Thứ Tư, 22 tháng 7, 2026

Sóng Trào Khóe Mi

 


SÓNG TRÀO KHÓE MI 
Đỗ Công Luận 

Trân trọng 
NHHN 

90 Miles To Cuba

 


90 MILES TO CUBA
Trương Hữu Hiền 

Trương Hữu Hiền, sinh năm 1958, quê quán Quảng Nam. Năm 1980, vượt biển và được tàu cứu vớt đưa đến trại tị nạn Okinawa, Nhật Bản. Từ 1983 đến 2000 sống ở Tokyo. Năm 2000 cùng gia đình chuyển sang sống ở Boston, Massachusetts (Hoa Kỳ). Hiện làm việc tại trung tâm phục hồi chức năng cho người bị chấn thương não. Tác giả tham dự chương trình VVNM từ tháng 12/2025. Từ câu chuyện về người di dân gốc Cuba luôn hướng về quê hương, tác giả đã bộc lộ những suy tư chân thành về tâm trạng chung của người di dân phải rời xa xứ sở của mình, chấp nhận mọi gian truân, để tìm đến tự do.

Key West, Florida. Chiếc xe buýt du lịch thong thả lăn bánh trên những con đường rợp nắng của Key West. Tôi loay hoay giơ điện thoại định tự chụp một tấm hình kỷ niệm cho hai vợ chồng thì người đàn ông ngồi ở hàng ghế phía trước quay lại, mỉm cười đưa tay xin giúp. 

Ông nâng chiếc điện thoại lên, chụp liên tiếp vài kiểu rồi cẩn thận xem lại từng tấm trước khi trả cho tôi. Cái cách ông chăm chút cho những bức ảnh của một người xa lạ khiến tôi có thiện cảm ngay từ phút đầu. Tôi nhìn màn hình, vui vẻ nói: 

- Đẹp quá! Cảm ơn ông nhiều. 

Ông mỉm cười. 

- Ông bà đến từ đâu? 

Tôi khựng lại đôi chút. Đó là một câu hỏi mà những người rời bỏ quê hương đôi khi không biết nên trả lời thế nào. Là nơi mình đang sống, hay nơi mình đã sinh ra?

Tôi chọn quê hương. 

- Chúng tôi đến từ Việt Nam. 

Ông gật đầu. 

- Còn tôi đến từ Cuba. 

Chúng tôi bắt đầu câu chuyện như thế. Ông kể, hơn ba mươi năm trước, ông đặt chân đến nước Mỹ cũng từ chính thành phố này. 

- Mỗi lần có dịp, tôi lại quay về Key West vài ngày. 

- Để du lịch? 

Ông lắc đầu. 

- Không hẳn. Tôi chỉ muốn đứng ở đây và nhìn về phía quê nhà. 

Ông nói câu ấy rất nhẹ, như thể đang nhắc đến một điều đã quen thuộc từ lâu. Tôi hỏi: 

- Ông là người tị nạn? 

Ông gật đầu. 

- Vâng. Tôi đến đây bằng đường biển. 

Tôi đưa tay ra. 

- Chúng tôi cũng vậy. 

Ông siết chặt bàn tay tôi. Không ai nói thêm điều gì. Có những người quen nhau cả đời vẫn còn xa lạ. Nhưng cũng có những con người chỉ cần biết nhau đã từng lên một con thuyền là đủ để hiểu rất nhiều điều. 

Xe dừng ở Southernmost Point. Người đàn ông Cuba đứng dậy. Trước khi xuống xe, ông quay lại bắt tay từ biệt. Tôi nhìn theo bóng ông đi về phía cột mốc lớn sơn ba màu đỏ, đen và vàng. Trên đó chỉ có một dòng chữ giản dị: “90 Miles to Cuba.” 

Chín mươi dặm. Nếu đi bằng xe hơi ở đất liền, đó chỉ là một quãng đường ngắn. Nhưng giữa biển khơi, chín mươi dặm có thể là ranh giới giữa ở lại và ra đi, giữa tuyệt vọng và hy vọng, giữa một cuộc đời cũ và một cuộc đời mới. Xa hơn một chút là những chiếc ống nhòm hướng thẳng ra biển. 

Tôi đoán ông sẽ đứng ở đó. Có lẽ ông không nhìn thấy ngôi nhà cũ của mình. Có lẽ cũng chẳng nhìn thấy gì ngoài một đường chân trời xanh thẳm. Nhưng chỉ cần biết phía sau đường chân trời ấy là quê hương, có lẽ cũng đã đủ. 

Xe buýt tiếp tục lăn bánh. Tôi vẫn ngồi yên. Tôi không định xuống ở bất cứ trạm nào. Quê hương tôi ở phía bên kia Thái Bình Dương. Không có chiếc ống nhòm nào đủ xa để nhìn thấy. 

Chiều hôm ấy, tôi chợt nghĩ đến một con tàu khác. Con tàu Mayflower. Hơn bốn trăm năm trước, nó cũng chở những con người rời bỏ quê hương để đi tìm một nơi họ có thể sống theo điều mình tin tưởng. Họ không biết phía trước sẽ là gì. Họ chỉ biết nếu ở lại, cuộc đời sẽ không còn là của mình nữa. Mùa đông đầu tiên trên vùng đất mới đã cướp đi hơn một nửa sinh mạng của họ. Tự do chưa bao giờ đến mà không phải trả giá. 

Bốn thế kỷ sau, những con tàu đã khác. Có chiếc là bè gỗ lênh đênh trên eo biển Florida. Có chiếc là ghe đánh cá nhỏ bé trên Biển Đông. Có chiếc chỉ là một vỏ tàu cũ kỹ chở đầy hy vọng. 

Biển khác nhau. Ngôn ngữ khác nhau. Màu da khác nhau. Nhưng trong mỗi chuyến đi đều có chung một hành trang. Đó là niềm tin rằng ở phía bên kia chân trời sẽ có một cuộc sống đáng để đánh đổi. Có lẽ vì thế mà nước Mỹ giống như nơi gặp nhau của những cuộc hành trình. 

Ở đây, một người Cuba và một người Việt có thể nhận ra nhau chỉ sau vài câu chuyện. Không phải vì họ đến từ cùng một đất nước. Mà vì họ từng đi qua cùng một nỗi sợ. 

Ngày Quốc khánh Hoa Kỳ năm nào cũng có pháo hoa. Người ta ngước nhìn bầu trời rực sáng. Còn tôi lại nhớ đến những con tàu. Con tàu Mayflower. Những chiếc bè của người Cuba. Những con thuyền nhỏ của người Việt. 

Tôi chợt nghĩ, có lẽ lịch sử của nước Mỹ không chỉ được viết bằng những bản tuyên ngôn hay những trận chiến. Nó còn được viết bằng bước chân của hàng triệu con người từ khắp nơi trên thế giới, những người đã mang theo ước mơ bắt đầu lại cuộc đời trên vùng đất này. 

Nhưng những cuộc hành trình ấy chưa bao giờ chấm dứt. Ngày nay vẫn có những con người lên đường bằng những phương tiện mong manh nhất. Có người vượt biển. Có người vượt sa mạc. Có người trốn trong những thùng xe container. Mỗi lần đọc một bản tin như thế, tôi luôn tự hỏi điều gì khiến một con người dám đánh đổi tất cả. Có lẽ, chỉ những ai đã đi đến bước đường cùng mới hiểu được câu trả lời. 

Tôi nhớ đến cô gái trẻ người Việt trong chiếc xe đông lạnh trên đường sang Anh.

Tin nhắn cuối cùng gửi mẹ chỉ vỏn vẹn mấy chữ: "Mẹ ơi... con không thở được..." Tôi đọc đi đọc lại. Rồi lặng người. Có những câu nói ngắn đến mức không còn chỗ cho văn chương. 

Đã nhiều năm trôi qua kể từ buổi sáng ở Key West. Tôi không còn nhớ rõ hôm ấy trời xanh đến mức nào. Cũng không nhớ chuyến xe buýt đã đi qua bao nhiêu con đường. Nhưng tôi vẫn nhớ rất rõ cái bắt tay của người đàn ông Cuba. Một cái bắt tay của hai người xa lạ. Một cái bắt tay không cần giải thích. Bởi có những điều chỉ những người đã từng rời bỏ quê hương mới thật sự hiểu được. 

Sau này, mỗi lần nhìn thấy hình ảnh cột mốc “90 Miles to Cuba”, tôi không còn nghĩ đến khoảng cách chín mươi dặm. Tôi nghĩ đến quãng đường từ sợ hãi đến hy vọng. Từ mất mát đến bình yên. Từ một nơi con người không thể lựa chọn cuộc đời mình đến một nơi họ có quyền bắt đầu lại. 

Khoảng cách ấy không thể đo bằng hải lý. Nó được đo bằng những đêm lênh đênh trên biển. Bằng những người đã nằm lại giữa sóng nước. Bằng những giọt nước mắt của những gia đình chưa bao giờ được đoàn tụ. 

Có những giá trị chỉ thật sự được hiểu khi người ta đã từng mất đi. Tự do là một trong những giá trị như thế.  

Boston, ngày 2 tháng Bảy năm 2026

Trương Hữu Hiền


Watch "Chính Phủ TT Trump Phơi Bày 128 Ký Giả Và 48 Báo Chí Mỹ Bị Bắc Kinh Mua Chuộc Để 'Trị Người Mỹ'"

 


WATCH "CHÍNH PHỦ TT TRUMP PHƠI BÀY 128 KÝ GIẢ VÀ 48 BÁO CHÍ MỸ BỊ BẮC KINH MUA CHUỘC ĐỂ 'TRỊ NGƯỜI MỸ'
Tinh Hoa TV

 Watch "Chính phủ TT Trump phơi bày 128 ký giả và 48 báo chí Mỹ bị Bắc Kinh mua chuộc để 'trị người Mỹ'" on YouTube


Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 



Trung Cộng Dằn Mặt Hoa Kỳ?

 


TRUNG CỘNG DẰN MẶT HOA KỲ?
Nhất Hùng

Cuộc đụng độ căng thẳng giữa Lực lượng Hải cảnh Trung Cộng và các lực lượng Philippines tại Biển Đông (đặc biệt là khu vực bãi Cỏ Mây - Second Thomas Shoal, Ayungin Shoal) mang tính thời sự rõ rệt. Hành động này diễn ra ngay trước thềm chuyến thăm Manila của Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio nhân Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN.

Cụ thể: Ngày 20/07/2026, Hải cảnh Trung Cộng đã chặn, đâm va, sử dụng vòi phun nước và dùng cả gậy gộc để tấn công các xuồng của Philippines trong nhiệm vụ tiếp tế, tuần tra tại bãi Cỏ Mây, khiến một sĩ quan Philippines bị thương và nhiều thiết bị hư hỏng. Sự việc xảy ra chỉ chưa đầy 24 giờ trước khi Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio đặt chân đến Manila - ngày 21/07/2026 - để củng cố liên minh Mỹ - Philippines và dự họp với các Ngoại trưởng ASEAN, nơi ông cũng dự kiến gặp Ngoại trưởng Trung Cộng Vương Nghị.

Bắc Kinh Toan Tính Gì?

Trung Cộng luôn coi việc chính quyền Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. thắt chặt quan hệ quân sự với Washington là một mối đe dọa trực tiếp đối với vùng ảnh hưởng của họ. Việc gia tăng áp lực ngay trước khi ông Rubio đến là lời cảnh cáo và chứng minh rằng các cam kết an ninh hay sự hiện diện ngoại giao của Washington sẽ không ngăn cản được Trung Cộng thực thi quyền kiểm soát trên thực địa. Họ muốn ép Philippines phải cân nhắc giữa cái giá phải trả trên biển như ngư dân, lực lượng hải quân, cảnh sát biển của Phi bị cản trở, chèn ép nếu cứ tiếp tục gia tăng hợp tác an ninh với Mỹ.

Bằng cách tạo ra “gay cấn” ngay trước cuộc gặp cấp cao, Trung Cộng muốn kiểm tra xem Washington sẽ phản ứng ở mức độ nào - dừng lại ở các tuyên bố "bảo vệ tự do hàng hải" và lên án ngoại giao, hay có bước đi thực tế kích hoạt Hiệp Ước Tương Hỗ Mỹ - Philippines. Họ tính rằng chủ động tạo ra “gay cấn” trên biển, Ngoại trưởng Vương Nghị khi bước vào cuộc gặp song phương với ông Rubio bên lề ASEAN sẽ nắm thế chủ động đàm phán, dùng “sự việc” làm "món hàng trao đổi" để yêu cầu Mỹ bớt can thiệp vào khu vực.

Ngoài ra Trung Cộng tiếp tục dùng lực lượng phi quân sự như Hải cảnh, Tàu dân binh, những công cụ phi sát thương như vòi phun nước - va chạm, húc ủi - gậy gộc) mà không sử dụng tàu quân sự để nổ súng trực tiếp, Bắc Kinh giữ mức xung đột ở dưới ngưỡng tranh chấp vũ trang, khiến Mỹ khó đưa ra lý do can thiệp quân sự trực tiếp.

Việc phong tỏa và liên tục va chạm khiến việc tiếp tế cho căn cứ BRP Sierra Madre của Philippines ngày càng tốn kém và nguy hiểm. Với mục tiêu dài hạn, Trung Cộng buộc Philippines phải từ bỏ căn cứ này. Dù đang đạt được mục tiêu ngắn hạn là thể hiện sự cứng rắn nhưng những hành động hung hăng của Hải cảnh Trung Cộng càng làm tăng sự đồng thuận nội bộ tại Philippines trong việc mở rộng các căn cứ cho quân đội Mỹ và tăng cường tuần tra chung với Mỹ, Úc, Nhật Bản.

Sự việc xảy ra đúng thời điểm Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN diễn ra tại Manila, nó củng cố lo ngại của các quốc gia Đông Nam Á về sự thiếu thiện chí của Bắc Kinh trong việc đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Khi các vụ đụng độ trên biển chuyển từ phun nước sang xô xát trực tiếp và đâm va nguy hiểm, ranh giới giữa "vùng xám" và xung đột quân sự trở nên rất mong manh. Một sự việc, nếu gây thiệt hại nhân mạng nghiêm trọng hoàn toàn có thể đẩy Mỹ và Trung Cộng vào một cuộc đối đầu trực diện ngoài tầm kiểm soát.

Được biết, chuyện tàu Hải Cảnh, Cảnh Sát Biển Trung Cộng (thường được nhà cầm quyền VN gọi là TÀU LẠ) va chạm, phun nước, húc chìm tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của VN đã và vẫn đang xảy ra thường xuyên. Đã đến lúc nhà cầm quyền VN cần có thái độ đối kháng cụ thể (ít nhất cũng như Philippines) thay vì chỉ “Quan Ngại Sâu Sắc” hay vẫn chọn làm “CÂY TRE” lắc lư giữa Biển Đông bão tố.

Nhất Hùng


Tại Sao Cộng Đồng Tỵ Nạn VN Không Thể Quên Ai Đã Cứu Mình Và Ai Đã Bỏ Rơi Mình

 


TẠI SAO CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN VN KHÔNG THỂ QUÊN AI ĐÃ CỨU MÌNH VÀ AI ĐÃ BỎ RƠI MÌNH
Vô Danh

“Kết thúc một cuộc xung đột không đơn giản chỉ là gọi nó lại và về nhà.
Vì cái giá của loại hòa bình đó có thể là một ngàn năm bóng tối.”

— Ronald Reagan, A Time for Choosing, 1964

Tôi viết những dòng này không phải bằng mực, mà bằng máu của ký ức. Máu của những người lính miền Nam VNCH chết không phải vì hèn nhát mà vì hết đạn. Máu của những bà mẹ ôm con nhảy xuống biển và không bao giờ nổi lên. Máu của những người cha gầy trơ xương trong trại tù Cộng sản, chết trong im lặng, không một dòng cáo phó. Tôi không viết để gieo hận thù. Tôi viết vì sự thật đang bị lãng quên, và khi sự thật bị lãng quên, thì những người đã chết sẽ chết lần thứ hai.


Năm 1964, Ronald Reagan đứng trước cả nước Mỹ và nói một câu mà lịch sử sẽ chứng minh là lời tiên tri: “Kết thúc một cuộc xung đột không đơn giản chỉ là gọi nó lại và về nhà. Vì cái giá của loại hòa bình đó có thể là một ngàn năm bóng tối.”

Mười một năm sau, nước Mỹ làm đúng điều Reagan khuyến cáo: gọi cuộc chiến lại và về nhà. Và bóng tối phủ xuống Việt Nam — chưa đủ một ngàn năm, nhưng đủ lâu để hàng triệu người chết, hàng triệu người bị bỏ tù, và hàng triệu người phải rời bỏ quê hương mãi mãi. Câu hỏi mà bài viết này đặt ra rất đơn giản: ai đã gây ra bóng tối ấy, và ai đã thắp lên ngọn nến?

NHÁT DAO ĐẦU TIÊN — VỤ LẬT ĐỔ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

Hãy quay về Sài Gòn, mùa thu năm 1963. Ngô Đình Diệm — con người đã nhận một miền Nam hoang tàn sau Hiệp định Geneva 1954 và xây dựng nó thành một quốc gia có chủ quyền giữa vòng vây của du kích Cộng sản — đang điều hành một đất nước non trẻ trong vỏn vẹn 9 năm, tuy chưa hoàn hảo nhưng đang đứng vững. Ông đã làm được điều mà ngay cả chính tổng thống Dwight D. Eisenhower đã phải thốt lên: “Người tạo nên kỳ tích của châu Á” (“Miracle man of Asia”).

Có thể trong mắt 1 số người, Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải thánh nhân. Nhưng ông là đồng minh của Mỹ. Và đồng minh, trong mọi luật chơi của quan hệ quốc tế, không phải để giết.

Nhưng chính quyền của tổng thống đảng Dân Chủ John F. Kennedy lại nghĩ khác. Ngày 24 tháng 8 năm 1963, một bức điện tín từ Bộ Ngoại giao Mỹ — cáp điện DEPTEL 243, sáu chữ số sẽ khắc vĩnh viễn vào lịch sử như vết dao không bao giờ lành — được gửi tới Sài Gòn, bật đèn xanh cho các tướng lĩnh Việt Nam đã được Mỹ mua chuộc bằng tiền: Washington sẽ không cản đảo chánh.

Đại sứ Henry Cabot Lodge Jr. thực thi mệnh lệnh với sự nhiệt tình mà sau này chính những người ra lệnh phải hối hận. Ngày 2 tháng 11 năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị giết trong xe thiết giáp. Một vị tổng thống đồng minh bị chính đồng minh của mình giết. Và ba tuần sau, John Kennedy cũng bị giết tại Dallas — và như thể lịch sử có cách riêng để trả lại món nợ.

Hậu quả của cuộc lật đổ ấy là cơn hồng thủy chính trị: bảy cuộc đảo chính liên tiếp trong hai năm, miền Nam rơi vào hỗn loạn, và chính sự hỗn loạn ấy cho phép chính quyền Dân Chủ tiếp theo — Lyndon B. Johnson — đổ nửa triệu quân Mỹ vào Việt Nam năm 1965 với Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ — dựa trên một sự kiện mà lịch sử xác nhận đã bị phóng đại và bóp méo. Xin hãy nghe kỹ lôgic tàn nhẫn này: họ giết nhà lãnh đạo đồng minh, tạo khoảng trống quyền lực, rồi dùng chính khoảng trống ấy để đổ quân vào. Hơn 58.000 quân nhân Mỹ và hàng triệu người Việt chết trong cuộc chiến mà đảng Dân Chủ khởi động nhưng không có chiến lược kết thúc. Đây là nhát dao đầu tiên.

NHÁT DAO THỨ HAI — JOHN KERRY VÀ LỜI PHẢN BỘI TRƯớC QUỐC HỘI

Nếu vụ lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm là nhát dao chém vào đầu, thì lời điều trần của John Kerry ngày 22 tháng 4 năm 1971 trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện là nhát dao xoay trong vết thương còn đang rỉ máu. Hãy hình dung khung cảnh: một chàng trai 27 tuổi, mặc quân phục, đeo huy chương Silver Star và ba Purple Hearts, ngồi trước ống kính truyền hình quốc gia và nói với cả nước Mỹ rằng những người lính đồng đội của anh ta — và, bằng nghĩa mở rộng, những người lính đồng minh miền Nam — là những kẻ “hiếp dâm, cắt tai, cắt đầu, dùng dây điện gắn vào cơ quan sinh dục, tàn phá làng mạc theo kiểu Thành Cát Tư Hãn.”

Hãy để những lời ấy lắng xuống trong lòng bạn một giây. John Kerry so sánh những người lính Mỹ và đồng minh Việt Nam với kẻ xua quân tàn sát khắp lục địa với Thành Cát Tư Hãn. Và cả nước Mỹ xem. Và cả thế giới nghe. Và Hà Nội — Hà Nội đặc biệt ghi nhận, cất giữ, và sử dụng từng lời của Kerry như đạn dược tuyên truyền trong suốt những năm còn lại của cuộc chiến. Người lính Việt Nam Cộng Hòa — người đã bỏ lại vợ con để vào sinh ra tử, người mà sau này sẽ chết trong trại tù cộng sản hoặc chìm dưới đáy biển Đông — bị Kerry gộp chung vào bức tranh tội ác mà không một lời phân biệt, không một chút công bằng, không một giọt đồng cảm.

Nhưng điều đau đớn hơn cả lời nói là hậu quả. Kerry không chỉ nói — ông tạo ra môi trường. Ông giúp biến cuộc chiến tranh Việt Nam thành vết nhơ trong lương tâm Mỹ, và từ vết nhơ ấy, Quốc Hội Đảng Dân Chủ có cơ sở đạo đức để cắt viện trợ, bỏ rơi đồng minh, và rửa tay khỏi máu của hàng triệu người. Và để nghịch lý lên đến đỉnh điểm: năm 2004, chính Kerry ra tranh cử tổng thống với tư cách ứng viên Đảng Dân Chủ, dùng kinh nghiệm Việt Nam làm vốn chính trị. Rồi với tư cách Ngoại trưởng dưới thời tổng thống Obama, Kerry tiếp tục xích lại gần Hà Nội, nâng cấp quan hệ song phương, và không bao giờ — không một lần — đặt nhân quyền làm điều kiện tiên quyết. Người phản bội người lính đồng minh năm 1971 giờ ôm hôn chế độ đã bỏ tù chính những người lính ấy. Phản bội kép. Và cả hai lần đều dưới ngọn cờ Dân Chủ.

NHÁT DAO THỨ BA — CẮT VIỆN TRỢ VÀ THÁNG TƯ ĐEN

Năm 1973, Tổng thống Cộng Hòa Richard Nixon ký Hiệp định Hòa bình Paris, kèm theo một lời hứa — lời hứa của cường quốc số một thế giới với một quốc gia nhỏ bé đã đổ máu suốt hai mươi năm vì niềm tin của Mỹ: chúng tôi sẽ tiếp tục viện trợ. Các bạn sẽ không bị bỏ rơi.

Lời hứa ấy bị phản bội ngay trước mắt những người đã tin. Tu Chính Án Case-Church năm 1973, do hai nghị sĩ Dân Chủ chủ xướng, cấm mọi hành động quân sự của Mỹ tại Đông Dương. Rồi Quốc Hội Dân Chủ ra tay nghiền nát: viện trợ cho miền Nam bị cắt từ 1,4 tỷ đô la xuống 700 triệu, rồi xuống 300 triệu — trong khi Liên Xô và Trung Quốc đổ vũ khí cho Bắc Việt như nước sông. Quân đội miền Nam không còn đạn để bắn, không còn nhiên liệu để chạy xe, không còn phụ tùng để sửa máy bay. Họ chiến đấu bằng tay không chống lại đạo quân được trang bị tận răng. Và họ thua. Không phải vì họ hèn. Mà vì họ bị phản bội.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng Bắc Việt húc đổ cổng Dinh Độc Lập. Một quốc gia biến mất. Hàng triệu người bị đưa vào trại tù “cải tạo” cái tên thật khốn nạn dành cho trại tù của Cộng sản — làm việc khổ sai, bị đánh đập, bị bỏ đói, nhiều người chết trong im lặng. Hàng trăm ngàn người liều mạng ra biển trên những chiếc thuyền mỏng manh, và biển Đông trở thành nghĩa trang không bia mộ lớn nhất thế kỉ 20. Lời tiên tri của Reagan thành hiện thực: bóng tối đã phủ xuống Việt Nam. Và những người tắt đèn chính là Quốc Hội do Đảng Dân Chủ nắm quyền.

NHÁT DAO THỨ TƯ — BIDEN VÀ CÂU NÓI MÀ NGƯỜI VIỆT KHÔNG BAO GIỜ QUÊN

Trong những giờ phút tăm tối nhất ấy, khi Sài Gòn đang hấp hối và Tổng thống Cộng Hòa Gerald Ford cầu xin Quốc Hội bật đèn xanh cho lệnh di tản, có một giọng nói trẻ trung và lạnh lùng vang lên trong Toà Bạch Ốc ngày 14 tháng 4 năm 1975. Đó là giọng của Thượng nghị sĩ Joe Biden, 32 tuổi. Và ông nói: “Tôi sẽ bỏ phiếu cho bất kỳ khoản nào để đưa người Mỹ ra. NHƯNG —Tôi không muốn gộp chung với việc đưa người Việt ra.”

Hãy đọc lại câu ấy. Chậm. Từng. Chữ. Một. “Tôi không muốn gộp chung việc đưa người Việt ra.” Trong khi hàng trăm ngàn người đã làm việc cho Mỹ — phiên dịch, tài xế, nhân viên, quân nhân đồng minh — đang run rẩy chờ chết dưới họng súng Bắc Việt. Joe Biden còn nói: “Hoa Kỳ không có nghĩa vụ, về đạo đức hay gì khác, để di tản công dân nước ngoài” và “Hoa Kỳ không có nghĩa vụ di tản một — hoặc 100.001 — người miền Nam Việt Nam.” Không có nghĩa vụ đạo đức. Với những người đã đổ máu vì tin Mỹ.

Nhưng Gerald Ford — một tổng thống Cộng Hòa không được bầu, không có chỉ lệnh của nhân dân, nhưng có lương tâm — đã nói “có.” Ông bất chấp Biden. Bất chấp Quốc Hội Dân Chủ. Bất chấp dư luận mệt mỏi chiến tranh. Và ông ra lệnh di tản. 130.000 người Việt được đưa đến Mỹ an toàn. 130.000 cuộc đời mà Biden muốn bỏ lại. Hãy tự hỏi: bạn, hoặc cha mẹ bạn, hoặc ông bà bạn, có nằm trong 130.000 người ấy không?

NHÁT DAO THỨ NĂM — BILL CLINTON VÀ CHIẾC PHAO CỬU MẠNG CHO CHÍNH QUYỀN HẤP HỐI

Xin hãy theo tôi quay về đầu thập niên 1990 — một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam mà ít người nhận ra. Liên Xô vừa sụp đổ, cuốn theo nguồn viện trợ sống còn của Hà Nội. Nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ. Lạm phát phi mã tới 700%. Người dân đói khổ. Cán bộ cộng sản tìm đường tẩu tán tài sản bỏ đi ra hải ngoại. Bộ máy đảng lung lay. Chế độ Cộng sản Việt Nam đang ở đúng nơi mà Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, Rumani đã đứng trước khi sụp: bên bờ vực thẳm. Cấm vận của Mỹ là cái thòng lọng đang siết chặt cổ họng một chế độ đã hết ợ dựa. Lịch sử đang mở một cánh cửa — cánh cửa mà, nếu Mỹ giữ vững áp lực, có thể dẫn đến sự sụp đổ của chế độ và tự do cho tám mươi triệu con người.

Tổng thống đảng Dân Chủ Bill Clinton đóng sập cánh cửa ấy. Năm 1994, ông bỏ cấm vận thương mại. Năm 1995, ông bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hà Nội. Năm 2000, ông bay đến Hà Nội — vị tổng thống Mỹ đầu tiên đặt chân lên đất Việt Nam kể từ chiến tranh — và bắt tay với những người đã giết 58.000 quân nhân Mỹ, những người vẫn đang giam cầm tư tưởng, đàn áp tôn giáo, và cưỡng chế đất đai của dân. Clinton thả chiếc phao cứu mạng xuống giữa lúc chế độ đang chìm. Dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào. Thương mại mở ra. Và đảng Cộng sản — với bộ máy đàn áp vẫn nguyên — được tiêm máu mới để sống thêm ba thập niên.

Clinton và những người ủng hộ ông nói rằng bình thường hóa sẽ “mở cửa tự do.” Ba mươi năm sau, hãy kiểm kê: cửa tự do ở đâu? Việt Nam năm 2026 vẫn là nhà nước độc đảng. Người bất đồng chính kiến vẫn bị bỏ tù. Truyền thông vẫn bị kiểm soát. Tôn giáo vẫn bị sách nhiễu. Đất đai vẫn bị cưỡng chế. Nhưng đảng Cộng sản thì giàu lên, quan chức thì xây biệt phủ, con cái họ thì du học ở Mỹ, và hệ thống độc tài thì vững chắc hơn bao giờ hết — tất cả nhờ chiếc phao mà một tổng thống Dân Chủ đã quăng xuống. Bình thường hóa không giải phóng người dân Việt — nó giải phóng chế độ khỏi sự sụp đổ.

NGỌN NỀN GIỬA BÓNG TỐI — FORD VÀ REAGAN

Giữa bức tranh đen tối ấy, hai vị tổng thống đảng Cộng Hòa nổi lên như những ngọn nến mà gió không dập tắt được.

Gerald Ford — tổng thống không ai bầu, không có chỉ lệnh của nhân dân, không có vốn chính trị để đốt, nhưng có một thứ mà tổng thống đảng Dân Chủ Joe Biden không có: lương tâm. Ông đứng lên trước Quốc Hội đang nói “không,” trước dư luận đang mệt mỏi, trước các cuộc thăm dò đang chống, và ông ra lệnh di tản. 130.000 người Việt được đưa đến Mỹ.

Julia Taft, người phụ trách tái định cư, nói với NPR: “Họ là phiên dịch, là nhân viên, là một phần của quân đội đồng minh. Lẽ ra họ phải được giúp đỡ.” Và Ford đã giúp.

Rồi đến Ronald Reagan — người mà với người Việt tỵ nạn, tên ông gắn liền với hai chữ: hồng ân. Năm 1984, Ngoại trưởng Shultz tuyên bố trước Quốc Hội rằng Mỹ sẵn sàng nhận tới 10.000 tù nhân chính trị. Năm 1987, Nghị quyết 205 và 212 tạo khung pháp lý cho chương trình Nhân đạo. Ngày 30 tháng 7 năm 1989, dưới thời Bush cha, hiệp định HO được ký. Và cánh cửa tự do mở ra cho 180.000 cựu tù nhân cải tạo và gia đình — những người đã chịu tra tấn, lao động khổ sai, và mất mát không thể đo đếm. 

Trong bài Diễn văn Chia tay ngày 11 tháng 1 năm 1989, Reagan nhắc nhở nước Mỹ về nghĩa vụ đối với người tỵ nạn Việt Nam — ông không nói suông như Clinton, ông hành động. Và 180.000 cuộc đời được cứu là bằng chứng.
Nhiều gia đình Việt tại Mỹ ngày nay — những gia đình HO — không biết rằng sự tồn tại của họ trên đất Mỹ bắt nguồn từ một quyết định của Reagan. Con cái họ học trường Mỹ, đậu đại học Mỹ, làm bác sĩ kỹ sư luật sư tại Mỹ — tất cả bắt đầu từ một tổng thống Cộng Hòa đã nghĩ đến họ khi không ai khác buồn nghĩ. Đây không phải lý thuyết chính trị. Đây là lịch sử gia đình. Và lịch sử gia đình không nên bị quên bởi bất kỳ chiến dịch vận động nào.

LÁ PHIẾU LÀ KÝ ỬC, VÀ KÝ ỬC LÀ MÓN NỢ KHÔNG THỂ QUÊN

Tôi đã dẫn bạn đi qua sáu mươi năm lịch sử. Sáu mươi năm máu và nước mắt. Và mô hình lặp đi lặp lại với sự tàn nhẫn của máy đồng hồ: đảng Dân Chủ giết đồng minh, đổ quân không kế hoạch, Kerry phản bội người lính, Quốc Hội cắt viện trợ, Biden nói “không có nghĩa vụ,” Clinton thả phao cứu chế độ đã giam cầm chính chúng ta. Trong khi Ford cứu 130.000 người. Reagan mở cửa cho 180.000 tù nhân. Đây không phải tình cờ. Đây là lịch sử.

Mỗi lá phiếu của người Việt tỵ nạn không chỉ là lựa chọn chính trị. Nó là hành động ký ức. Là câu trả lời cho câu hỏi mà cha ông chúng ta đã trả bằng máu: bạn có nhớ ai đã cứu mình không, và bạn có nhớ ai đã bỏ rơi mình không?

Reagan đã nói: cái giá của loại hòa bình dễ dãi là một ngàn năm bóng tối. Người Việt đã và đang sống trong bóng tối ấy. Và lá phiếu chính là cách duy nhất để bóng tối không quay lại — cho Việt Nam, cho nước Mỹ, và cho những đứa trẻ mà cha ông đã liều mạng vượt biển để chuyển giao cho chúng một điều duy nhất: TỰ DO.

Lá phiếu là ký ức. Ký ức là món nợ. Và món nợ, đối với người Việt tỵ nạn, là điều thiêng liêng mà Tháng Tư Đen 1975 không bao giờ cướp được.

Vo Danh


TT Trump Phát Lệnh Đánh Thẳng Iran, Obama Bị JD Cance Phản Đòn, Một Cú Tát Vì Quốc Ca

 


TT TRUMP PHÁT LỆNH ĐÁNH THẲNG IRAN, OBAMA BỊ JD VANCE PHẢN ĐÒN, MỘT CÚ TÁT VÌ QUỐC CA
CHAN NHU CHANNEL

THỜI SỰ 24H | TT TRUMP PHÁT LỆNH ĐÁNH THẲNG IRAN, OBAMA BỊ JD VANCE PHẢN ĐÒN, MỘT CÚ TÁT VÌ QUỐC CA


Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 



Thứ Ba, 21 tháng 7, 2026

Đua Bơi Nhọc Nhằn

 


ĐUA BƠI NHỌC NHẰN 
Đỗ Công Luận 

Trân trọng 
NHHN 

Câu Chuyện Nhân Văn: Giữ Gìn Hồn Chữ Phương Nam

 


CÂU CHUYỆN NHÂN VĂN: GIỮ GÌN HỒN CHỮ PHƯƠNG NAM
Câu Chuyện Nhân Văn

Câu Chuyện Nhân Văn: Giữ Gìn Hồn Chữ Phương Nam

Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 



Thơ Của Tô Đông Pha - Bài 63, 64 Và 65

 


THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA - BÀI 63, 64 VÀ 65
Thầy Dương Anh Sơn 

THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA 

Bài 63

TÂN THÀNH ĐẠO TRUNG NHỊ THỦ                                   新城道中二首
TÂN THÀNH ĐẠO TRUNG                                                    新城道中
(KỲ NHẤT)                                                                               (其一)

Đông phong tri ngã dục sơn hành,                                             東風知我欲山行,
Xuy đoạn thiềm gian tích vũ thanh.                                           吹斷檐間積雨聲。
Lĩnh thượng tình vân phi nhứ mạo,                                           嶺上晴雲披絮帽,
Thụ đầu sơ nhật quải đồng chinh.                                              樹頭初日挂銅鉦。
Dã đào hàm tiếu trúc ly đoản,                                                    野桃含笑竹籬短,
Khê liễu tự dao sa thuỷ thanh.                                                   溪柳自搖沙水清。
Tây yêm nhân gia ưng tối lạc,                                                    西崦人家應最樂,
Chử cần thiêu duẩn hướng xuân canh.                                       煮芹燒筍餉春耕。

Dịch nghĩa:

Cơn gió đông như biết ta đang muốn lên đường vào núi, - Nên thổi dứt tiếng mưa còn đọng trên mái hiên! – Đám mây sau cơn mưa tạnh trên đỉnh núi như đang đội chiếc mũ bông trắng, - Mặt trời mới mọc treo trên ngọn cây như chiếc chiêng đồng. (c.1-4)
Hoa đào dại như cười mỉm bên hàng rào tre thấp, - Liễu ven suối tự lay bóng mình trên làn cát nước trong vắt. – Nhà của người dân ở sườn núi phía tây có lẽ là rất vui! – Họ nấu rau cần, nướng măng non đưa thức ăn cho người đang cày ruộng mùa xuân.

Tạm chuyển lục bát:

ĐƯỜNG ĐẾN TÂN THÀNH (Bài 1)

Biết ta vào núi - gió đông,
Thổi mưa dứt tiếng đọng còn mái hiên!
Tạnh mưa, núi đội mây mềm,
Chiêng đồng treo ngọn cây trên sớm trời.
Rào tre, đào dại mỉm cười,
Liễu lay cát suối, nước ngời ngời trong.
Non tây vui hẳn nhà dân!
Thức ăn măng nướng, rau cần cày xuân.

Chú thích:

**Đây là một bài thơ cho thấy tinh thần “an nhiên tự tại” của Tô Đông Pha trong cách thế nhìn nhận sự vật chung quanh. Nếu Nguyễn Du của chúng ta trong Đoạn Trường Tân Thanh hoặc trong nhiều bài thơ chữ Hán như Sơ Thu Cảm Hứng, Sở Vọng, Vọng Tương Sơn Tự (xem Bắc Hành Tạp Lục - Bài 37,38,39 đã đăng)...v...v.. thường gợi cho chúng ta cái nhìn hiện thực nhưng đầy bi cảm trước cảnh vật vô thường. Tô Đông Pha không bi đát hóa cảnh vật vô thường mà nhìn trong tâm thế an nhiên và có niềm vui trước cảnh vật khi ông tham dự trọn vẹn vào hữu thể sinh động. Đông Pha đón nhận với niềm vui khi mưa dứt có mây trắng nhẹ nhàng bay; ông vui khi mặt trời mới mọc tựa như chiếc chiêng đồng treo ngọn cây; ông vui lúc ngắm hoa đào hoang dại, rặng liễu khẽ lay in bóng trên dòng suối có cát trong vắt; ông vui khi hoa mới nở mỉm cười và lại vui khi xem người dân nấu rau cần hay nướng măng để ăn uống thêm sức cho vụ cày mùa xuân...v...v.. Nhà thơ để cho cảnh vật tham dự và hòa vui với tâm cảm ung dung của mình. Ngọn gió đông và cảnh vật trong bài thơ được nhân cách hóa để mong muốn làm bạn bè cùng tham dự với niềm vui của nhà thơ để lên đường. Thiên nhiên đầy sức sống trong toàn bài thơ !....Trong câu cuối cùng, thức ăn dân giả của thiên nhiên như rau cần, măng nướng ...v.v... cho thấy tâm hồn nhà thơ cũng giản dị và gần gũi với nông dân. Đó là cách sống của một người thấu rõ nguyên lý của Thiền gia và cốt cách “mộc nột cận nhân 木訥近仁” (sự đơn giản, mộc mạc gần gũi với đức Nhân – Khổng Tử) của Nho gia và Đạo gia!
- Tân Thành 新城: Tân thành trong bài thơ của Tô Thức chính là huyện Tân Thành thời nhà Đường và Bắc Tống bên Trung Hoa, nay là thị trấn Tân Đăng, nằm trong vùng Hàng Châu. Thời Đường, huyện có tên là Tân Thành 新城縣. Đến thời Ngũ Đại, để tránh húy cha của Chu Ôn (Lương Thái Tổ), huyện được đổi tên thành Tân Đăng 新登. Khi nhà Tống thống nhất Trung Hoa (năm 979), địa phương lại đổi về tên Tân Thành. Vì vậy, vào thời Tô Thức, địa danh chính thức vẫn là Tân Thành. Năm Hy Ninh thứ sáu (1073), Tô Thức đang giữ chức Thông phán Hàng Châu. Một trong những nhiệm vụ của ông là đi tuần tra các huyện thuộc Hàng Châu, xem xét việc trị thủy, nông nghiệp và dân sinh.
Trong chuyến công cán ấy, ông từ Hàng Châu đi về phía tây nam qua huyện Phú Dương rồi đến huyện Tân Thành. Chính trên con đường núi này, sau nhiều ngày mưa xuân, ông đã sáng tác hai bài "Tân Thành đạo trung 新城道中二首”.Người đời sau đã quen gọi là Đông Pha cổ đạo 东坡古道 hay Tân Thành đạo 新城道 để kỷ niệm con đường Tô Đông Pha từng đi qua.
- xuy đoạn 吹斷: gió thổi chấm dứt hay cắt đứt một vật nào đó. Ở đây, gió thổi làm bặt tiếng mưa rơi còn sót đọng lại...
- tích vũ thanh 積雨聲: tiếng mưa rơi còn sót đọng lại...
- tình vân 晴雲: đám mây sau khi trời mưa tạnh, mây khi trời quang đãng...Tô Đông Pha không dùng từ “bạch vân 白雲” mà dùng từ “tình vân 晴雲” để nói đến thời gian sau cơn mưa và sự thay đổi của làn mây trắng như bông (nhứ : sợi bông gòn trắng nỏn)...
- phi 披: khoác áo, đội lên đầu, mở ra, vạch ra, phơi bày...
- nhứ 絮: sợi bông vải màu trắng, loại hoa nhẹ như bông có thể bay được, bông gòn mềm mại và mỏng như tơ bay được...
- mạo 帽: mũ , nón đội đầu, khăn đội đầu...
- quải đồng chinh 挂銅鉦: treo (quải) chiếc chiêng (chinh) đồng lên...
- trúc ly đoản 竹籬短 : hàng rào, hàng dậu đan bằng tre (trúc ly) làm ở tầm thấp (đoản)...
- tự dao 自搖: tự mình lay động. Ở đây, cành liễu lay động qua lại ven bờ suối in bóng trên dòng nước đang chảy...
- yêm 崤: chỉ chung núi non. Yêm Tư San 崦嵫山 tên ngọn núi ở Cam túc, Trung Hoa xưa kia được cho là chỗ mặt trời lặn. Trời nhá nhem tối gọi là “nhật bạc yêm tư 日薄崤嵫” (tự điển Thiều Chửu).
- ưng tối lạc 應最樂: có lẽ, hẳn là (ưng) rất là vui - hướng xuân canh 餉春耕: đem thức ăn (hướng: đưa thức ăn, thết đãi, tặng cho..) cho
người đang cày ải trong mùa xuân...

Bài 64

TÂN THÀNH ĐẠO TRUNG                                                    新城道中
(KỲ NHỊ)                                                                                    (其二)

Thân thế du du ngã thử hành,                                                     身世悠悠我此行,
Khê biên ủy bí thính khê thanh.                                                 溪邊委轡聽溪聲。
Tán tài úy kiến sưu lâm phủ,                                                      散材畏見搜林斧,
Bì mã tư văn quyển bái chinh.                                                   疲馬思聞卷旆鉦。
Tế vũ túc thời trà hộ hỉ,                                                              細雨足時茶戶喜,
Loạn sơn thâm xứ trưởng quan thanh.                                       亂山深處長官清。
Nhân gian kỳ lộ tri đa thiểu,                                                       人間岐路知多少,
Thí hướng tang điền vấn ngẫu canh.                                          試向桑田問耦耕。

Dịch nghĩa:

Cuộc đời mênh mông luôn trôi nổi, ta đi trên đó, - Đến bên suối, buông cương ngựa, lắng nghe tiếng suối chảy. – Thân như cây gỗ vô dụng sợ thấy người lục soát dùng búa rìu chặt gỗ rừng, - Con ngựa đã mệt mỏi chỉ mong cờ hạ và nghe tiếng chiêng thu quân để được nghỉ. (c.1-4)
Mưa xuân vừa đủ thời gian cho nhà trồng trà vui mừng! – Giữa núi non chập chùng sâu hút với vị quan thanh liêm. – Đời người có biết bao nhiêu là ngã rẽ! – Hãy thử ngoảnh về những người đang cày bừa nơi ruông dâu mà hỏi xem sao! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

ĐƯỜNG ĐẾN TÂN THÀNH (Bài 2)

Nổi trôi thân thế ta đi,
Buông cương nghe suối rì rào chảy tuôn.
Rìu tìm cây bỏ chặt luôn!
Nghe chiêng, ngựa mỏi, thu quân hạ cờ.
Trồng trà vui sướng đủ mưa,
Chập chùng núi thẳm, quan ta trong ngời.
Biết bao ngã rẽ cuộc đời,
Ruộng dâu thử hỏi những người cày kia !

Chú thích:

** Bài thơ thứ hai cùng nhan đề với bài trên nhưng lại mang nhiều suy nghĩ của Tô Đông Pha về đường đời và sự nghiệp,công danh của chính mình. Ông đã suy ngẫm về bản thân trong thời buổi triều đình nhà Tống,Trung Hoa có nhiều phe phái : phe của Vương An Thạch còn gọi là “tân đảng” muốn cải cách chính quyền với “Tân pháp”. Còn phe kia gọi là “cựu đảng” do Tư Mã Quang, Âu Dương Tu, hai anh em Tô Thức và Tử Do..v..v..Tư tưởng của hai phái nhiều chỗ đối lập nhưng cả hai đều mong muốn cho triều đình và xã hội tốt hơn. Vương An Thạch và Tư Mã Quang hay Âu Dương Tu..v..v.. đều là những viên quan có công tâm, sống liêm khiết, đời tư cũng tốt đẹp (xem thêm: Nguyễn Hiến Lê, Tô Đông Pha, NXBVHTT tái bản, 2003). Ông cũng tự hào cuộc sống của một ông quan tuy bị biếm trích đi xa nhưng luôn giữ sự thanh bạch, liêm chính và trong sáng. Đồng thời, ông ví mình như loại gỗ không còn được dùng phải bỏ đi nhưng cũng sợ những tay thích lục lọi tìm kiếm để chặt bỏ di.. (câu 3).Ngoài ra, nếu bài thứ nhất cho thấy thái độ ung dung tự tại tìm đến thiên nhiên như người bạn gắn bó và một tâm hồn biết thưởng thức cảnh đẹp của thiên nhiên. Ở bài thứ hai này, chúng ta thấy Tô Đông Pha trở về vai trò của một ông quan trong sạch lại rất gần gũi với cuộc sống của người nông dân chân lấm tay bùn. Nếu chúng ta đã đọc “Đông Pha bát thủ” (bài 23 đến 28 đã đăng các kỳ trước) sẽ thấy rõ bản thân ông từng sống vất vả và nhiều lo toan về mùa màng và cuộc sống y như người nông dân khi bị biếm trích nơi xa Ngoài ra, tuy bị biếm trích làm chức quan nhỏ ở nơi xa nhưng ánh mắt của những kẻ từng hạ bệ, đưa các quan chống đối “tân đảng” dù đổi đi xa vẫn còn theo dõi bám sát (sưu lâm phủ 搜林斧), chực chờ ra tay loại trừ thêm lần nữa. Đó là hiện thực Tô Đông Pha phải đối diện hàng ngày dù đang trấn nhậm nơi xa!
Nhìn chung, ở từng thời điểm, ông có thể sống với tâm hồn thanh thản của Lão Trang, hoặc sống và vui với nếp Thiền khi chọn sự giản dị và thái độ bình tĩnh ung dung trước đổi thay. Rồi trong khi đối diện với thực tại và nhất là xuất thân là một nho sĩ, ông nghĩ đến việc đóng góp và xây dựng triều đình cùng bạn bè sao cho tốt hơn dẫu phải đụng chạm bị hạ chức và biếm trích. Cuộc đời quan trường thườngnhư thế. Nguyễn Trãi nước ta dù tận tụy phục vụ triều đình trong kháng chiến chống nhà Minh,Trung Hoa đến khi sắp đặt triều chính vẫn thường bị những kẻ phò tá Lê Lợi thường là loại võ biền ghen ghét. Vụ án “Lệ chi viên” hay “Nguyễn Thị Lô” là dịp bọn ganh tỵ tìm cớ “tru di tam tộc” gia đình Nguyễn Trãi không hề thương tiếc! Chắc chắn rằng từ Tô Đông Pha của Trung Hoa hay Nguyễn Trãi, Nguyễn Du của nước ta, Nho, Lão và Phật đã là ba nguồn suối nuôi dưỡng khí chất của các bậc túc nho, đạo gia và nhà Phật. Nó hòa hài không hề tách biệt quá đáng để tạo nên nhân cách của họ từ tinh túy của ba tư tưởng lớn của phương đông xưa kia. Đó là một đề tài rộng lớn để tìm hiểu...
- thân thế 身世: chỉ chung cuộc đời ,sự nghiệp và công danh của một con người nhất là thuộc hạng nho sĩ, trí thức thời trước...
- du du 悠悠: mênh mông, rộng lớn ,trôi nổi, dài dằng dặc, vô tận, bất tận, liên miên, hoang đường, lo lắng...
- ủy bí 委轡: ủy 委: buông lỏng, buông bỏ, vất bỏ, mệt mỏi, ngọn nguồn, giao phó, ủy thác, gán cho....Bí 轡: dây cương điều khiển ngựa. Ủy bí: buông lỏng dây cương ngựa...
- tán tài(tản tài) 散材 : là một thuật ngữ có gốc rễ từ triết học cổ đại của Trung Hoa, cụ thể là từ tư tưởng của Trang Tử có trong sách cùng tên. Tán 散: phân tán, buông thả, không tập trung, đồ vật không còn giá trị, thứ bỏ đi vô dụng... Tài 材: nghĩa là gỗ để có thể sử dụng làm đồ vật có ích, nghĩa khác là người tài năng hay chất liệu, con người còn giá trị. Tán tài : nghĩa đen là loại gỗ vô dụng không dùng vào việc gì có ích trừ bỏ đi làm củi chụm! Ở đây, có thể hiểu những người có tài như Đông Pha tự nhận chỉ làm loại gỗ “vô dụng” nhưng những kẻ ganh ghét, đố kỵ trong triều cũng sẽ “sưu tra” tìm tòi, vạch lông tìm vết để mưu hại, chặt bỏ đi (xem “sưu lâm phủ” kế tiếp)
- sưu lâm phủ 搜林斧 :tìm tòi, chọn lọc, kiểm tra... v.v... (sưu) loại cây gỗ trong rừng (lâm) để dùng búa hay rìu chặt bỏ đi (phủ)...
- bì mã 疲馬: con ngựa đã mệt mỏi (bì: chán nản, rã rượi, suy nhược, nhọc mệt, mệt nhoài...)
- quyển bái chinh 卷旆鉦: khi thu quân lại (quyển) người xưa bên Trung Hoa dùng chiêng (chinh) và hạ cờ đuôi nheo hay cờ hiệu trong quân, cuốn cờ lại (bái). Khi tiến công thì phất cờ và dùng trống (cổ) để thúc quân...
- hai câu 3 và 4: cho thấy tâm trạng bị “bỏ rơi”, phải bị biếm trích đi xa của Tô Đông Pha. Ông tự xem mình trở thành vô dụng bị buông bỏ trên con đường hoạn lộ. Mặt khác, ông bị cuốn vào những tranh chấp chính trị, phe phái trong triều đình chỉ mong được sống thanh thản, xa lánh danh lợi và tranh chấp. Cuộc đời về sau cho chúng ta thấy rõ điều này...
- tế vũ 細雨: trời mưa hạt rất nhỏ lại mịn màng (tế) dùng để chỉ những cơn mưa bụi nhẹ nhàng trong mùa xuân hay dùng để chỉ mưa xuân. Ở đây, cơn mưa hạt nhỏ mùa xuân đúng lúc đúng thời và đầy đủ sẽ giúp cho người dân trồng trà vùng núi ấm no,đem lại niềm vui hạnh phúc. Và vị quan chốn núi rừng xa xôi đang trên đường trấn nhậm cũng giữ được sự liêm chính, trong sạch hơn. Đó là nét đẹp trong thơ của con người họ Tô...
- túc thời trà hộ 足時茶戶: có đầy đủ thời gian cho những trận mưa xuân thấm đẫm vào những vườn của các hộ chuyên trồng trà (trà hộ 茶戶)...
- loạn sơn thâm xứ 亂山深處: nơi núi non chập chùng lại sâ thẳm nhìn khó phân định...
- kỳ lộ 岐路: những ngã rẽ quanh co gập ghềnh.... Đông Pha như muốn nóiđến những con đường lợi danh quanh triều đình khiến ông bị cuốn hút theo. Năm 1073, khi làm bài thơ này, phe của Vương An Thạch đang dâng lên vua bản án đối với phe “cựu đảng” gọi là “Ô đài thi án” khiến nhiều vị quan trong triều như Tô Thức, Tử Do, Âu Dương Tu, Tư Mã Quang... v.v... phải rơi vào cảnh tù đày hoặc trích biếm đi xa.
- tri đa thiểu 知多少: biết bao nhiêu, biết rất nhiều không ít...
- thí hướng 試向: thử (thí) hướng về (hướng), thử ngoảnh về...
- ngẫu canh 耦耕: hai vợ chồng (ngẫu) cùng nhau cày ruộng (canh). Cũng chỉ chung những người đang làm lụng, cày bừa nơi ruộng đồng. Trong câu cuối, Tô Đông Pha, bậc thức giả của chúng ta đã đặt ra câu hỏi và câu trả lời phải là của người nông dân nói riêng hay người dân nói chung nhất là khi cuộc sống tốt đẹp đem lại niềm vui thực sự (xem câu 5 và câu 8)

Bài 65

DƯƠNG QUAN KHÚC                                                            陽關曲
TRUNG THU NGUYỆT                                                           中秋月
Mộ vân thâu tận dật thanh hàn,                                                  暮雲收盡溢清寒,
Ngân Hán vô thanh chuyển ngọc bàn.                                       銀漢無聲轉玉盤。
Thử sinh thử dạ bất trường hảo,                                                 此生此夜不長好,
Minh nguyệt minh niên hà xứ khan?                                         明月明年何處看。

Dịch nghĩa:

Mây chiều đã gom lại hết, trời lạnh lẽo tràn đầy, - Chiếc mâm ngọc lặng lẽ chuyển dần qua dải Ngân Hà. – Cuộc đời này, đêm này không phải tốt đẹp mãi! – Sang năm, sẽ ngắm trăng sáng ở nơi nào ?

Tạm chuyển lục bát:

KHÚC DƯƠNG QUAN
TRĂNG TRUNG THU.

Mây chiều gom hết, lạnh tràn,
Lặng thầm mâm ngọc chuyển dần dòng Ngân.
Đời này, đêm đẹp chẳng lâu!?
Sang năm, trăng sáng chốn nào ngắm trông?

Chú thích:

** Bài thơ này trong các sách ghi chép về thơ của Tô Đông Pha hoặc các bản Đông Pha Từ ghi là Dương Quan Khúc – Trung Thu Nguyệt 陽關曲-中秋月. Lại có bản chép là “Dương Quan Khúc – Trung Thu Tác 陽關曲-中秋作“ ( xem : thuvien.net/ Tô Thức). Cũng có giả thuyết cho rằng bài thơ này là bài Trung Thu 中秋 của Đỗ Mục 杜牧 đời nhà Đường làm khi bị biếm trích với chức thứ sử Hàng châu (xem: thuvien.net/Tô Thức: Theo Toàn ĐườngThi – Khang Hy ngự định, Hà Bắc nhân dân xuất bản xã, 1993). Về nguồn tư liệu cũng không rõ ràng nên tạm thời chúng ta chấp nhận giả thuyết theo các bản in ấn từ bên Trung Hoa trước kia.
Theo đó, Đông Pha làm bài này khi ngắm trăng thu. Ông bồi hồi cảm xúc trước cái đẹp của vầng trăng sáng rồi cuộc đời này, đêm trặng đẹp tối nay kéo dài được bao lâu? Đó là câu hỏi ngàn đời của những ai nhìn vào sự hữu hạn của vũ trụ và con người trong cái vô hạn của thời gian. Đó là sự biến dịch mà Lão gia vẫn thường đề cập trong Đạo Đức Kinh hay sự vô thường mà đạo Phật luôn nói đến.
Còn Nho gia theo cách nói về của trời đất của Khổng Tử: ”Thiên hà ngôn tai? 天何言哉” (Trời nào có nói gì đâu?), vạn vật xoay chuyển tuần hoàn tự nhiên!
- Dương Quan 陽關: tên một quan ải nổi tiếng bên Trung Hoa cùng với Ngọc Môn Quan 玉門關, gọi chung là “Nhị quan 二關” là hai cửa ải quan trọng và nổi tiếng được nhiều nhà thơ Trung Hoa nói đến. Ải Dương Quan nằm ở huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, Trung Hoa được xây dựng vào năm 120 TCN thời Hán Vũ đế nhằm ngăn chặn sự xâm nhập và quấy nhiễu thường xuyên của các bộ tộc vùng Tây Vực. Dương Quan Khúc là khúc hát có nguồn gốc từ bài thơ “Tống Nguyên nhị sứ An Tây 送元二使安西“ của Vương Duy 王維. Về sau được phổ thành khúc đàn có tên “Dương Quan Tam điệp” gọi tắt là “Dương Quan Khúc 陽關曲 hay “Vị thành Khúc 渭城曲”. Đến đời Tống , cầm khúc này thất truyền.(xem thêm: thivien.net/Tô Thức) Thơ văn Trung Hoa và nước Việt chúng ta xưa kia thường dùng Từ “Dương Quan” để nói đến sự chia ly, xa cách (xem: “Đoạn Trường TânThanh” câu 1502)
- thu (thâu) tận 收盡: gom lại hết, lấy về tất cả, thâu gom sạch hết, nhận lấy hết cả...
- dật thanh hàn 溢清寒: tràn đầy, đầy quá sức (dật) khí lạnh trong trẻo...
- Ngân Hán 銀漢: hay còn gọi là Ngân Hà 銀河, sông Ngân, Thiên Hà 天河,Thiên Hán 天漢, Vân Hán 雲漢, Tinh Hà 星河 theo cách người Trung Hoa. Còn người Việt chúng ta vẫn gọi là dòng Ngân hay sông Ngân ( vì Hà đã là sông nên tránh điệp ngữ!). Ngân Hà là một dải gồm nhiều đám mây bụi và các vì sao lớn nhỏ trong đó có mặt trời và Mộc tinh là sao sáng nhất nhìn từ trái đất hình thành một “thái dương hệ” nhỏ trong hàng vạn thái dương hệ khác trong một Galaxy hình xoắn ốc. Nhìn xa như môt chiếc dĩa bay có hằng triệu triệu ngôi sao xoay quanh chuyển động của nó. Nói khác hơn, thái dương hệ và các hành tinh trong đó có trái đất xoay quanh mặt trời chỉ là hệ thống ngôi sao nhỏ trong hằng vạn dải tinh hà của một Galaxy khổng lồ ấy. Và trong vũ trụ bao la vô tận này lại có hằng vạn Galaxy lớn nhỏ đang hoạt động. Trái đất và thái dương hệ chỉ như một đám bụi bé nhỏ mà thôi...
- ngọc bàn 玉盤: cái mâm bằng ngọc là cách người Trung Hoa dùng để chỉ vầng trăng tròn đẹp như ngọc của ngày rằm...
- Hai câu đầu: Mộ vân thâu tận dật thanh hàn, Ngân Hán vô thanh chuyển ngọc bàn 暮雲收盡溢清寒, 銀漢無聲轉玉盤: Tô Đông Pha đã phác họa sự chuyển động nhẹ nhàng, lặng lẽ của thời gian và không gian của một đêm trăng rất sáng và trong trẻo trong cái lạnh dễ chịu của đêm rằm Trung Thu.
Nhà thơ không chỉ ngắm mây của buổi chiều tối đang gom hết lại giữa không gian lạnh và trong trẻo. Ông đã dõi mắt nhìn lên trời có vầng trăng tròn đang di chuyển ngang qua dải Thiên Hà hay Ngân Hán rất xa và cao hơn hẳn. Chữ “vô thanh 無聲” được họ Tô dùng cho thấy sự chuyển động của vũ trụ muôn đời vẫn lặng thầm. Vô thanh không phải là không hoạt động nhưng hoạt động này chúng ta vẫn thấy theo quy luật tự nhiên không hề cấu thành âm thanh để cảm nhận. Đó là một từ rất “đắc” và rất “đạt” của một con người tài hoa như Đông Pha.
- Hai câu cuối: Thử sinh thử dạ bất trường hảo, Minh nguyệt minh niên hà xứ khan? 此生此夜不長好,明月明年何處看: Từ vũ trụ bao la với dải Ngân Hà, từ vầng trăng vặng vặc như chiếc mâm ngọc, nhà thơ lại quay về với hiện thưc bé nhỏ của một đời người, một kiếp người và tự hỏi: Đời này, đêm nay đẹp đẽ như thế có còn mãi mãi tươi đẹp không hay nó chẳng kéo dài được mãi đâu!?. Từ đây, một cách nào đó , Tô Đông Pha đã giúp chúng ta nhìn lại kiếp người quá ngắn ngủi trong bầu trời hay vũ trụ rộng bao la để nhận ra cuộc đời quả là vô thường . Chữ “bất trường hảo” đã tập hợp để cho thấy không có gì là mãi mãi, luôn luôn tốt đẹp. Mọi cái đều theo quy luật sinh diệt của tạo vật mà Lão tử gọi là “biến dịch”, đạo Phật gọi là “vô thường” đó thôi ! Bước đường bị biếm trích của Đông Pha cũng xoay vần theo quy luật đó với đêm nay nhìn trăng đẹp còn ngày mai hay năm sau biết thưởng trăng ở chốn nào!!. Chữ “hà xứ khan 何處看” đã là một câu hỏi trong tâm tư nhà thơ về bước đường tương lai và sự nghiệp của mình.

Dương Anh Sơn

( Lần đến : THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA – Bài 66, 67 và 68)