Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du - Tập 3: Bắc Hành Tạp Lục - Bài 35 Đến 38

 


THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU - TẬP 3: BẮC HÀNH TẠP LỤC - BÀI 35 ĐẾN 38
Thầy Dương Anh Sơn

THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU
TẬP 3: BẮC HÀNH TẠP LỤC

Bài 35

VĨNH CHÂU LIỄU TỬ HẬU                                                   永州柳子厚
CỐ TRẠCH                                                                                故宅

Hành Lĩnh phù vân Tiêu Thuỷ ba,                                             衡嶺浮雲瀟水波,
Liễu Châu cố trạch thử phi da ?                                                 柳州故宅此非耶。
Nhất thân xích trục lục thiên lý,                                                 ㇐身斥逐六千里,
Thiên cổ văn chương bát đại gia.                                               千古文章八大家。
Huyết chỉ hãn nhan thành khổ hỹ,                                             血指汗顏誠苦矣,
Thanh khê gia mộc nại Ngu Hà.                                                清溪嘉木奈愚 河。
Tráng niên ngã diệc vi tài giả,                                                    壯年我亦為材者,
Bạch phát thu phong không tự ta!                                              白髮秋風空自嗟。

Dịch nghĩa:

Đám mây trôi nơi ngọn núi Hành Lĩnh và sóng gợn nơi dòng Tiêu Thủy, - Đây chẳng phải là nhà cũ của Liễu Châu đó sao? – Một đời bị biếm đày đi xa sáu ngàn dặm, - Ngàn đời văn chương của ông đứng vào hàng tám nhà văn lớn. (c.1-4)
Tay bầm máu, mồ hôi ướt sủng mặt mày của những người (bị đi đày) chịu nhiều khổ nhọc! – Suối trong trẻo, cây cối đẹp đẽ như thế sao lại gọi là suối “Ngu”(Ngu Hà!)? – Thời trai trẻ, ta cũng là người có tài năng! – Mái đầu giờ đã bạc, trước ngọn gió thu vắng lặng chỉ mình ta than thở thôi!

Tam chuyển lục bát:

NHÀ CŨ Ở VĨNH CHÂU
CỦA LIỄU TỬ HẬU.

Sóng Tiêu, Hành Lĩnh mây trôi!
Liễu Châu nhà cũ phải nơi chốn này??
Sáu ngàn dặm chịu thân đày,
Muôn đời vào hạng văn hay tám người!
“Tay bầm,mặt rịn” khổ đời,
Cây xinh, dòng suối trong ngời: Ngu sao?!
Trẻ trai ta cũng tài cao!
Gió thu mình chỉ than đầu bạc phai!

Chú thích:

** Đây là bài thơ làm ra nhân dịp Tố Như tiên sinh viếng nhà cũ của Liễu Liễu Hậu hay Liễu Tông Nguyên, qua đó, bày tỏ nỗi niềm và tâm sự của mình...
- Vĩnh Châu 永州: một vùng rộng lớn thuộc tỉnh Hồ Nam 湖南, Trung Hoa.
- Liễu Châu 柳州: là tên vùng đất bị biếm trích của Liễu Tôn Nguyên nên người đương thời vẫn gọi là Liễu Liễu Châu 柳柳州 tức Liễu Tôn Nguyên 柳宗元(783-819), tự là Tử Hậu 子厚 người thời Trung Đường (Đường Đại Tôn, Đường Hiếu Tông. Ông sớm thi đậu tiến sĩ ( năm 20, tuổi 793) và khoa Bác học hoằng từ, từng giữ chức giám sát ngự sử. Thời Đường Thuận Tông, ông cùng các bạn đồng chí hướng như Vương Thúc Văn ra sức cải cách các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, luật lệ nôi cung...v.v... đang bị bọn hoạn quan thao túng. Công cuộc cải cách thất bại nên cả nhóm bị bức hại. Ông bị biếm trích làm quan tư mã ở Vĩnh Châu (Hồ Nam 湖南), rồi năm 815, thời Đường Hiến Tông, ông làm thứ sử Liễu Châu (Quảng Tây 廣西). Bốn năm sau, ông mất tại đây thọ 47 tuổi.
Ông được người đương thời xếp vào “Đường Tống Bát đại gia 唐宋八大家” gồm: Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên, Âu Dương Tu, Tô Tuân, Tô Thức (Tô Đông Pha), Tô Triệt, Tăng Củng và Vương An Thạch.Ông để lại văn tập có tên là Liễu Hà Đông Tập (Tập thơ văn của họ Liễu ở Hà Đông) gồm 45 quyển. trong đó có hai quyển Cổ Kim Thi gồm 140 bài thơ.
- Hành Lĩnh 衡嶺: tức Nam Nhạc Hành Sơn 南嶽衡山, một trong năm ngọn núi lớn (Ngũ Nhac 五嶽) của Trung Hoa nằm ở tỉnh Hồ Nam...
- Tiêu Thủy 瀟水: con sông lớn ở Hồ Nam chảy qua vùng Vĩnh Châu rồi hợp lưu với Tương Giang. Văn học cổ trung Hoa thường dùng hình ảnh Tiêu Tương 瀟湘 của vùng Hồ Nam để chỉ nỗi u sầu của sự chia ly...
- thử phi da 此非耶: đây chẳng phải là? (Da: trợ từ chỉ nghi vấn như phải chăng? có hay chăng? phải không?)...
- huyết chỉ hãn nhan 血指汗顏: là câu chữ trong bài “Tế Liễu Tử Hậu” của Hàn Dũ: “ Ví như người thợ vụng về,tay bầm máu, mặt đổ mồ hôi, bọn nịnh thần được thảo chiếu vua; còn tài giỏi như ông phải đứng khoanh tay!”...
- thành khổ hỹ 誠苦矣: thật khổ quá thay!
- câu 5: Nguyễn Du vừa nói đến nỗi khổ tận cùng của người đi đày và cũng để chỉ sự vất vả của những kẻ phải làm ra thơ. Mặt khác, thơ cũng thành hình từ hiện thực gian truân của những người bị biếm trích hay phải chịu tội oan uổng...
- Ngu Hà: 愚: con sông Ngu. Điều cần lưu ý ở đây, đầu câu 6 Nguyễn Du đã dùng chữ “thanh khê” (dòng suối trong trẻo) nên ngầm hiểu chữ “Ngu Hà” là “Ngu Khê 愚溪” Mặt khác, cuối câu 1, Nguyễn Du đã gieo vần âm “a” (Tiêu thủy ba) nên tạm dùng chữ ”hà” (Ngu Hà) ở câu này cho điệp vận. “Hà” chỉ dòng sông chứ không phải con suối. Đó là chữ tạm dùng thay thế cho hợp vần! Chính Liễu Tôn Nguyên đã gọi dòng suối đó là “Ngu Khê”. [ Ngu Khê là con suối gần nơi ở của Liễu Tôn Nguyên khi bị biếm trích ở Vĩnh Châu. Ông đã có thiên tản văn nổi tiếng là Ngu Khê thi tự 愚溪詩字 có viết: ”Cây cối đẹp đẽ, dòng suối nước trong phải được người giỏi giang yêu mến ; gán cho khe nước ấy là “ngu” vì cớ gì đây?” ]
- Hai câu 7 và 8: viếng nhà cũ của Liễu Tôn Nguyên, Nguyễn Du như ngắm lại hình ảnh của chính mình: có tài, có chí,nhưng thời thế không như ý mình: tuy được bổ đi sứ nhà Thanh nhưng triều đình nhà Nguyễn có khác đâu thời nhà Đường của Liễu Tử Hậu với bọn tham quan bất tài do thời thế mà nên....

Bài 36

Nhị thủ                                                                                          二首
SƠ THU CẢM HỨNG                                                              初秋感興

Kỳ nhất                                                                                        其一

Tiêu tiêu mộc lạc Sở Giang không,                                            蕭蕭木落楚江空,
Vô hạn thương tâm nhất dạ trung.                                             無限傷心㇐夜中。
Bạch phát sinh tăng Ban Định Viễn,                                          白髮生憎班定遠,
Ngọc Môn Quan ngoại lão thu phong.                                       玉門關外老秋風。

Kỳ nhị                                                                                         其二
Giang thượng tây phong mộc diệp hy,                                       江上西風木葉稀,
Hàn thiền chung nhật táo cao chi.                                              寒蟬終日噪高枝。
Kỳ trung tự hữu thanh thương điệu,                                           其中自有清商調,
Bất thị sầu nhân bất hứa tri.                                                       不是愁人不許知。

Dịch nghĩa:

Bài 1

Gió thổi hiu hắt, cây rụng lá, dòng sông Sở trống vắng mênh mang! –
Nỗi buồn sầu vô hạn dâng trào trong một đêm. – Tóc bạc mọc ra khiến (ta) ghét bỏ Ban Định Viễn! – Ngoài cửa ải Ngọc Môn, cơn gió thu già cỗi vẫn thổi mãi!

Bài 2

Trên sông, ngọn gió tây thổi, lá cây thưa dần, - Trong cái lạnh, những con ve vẫn rả rích trên cành cây cao suốt cả ngày! – Bên trong, có âm thanh buồn bã, - Không phải là người mang sầu muộn, khó có thể hiểu được!

Tạm chuyển lục bát:

ĐẦU THU CẢM HỨNG (Hai bài)

Bài 1

Mênh mang sông Sở trụi cây,
Lòng đau không xiết cho đầy đêm thâu!
Ghét Ban, tóc bạc mái đầu,
Gió già ải Ngọc, thổi vào mùa thu.

Bài 2

Trên sông thưa lá - gió tây,
Cành cao ve lạnh suốt ngày kêu vang.
Điệu thu trong tiếng buồn than!
Người không sầu thảm, chẳng màng biết nghe!

Chú thích:

Bài 1

Đây là một bài thơ tứ tuyệt Nguyễn Du đã cảm hứng làm ra trên con đường đi sứ bên Trung Hoa. Trong cơn gió lạnh của mùa thu, nhà thơ như cảm nhận sự mênh mông,sự trống vắng của thiên nhiên và dấu chân thời gian đang đi qua với mùa thu trước mắt ! Khi đi trên sông Sở, nhà thơ nẩy sinh nỗi buồn bã không xiết khi nghĩ đến câu chuyện về Ban Siêu 班超(32-102 SCN) tức Ban Định Viễn 班定遠, một danh tướng thời Đông Hán có công đi đánh các nước Tây Vực 西域 và trấn ải Ngọc Môn ở biên giới phía tây ba mươi năm trời cho đến khi tóc bạc phơ mới được trở về nhà. Ông được ban tước Định Viễn Hầu 定遠侯. Nhà thơ cũng ví mình như Ban Siêu, phải chịu nhiều nỗi khó khăn khi đi sứ xa và chợt nhận ra con người mình đang đổi thay với thời gian với làn tóc bạc, tuổi tác lại thêm lên. Nhưng tóc bạc chưa phải là già mà là “cơn gió thu già cỗi” (lão thu phong) mỗi năm đi qua mới là dấu hiệu của thời gian đang dần dà hủy hoại tất cả bất chấp nỗi buồn hay công danh sự nghiệp. Ban Siêu dù là danh tướng trấn ải nhưng cũng không thoát được cơn gió của thời gian, của vô thường như bao con người....
- Sở Giang 楚江: tức con sông Tương (Tương Giang) bên Trung Hoa
- tiêu tiêu 蕭蕭: tiếng gió thổi vù vù, không gian hiu hắt, trống vắng, lạnh lùng..
- mộc lạc 木落: lá cây rơi rụng nhiều làm cho cây trơ trụi...
- không 空: trống trải, trống vắng, không có gì, mênh mông....
- vô hạn thương tâm 無限傷心: đau lòng không thế xiết, đau đớn trong lòng tột cùng, đau lòng không giới hạn....
- tăng 憎: chán ghét, chán ngán, ghét bỏ, không thích...
- Ngoc Môn Quan 玉門關: cửa ải quan trọng phía tây nước Trung Hoa được Hán Vũ đế Lưu Triệt 劉徹(156-87 TCN) cho xây dựng nhằm ngăn chặn các bộ tộc ở các khu vực phía tây (Tây Vực) bên ngoài tràn vào Trung nguyên cướp phá. Nay thuộc xã Sa Châu, huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc
- lão thu phong 老秋風: cơn gió mùa thu làm cho già cỗi đi mọi thứ, trong đó có con người như Ban Siêu và quân lính đi trấn ải biên thùy. Rộng hơn, đó là cơn gió của thời gian đang đi qua đời người, qua các thời đại hưng phế... Nó cuốn trôi tất cả hư danh, sự nghiệp. Nguyễn Du nhìn cuộc đời của Ban Siêu với sự nghiệp, công danh phải trả giá cho cái già cỗi ngoài chốn biên thùy.
Nhà thơ nghĩ sâu hơn về “lão thu phong” cơn gió thu làm già lão mọi thứ không riêng ai. Đó là hình ảnh của sự vô thường trong mọi góc cạnh của cuộc sống...

Bài 2

Trong bài thơ thứ hai này, Nguyễn Du đã lắng nghe sự chuyển động của thiên nhiên qua cơn gió tây, qua tiếng ve râm rang suốt ngày...v.v... bằng tâm trạng buồn sầu của mình trước cảnh vật. Nhà thơ đã xác tín: chỉ những ai trải qua nỗi sầu buồn mới có thể hiểu được cái buồn của cảnh vật bên ngoài... (Có câu nói tương tự khi bậc tiền bối không rõ tên nào đó đã đánh giá Đoạn Trường Tân Thanhp của Nguyễn Du : “ Kể bao xiết nỗi thảm sầu, Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!”) *Từ đó, các hiện tượng của thiên nhiên đang biến đổi trong cả hai bài thơ đều mang dấu ấn của đạo Phật mà một người như Nguyễn Du từng đọc Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật trên một ngàn lần ( xem bài 106 về sau của B.H.T.L. : ”Lương Chiêu Minh thái tử Phân kinh thạch đài”) chắc chắn hiểu và thấy rõ “chư hành vô thường 諸行無常” các hành đều vô thường, cuộc sống và con người cũng trong sự vận hành này...
- mộc diệp hi 木葉稀: cây và lá thưa thớt, lưa thưa, ít ỏi...
- táo 噪: tiếng râm rang, tiếng rả rích hay ra rả liên tiếp nhau...
- thanh thương điệu 清商調: điệu nhạc cổ mang âm hưởng bi ai, sầu thảm... - bất thị sầu nhân 不是愁人: người (nhân) không có nỗi sầu...
- bất hứa tri 不許知 :( hứa 許: có thể, cho phép, trông chờ, rất, lắm...) không thể biết được..

*Câu này vẫn còn là nghi vấn, có thể là dị bản. Bản Truyện Kiều hay Đoạn Trường Tân Thanh của Liễu Văn Đường, Kiều Oánh Mậu, bản khảo đính của Đào Duy Anh hay bản của Nguyễn Quảng Tuân...v..v.. câu 1681 và 1682 đều viết :” Thương càng nghĩ, nghĩ càng đau- Dễ ai rấp thảm quạt sầu cho khuây”. Cho nên, tạm thời nên đặt câu trích dẫn trên vào loại tồn nghi để tìm hiểu thêm về nguồn gốc của nó!

Bài 37

SỞ VỌNG                                                                                  楚望

Kinh, Tương thiên lý cổ danh đô,                                              荊襄千里古名都,
Nhất bán khâm giang nhất đới hồ.                                             ㇐半襟江㇐帶湖。
Thiên giá phú cường cung bách chiến,                                      天假富彊供百戰,
Địa lưu khuyết hãm hạn Tam Ngô.                                            地留缺陷限三吳。
Thu phong lạc nhật giai hương vọng,                                        秋風落日皆鄉望,
Lưu thuỷ phù vân thất bá đồ.                                                     流水浮雲失霸圖。
Tôn sách Lưu phân hà xứ tại,                                                     孫索劉分何處在,
Thương nhiên nhất vọng tẫn bình vu.                                        蒼然㇐望盡平蕪。

Dịch nghĩa:

Vùng Kinh Châu,Tương Dương trải ngàn dặm đã có tiếng tăm từ xưa là nơi đô hội, - Một nửa ôm lấy con sông lớn, mội dải các hồ rộng. – Trời ban cho sự giàu mạnh nên vùng này đã cung ứng cho cả trăm trận đánh! – Đất đai lại thấp trủng lồi lõm ngăn giữ vùng Tam Ngô.(c.1-4)
Chiều tàn, gió mùa thu thổi đến, khiến ai nấy đều ngóng về quê nhà, -
Nước chảy, mây trôi cơ đồ bá nghiệp đều mất hết! – Chốn nào là nơi Tôn Quyền ra yêu sách đòi hỏi và chốn nào là nơi Lưu Bị phân chia đất đai? – Dõi nhìn xa xa chỉ thấy vùng cỏ hoang xanh rì phẳng tắp thả sức mọc!

Tạm chuyển lục bát:

NGÓNG VỀ ĐẤT SỞ.

Kinh, Tương ngàn dặm tiếng tăm,
Quanh hồ một dải, nửa nằm ôm sông!
Mạnh, giàu đánh trận trăm lần,
Tam Ngô đất trủng, giữ ngăn chia vùng.
Gió thu, chiều ngóng quê hương,
Mây trôi, nước chảy bá vương mất rồi!
Chốn nào Lưu cắt, Tôn đòi?!
Nhìn toàn cỏ dại xanh ngời phẳng phiu!

Chú thích:

** Đây là bài thơ mang cảm hứng từ lịch sử khi Tố Như tiên sinh khi đến vùng đất Sở xa xưa của thời Xuân Thu và Chiến Quốc khi trên đường đi sứ ngang qua đây. Nơi này từng xảy ra những cuộc tranh chấp, những trận đánh giành giựt đất đai lãnh thổ làm cho dân chúng điêu linh, thanh niên trai tráng phải chết chóc... v.v... để gầy dựng và bảo vệ cơ đồ của ba dòng họ. Thời Tam Quốc ba nhân vật lịch sử nổi bật, làm chủ ba vùng lãnh thổ là Tôn Quyền 孫權, Lưu Bị 劉備 và Tào Tháo 曹. Trong câu thơ cuối cùng của bài này, Nguyễn Du bằng con mắt thấu rõ sự biến dịch và vô thường đã cho chúng ta thấy rõ mọi nỗ lực tranh giành thế lực, đất đai, cơ đồ, vương nghiệp chỉ còn là môt bãi cỏ phẳng phiu xanh rì của con nước thời gian . Đó là lẽ vô thường mà rất nhiều bài thơ của Nguyễn Du đã nói đến cho thấy sự hiểu thấu của ông về bản chất của sự vật: “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh” mà thôi!
- Sở 楚: một vùng đất bên Trung Hoa trước kia thuộc nước Sở thời Chiến Quốc còn gọi là Kinh Sở trải dọc theo Trường Giang ở phía nam và nằm quanh hồ Động Đình và Thương Ngô( nay là tỉnh Hồ Nam,Trung Hoa)
- Kinh, Tương 荊襄: tức vùng Kinh Châu 荊州 và Tương Dương 襄陽 xưa kia, nay thuộc Hồ Nam- T.H). Đó là vùng đất quan trọng có nhiều di tích lịch sử của Trung Hoa.
- khâm giang 襟江: ôm lấy con sông như ôm vạt áo trước ngực (khâm).
- nhất đới hồ ㇐帶湖: một dải hồ nối nhau. Đây chỉ các hồ nhỏ của chuổi quanh hồ Động Đình bên Trung Hoa...
- thiên giá 天假: trời ban cho, trời giúp cho hay phú cho... (Âm của “giả” là “giá”: thưởng, ban cho...)
- cung 供: cung cấp, cung ứng, bày ra...
- địa lưu 地留: đất giữ lại, đất chừa lại...
- khuyết hãm 缺陷: nơi nhiều sông hồ hay đất trủng, hầm hố lồi lõm (hãm; hầm hố, hố vưc, hãm hại, vùi lấp, bẫy...)
- hạn 限: giới hạn, phạm vi, ngăn chia...
- Tam Ngô 三吳: vùng đất Giang Nam xưa kia là ba vùng đất nước Ngô của Tôn Quyền thời Tam Quốc là Ngô Hưng 吳興, Ngô Quận 吳郡 và Cối Kê 會稽 (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc -T.H)
- giai hương vọng 皆鄉望: đều (giai) trông ngóng về quê nhà. Đây chỉ đoàn đi sứ của Nguyễn Du và các người đi theo phục dịch nhìn về quê hương..
- thất bá đồ 失霸圖: mất hết cơ đồ và nghiệp bá vương, mất hết giấc mộng làm nên nghiệp bá, tranh giành một vùng đất để làm bá vương một cõi...
- sách : yêu sách, đòi hòi, sách nhiễu, gây khó khăn để đòi hỏi một vấn đề nào đó. Nhiều sách vở lại ghi là Tôn Sách có lẽ nhầm lẫn. Nhân vật họ Tôn trong bài thơ này là Tôn Quyền, Tôn Sách là anh của Tôn Quyền chỉ là người đặt nền tảng cho Tôn Quyền về sau khi chiếm được Giang Đông. Khi Tôn Sách bị Hứa Cống ám sát vào năm 200, Tôn Quyền 孫權(182-252 SCN) mới chỉ 18 tuổi, được lời trối trăng của Tôn Sách trước khi mất giao cho cơ đồ làm lãnh chúa một vùng lớn ở đông nam Trung Hoa. Sau này, Tôn Quyền nhờ sự giúp rập của các cận thần tài giỏi đã cùng Lưu Bị và Tào Tháo chia nhau ba vùng cát cứ tranh giành lẫn nhau ,sử gọi là thời Tam Quốc. Đó là ba nhân vật lịch sử chính của thời bấy giờ!
Về sau, khi thế lực và lãnh thổ mở rộng, ông xưng là Ngô Đại đế 吴大帝 chiếm giữ vùng Tam Ngô! Mặt khác, khi Nguyễn Du dùng chữ “sách” (Tôn sách 孫策) đối trọng với “phân” (Lưu phân 劉分) nối nhau đã cho thấy ý nghĩa đã rõ ràng: Tôn Quyền ra yêu sách đòi hỏi lãnh thổ này nọ, còn Lưu Bị cũng đòi hỏi phân chia đất đai theo thế lực đôi bên....
- thương nhiên 蒼然: màu xanh thẳm mênh mông...
- tẫn bình vu 盡平蕪: hết cả là vùng cỏ hoang vu, bằng phẳng...

Bài 38

VỌNG TƯƠNG SƠN TỰ                                                         望湘山寺

Cổ Phật vô lường Đường thế nhân,                                           古佛無量唐世人,
Tương Sơn tự lý hữu chân thân.                                                湘山寺裡有真身。
Chân thân nhất dạ tẫn viêm hoả,                                                真身㇐夜燼炎火,
Cổ tự thiên niên không mộ vân.                                                 古寺千年空暮雲。
Ngũ Lĩnh phong loan đa khí sắc,                                               五嶺峰巒多氣色,
Toàn Châu thành quách tại phong trần.                                     全州城郭在風塵。
Cô chu giang thượng bằng lan xứ,                                             孤舟江上憑欄處,
Nhất đái tùng sam bán tịch huân.                                               ㇐帶松杉半夕曛。

Dịch nghĩa:

Chư Phật xưa từ thời nhà Đường không tính được! – Bên trong chùa còn nhục thân của bậc cao tăng. – Nhưng nhục thân ấy trong một đêm đã bị lửa thiêu rụi, còn lại tro tàn! – Ngôi chùa xưa ngàn năm ấy chỉ có mây chiều vắng lặng. (c1-4)
Núi non Ngũ Lĩnh vẫn còn nhiều khí tỏa và màu sắc! – Thành quách Toàn Châu vẫn ở trong cơn gió bụi bặm! – Tựa vào lan can của chiếc thuyền lẻ loi, - Một dải tùng sam còn mang nửa ánh chiều tà le lói. (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

NHÌN CHÙA TƯƠNG SAN TỪ XA.

Thời Đường vô lượng Phật xưa,
Nhục thân còn đó trong chùa Tương San.
Nhục thân một tối cháy tàn,
Chùa xưa lặng lẽ mây ngàn đời trôi.
Khí giăng Ngũ Lĩnh sắc vời,
Toàn Châu thành quách gió khơi bụi lồng.
Lan can thuyền tựa trên sông,
Ánh chiều le lói nửa vùng tùng sam.

Chú thích :

Đây là một trong những bài thơ ghi nhận và mô tả cảnh sắc nước Trung Hoa trên đường đi sứ, lại vừa gửi gắm tâm tư của Nguyễn Du. Bài thơ không dừng lại những nỗi niềm riêng tư về cuộc đời của mình. Qua bài thơ, ông đã cho thấy rất rõ nét bản chất của mọi sự đều mang dấu ấn vô thường của muôn vật phù hợp với tinh thần của những lời đức Phật thuyết giảng . Ngôi chùa với pho tượng Phật và nhục thân của bậc cao tăng dù giác ngộ rồi cũng bị cháy tàn,tiêu vong ra tro bụi như Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật mà Tố Như đã đọc trên ngàn lần (xem bài 106/ BHTL- Lương Chiêu Minh thái tử Phân kinh thạch đài) cho thấy : sắc tức thị không, không tức thị sắc...hay Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh... Màu sắc đạo Phật là một trong những tố chất vẫn thường gặp trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du...
- cổ Phật 古佛: đây chỉ pho tượng Phật cổ xưa được thờ tự trong chùa trong đó có Huyền Trang 玄奘 ,vị sư đã vượt ngàn dặm qua Tây Vực và đến Ấn Độ để thỉnh kinh được tôn là bậc giác ngộ chánh quả. Cổ Phật cũng dùng để chỉ các bậc tu hành đã giác ngộ thành chánh quả như đức Phật Thích Ca và các vị Bồ Tát từ thời xa xưa.
- vô lường (lượng): không lường được, không tính hay đếm được. Chỉ công đức dùng giáo pháp để giáo hóa con người rất lớn lao không nói hết được.
- Tương San (Sơn) tự 湘山寺: chùa núi nằm gần Ngũ Lĩnh vùng Quảng Tây 
- chân thân 真身: bậc cao tăng đời nhà Đường khi liễu đạo viên tịch còn gọi là nhục thân 肉身, nghĩa là phần xương thịt thường vẫn giữ được sắc thân tựa như còn sống, không bị tiêu hoại hoàn toàn nên được thờ trong bảo tháp của chùa...
- tẫn viêm hỏa 燼炎火: lửa nóng đã đốt cháy, đã thiêu rụi (viêm hỏa) chỉ còn lại tro tàn (tẫn).
- không mộ vân 空暮雲: mây chiều vắng lặng, trống không. Tuy nhiên chữ “không” ở đây còn mang ý nghĩa về ”tánh không” trong đạo Phật thường gặp trong phái Đại thừa: “Vạn sự giai không 萬事皆空”, muôn việc đều là KHÔNG.
Dĩ nhiên chữ “không” rất rộng nghĩa trong Phật giáo như trong Kinh Kim Cang. Riêng trong bài thơ, Nguyễn Du đã cho chúng ta thấy những biểu tượng tưởng như bất diệt vẫn bị hoại diệt như “chân thân” của bậc cao tăng và ngôi chùa ngàn năm giờ chỉ còn đám mây chiều trống trơ...
- Ngũ Lĩnh 五嶺: giản thể viết: 五岭 (xem bài 35 trên với nghĩa Hành Lĩnh 衡嶺) chỉ năm ngọn núi lớn của Trung Hoa hay còn gọi là Ngũ Nhạc 五 嶾 nằm ở các vùng ranh giới của Hồ Nam, Giang Nam, quảng Đông, Quảng Tây, của nước Trung Hoa gồm Việt Thành Lĩnh 越城岭, Đô Bàng Lĩnh 都庞岭, Manh Chử Lĩnh 萌渚岭, Kỵ Điền Lĩnh 骑田岭 và Đại Dữu Lĩnh 大庾岭. Phía nam các dãy núi này là các vùng Lĩnh Nam 嶺南 xưa kia thuộc các bộ tộc Bách Việt, trong đó có tổ tiên của Âu Việt và Lạc Việt của chúng ta.
- Toàn Châu 全州: vùng gần chùa Tương San, gần Ngũ Lĩnh, nay thuộc Quảng Tây, Trung Hoa. Nguyễn Du đi sứ ngang qua đây vào ngày 18 tháng 7 năm Quý Dậu (1813), trên đường đi tỉnh Trường Sa (Hồ Nam)
- sam 杉: một loại thông như loại tùng hay bách...
- huân 曛: ánh sáng le lói còn lại trong ánh trời chiều. Tịch huân 夕曛: nắng tà dương, nắng quái, nắng le lói lúc trời chiều.

Soạn 2003, Dương Anh Sơn

(Lần đến: THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU -

Tập 3: Bắc Hành Tạp Lục - Bài: 39 ,40 và 41)


Chân Qua Hiên Đời

 


CHÂN QUA HIÊN ĐỜI 
Đỗ Công Luận 

Trân trọng 
NHHN 

Sài Gòn - Tên Gọi Bị Cướp Đoạt Và Khát Vọng Được Trả Lại

 


SÀI GÒN - TÊN GỌI BỊ CƯỚP ĐOẠT VÀ KHÁT VỌNG ĐƯỢC TRẢ LẠI

Hôm nay, ngày 2 tháng 7 năm 2026, chế độ Tô Lâm long trọng tổ chức kỷ niệm 50 năm ngày đổi tên Sài Gòn thành “Thành phố Hồ Chí Minh”. Đây không phải là một sự kiện văn hóa hay lịch sử thuần túy, mà là minh chứng rõ nét cho một hành vi cưỡng chiếm bằng vũ lực và xóa bỏ bản sắc.

Năm 1975, bằng sức mạnh quân sự và sự hậu thuẫn của khối cộng sản quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dùng bạo lực cưỡng đoạt miền Nam Việt Nam. Không dừng lại ở việc chiếm đoạt lãnh thổ, chính quyền mới còn cướp luôn cả cái tên đẹp đẽ, thơ mộng và giàu sức sống nhất của miền Nam: Sài Gòn. Đó là thủ phủ kinh tế, văn hóa, là biểu tượng của một miền Nam tự do, sôi động, từng là nơi hội tụ của tinh thần doanh thương, sáng tạo và khát vọng tự do của người dân miền Nam.

Việc đặt tên thành phố theo Hồ Chí Minh – một nhân vật được coi là tội đồ dân tộc bởi hàng triệu người Việt – chính là hành động xúc phạm sâu sắc nhất. Hồ Chí Minh là người đã mang chủ nghĩa cộng sản độc tài vào Việt Nam, dẫn đến bao nhiêu đau thương, chia cắt, cải tạo, di cư kinh hoàng và nghèo đói kéo dài. Đặt tên một thành phố sầm uất, từng là niềm tự hào của dân tộc, theo tên một kẻ mang lại chế độ áp bức cho toàn dân tộc, đặc biệt là người dân miền Nam, là sự lăng nhục có hệ thống đối với hàng chục triệu người đã và đang sống trong nỗi mất mát ấy qua nhiều thế hệ từ năm 1976 đến nay.

Sài Gòn không chỉ là một cái tên địa lý. Đó là linh hồn của miền Nam, là ký ức của bao thế hệ, là biểu tượng của một nền văn minh đô thị từng rực rỡ. Đổi tên Sài Gòn là hành động xóa sổ bản sắc, là cố gắng ép buộc người dân miền Nam phải quên đi cội nguồn và chấp nhận một ý thức hệ xa lạ.

Lịch sử đã có những bài học tương tự. Khi Liên Xô sụp đổ, người dân Nga đã nhanh chóng trả lại tên cũ cho các thành phố: Leningrad trở lại là St. Petersburg, Stalingrad trở lại là Volgograd… Những cái tên mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa cộng sản, của bạo lực và sùng bái cá nhân, đều bị lịch sử gạt bỏ. Chúng chỉ tồn tại tạm thời trong bóng tối của độc tài.

Cái tên “Thành phố Hồ Chí Minh” cũng sẽ chịu chung số phận ấy. Khi Việt Nam thực sự có tự do, dân chủ, và người dân được quyết định vận mệnh của mình, người dân Sài Gòn sẽ lấy lại tên thành phố của mình – Sài Gòn – như xưa. Đó không chỉ là việc khôi phục một cái tên, mà là khôi phục lại bản sắc, phẩm giá và tinh thần của một vùng đất từng bị chà đạp.

Sài Gòn vẫn sống trong tim người dân miền Nam, dù bị đổi tên trên giấy tờ hành chính. Và một ngày nào đó, khi bóng tối của độc tài tan biến, Sài Gòn sẽ rực rỡ trở lại với chính tên gọi chân thực và thiêng liêng nhất của nó.

Sài Gòn muôn năm!


Đà Lạt Một Thời Để Nhớ

 


ĐÀ LẠT MỘT THỜI ĐỂ NHỚ 
PPSTony

bấm vào hàng chữ màu xanh để xem video rõ nét


Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị thưởng thức 


Chào Mừng Ngày Lập Quốc Hoa Kỳ Thứ 250

 


CHÀO MỪNG NGÀY LẬP QUỐC HOA KỲ THỨ 250
Trần Xuân Thời 

Từ năm 1975, chúng ta đã chứng kiến kỷ niệm 100 (1886-1986) Tượng Nữ Thần Tự Do với “Ánh sáng tự do soi sáng toàn thế giới- La Liberté éclairant le Monde- Liberty enlightening the world”, 200 năm Hiến Pháp Hoa Kỳ (1776- 1996) và năm nay Kỷ Niệm 250 Lập Quốc Hoa Kỳ (1776-2026) là ngaỳ trọng đại của toàn công dân Hoa Kỳ với quan niệm Hoa Kỳ là Quốc gia thống nhất, độc lập, tự do, dân chủ, hạnh phúc. Chúng ta hợp nguyện với lòng thành tri ân Hoa Kỳ đã baỏ trợ và giúp chúng ta cơ hội sống trong chính thể tự do.

“Independence Day, known colloquially as the Fourth of July, is a federal holiday in the United States which commemorates the adoption of the Declaration of Independance on July 4, 1776, establishing the United States of America”.

1- Thành trì của Chủ nghĩa tự do

Hoa Kỳ là một quốc gia mẫu mực thực thi chế độ bảo vệ tự do, dân chủ, nhân quyền và viện trợ kinh tế cho nhiều quốc gia, nhờ đó Hoa Kỳ đã trở thành quốc gia hùng mạnh nhất thế giới. Cơ quan FBI quản lý an ninh quốc nội kiểm soát chặt chẽ mọi hành vi phá rối trị an của CS Quốc tế.

CIA quản lý an ninh quốc tế hoạt động rất hữu hiệu khiến cho Cộng Sản Quốc Tế, dù đã chiếm gần một nửa thế giới, từ sau thế chiến thứ hai, nhưng vẫn thất bại trong mưu toan khuynh đảo thành trì của Thế Giới Tự Do cho đến khi khối CS độc ttài Nga và Đông Âu sụp đổ vào đầu thập niên 1990. Trong các quốc gia tự do dân chủ, công dân được hưởng quyền tự do thiêng liêng do Thượng Đế (natural law) ban cho mà không ai có quyền xâm phạm.

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ năm 1776 đã ghi rõ: “All men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness”. Mọi người sinh ra đều được bình đẳng, thụ hưởng những quyền bất khả xâm phạm do Thượng Đế ban cho, như quyền được sinh sống, quyền tự do và quyền tìm kiếm hạnh phúc… Thấy người mà nghĩ đến ta, trước cảnh quốc phá, gia vong, dân tộc Việt bị phá sản về cả tinh thần lẫn vật chất, tập thể người Việt lưu vong hải ngoại đã và đang cố gắng tái lập tự do do, dân chủ, và sự toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam.

2- Không chấp nhận Chủ Nghĩa Cộng Sản

Hiên tình đất nước đang gặp môt số biến cố nhưng không bằng những biến cố trong quá khứ, nên chúng ta tin tưởng Hoa Kỳ, nơi quê hương thứ hai cùa chúng ta, vẫn là thành trì bất khả xâm phạm của thế giới tự do. Trong suốt 100 năm sau ngày ban hành bản Tuyên Ngôn Cộng sản Quốc Tế (1848–1948), phong trào Cộng Sản Quốc Tế đã bành trướng qua các liên minh (Communist Comintern): Phong trào Đệ nhất (1864–1876), Đệ nhị (1889–1918), Đệ tam (1919–1943) và Đệ tứ Quốc Tế (1938–1953) nhằm lật đổ chính quyền tư bản, lấy giải thoát giai cấp vô sản làm cứu cánh và kỳ vọng đạo binh vô sản thế giới kết hợp để tiêu diệt tư bản vì lịch sử thế giới là lịch sử của giai cấp đấu tranh, biểu tượng là cuộc cách mạng vô sản tháng 10/1917 lật đổ triều đại Nga Hoàng Tsar Nicholas II… Tại Trung hoa, Mao Trạch Đông đã thôn tính Trung hoa lục địa năm 1949 và Tưởng Giới Thạch phải di tản chiến thuật ra đảo Đài Loan.

Trước sự bành trướng nhanh chóng của chủ nghĩa CS quốc tế, Hoa Kỳ đã gia tăng guồng máy an ninh quốc nội và tình báo quốc ngoại, ban hành và tu chính nhiều đạo luật ngăn ngừa phá rối trị an. Từ năm 1798, Hoa Kỳ đã ban hành luật Alien and Sedition Act ngăn ngừa nội loạn, gián điệp, di dân bất hợp pháp, phá rối trị an. Năm 1917, Hoa Kỳ ban hành luật phản gián Espionage Act, đồng thời với cuộc cách mạng vô sản tại Nga sô. Năm 1901, Tổng thống William McKinley bị các phần tử chủ trương vô chính phủ ám sát. Vị Tổng Thống thứ 25 của Hoa Kỳ, đã để lại các nhận xét bất hủ về gương sáng của các vị anh hùng hào kiệt, “In the time of darkest defeat, victory may be nearest… That’s all a man can hope for during his lifetime – to set an example – and when he is dead – to be an inspiration for history”. Ngay trong thời khắc thất bại đen tối nhất, chiến thắng có thể lại đang ở rất gần... Đó là tất cả những gì một người có thể hy vọng trong suốt cuộc đời mình – trở thành một tấm gương – và khi đã khuất – trở thành nguồn cảm hứng cho lịch sử.”

Tiểu bang New York ban hành luật ngăn ngừa tội phạm, ám sát vì lý do chính trị và âm mưu lật đổ chính phủ… Năm 1919 Schenck, đảng viên CS, đã bị kết án chiếu luật Espionage Act 1917 vì sách động thanh niên phản đối chiến tranh và cản trở vấn đề tuyển mộ binh sĩ. Năm 1919 tại Ohio, Debs, một thủ lãnh CS, đã đọc diễn văn trước 1,200 khán giả nhằm sách động chống chiến tranh, xúi dục thanh niên bất tuân lệnh nhập ngũ, đã bị kết án trên 10 năm. Năm 1927 tại California, Whitney, đảng viên CS, bị kết án vi phạm luật Criminal Syndicalism Act, tổ chức phá hoại, dùng bạo lực làm phương tiện lật đổ chính quyền hợp pháp... Năm 1951, chiếu luật Smith Act, 11 lãnh tụ CS đã bị kết án vì chủ trương bạo hành, lật đổ chính phủ…

Tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, Quốc hội đã ban hành luật trừng trị các hành động phá rối trị an, lật đổ chính phủ. Các luật lệ cấp Liên bang cũng như cấp Tiểu bang hiện nay vẫn còn có hiệu lực áp dụng đối với các hành vi phá rối trị an, lợi dụng tự do ngôn luận, tuyên truyền xuyên tạc, sách động quần chúng tạo nguy cơ cho nền an ninh quốc nội.

Hiện nay, vấn đê tranh đấu chính trị, tâm lý chiến chống Chủ nghĩa Cộng Sản độc tài phá hoại nền dân chủ, tự do là hành vi luât định mà Quốc Hội và Tống Thống Hoa Kỳ có nhiệm vụ ban hành Nghi quyết và Tưyên Caó hằng năm cho công dân Hoa Kỳ.

Thượng Viên Hoa Kỳ: Nghi Quyết chống Chủ nghĩa Cộng Sản độc tài năm 2026. Thượng viện Mỹ đã thông qua nhất trí Nghị quyết S.Res. 444 vào ngày 16 tháng 6 năm 2026, nghị quyết lên án Tập Cận Bình, lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc vì “lừa dối, làm suy yếu triển vọng hòa bình và an ninh, và dàn dựng các tội ác chống lại loài người”.

Nội dung chính của Nghị quyết

Nghị quyết:

• Tuyên bố ĐCSTQ là “một tổ chức tội phạm gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với ổn định và hòa bình toàn cầu” .
• Buộc tội đảng với các hành vi lừa dối có hệ thống, gây chiến tranh, và các tội ác chống lại loài người mà ít có tiền lệ trong lịch sử.
• Trích dẫn lao động cưỡng bức, diệt chủng đối với các dân tộc thiểu số (bao gồm người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương), và cưỡng ép xuyên quốc gia.
• Liên kết các hành động của ĐCSTQ với thông tin sai lệch về COVID-19 và cáo buộc che giấu, cho rằng điều này đã góp phần vào hơn 1 triệu ca nhiễm virus corona ở Mỹ. • Nhiều hơn 1 triệu ca tử vong do coronavirus tại Mỹ
• Lên án các hành vi lạm dụng thương mại fentanyl, ghi nhận hơn 70.000 ca tử vong tại Mỹ do quá liều fentanyl mặc dù đã có những cam kết hợp tác trước đó.
• Chỉ trích các hoạt động thương mại không công bằng, thao túng tiền tệ và đánh cắp sở hữu trí tuệ.
• Nhấn mạnh tình trạng an toàn sản phẩm tiêu dùng kém và gây trường ở các khu vực nước ngoàigồm các dự luật về:
• An ninh mạng (Đạo luật Ngăn chặn Công nghệ Gián điệp của ĐCSTQ, Stren An ninh mạng (Đạo luật Chặn Công nghệ Gián điệp của ĐCSTQ, Tăng cường Khả năng Phục hồi Mạng trước các Mối đe dọa do Nhà nước tài trợ)
• Trừng phạt kinh tế (Đạo luật Đồng hồ Bấm giờ Trừng phạt ĐCSTQ, Bảo vệ người Mỹ khỏi các sản phẩm có hại của ĐCSTQ)
• Nhân quyền và minh bạch thương mại (Đạo luật Xác định Tội ác Tây Tạng, Đạo luật Nhãn CLEAR, Đạo luật Toàn vẹn Chuỗi Cung ứng Quốc phòng ……

“Sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết và các nhà nước chư hầu Đông Âu, cùng với sự lu mờ của chủ nghĩa xã hội Trung Quốc hướng theo chủ nghĩa tư bản nhà nước, đã làm tổn thương nghiêm trọng cả lý thuyết và thực tiễn pháp lý của chủ nghĩa Marxism- The collapse of the Soviet Union and it satellite state of Eastern Europe along with the eclipse Chinese socialism by state capitalism has gravely wounded both Marxist legal theory and practice” Raymond Wacks.

3- Văn minh hữu thần.

Chủ nghĩa CS vô thần không công nhận các quyền bất khả xâm phạm và nổi tiếng trên thế giới là chủ nghĩa vi phạm nhân quyền. Vì CS vô thần, không tin con người có đời sau, nên không có tín ngưỡng. CNCS chủ trương con người là sinh vật kinh tế, không có linh hồn, nên sống theo bản năng như các loài cầm thú khác, nên quan niệm tôn giáo là thuốc phiện. CNCS lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện, đã giết hại hằng trăm triệu sinh linh để thỏa mãn thú tính. Ngược lại, các quốc gia tự do quan niệm mọi người sinh ra được hưởng quyền bình đẳng và những quyền thiên nhiên (natural rights) bất khả xâm phạm được Tạo hóa ban cho nhân loại. Một trong những đặc điểm của Văn Minh Tây Phương là chủ trương hữu thần quảng bá và tôn trọng nhân quyền, nhân phẩm, nhân vị của con người. Mọi người được bình đẳng, được tạo dựng theo hình ảnh của Tạo hoá. Con người linh hơn vạn vật con người được tạo dựng với các năng lực:

(1) Trí tuệ (intellect) để thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo;
(2) Lý trí (reason) để suy xét, phân biệt phải trái, thiện ác;
(3) Ý chí (will) để quyết tâm thực hiện điều mình mong ước hay lý tưởng của mình và
(4) Tự do (freedom) để hành động theo lương tri.

Tổng Thống thứ 30 (1923-1929) của Hoa Kỳ Calvin Coolidge quan niệm chì khi naò con người bắt đầu thờ phượng khi đó con người mới trưởng thành. Phát biểu của Calvin Coolidge, "Only when men begin to worship that they begin to grow” dù trông cậy vào tôn giáo hữu thần, tâm linh hay hướng đến các lý tưởng cao cả, cảm nghiệm này vẫn đóng vai trò như một chất xúc tác cho sự phát triển cá nhân. Thờ phượng không chỉ đơn thuần là một nghi lễ; đó là sự tham gia tích cực, khuyến khích suy ngẫm, khiêm tốn và nhận thức về những thế lực vượt ra ngoài bản thân, từ đó thúc đẩy sự phát triển về mặt đạo đức, trí tuệ và tâm linh. Theo Coolidge, thờ phượng giúp con người vượt qua giới hạn của mình và nuôi dưỡng những đức tính như khiêm
nhường, khôn ngoan, chính trực và lòng từ bi. Bằng cách công nhận một quyền lực hay lý tưởng cao hơn, con người có được một khuôn khổ để tự cải thiện, điều này có thể dẫn đến kỷ luật cao hơn, mục tiêu rõ ràng hơn và hành vi đạo đức hơn những kẻ chủ trương vô đạo thường dễ mất lòng tin trước biến đổi vô thường của trần thế.. Về ý nghĩa xã hội Coolidge cũng cho rằng thờ phượng có tác động xã hội rộng lớn hơn. Khi các công dân cùng nhau nhận ra điều gì đó lớn hơn bản thân, sự cảm nghiệm này thúc đẩy sự hòa hợp xã hội, lòng biết ơn và sự thống nhất, góp phần vào sự phát triển đạo đức và văn hóa của một cộng đồng hoặc quốc gia.“

Quan niệm về quyền bất khả xâm phạm thiên nhiên do Tạo hóa ban cho nhân loại đã và đang ảnh hưởng đến tâm lý chính trị, tư duy và hành động, của nhân dân hữu thần trên thế giới và các triết thuyết chính trị của các quốc gia dân chủ Tây phương. Bảo vệ tự do, dân chủ, nhân quyền là căn bản, là nền móng, là những hạt giống cưu mang mầm mống của các cuộc cách mạng tại Mỹ (1776), tại Pháp (1789) trong thế kỷ thứ 18. Ý niệm giải phóng nô lệ phát xuất từ Anh Quốc năm 1833 và sau đó được khai triển tại Mỹ gây nên cuộc nội chiến 1861–1865 trong thế kỷ thứ 19.

3- Sứ mênh bảo vệ nhân quyền

Vấn đề thực thi sứ mệnh bảo vệ quyền tự do thiên nhiên (Natural Rights) do Tạo Hóa ban cho nhân loại đã và đang là nguyên động lực điều hướng chính sách đối nội, đối ngoại của Hoa Kỳ.

A- Đối nội:

Một trong những nguyên nhân chính của cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ (1861–1865) là để bảo vệ nhân quyền, công bình xã hội (social justice), giải phóng chế độ nô lệ, vì chế độ nô lệ không phù hợp với Thiên lý, phản bội lý tưởng tự do. “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong”. Hoa Kỳ đã trả một giá rất đắt, đã hy sinh 618,000 nhân mạng trong cuộc nội chiến Nam–Bắc phân tranh và cả sinh mạng của vị Tổng Thống Cộng Hòa khả kính Abraham Lincoln. Tổng Thống Công Hoà Lincoln, người quyết tâm giải phóng chế độ nô lệ để cải tiến xã hội hay “chuộc tội bằng máu của hơn 618,000 quân sĩ để đổi lấy sự tự do cho nhóm sắc tộc thiếu số bị bức hại”.

Tại Hoa Kỳ, quyền con người phần lớn được bảo đảm bởi Hiến pháp, đặc biệt là Bill of Rights - Tuyên ngôn Nhân quyền- mười tu chính án đầu tiên của bản Hiến Pháp, văn bản bảo đảm các quyền tự do như ngôn luận, tôn giáo và quy trình pháp lý công bằng, cùng các tu chính án sau này như Tu chính án thứ 13 (1865) và 14 (1886) lần lượt bãi bỏ chế độ nô lệ và bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật. Phong trào hỗ trợ quyền công dân (giai đoạn 1865–1896) nhằm mục đích xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc đối với người Mỹ gốc Phi, cải thiện cơ hội giáo dục và việc làm, cũng như thiết lập quyền bầu cử cho họ ngay sau khi chế độ nô lệ bị bãi bỏ tại Hoa Kỳ do Đảng Công Hoà hỗ trợ sau nội chiến. Giai đoạn này đã chứng kiến ​​những thay đổi to lớn đối với cộng đồng người da đen sau khi chế độ nô lệ chấm dứt ở miền Nam.

Ngay sau Nội chiến Hoa Kỳ, chính quyền liên bang đã triển khai một chương trình mang tên "Tái thiết" (Reconstruction) nhằm khôi phục các bang thuộc Liên minh miền Nam cũ. Các chương trình liên bang này cũng cung cấp sự hỗ trợ cho những người từng là nô lệ và nỗ lực đưa họ hòa nhập vào xã hội với tư cách là công dân. Sau giai đoạn này, người da đen đã đạt được đáng kể quyền lực chính trị, và nhiều người trong số họ đã vươn lên từ cảnh nghèo khó cùng cực để trở thành những người sở hữu đất đai. Tuy nhiên, các phần tử bất mãn trước những thành quả này đã dẫn đến một chiến dịch bạo lực chưa từng có tiền lệ do các chi nhánh địa phương của tổ chức Ku Klux Klan thực hiện; đến thập niên 1870, bạo lực còn được tiến hành bởi các nhóm bán quân sự. Các đạo luật Jim Crow là những quy định cấp tiểu bang và địa phương tại miền Nam Hoa Kỳ, nhằm thực thi chính sách phân biệt chủng tộc và thể chế hóa sự kỳ thị đối với người Mỹ gốc Phi từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20. Các đạo luật Jim Crow xuất hiện sau khi thời kỳ Tái thiết (Reconstruction) kết thúc vào năm 1877. Các đạo luật này bắt buộc thực hiện sự phân biệt đối xử tại các cơ sở công cộng, bao gồm trường học, phương tiện giao thông, công viên, rạp hát, nhà hàng và nghĩa trang.

Án L ệ:

(1)-Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã công nhận tính hợp hiến của sự phân biệt chủng tộc trong vụ kiện “Plessy v. Ferguson”, 163 U.S 537(1896) thiết lập học thuyết "riêng biệt nhưng bình đẳng" (separate but equal); tuy nhiên, trên thực tế, học thuyết này dẫn đến việc người Mỹ gốc Phi phải sử dụng các cơ sở vật chất kém chất lượng hơn. (2)-Tình trạng kỳ thị kéo dài hơn nửa thế kỷ từ 1877 đến 1954. Phán quyết trong vụ “Brown v. Board of Education” 347 U. S483 (1954), tuyên bố việc phân biệt chủng tộc tại trường học do tiểu bang tổ chức là vi hiến –bải bỏ các đạo luât Jim Crow đã do nhóm dân biểu và thượng nghị sĩ Dân chủ chủ xướng.

“Brown v. Board of Education of Topeka, 347 U.S. 483 (1954), [1]  is a landmark decision of the United States Supreme Court that ruled that U.S. state laws establishing racial segregation in public schools violate the Equal Protection Clause of the Fourteenth Amendment, even if the segregated facilities are equal in quality. The decision partially overruled the Court 1896 decision Plessy v. Ferguson, [a]  which had ruled that racial segregation laws were constitutional as long as the facilities for each race were equal, a doctrine that had come to be known as "separate but equat". The Court's unanimous decision in Brown and its related cases paved the way for integration and was a major victory of the civil rights movement.

Brown kiện Hội đồng Giáo dục Topeka, 347 U.S. 483 (1954), là một quyết định quan trọng của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, phán quyết rằng các luật liên bang tại Mỹ thiết lập phân biệt chủng tộc trong các trường công lập vi phạm Điều khoản Bảo vệ Bình đẳng của Tu chính án thứ mười bốn, ngay cả khi các cơ sở phân biệt này có chất lượng ngang nhau. Quyết định này phần nào đã lật lại phán quyết năm 1896 của Tòa án trong Plessy kiện Ferguson, vốn đã phán rằng các luật phân biệt chủng tộc là hợp hiến miễn là các cơ sở cho mỗi chủng tộc là bằng nhau, một học thuyết được biết đến với tên gọi "tách riêng nhưng bình đẳng". Quyết định nhất trí của Tòa trong vụ Brown và các vụ liên quan đã mở đường cho việc hòa nhập và là một chiến thắng lớn của phong trào dân quyền”.

Sở dĩ có tình trạng này vì với “quyết tâm giành lại quyền lực, các đảng viên Dân chủ da trắng đã phát động một chiến dịch dựa trên tư tưởng thượng đẳng da trắng và nỗi lo sợ về sự lai tạp chủng tộc. Chiến dịch tranh cử mang tư tưởng thượng đẳng da trắng năm 1898 đã thành công, giúp đảng Dân chủ giành lại quyền kiểm soát cơ quan lập pháp tiểu bang. Tuy nhiên, Wilmington – thành phố lớn nhất và có đa số cư dân là người da đen – lại bầu ra một chính quyền liên minh đa chủng tộc, với thị trưởng là người da trắng và hai phần ba số thành viên hội đồng thành phố cũng là người da trắng. Đảng Dân chủ đã lên kế hoạch lật đổ chính quyền này nếu họ thất bại trong cuộc bầu cử tại đây, và sau đó họ đã tiến hành cuộc nổi dậy Wilmington.năm 1898. Đảng Dân chủ đã đuổi người Da đen và các quan chức Fusionist ra khỏi thành phố, tấn công tờ báo duy nhất của người Da đen trong bang; các đám đông tấn công các khu vực người Da đen trong thành phố, giết và làm bị thương nhiều người, đồng thời phá hủy nhà cửa và doanh nghiệp đã xây dựng từ sau chiến tranh. Ước tính có khoảng 2.100 người Da đen rời thành phố vĩnh viễn, khiến thành phố trở thành nơi đa số là người da trắng. Không có cuộc nổi loạn nào khác xảy ra ở các bang miền Nam đã từng có liên minh Black-Populist thành công ở cấp bang. Năm 1899, cơ quan lập pháp Bắc Carolina do đảng Dân chủ da trắng chiếm đa số đã thông qua một tu chính án bỏ phiếu, tước quyền bầu cử của hầu hết người Da đen. Họ hầu như không lấy lại được quyền bầu cử cho đến sau khi Đạo luật Quyền Bầu cử liên bang- Voting Rights Act- năm 1965 được thông qua.”

“Determined to regain power, white Democrats mounted a campaign based on white supremacy and fears about miscegenation. The white supremacy election campaign of 1898 was successful, and Democrats regained control of the state legislature. But Wilmington, the largest city and one with a Black majority, elected a biracial Fusionist government, with a white mayor and two-thirds of the city council being whites. Democrats had already planned to overthrow the government if they lost the election here and proceeded with the Wilmington Insurrection of 1898. The Democrats ran Black people and Fusionist officials out of town, attacking the only Black newspaper in the state; white mobs attacked Black areas of the city, killing and injuring many, and destroying homes and businesses built up since the war. [26]  An estimated 2100 Black people left the city permanently, leaving it a white-majority city. There were no further insurgencies in any Southern states that had a successful Black-Populist coalition at the state level. In 1899, the white Democratic-dominated North Carolina legislature passed a suffrage amendment disenfranchising most Black people. They would largely not recover the power to vote until after passage of the federal Voting Rights Act of 1965.- “

Ngoài Hiến pháp, quyền con người còn được củng cố thông qua các đạo luật liên bang như Đạo luật Quyền Dân sự năm 1964- cấm phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính hoặc nguồn gốc quốc gia và Đạo luật Người khuyết tật Hoa Kỳ The Americans with Disabilities Act (ADA) năm 1990 -bảo vệ người khuyết tật khỏi sự phân biệt đối xử trong việc làm, các chương trình công và các lĩnh vực khác. Luật pháp của các tiểu bang cũng cung cấp thêm các biện pháp bảo vệ, thường là phản ánh hoặc mở rộng các quyền đã được quy định ở cấp liên bang….

B- Đối ngoại:

Hoa kỳ đã tham chiến chống Đức Quốc Xã và Phát-xít Nhật trong đệ nhị thế chiến (1939–1945) tại ba mặt trận Âu, Á. Phi. Hoa Kỳ đã hy sinh hơn 500,000 quân sĩ. Giả sử Hoa Kỳ không tham chiến thì Âu Châu, Phi Châu đã bị Đức Quốc Xã xâm lăng. Á Châu và ngay cả Úc Châu cũng bị Phát-xít Nhật đe doạ chiếm đóng thì vận mệnh của các dân tộc liên hệ tang thương như thế nào! Nếu không có Hoa kỳ đánh bại Nhật Bản thì Trung hoa chẳng những đã hy sinh 14 triệu người mà còn phải hy sinh nhiều sinh mạng hơn nữa và nhất là Âu Châu, Á Châu, Phi Châu, cả Úc Châu cũng không biết bao giờ mới thoát khỏi ách độc tài đảng trị của Đức và Nhật. Trong cuộc chiến chống sự bành trướng của CS Quốc Tế tại Việt Nam, Hoa Kỳ cũng hy sinh 58,267 nhân mạng trong số đó có 7 vị tướng lãnh.

Tất cả hy sinh mà Hoa Kỳ gánh chịu, không phải để xâm lăng, chiếm đất, giành dân, mà đã thể hiện ý chí bất khuất trong chủ trương “bảo vệ chính nghĩa tự do” cho nhân loại chống kẻ xâm lăng, đúng với triết lý nhân sinh của một quốc gia quyết tâm ra tay nghĩa hiệp: “Nếu người tốt không ra tay nghĩa hiệp thì kẻ gian tà chiến thắng – The only thing necessary for the triumph of evil is for good men to do nothing.” (Edmund Burke).

Hơn 125,000 quân nhân anh dũng, binh sĩ và tướng lãnh Hoa Kỳ, đã “sống gửi nạc, thác gởi xương” tại các nghĩa trang Âu, Á, nơi mà họ đã hy sinh để giành lại chủ quyền cho các quốc gia lâm chiến như Anh, Pháp, Phi và các nước khác tại Âu châu, Á châu… Hàng năm, đến ngày kỷ niệm Đệ Nhị Thế Chiến, dân chúng các quốc gia này đã đem vòng hoa ra tảo mộ, tri ân các chiến sĩ Hoa kỳ đã hy sinh mạng sống để giải phóng dân tộc họ. Đó là bằng chứng hùng hồn của sự hy
sinh vì Chính nghĩa, vì lý tưởng tự do mà thế giới CS không bao giờ có.

Ngoài vấn đề hy sinh nhân mạng, nhân dân Hoa Kỳ, sau thế chiến đã viện trợ hằng ngàn triệu Mỹ Kim để tái thiết Âu Châu và Nhật Bản. Hoa kỳ đã lột xác Nhật Bản từ chế độ quân trị, kiêu binh lạc hậu sang chế độ tự do dân chủ, bằng cách cung cấp thực phẩm, kỹ thuật, nhân tài vật lực để tái thiết quốc gia Nhật về mọi khía cạnh nhân sinh văn hoá, giáo dục, kinh tế, xã hội, chính trị. Nhờ thế, Nhật Bản đã trỗi dậy nhanh chóng sau cơn binh biến và ngày nay đã trở thành một quốc gia hùng mạnh ngang hàng với các nước tiên tiến Tây phương. Nhật Bản tuy bại trận, nhưng luôn biết ơn Hoa Kỳ, đã từng vinh danh Tướng MacArthur vào danh sách phong thần, một trong 12 ân nhân của dân tộc Nhật.

Phải chăng tinh thần cố hữu của nhân nhân Hoa Kỳ vẫn là tinh thần “ Cách duy nhất an toàn và chắc chắn để tiêu diệt kẻ thù là biến chúng thành bạn bè của mình” (Sigismund, Hoàng đế La Mã Thần thánh (1437)) “The only safe and sure way to destroy your enemy is to make them your friends” “Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn. Đem chí nhân thay cuờng bạo”. (Bình Ngô Đại Cáo-Nguyễn Trải 1428).

Hoa Kỳ hành động dưới ngọn cờ chính nghĩa chứ không phải như CS Hà Nội xâm lăng qua chiêu bài giải phóng để áp đặt chế độ độc tài đảng trị, dâng đất, nhượng biển cho Tàu Cộng mà tổ tiên đã hy sinh xương máu gầy dựng qua hàng ngàn năm lịch sử từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau

Năm 1975. Cộng Sản Bắc Việt đã vi phạm Hòa Ước Ba Lê và xâm lăng miền Nam Việt Nam nên Hoa Kỳ không viện trợ tái thiết. Cộng sản Bắc Việt, quá lạc hậu và dã man, đã trả thù Miền Nam, một cách vô nhân dạo và phi lý, bắt giam hằng triệu dân, quân, cán, chính Miền Nam. Hàng chục ngàn người đã chết trong ngục tù CS vì bị tra tấn, đói khát và bệnh tật do chế độ lao tù bất nhân của CS. Hơn nửa triệu người đã chết thảm trên biển cả hay vùi thây bên góc rừng, xó núi,trên đường vượt thoát tìm tự do. Cuộc chiến do CS Miền Bắc phát động đã gây nên cuộc chiến tương tàn làm cho 5 triệu người Việt vô tội bị vong mạng.

Chiến tranh baọ lực (armed conflict) chống Cộng sản tạm ngưng phần vì hiên nay tại các quốc gia nơi chúng ta đang cư ngụ chúng ta không đủ ngân sách đài thọ cho một cuôc chiến quân sự.

Giai đoạn thuận tiện từ 1975-1995 đã qua khi Hoa Kỳ chưa thiết lập liên lạc ngoai giao với CSVN, đã có nhiều lực lượng xuất hiện, thể hiện tinh thần bất khuất của người Viêt cao quý.

Hiện nay, giải pháp quân sự có phần khó khăn bởi tình trạng bang gia quốc tế thay đổi.

. Ví dụ luật Trung lập hay Không Can Thiệp liên ban Hoa Kỳ không cho phép công dân Hoa kỳ xung đột vũ trang với các quốc gia có thiết lập bang giao với Hoa Kỳ. -The federal Neutrality Act, which bars Americans from taking military action against countries that have peaceful relations with the U.S- - Bô Luât này được ban hành từ năm 1935 và đươc tu chính nhiéu lần tuỳ hoàn cảnh Hoa kỳ hoà hay chiến với các quốc gia trên thế giới. Tuy vây, vấn đề tranh đấu chính trị, tâm lý chiến chống sự bành trướng của Chủ nghĩa Cộng Sản độc tài phá hoại nền dân chủ, tự do là hành vi luât định mà Quốc Hội và Tống Thống Hoa Kỳ có nhiệm vụ ban hành Nghi quyết và Tuyên Caó chống chủ nghĩa Cộng sản hằng năm cho công dân Hoa Kỳ để nuôi đưỡng tinh thần chống Cộng là quốc sách của Hoa Kỳ.

Nếu chúng ta xét qua thực chất hoạt động của đảng CSVN từ năm 1945 đến nay, chúng ta thấy rõ CSVN chỉ hứa suông mà không bao giờ có thành ý thực hiện những điều hứa hẹn. Edmund Burke rất hữu lý khi nhận xét về những hứa hẹn hão huyền của các chính quyền độc tài: Lời hứa không mất tiền mua “Hypocrisy can afford to be magnificent in its promises; for never intending to go beyond promises, it cost nothing”.

Cuôc chiến vũ khí tạm ngưng, nhưng hơn 5 thập niên trôi qua, nhiều vị anh hùng, liệt sĩ, đã ngày quên ăn đêm quên ngủ, hy sinh nhân tài, vật lực trong công tác tranh đấu cho tương lai của tổ quốc dưới hình thức cuộc chiến “ Nhân Quyền” “-The armed conflict is over but the war on human rights is not over yet- Cuôc chiến vũ khí tạm ngưng nhưng cuộc chiến nhân quyền chưa hoàn tất”. Dù lực bất tòng tâm, nhưng điều quan trọng là sự nỗ lực nuôi dưỡng ý chí bất khuất vì quốc gia, dân tộc. Đó là chủ trương của Chính Phủ Pháp Định Việt Nam Công Hoà đã và đang phát động để tái lập tự do dân chủ cho Viêt Nam, đặt căn bản trên thiện chí tôn trọng các nguyên tắc bang giao quốc tế và các quy định luât pháp quốc tế thể hiện qua các văn kiện:

“(1)-Hiệp Định Chấm Dứt Chiến Tranh và Tái Lập Hòa Bình cho Việt-Nam (Agreement on Ending War and Restoring Peace to Vietnam) được ký kết vào ngày 27 tháng 1, 1973.
Điều 9(b) Hiệp Định Ba Lê ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 đã quy định: “The South Vietnam shall decide themselves the political future of South Vietnam through genuinely free and democratic general elections under the international supervision – Miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định thể chế chính trị cho tương lai Miền Nam Việt Nam bằng các cuộc bầu cử thực sự tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế”.
(2) Định Ước của Hội Nghị Quốc Tế về Việt-Nam 1973. Điều khoản 7(b) trong Định Ước này qui định:
Hội nghị quốc tế về Việt Nam sẽ được tái lập theo yêu cầu chung của Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Dân chủ Cộng hòa Việt Nam thay mặt cho các bên ký kết Hiệp định, hoặc theo yêu cầu của sáu (6) hoặc nhiều hơn các bên của Đạo Luật này.

Như vậy, Hội nghị Quốc tế về Việt-Nam sẽ được tái nhóm nếu có 1 trong 2 điều kiện sau: 

 Hoa Kỳ và Chính phủ Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt-Nam đồng ý tái nhóm Hội Nghị, hoặc
 Sáu hay nhiều hơn trong số 12 chính phủ đã ký kết Định Ước yêu cầu tái nhóm Hội Nghị. 

(3)- Đạo Luật 93-559, do Quốc Hội Hoa-Kỳ ban hành ngày 30 tháng 12 năm 1974, qui định việc “Tái họp Hiệp định Paris để thi hành đầy đủ các điều khoản đã ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973 cho mọi phe nhóm có mâu thuẫn ở Việt Nam”. Theo chúng tôi được biết thì Đạo Luật 93-559 này chưa được thu hồi, và vì vậy vẫn còn hiệu lực. 

Như vậy, chúng ta có 2 văn kiện để cho thấy việc triệu tập Hội Nghị Quốc Tế về Biển Đông có căn bản pháp lý:

Định ước Quốc tế của Hội Nghị Paris 1973 qui định rõ việc triệu tập Hội Nghị để giải quyết những trường hợp vi phạm điều khoản của Hiệp Định Paris, trong đó có việc đe dọa hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất hoặc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, hoặc quyền của người dân miền Nam tự quyết.

 Đạo luật 93-559 do Quốc Hội Hoa-Kỳ ban hành, qui định việc “Tái họp Hiệp định Paris để thi hành đầy đủ các điều khoản đã ký kết”, mà đến nay Hoa-Kỳ chưa thực hiện.”

Làm chính trị cần sự dấn thân, can đảm, bền chí, nhẫn nhục… có khi hy sinh cả cuộc đời, không vì tư lợi mà vì Tổ Quốc-Danh Dự- Trách Nhiệm.  Người có tâm huyết làm chính trị chỉ vì muốn thực hiện một sứ mệnh cao cả, không nề gian khổ, nếm mật nằm gai, noi gương Việt Vương Câu Tiễn, quyết chí xây dựng quốc gia dân tộc, như lời thơ diễn tả của Đằng Phương:

“Họ là những anh hùng không tên tuổi,
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông,
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh,
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.” 

Chung quy, con người thường hành động theo tư tưởng của mình qua các thế hệ. Tư tưởng thu nhận từ xã hội, học đường, bạn bè, nghề nghiệp… kết tinh thành trạng thái tâm lý, gọi chung là tâm lý quần chúng. Trong bất cứ xã hội nào, thường một thiểu số chấp nhận một thái độ, một lập trường và dùng lập trường đó như kim chỉ nam hướng dẫn hành động. Từ đó một thiểu số tranh đấu cho lý tưởng của họ, nếu thắng thế, được quần chúng hưỏng ứng nhờ chính sách ích quốc lợi dân, họ sẽ trở thành cấp lãnh đạo. Lãnh đạo vì dân vì nước là phước của quốc gia. Lãnh đạo vì xôi thịt là quốc nạn.

Thế thì không nên hờ hững với chính trị. Một mặt sinh hoạt chính trị “nhằm sửa trị sự việc cho
chính trực”. Mặt khác nếu mình không tỏ rõ lập trường, tà đạo lên nắm quyền thì chính mình sẽ
là nạn nhân của thời cuộc. Nhận xét này là kim chỉ nam hướng dẫn hành động của đồng bào quốc nội yêu chuộng tự do và quý vi đồng hương hải ngoại trong công tác kiện toàn cơ cấu tổ chức các đoàn thể ái hữu, tôn giáo, cộng đồng địa phương, tiểu bang, liên bang, quốc tế để xây dựng đời sống mới, hầu hỗ trợ cho đại nghiệp cứu quốc chóng được viên thành. 

Nếu vai trò của các đoàn thể, cộng đồng, chính đảng, chính phủ là để hoằng dương chủ trương, đường lối chính trị vương đạo để mời gọi sự hợp tác của quần chúng trong công cuộc xây dựng tự do, dân chủ và thịnh vượng cho quốc gia, dân tộc, thì mọi công dân cao quý phải sáng suốt tự chọn lấy lập trường bảo vệ chính nghĩa cho chính mình vậy.

Trần Xuân Thời

Văn dĩ tải đạo- Thuật nhi bất tác- Tri hành hợp nhất.