ là chủ trại ruộng nầy để xin nước uống…
Mẹ nhớ lại đã bao nhiêu năm rồi đây là lần đầu đi thăm nuôi chồng. Ba đói khổ lắm mẹ liền cởi chiếc nhẫn cưới bằng vàng 18K đang đeo trên ngón tay áp út ra. Đó là di vật sau cùng của ba tặng bà trong ngày đính hôn! Mẹ đem đổi lấy con gà giò (gà mới lớn nhổ lông xong, còn hơn nắm tay) và lít gạo trắng của chủ nhà… Rồi mượn nồi niu của họ làm gà rô ti và nấu nồi cơm còn nóng hổi đem cho ba em!
Bao nhiêu năm tù tội… Đến bây giờ vợ, chồng, con mới gặp lại nhau! Má em khóc sướt mướt chẳng nói nên lời! Ba ôm em vào lòng nghẹn ngào thổn thức… Ba trông thật tiều tụy, ông ốm gầy, tay chân lỏng thỏng, mặt mày hốc hác, mắt hõm sâu, da đen chì, mét chẹt, nắng cháy nám đen… Chân tay ghẻ chốc, thẹo vít chỗ lành, chỗ lở… Ba già quá nhiều! Nếu bất ngờ gặp ngoài đường không ai nói, chắc em sẽ không nhận ra, và sẽ không tin tù nhân đó chính là cha của mình! Em xót xa thương ba vô cùng, ôm chặt ba nức nở khóc òa…
Gần hết giờ thăm nuôi, mẹ đưa cho ba tất cả đồ đem theo, trong đó có con gà được chặt ra làm bốn và nồi cơm đầy… Ba em múc hết nồi cơm, cạo lấy luôn cơm cháy, đưa nồi không còn dính một hột để chút nữa đây trên đường về má em ghé trả lại người cho mượn. Ba lấy hai cục thịt gà (nửa con) đưa cho má và em. Mắt u buồn và rưng rưng dòng lệ mỏng, ông nhẹ giọng bảo:
-  Em và con đem theo ăn trên đường về. Chắc con và em đói khổ lắm? Thôi mẹ con về đi, anh sẽ giữ gìn sức khỏe. Đường quá xa xôi, khó khăn đừng… đừng có lên thăm nữa!
Mẹ em nước mắt dâng tròng, lật đật lấy gà để trở vào gói cho ba, mếu máo nói:
-  Ở nhà không gì vất vả cả, chỉ lo cho anh thôi. Anh đem gà vào ăn đi. Mẹ con em tới bến xe sẽ mua ăn, thiếu gì đồ ăn họ bán…
Dáng ba thất thểu đi vào trại tù… Và cửa tù từ từ kéo đóng lại! Mẹ em nát dạ tan lòng đứng nhìn theo, rồi lủi thủi dắt con ra về. Vừa đi bà vừa lau dòng lệ đau thương lã chã chảy dài xuống má, còn em nước mắt cũng trào tuôn… Đường về nhà em còn xa xôi lắm, lại gặp cơn nắng cháy, mưa sa! Hai mẹ con không ai nói với ai lời nào, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình… Trong đầu óc thơ ngây bé nhỏ của em lúc bấy giờ!
Ba em ngày xưa là sinh viên, bởi “Đất nước lâm nguy/ Thất phu hữu trách” nên học nửa chừng thì vào quân ngũ. Ba em có giành dân lấn đất hay cướp giựt của ai đâu! Vậy thì ba em có tội tình gì, phải chăng tội ông làm bổn phận người trai trong thời loạn vì an nguy của gia đình và bảo toàn lãnh thổ? Giờ đây họ bắt nhốt trong tù nơi xa xôi hiểm trở? Để ba em và đồng đội đau không thuốc uống, đói không có ăn, lạnh không đủ ấm! Lại bị nhốt trong vùng hoang dã đìu hiu đi cả ngày không thấy bóng người như thế nầy...
Đi gần đến tối mà mẹ con vẫn chưa đến nhà. Giờ đây em vừa khát và mỏi mệt cả tứ chi, và đói bụng, mẹ chép miệng bảo:
-  Ráng nhịn về nhà sẽ có đồ ăn, vì mẹ chỉ còn đủ tiền để đi xe thôi. Lúc nãy mẹ định bới cơm cho ba, còn miếng cơm cháy mẹ con ăn cho đỡ dạ trên đường về. Nhưng thấy ba vét sạch nồi cơm nên mẹ làm thinh! Tội nghiệp ba ở trong tù đói khát nhọc nhằn lắm con ơi…
Nói đến đó, mẹ em nghẹn lời sụt sùi dòng lệ khổ! Về đến nhà, em không sao ngủ được. Hoàn cảnh trại tù, ba em và đồng đội của ông bị hành hạ đọa đày cứ lởn vởn trong đầu óc thơ dại của em. Từ đó nỗi hờn oán nhen nhúm ngày càng lớn trong tâm hồn: “Em sẽ không bao giờ! Phải, không bao giờ em quên, và không bao giờ tha thứ cho những kẻ đã đày đọa ba,cùng  những đồng đội của ba em…”
Vào rằm tháng Tám năm sau, em thẫn thờ ngồi bên cửa sổ vò võ nhìn bầu trời cao rộng, trong sáng ánh trăng thu! Và con mèo tam thể dễ thương đó, vẫn cào, kéo lai quần em. Nó chạy nhảy tung tăng, kêu “meo, meo…” giỡn trăng như để làm vui lòng cô chủ nhỏ. Thấy em buồn, má cũng chẳng vui gì hơn! Một lúc sau, bà tìm ra cái lồng đèn trái bí mấy năm trước đã cũ mèm, giấy dán đổi màu và bị chuột cắn tưa mấy lỗ. Nhớ lại lâu lắm rồi, em đã cẩn thận nhét cái lồng đèn đó dưới chót, ở trong thùng tập vở, sách truyện, và báo cũ của ba em.
Đã mấy mùa Trung Thu qua đi, ba em vẫn chưa được thả về. Em lơ là nhìn cái lồng đèn nghe chừng xa lạ, mà cảm thấy lòng xao xác héo hắt buồn loang! Làm sao em vui được khi ba em còn bị đày nơi rừng sâu Việt Bắc, nơi nổi tiếng rừng thiêng, và nước độc! Nước độc đến nỗi, từ bờ suối bên nầy, lội qua bờ suối bên kia thì lông chân bị rụng hết! Ở đó họ chỉ uống được nước mưa... và có khi đi cả mấy tháng trời, cũng không thấy bóng sơn nhân, hay lâm nhân…
Em lại càng xót xa đau buồn nhức nhối hơn! Mỗi khi nửa đêm trở giấc, em nghe mẹ khóc lén, khóc thầm! Thế nhân dù có buồn vui! Nhưng đêm nay trăng thu vẫn ngạo nghễ lên cao. Càng lên cao, trăng càng trải ánh sáng ngà ngọc xuống muôn loài. Gió thu vẫn nhè nhẹ man mác và mây thu vẫn bàng bạc bay bay về phương trời vô định... Những cánh chim đêm thu in chập chờn trên không gian và hối hả bay đi… Chúng như ngầm hiểu nỗi thống khổ đoạn trường của con người theo vận nước nổi trôi! Và cảm thông trời miền Nam tự do ấm no đã không còn nữa… Ôi đến cả loài chim muông mà còn biết buông tiếng kêu áo não, oán, hờn, trách, hận... đau thương!
Sau khi ba em được thả về, gia đình đùm túm theo thuyền chài vượt biển Đông! Mười mấy ngày lênh đênh trên biển cả, gió dồn, sóng dập, đói khát thảm thê. Tưởng chừng cả gia đình dìm dưới mồ huyệt lạnh của đại dương rồi… Hành trình vượt biên trùng trùng hiểm nguy thừa chết thiếu sống! Nhờ Ơn Trên, rồi gia đình em cũng trôi giạt vào Nam Dương () quần đảo với những thuyền nhân chung chuyến tàu.
Sống lang thang từ đảo nầy qua đảo khác: Pacikata, Terrempa, Ku Ku, rồi Galang (Trung tâm tị nạn Cộng sản vùng Đông Nam Á) Tại trại tị nạn Galang, nếp sống của người tị nạn Cộng sản có quy củ và khá hơn về nhiều mặt. Nhứt là vấn đề y tế! Nơi đây có trường học dạy Anh văn, có nhà thương, có nhà thờ, có chùa… Có văn phòng Cao ủy tị nạn làm việc, để nhận người vào đệ tam Quốc Gia… Và nhiều tiệm buôn bán gia dụng nấu ăn của dân bản xứ… dần dà có quán phở, quán hủ tíu, quán nhạc, quán cà-phê, quán sinh tố…
Galang là một trong những hòn đảo đẹp của Nam Dương. Chùa được cất trên đồi cao gần các dãy trại, để dân tị nạn dễ dàng chiêm ngưỡng và cúng bái. Ngôi chùa khang trang có nhiều tượng phật cao lớn hơn người… được tàu và trực thăng chở đến… Phí tổn của ngôi chùa nầy, nghe đâu do các thương gia ở Nam Dương và Singapore góp gom để xây cất.
Sáng sớm và chiều tối nào em cũng theo ba má lên chùa. Vì trên chùa gió mát, và đôi khi em được các sư cho trái cây hoặc bánh, kẹo… của bá tánh đã cúng Phật. Ở đảo đói khát thấy mồ, em thèm đủ mọi thứ, hôm nào được các sư cho đồ ăn dư của Phật thì em mừng húm! Em nghĩ bụng đồ ăn thừa của Phật sẽ được phước đức (và má em cũng nói như vậy).
Phía sau chùa chừng hơn trăm thước cao, phóng tầm mắt nhìn, chúng ta có thể thấy rõ bốn hướng của biển cả mênh mông vô bờ, vô tận… Và em cảm thấy tâm hồn mình dạt dào hạnh phúc mỗi lần có dịp đứng bên ba má em nhìn hoàng hôn xuống. Mặt trời chiều ráng màu đỏ nghệ có hình bầu dục như quả trứng gà, treo lơ lửng trên nền trời nhiều mây có vân ngũ sắc ở hướng tây. Nắng vàng trải trên mặt thủy triều của đại dương bao la xanh ngát một màu, và ánh nắng lung linh chấp chóa lúc mây tạnh gió yên.
Vào những buổi sáng mờ sương, biển thanh thoát và hiền dịu vô cùng… mặt nước lăn tăn gợn sóng theo từng đợt gió đùa… Nền trời trong như ngọc, lác đác từng làn mây trắng mỏng như nằm bất động có pha những sắc màu rực rỡ do những tia nắng bắn ra từ mặt trời cao ngạo vừa nhú lên ở phương đông. Rồi sương mờ dần tan, chỉ trong chốc lác thôi… biển tịnh yên, mặt biển xanh lơ, và vầng hồng rạng rỡ cho nắng ấm... gió the the man mác lay nhẹ chòm lau, khóm đước hòa cùng lá thông reo dọc bờ biển tạo ra âm thanh êm ấm dễ chịu vô cùng…
Hải âu xoãi cánh bàng bạc loang loáng trong ánh bình minh… “Chim én không làm thành mùa xuân/ Nhưng có chim én mùa xuân thêm phần ý nghĩa” Ở chốn hải đảo nầy, em xin nói lên thiển ý của mình rằng: “Nếu biển không có cánh hải âu thì biển cả mất đi phần thi vị”.
Có hôm dưới mái hiên chùa, em phóng tầm mắt nhìn trời biển động! Gió thổi vùn vụt, cây cối ngả nghiêng. Sấm ầm ầm, sét nổ giòn, những tia chớp sáng lòe lên rồi phụt tắt! Mưa nặng hột tầm tã ào ào. Biển nộ cuồng từng cột sóng dâng cao như muốn đảo lộn càn khôn! Thật dễ sợ cho sự nổi trận lôi đình của Thủy Long Vương trong lòng biển cả(?) Em ngồi co ro, chợt nhớ câu: “Đời không đau khổ đời vô vị/ Biển chẳng phong ba, biển chẳng hùng”.
Thuở đó gần cuối năm 1979, đảo Galang có mấy chục ngàn người dân tị nạn Cộng sản, đại đa số là từ miền Nam Việt Nam. Họ bôn đào khi miền bị Cộng sản và Việt cộng cưỡng chiếm! Nơi trại tị nạn, ba khéo tay làm cho em cái lồng đèn trái bí bằng lon nhôm coca-cola, trong mùa Trung Thu ở trên hải đảo Galang. Lon nhôm sau khi rửa sạch, lau khô, ba em kiên nhẫn dùng nhiều cục đá có cạnh nhọn, bén… Ông đục từng đường dài, nhắm sao cho ngay và đều… Ba ngồi cả ngày trời tẳn mẳn đục, chà cạnh cho hết bén… Rồi nhẹ tay bóp cho những cọng lon nhôm cong (không gãy) mà ông đã bỏ không biết bao nhiêu cái lon nhôm. Bị xuể tay, rướm máu mới làm được một cái lồng đèn trái bí, tạm vừa ý cho con gái mình!
Chiều đến cầm lồng đèn trái bí ba làm cho, lòng em tươi vui phơi phới như hoa nở mùa xuân. Lon ton theo bọn trẻ con (tị nạn) trên đảo đi dâng cộ đèn vòng vòng trong các trại do những anh chị hướng dẫn... Ôi hải đảo phủ ánh trăng thanh thoát giữa vùng mây nước, có tiếng sóng biển bủa rạt rào, tiếng gió vi vu hòa cùng tiếng hát mừng Trung Thu vang dội, rền vọng ngút trời xanh… Của những đứa trẻ đã cùng gia đình trốn chạy khỏi vùng Cộng sản để đi tìm phương trời tự do…
Đêm Trung Thu đó, chúng em được ăn nhiều bánh kẹo, uống nước trái cây thơm ngọt, từ các nhà hảo tâm của xứ người chở đến cả tàu, cả xe đến tặng. Họ còn đem cho cả lồng đèn làm đủ kiểu hình thù các con vật… được sơn phết, dán giấy, vẽ, tô đẹp đẽ, màu sắc rực rỡ, chói lộng hấp dẫn và quyến rũ vô cùng… Nhưng em không nhận đâu, bởi ba đã làm cho em lồng đèn trái bí bằng lon nhôm rồi. Em quý cái lồng đèn nầy hơn tất cả mọi lồng đèn trên thế giới, trong mùa Trung Thu. Bởi cái lồng đèn trái bí bằng lon coca làm thành đó, ngoài tốn nhiều công sức, còn là tâm ý và gói ghém cả tình cha thương con của ba em…
Mùa Trung Thu ở trại tị nạn Cộng sản Galang, khắc ghi đậm nét trong đời, và cho em niềm nhớ không nguôi… Nó sẽ làm hành trang em mang theo trong ký ức trên khắp quãng đường lưu lạc.
Thời gian qua mau quá, mới đó mà đã mấy mươi năm ở xứ người. Ba má vất vả nuôi dưỡng chăm lo cho con học hành đỗ đạt nên người. Ngày nay em đã thành nhân, ông bà có cháu ngoại để bồng bế thương yêu, nuông chiều. Dòng thời gian thắm thoát cứ trôi mãi trôi, nay ba má em đã ngoài tám mươi! Ông bà ở tuổi “Bát thập cổ lai hy” Cái tuổi dễ bịnh hoạn, và gần đất xa trời khiến em buồn đau thắm thía trong lòng, mỗi khi nghĩ đến! Nhưng phải làm sao đây? Vì đó là định luật của tạo hóa, mà trót sanh ra làm kiếp con người thì kẻ trước, người sau không một ai tránh khỏi!
Rồi ngày đó cũng đã đến, một mất mát lớn cho gia đình! Má em đã qua đời! Giờ đây, đêm đêm em luôn nguyện cầu, xin Ơn Trên cho ba em ăn ngon, ngủ khỏe. Và em cố gắng làm mọi thứ để ba được an ổn tâm hồn, vui vẻ hạnh phúc trong thời gian ngắn ngủi của đời người còn lại bên cháu con! Dẫu biết rằng, trong cuộc đời có đầy dẫy hỉ, nộ, ái, ố… thăng trầm, dâu bể, phế hưng, nhứt là trên quê hương khốn khổ Việt Nam của em sau ngày Cộng sản và Việt cộng chiếm đóng!
Giặc đã mang nền giáo dục (ở mọi khía cạnh, mọi phương diện) của làn sóng đỏ từ ngoài Bắc tràn vào miền Nam. Hoàn cảnh xã hội miền Bắc mấy mươi năm theo chế độ Cộng sản đã gây và ảnh hưởng tác hại mọi mặt về tâm lý, văn hóa, xã hội nhập vào đời sống. Đã thấm nhuần, và ăn sâu trong tâm hồn, trong máu huyết của con người từ trong gia đình, ra ngoài xã hội người miền Bắc. Với những điều nghịch lý, giả nhân, giả nghĩa, lừa bịp, dối gian, tính toán, tinh ma, ác hiểm… đã xẩy ra hàng ngày với cha con, anh em, bạn bè, thì nói chi đến tình nghĩa xóm chòm, hay nặng nợ với ngọn rau tấc đất, nước non…
Vì thế, những đổ vỡ của gia đình hiếu thảo con cái, tình nghĩa vợ chồng nhan nhản xẩy ra hàng ngày trước mắt, và khắp nơi, không sao đếm cho xuể! Khuôn ngọc thước vàng từ nghìn xưa ông cha ta để lại “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” dưới chế độ Cộng sản vô thần, giờ đây đã bị thui chột, vô nghĩa hết rồi! Thì thử hỏi xã hội Việt Nam ngày nay làm sao không rối bời, và quê hương đất nước Việt Nam làm sao không nát tan, không bị chia năm xẻ bảy… Đó cũng chỉ vì lợi riêng của những kẻ cầm quyền hiến dâng, bán đất, biển... cho ngoại bang!
Hôm nay là ngày rằm tháng Tám, đã vào chánh mùa Trung Thu. Em đẩy ba ngồi trên xe lăn chầm chậm rẽ vào chợ (vì cả hai chân ba đều yếu). Vùng gia đình em tạm cư, có rất nhiều chợ Á Đông. Cả tháng nay, tiệm nào cũng bán đầy dẫy bánh trung thu. Bánh trung thu đủ loại ở địa phương, nội địa sản xuất… và bánh từ các nước khác nhập vào. Bánh trung thu nằm phơi phới trong các hộp vẽ hoa bướm màu sắc tươi trẻ rực rỡ. Các hộp đều có nắp đậy bằng kiếng, nhìn thấy rõ bánh bên trong, gợi thèm cho khách vào ra chợ.
Em nghĩ, năm nay các bánh được làm từ nước Tàu Cộng, Việt Cộng chắc hẳn ít ai dám rớ tới? Vì lợi ích riêng, họ không nghĩ đến sức khỏe của người tiêu thụ, đã dùng quá nhiều hóa chất … Ăn vào dễ, lấy ra khó, sẽ hại cho thân thể, và có khi còn chết người!
Ba em nhìn từng hộp bánh trong tủ kiếng. Ông lựa rồi chỉ tay, muốn mua một hộp bánh Trung Thu có trứng, và lấy thêm hộp bánh dẻo nữa. Nhà em ngoài ba, chỉ có hai vợ chồng em và hai đứa nhỏ (nhưng chúng không thích bánh trung thu) Ai cũng sợ ngọt, nên chắc chắn sẽ ăn không hết… Chỉ cần mua một hộp, hai bánh nầy, hai bánh kia đủ rồi. Nhưng em lấy cả hai hộp bánh người bán đặt vào bao xách, máng trên xe cho ba vui lòng. Ba em chỉ hai chiếc lồng đèn treo trên vách. Em nghĩ chắc ba mua cho hai cháu ngoại… Trả tiền xong em định đẩy ba đi ra, nhưng ông chỉ thêm cái lồng đèn trái bí, làm em ngạc nhiên nhìn ba?
Ông nhìn em mỉm cười, trìu mến:
- Ba mua lồng đèn trái bí cho con! Nhớ thuở con còn bé nhỏ thích chơi đèn Trung Thu với đám trẻ con trong xóm. Năm đó đi lính xa, bất ngờ được về thăm nhà trong đêm Trung Thu. Ba đứng sau lưng cả buổi mà con không hay! Khi thấy ba, con phóng tới ôm chầm thật chặt như sợ ba vuột mất... rồi con mừng rỡ, líu lo gọi mẹ báo tin ba về.
          Mắt già nua trắng dã, ba em cảm động nghẹn lời! Ông tiếp:
-  Ba mua bánh về cúng má, lúc sanh thời bả ưa bánh Trung Thu và bánh dẻo lắm. Cho dù con gái ba bây giờ tuổi đời có lớn hay già đi nữa, nhưng trong mắt ba lúc nào con cũng còn nhỏ bé! Còn tình thương con trong lòng ba càng ngày càng lớn vô bờ, vô tận con ơi...
          Em dang đôi tay ôm chầm lấy ba! Hôn lên trán ba em, mà mắt rưng rưng dòng lệ kính yêu và hạnh phúc ngập cõi lòng!
Em may mắn được sanh ra trong miền ! Em diễm phúc được thừa hưởng rất nhiều, rất nhiều thứ mà chỉ ở miền Nam tư do dưới Chánh thể Cộng Hòa mới có… Em đã nghe được câu nói của ai đó, để riêng mình thẩm thấu và nghiệm thấy rằng: Trên cõi đời nhiều hệ lụy khổ ải nầy, có hai người đàn ông để cho em kính nể và yêu thương nhứt. Đó là ba em và chồng em!”
Đường phố đã lên đèn, nhưng ánh trăng thu rực rỡ cao ngạo, thanh thoát áp chế ánh đèn đường vàng võ. Cha con em dừng lại bên lề nhìn đoàn múa lân dẫn đầu, các thiếu nhi dâng cộ đèn náo nhiệt đi qua. Trên đất nước tự do, các em vô tư, thảnh thơi, mặt mày hớn hở nhịp nhàng cất tiếng hát vang vang: “Đêm Trung Thu em đốt đèn đi chơi/ Em đốt đèn đi khắp phố phường/ Đèn ông sao với đèn trái bí/ Đèn xe tăng với đèn cá chép…Em đốt đèn đi khắp phố phường…”
Tệ xá Diễm Diễm Khánh An
DƯ THỊ DIỄM BUỒN
Trích trong tuyển tập truyện ngắn “Xứ Lạ Tình Quê”