Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

San Jose: Hội Luận Chống Nghị Quyết 23

 


SAN JOSE: HỘI LUẬN CHỐNG NGHỊ QUYẾT 23
Luong Vu

San Jose: Hội Luận Chống Nghị Quyết 23 | Thư Viện Tully 20/9/2026 live!

Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 



Chấn Động! Trực Tiếp Hai Vụ Tấn Công Nhắm Vào TT Trump Trong Cuối Tuần Khiến Cả nước Nín Thở

 


CHẤN ĐỘNG! TRỰC TIẾP HAI VỤ TẤN CÔNG NHẮM VÀO TT TRUMP TRONG CUỐI TUẦN KHIẾN CẢ NƯỚC NÍN THỞ
BTV EPOCH NEWS

CHẤN ĐỘNG! TRỰC TIẾP HAI VỤ TẤN CÔNG NHẮM VÀO TT TRUMP TRONG CUỐI TUẦN K...


Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 



Cánh Tả Là Những Kẻ Theo Chủ Nghĩa Phá Bỏ Trật Tự Cũ Và Chẳng Xây Dựng Được Gì Cả

 


CÁNH TẢ LÀ NHỮNG KẺ THEO CHỦ NGHĨA PHÁ BỎ TRẬT TỰ CŨ VÀ CHẲNG XÂY DỰNG ĐƯỢC GÌ CẢ
Jeff Davidson

Một nghịch lý lớn của nhân loại là những công trình mang tính lịch sử — thánh đường hay bảo tàng — vốn được cả thế giới ngưỡng mộ và phải mất hàng thập niên mới xây dựng xong, lại có thể bị phá hủy nhanh chóng bởi những kẻ có ý đồ xấu. Một hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới cần hàng trăm năm để đạt đến độ trưởng thành lại có thể bị xóa sổ chỉ trong vài ngày bởi kẻ phóng hỏa hay nhóm lâm tặc. Một tác phẩm nghệ thuật tuyệt mỹ, kết tinh từ vô số giờ lao động miệt mài, cũng có thể bị hủy hoại trong chớp mắt chỉ bởi một nhát dao, một que diêm đang cháy hay một xô sơn của kẻ phá hoại.

Các bức tượng Phật Bamiyan – những pho tượng khổng lồ được tạc vào vách đá ở Afghanistan từ thế kỷ thứ 6 – đã tồn tại suốt gần 1.500 năm trước khi bị Taliban phá hủy bằng thuốc nổ chỉ trong vài tuần vào năm 2001. Còn Di Hòa Xưa ở Trung Hoa, hay còn gọi là Viên Minh Viện, là công trình đòi hỏi sự kết tinh tài hoa kiến trúc hoàng gia triều đại nhà Thanh trong suốt nhiều thập niên; tuy nhiên, vào năm 1860, các bộ sưu tập nghệ thuật đồ sộ tại đây đã bị cướp phá và thiêu rụi trong vòng ba ngày giữa cuộc Chiến Tranh Nha Phiến Lần Thứ Hai.

Sự Phá Bỏ Mang Tính Ám Ảnh ở Phương Tây

Thách thức lớn nhất đối với những ai mong muốn gìn giữ các kiệt tác nghệ thuật, lịch sử đúng như thực tế đã diễn ra, cùng mọi di sản khác của nhân loại, chính là việc những người theo chủ nghĩa phá sạch có thể hành động một cách táo bạo và chớp nhoáng — thường là mà không bị phát hiện — để làm hư hại hoặc phá hủy vĩnh viễn những gì người khác đã dày công xây dựng bằng sự kiên nhẫn, tài năng và tâm huyết.

Ngay cả danh tiếng gia tộc, danh dự cá nhân hay uy tín doanh nghiệp — những giá trị cần đến sự chính trực qua nhiều thế hệ mới có thể tạo dựng nên — cũng có thể bị vùi dập chỉ bởi một lời nói dối hay sự phản bội, chưa kể đến những vụ bê bối được dàn dựng.

Ngày nay, phe Cánh Tả tại Mỹ và trên toàn thế giới – vốn bị kích động bởi hàng loạt sự kiện được thổi phồng quá mức, chẳng hạn như cái chết của George Floyd (thực tế là tình trạng dùng ma túy quá liều đã khiến anh ta trở nên yếu ớt, chứ không phải bị viên cảnh sát Derek Chauvin “sát hại”) – đã tự cho mình quyền diễn giải lại, phá đổ và hạ thấp bất cứ điều gì thuộc về quá khứ. Điều này bao trùm mọi khía cạnh của lịch sử nhân loại, các kiệt tác nghệ thuật, văn học, những thể chế lâu đời và đặc biệt là các chính quyền. Đối với họ, chẳng có gì là thiêng liêng cả.

Không Thứ Gì Được Buông Tha

Tham vọng phá sạch của phe Cánh Tả, đặc biệt là các thành viên DSA, là không có giới hạn. Không gì nằm ngoài tầm ngắm phá sạch của họ. Hãy thử ghé thăm một bảo tàng và chiêm ngưỡng những kiệt tác hội họa được trưng bày trang trọng; người theo phe Cánh Tả vẫn có thể bới móc lỗi lầm ở bất kỳ họa sĩ da trắng nào. Có thể họ bị coi là kẻ mang tư tưởng tinh hoa chủ nghĩa, trả lương rẻ mạt cho người học việc, hay giữ quan điểm sai lệch về một vấn đề nào đó. Người thân của họ có thể từng mang tư tưởng thực dân hoặc phân biệt chủng tộc. Ngay cả bản thân các bức tranh cũng có thể chứa đựng những hình ảnh mà ngày nay bị coi là hạ thấp phụ nữ hoặc xúc phạm một nhóm người được xem là “nạn nhân” nào đó.

Người ta có thể đưa ra bất kỳ sản phẩm nào của đời sống đương đại — từ hội họa đến kiến trúc, từ sách vở đến phim ảnh, từ sân khấu đến chính trị — và những người theo trường phái diệt sạch thuộc Cánh Tả vẫn có thể tìm cách bới móc, chỉ trích chúng. Quả thực, phe Cánh Tả luôn tìm ra vô số cách để hạ thấp bất cứ thứ gì họ bắt gặp trong bất kỳ lĩnh vực nào.

Chúng ta đã chứng kiến điều này lặp đi lặp lại trong những năm gần đây, đặc biệt là đối với lịch sử Hoa Kỳ. Hãy thử xét đến một nhân vật nổi bật của thế kỷ 18. Nếu soi xét kỹ lưỡng, một người theo trường phái diệt sạch có thể mổ xẻ, bới móc các khía cạnh trong cuộc đời của bất kỳ ai — dù đó là George Washington, Thomas Jefferson, hay thậm chí là Abraham Lincoln. Không ai được buông tha, và tiến trình này dường như chẳng bao giờ có hồi kết.

Tự Triệt Tiêu Lẫn Nhau

Giống như những sinh vật ngoài hành tinh đầy thù địch đến từ sâu thẳm vũ trụ, phe Cánh Tả rốt cuộc sẽ tự triệt tiêu lẫn nhau. Một khi đạt được mức độ quyền lực mà họ hằng khao khát, tiến trình này sẽ diễn ra với tốc độ chóng mặt. Đó chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

Trong tiến trình tìm cách triệt hạ lẫn nhau, họ luôn tự coi mình là một phần của một sứ mệnh cao cả: thanh lọc nhân loại và xã hội khỏi những thể chế mang tính áp đặt, gia trưởng, phân biệt chủng tộc và bài ngoại.

Bạn không thể tranh luận với những người này. Trong tư duy lệch lạc, họ tự đặt mình vào vị thế mà ở đó, mọi quan điểm khác biệt đều không thể dung thứ. Họ không ngừng rêu rao rằng mình đang đứng về “phía đúng đắn của lịch sử”. Thế nhưng, họ lại chính là tai ương của nhân loại, kẻ tìm thấy niềm hoan lạc trong chính những cảnh khốn cùng, sự tàn phá và nỗi thống khổ mà họ gây ra.

Hãy Đưa Tôi Gặp Lãnh Tụ Các Bạn

Trong bất kỳ xã hội nào, phe Cánh Tả càng trượt xa khỏi các giá trị chuẩn mực thì xã hội đó càng lâm vào cảnh nguy nan. Rồi khi một nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng xuất hiện – kiểu như Lenin, Mao Trạch Đông hay Pol Pot – thì hàng đoàn tín đồ cuồng tín sẽ lập tức bám lấy nhân vật này. Vị lãnh tụ được mong chờ bấy lâu nay đã đến, và công cuộc phá bỏ xã hội “đồi bại” mà họ đang sống có thể bắt đầu được đẩy nhanh tốc độ.

Điều trớ trêu đối với các xã hội dân chủ và cởi mở là gần như không thể triệt tiêu được những quan điểm lệch lạc như vậy. Bạn biết đấy, quyền tự do ngôn luận mà. Bạn không thể dùng lý lẽ để thuyết phục những kẻ chủ trương phá bỏ trật tự xã hội hiện hành. Đồng thời, cũng gần như không thể tác động đến nhóm người ở giữa – những người có quan điểm độc lập. Tại sao ư? Vì họ bị bủa vây bởi các luồng tư tưởng và tài liệu tuyên truyền của phe chủ trương phá bỏ trật tự cũ. Đối với họ, đó là thực tế diễn ra hàng ngày.

Các phương tiện truyền thông, báo chí và mọi luồng thông tin khác – vốn bị chi phối bởi phe chủ trương phá bỏ trật tự cũ – đang tác động mạnh mẽ đến đông đảo công chúng; những người mà lẽ ra đã có thể duy trì được một mức độ khách quan nhất định.

Cuộc Đấu Tranh Mang Tính Thời Đại

Như vậy, chúng ta đang đối mặt với cuộc đấu tranh sinh tử nhằm cứu lấy nhân loại. Đây là cuộc đấu tranh của thời đại chúng ta, và cũng là cuộc đấu tranh cho mọi thế hệ mai sau.

Tại Hoa Kỳ, thành trì phòng thủ của chúng ta nằm ở việc giữ vững Quốc Hội và ghế Tổng Thống lâu nhất có thể. Lũ man di đang chực chờ ngay trước cổng và bắt đầu leo qua tường thành. Nếu không nỗ lực hết mình để vận động người khác bỏ phiếu đúng đắn, chúng ta có nguy cơ thất bại. Phẩm chất cuộc sống và sự tự do của con cháu chúng ta đang bị đe dọa. Chúng ta có thể sẽ phải hối tiếc vì đã không làm đủ để giữ vững phòng tuyến này.

Phe Cánh Tả sẽ không bao giờ bỏ cuộc. Đó là bản chất lệch lạc của họ. Họ luôn nhăm nhe phá hoại, và rồi theo thời gian – như đã thấy – họ sẽ tự hủy diệt lẫn nhau. Tuy nhiên, điều đó chẳng mang lại chút an ủi nào cho chúng ta lúc này nếu ta để họ chiếm thế thượng phong.

Jeff Davidson


Những Điểm Mấu Chốt Trong Thỏa Thuận An Ninh Groenland Do Donald Trump Công Bố

 

Người dân đảo Qoornoq, Groenland đón tiếp thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen, lãnh đạo chính quyền Groenland Jens-Frederik Nielsen và chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen đến thăm, ngày 06/09/2026. Mads Claus Rasmussen/Ritzau Scan - Mads Claus Rasmussen


NHỮNG ĐIỂM MẤU CHỐT TRONG THỎA THUẬN AN NINH GROENLAND DO DONALD TRUMP CÔNG BỐ 
Anh Vũ

Sau nhiều tháng căng thẳng giữa Washington và Copenhagen, tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 18/09/2026 tuyên bố đã đạt được một thỏa thuận với Đan Mạch và Groenland, theo đó Mỹ có «quyền kiểm soát thường trực» đối với an ninh của hòn đảo Bắc Cực. Văn bản thỏa thuận chưa được công bố đầy đủ và dự kiến sẽ được ký chính thức vào tuần này, bên lề khóa họp Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc tại New York.

image.png
Người dân đảo Qoornoq, Groenland đón tiếp thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen, lãnh đạo chính quyền Groenland Jens-Frederik Nielsen và chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen đến thăm, ngày 06/09/2026. Mads Claus Rasmussen/Ritzau Scan - Mads Claus Rasmussen


Vậy thỏa thuận này thực chất có nội dung gì và liệu nó có làm thay đổi quy chế lãnh thổ của Groenland hay không? Một số giải thích xung quanh thỏa thuận vừa được công bố:

Thỏa thuận mà Donald Trump vừa công bố thực chất là gì?

Theo tuyên bố của tổng thống Mỹ, thỏa thuận trao cho Washington quyền kiểm soát lâu dài về an ninh của Groenland nhằm ngăn các đối thủ của Mỹ, trước hết là Nga và Trung Quốc, thiết lập sự hiện diện quân sự hoặc thực hiện những khoản đầu tư nhạy cảm trên hòn đảo.

Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio cho rằng thỏa thuận đáp ứng những quan tâm của Washington về an ninh quốc gia. Một quan chức bộ Ngoại Giao Mỹ cũng giải thích rằng Nga và Trung Quốc sẽ không thể xây dựng căn cứ, đưa quân tới Groenland hoặc đầu tư vào những lĩnh vực chiến lược mà không qua cơ chế kiểm soát của Mỹ.

Nhưng cần nhấn mạnh một điểm: Đây không phải là thỏa thuận chuyển quyền quản lý Groenland cho Mỹ.

Đan Mạch và chính quyền Groenland đều khẳng định chủ quyền lãnh thổ của hòn đảo không thay đổi. Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen khẳng định, thỏa thuận công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Vương quốc Đan Mạch, đồng thời công nhận quyền tự quyết của người dân Groenland

Nói cách khác, điều đang được thương lượng không phải là việc ai sở hữu Greenland, mà là ai có quyền bảo đảm an ninh và kiểm soát những hoạt động chiến lược trên hòn đảo này.

Điểm này đặc biệt quan trọng bởi Groenland có vị trí địa chính trị rất nhạy cảm. Hòn đảo nằm trên tuyến đường ngắn nhất giữa Bắc Mỹ và Nga, đồng thời có các nguồn khoáng sản quan trọng, trong đó có đất hiếm. Khi băng ở Bắc Cực tan nhanh hơn và các tuyến hàng hải mới có khả năng mở ra, giá trị chiến lược của vùng đất băng giá quanh năm này ngày càng tăng.

Mỹ đã đạt được mục tiêu gì sau nhiều tháng gây sức ép với Đan Mạch và Groenland?

Washington chắc chắn đạt được một số lợi ích về an ninh, nhưng nếu so với những mục tiêu ban đầu được chính quyền Trump đưa ra, phạm vi thỏa thuận có vẻ hạn chế hơn đáng kể.

Donald Trump từng nhiều lần nói rằng Mỹ cần kiểm soát Groenland, thậm chí không loại trừ khả năng sử dụng vũ lực. Các mục tiêu được đặt ra khi đó bao gồm khả năng mua hoặc sáp nhập lãnh thổ này và mở rộng đáng kể sự hiện diện quân sự của Mỹ.

Những mục tiêu đó không thực hiện được. Groenland vẫn thuộc Vương quốc Đan Mạch, không được bán cho Mỹ và không thuộc chủ quyền của Washington.

Điều Mỹ đạt được rõ nhất là một cơ chế tăng cường quyền kiểm soát về mặt an ninh và đầu tư chiến lược. Đặc biệt, Washington muốn bảo đảm rằng Nga và Trung Quốc không thể biến Groenland thành một địa điểm phục vụ lợi ích quân sự hoặc chiến lược của họ.

Vì vậy, lợi ích mà Mỹ đạt được chủ yếu nằm ở việc chính thức hóa và tăng cường một số cơ chế an ninh mà Washington và Copenhagen vốn đã cùng quan tâm.

Đan Mạch và Greenland đã đạt được gì trong thỏa thuận với Mỹ?

Điều quan trọng nhất mà Đan Mạch và Groenland đạt được là duy trì được chủ quyền và quyền tự quyết, trong khi vẫn bảo đảm sự hiện diện an ninh của Mỹ tại khu vực.

Trong suốt nhiều tháng đàm phán, Copenhagen và Nuuk phải đối mặt với sức ép rất lớn từ Washington. Tuy nhiên, trong nội dung thỏa thuận vừa được công bố, chủ quyền của Đan Mạch đối với Groenland vẫn được duy trì, đồng thời quyền tự quyết của người dân Groenland được công nhận.

Đây là điểm đặc biệt quan trọng đối với Copenhagen và Nuuk. Bởi vậy, các nhà lãnh đạo Đan Mạch và Groenland đều đánh giá thỏa thuận theo hướng tích cực.

Đan Mạch cho rằng văn bản này sẽ củng cố an ninh ở Bắc Cực và Bắc Đại Tây Dương, đồng thời tăng cường an ninh chung trong khuôn khổ NATO và châu Âu. Về phần mình, chính quyền Greenland nhấn mạnh rằng thỏa thuận bảo đảm an ninh cho hòn đảo và thừa nhận các lợi ích của người dân Groenland

Một lợi ích khác là Đan Mạch và Groenland đã tránh được kịch bản căng thẳng leo thang với Washington. Thay vì đối đầu về vấn đề chủ quyền, ba bên chuyển sang thương lượng về những vấn đề cụ thể như an ninh, sự hiện diện quân sự của Mỹ và kiểm soát các khoản đầu tư chiến lược.

Đổi lại, Copenhagen và Nuuk chấp nhận những cơ chế kiểm soát chặt chẽ hơn đối với các khoản đầu tư nước ngoài được xem là nhạy cảm, đặc biệt là những khoản đầu tư có thể làm gia tăng ảnh hưởng của Nga hoặc Trung Quốc tại Groenland.

Trả lời phỏng vấn báo Libération, nhà nghiên cứu địa chính trị tại Québec Mikaa Blugeon-Mered, cho rằng việc hạn chế đầu tư từ các nước đối thủ thực chất không phải là một nhượng bộ quá lớn đối với Đan Mạch và Groenland.

Copenhagen vốn gần đây đã phản đối một số dự án đầu tư của Trung Quốc tại Groenland. Trong khi đó, Nga hiện không có dự án đầu tư đáng kể nào trên đảo.

Như vậy, điểm đáng chú ý của thỏa thuận là Đan Mạch và Groenland chấp nhận tăng cường hợp tác an ninh với Mỹ nhưng không phải từ bỏ chủ quyền lãnh thổ.

Mỹ  thực sự sẽ mở rộng sự hiện diện quân sự tại Greenland?

Khả năng này được chính Donald Trump đề cập rất rõ.

Ngay sau khi công bố thỏa thuận, Tổng thống Mỹ nói Washington sẽ «ngay lập tức bắt đầu quá trình phát triển một sự hiện diện quân sự quan trọng» tại Groenland.

Một số thông tin báo chí cho biết Mỹ có thể xây dựng thêm ba căn cứ ở phía nam hòn đảo, bên cạnh căn cứ Pituffik hiện có ở phía bắc. Pituffik có vai trò quan trọng trong hệ thống cảnh báo sớm và phòng thủ tên lửa của Mỹ.

Tuy nhiên, đây cũng là một trong những điểm còn chưa được xác định rõ của thỏa thuận.

Bởi trên thực tế, Mỹ đã có sự hiện diện quân sự lâu dài tại Groenland. Hiệp định quốc phòng Mỹ - Đan Mạch năm 1951, được cập nhật năm 2004, đã tạo cơ sở pháp lý rộng cho hoạt động quân sự của Mỹ trên đảo. Washington từng có tới 17 cơ sở quân sự tại đây.

Đặc biệt, cần chờ văn bản chính thức để biết liệu Mỹ có được quyền xây dựng hoặc sử dụng những cơ sở mới mà không cần sự đồng ý cụ thể của Groenland và Đan Mạch hay không. Đây là vấn đề nhạy cảm bởi một sự hiện diện quân sự lớn hơn có thể làm thay đổi cán cân an ninh tại Bắc Cực, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ giữa Washington với các đồng minh châu Âu.

Tại sao Donald Trump tuyên bố đây là một chiến thắng?

Bởi vì nếu xét theo mục tiêu ban đầu, Washington rõ ràng không đạt được điều mà Donald Trump từng theo đuổi. Nhưng ông Trump có thể trình bày kết quả theo một cách khác. Thay vì nhấn mạnh chuyện sở hữu lãnh thổ, ông tập trung vào những gì Mỹ đạt được về an ninh. Nói cách khác, mục tiêu lãnh thổ không đạt được, nhưng mục tiêu chiến lược về an ninh được mở rộng. Chính sự thay đổi trọng tâm này cho phép Trump mô tả thỏa thuận như một thắng lợi của Mỹ.

Tại Mỹ, cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tháng 11 đang đến gần, trong khi chính quyền Trump phải đối mặt với những khó khăn về tỷ lệ ủng hộ và với các vấn đề gây tranh cãi trong chính sách đối ngoại, đặc biệt là cuộc xung đột với Iran. Một thỏa thuận về Greenland vì thế cho phép Tổng thống Mỹ đưa ra một thông điệp: Washington đã đạt được một kết quả cụ thể về an ninh quốc gia và vị thế chiến lược ở Bắc Cực.

Như vậy, cuộc khủng hoảng Greenland đã kết thúc chưa?

Chưa thể nói như vậy.

Trước mắt, thỏa thuận giúp giảm đáng kể nguy cơ đối đầu công khai giữa Mỹ và Đan Mạch. Sau nhiều tháng Donald Trump gây sức ép và thậm chí đề cập khả năng sử dụng vũ lực để giành Groenland, việc ba bên đạt được một thỏa hiệp là một bước chuyển quan trọng.

Nhưng văn bản cuối cùng vẫn chưa được công bố đầy đủ. Nhiều vấn đề cũng chưa được giải thích cụ thể, chẳng hạn thế nào là «đầu tư nhạy cảm», Mỹ sẽ có quyền hạn cụ thể đến đâu về an ninh, và quy mô hiện diện quân sự mới sẽ như thế nào.

Tranh chấp không còn tập trung chủ yếu vào câu hỏi Mỹ có được sở hữu Groenland hay không, mà chuyển sang những vấn đề cụ thể hơn: Mỹ được triển khai lực lượng đến đâu, có quyền kiểm soát an ninh ở mức nào, các khoản đầu tư nào sẽ bị hạn chế và Đan Mạch cùng Groenland giữ quyền quyết định đến đâu.

Đó sẽ là những nội dung cần được theo dõi khi văn bản chính thức được ký và công bố trong những ngày tới.

from:Vui Nguyen khuhoictnctneworleans@gmail.com


Phiên Tòa Luận Tội Người Công Chính

 


 


PHIÊN TÒA LUẬN TỘI  NGƯỜI CÔNG CHÍNH

     Để ghi nhớ những vụ kiện của TT Donald Trump về gian lận bầu cử không được các Tòa Án Hoa Kỳ xét xử trong năm 2020 và riêng ngày 09 tháng 02 năm 2021 tại Hoa Kỳ, những quan chức có tội lại dựng tuồng vi hiến luận tội vị Tổng Thống vô tội. Những tên gian dối, phản bội lại dựng tội, luận tội người yêu nước, trung thành.

 

     Tổng Thống Trump tội gì cà?

     Đây là nước Mỹ hay là Việt Nam?

     Tội là những kẻ tà gian

     Là phường ăn cướp la làng, tiếm ngôi!

     Tội là dung dưỡng bọn tồi

     Để người công chính chịu lời oan khiên!

     Tội là để lũ đảo điên

     Bán phăng nước Mỹ vì tiền Trung Hoa!

     Tội là qùy phục gian tà

     Là quân phản bội, hại nhà, hại quê!

     Là loài chức mộng, tiền mê

     Tay người bỏ lửa chuyên nghề bấy nay!

     Đừng quên nhân qủa đời này

     Đất - Trời thấy rõ một bầy dã man!

     Tâm phản phúc, ý tà gian

     Vì danh vì lợi xé tan nước nhà

     Còn Trump, quyết chí xông pha

     Đắp bồi xây dựng quốc gia phú cường

     Không vì danh lợi đời thường

     Mà vì chính nghĩa, quê hương, công bình

     Quan tòa, những kẻ bất minh

     Ngồi lên hiến pháp, lợ̣i mình, hại dân

     Đã không xét xử cân phân

     Đúng theo công pháp tinh thần quốc gia

     Tưởng công người dựng sơn hà

     Phạt bày theo Chệt phản nhà, bịp dân

     Lại còn tạo cảnh bất nhân

     Cho bầy gian ác cướp phần vinh quang!

     Đồng hành, dung dưỡng quân gian

     Tiếp tay cho tội phá tan cõi bờ!

     Vào hùa dựng kịch bôi dơ

     Xử người yêu nước, làm mờ công minh!

     Đây là đâu, hỡi Toà mình?!

     Luật Tàu sao giữa pháp đình Cờ Hoa!?

     Hỏi ai tội với Quốc Gia???

     Và đây Mỹ Quốc hay là Bắc Kinh???

     NHỤC ƠI, BỐN BIỂN CƯỜI KHINH

     PHIÊN TOÀ VI HIẾN PHÁP ĐÌNH CỜ HOA!

     TRUMP RỒI THANH SỬ CHÓI LÒA

     DÂN GHI ƠN ÍCH, SƠN HÀ GHI TÊN!

 

     Ngô Minh Hằng

     Ngày 09.02.2021



PHIÊN TÒA LUẬN TỘI NGƯỜI CÔNG CHÍNH 
Ngô Minh Hằng 

Trân trọng 
NHHN 


Quả Báo! Barack Obama Bị Chửi Vuốt Mặt Không Kịp Vì Mở Miệng Nói Đểu TT Trump

 


QUẢ BÁO! BARACK OBAMA BỊ CHỬI VUỐT MẶT KHÔNG KỊP VÌ MỞ MIỆNG NÓI ĐỂU TT TRUMP!
TammyUSA

"Quả báo! Barack obama bị chửi vuốt mặt không kịp vì mở miệng nói đểu tt Trump!" trên YouTube)


Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 



Không Mua Greenland, Nhưng Mỹ Lại Có Được Thứ Quan Trọng Hơn

 

Thành phố Nuuk – thủ đô của Greenland. (Ảnh: Shutterstock)

KHÔNG MUA GREENLAND, NHƯNG MỸ LẠI CÓ ĐƯỢC THỨ QUAN TRỌNG HƠN
Tiểu Nhàn/ Epoch Times

Mỹ cuối cùng vẫn không mua Greenland. Nếu chỉ nhìn dưới góc độ một thương vụ bất động sản, đây dường như là một cuộc mua bán không đi đến đâu: chủ quyền đối với Greenland vẫn thuộc Vương quốc Đan Mạch, Greenland vẫn duy trì quyền tự trị cao và quyền tự quyết định địa vị của mình trong tương lai; quốc kỳ Mỹ vì thế cũng không thể phủ kín hòn đảo lớn nhất thế giới này.

Nhưng chiến lược quốc tế chưa bao giờ đơn thuần là một giao dịch bất động sản. Điều thực sự đáng đặt câu hỏi là: Tại sao Mỹ cần Greenland? Nếu mục tiêu chủ yếu không phải là sở hữu thêm hơn 2 triệu km² lãnh thổ, mà là an ninh Bắc Cực, cảnh báo tên lửa, triển khai quân sự và ngăn Nga cùng Trung Quốc giành được chỗ đứng chiến lược, thì thỏa thuận vừa đạt được lại có thể né qua vấn đề khó khăn nhất là quyền sở hữu, đồng thời trực tiếp giải quyết điều Mỹ quan tâm nhất.

Theo những nội dung được công bố hiện nay, Mỹ có thể mở rộng lâu dài sự hiện diện quân sự tại Greenland, đồng thời có các quyền tiếp cận, xây dựng căn cứ và sử dụng không phận. Các quốc gia không thuộc NATO sẽ không được xây dựng căn cứ quân sự tại đây, trong khi những khoản đầu tư nhạy cảm của các đối thủ của Mỹ cũng có thể bị hạn chế. Thỏa thuận không có thời hạn chấm dứt. Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio cho rằng thỏa thuận này giải quyết các quan ngại về an ninh quốc gia của Washington. Tuy nhiên, Mỹ cuối cùng sẽ bổ sung bao nhiêu căn cứ và triển khai bao nhiêu binh sĩ vẫn chưa được xác định.

Điều này tạo ra một kết quả khá thú vị: Đan Mạch giữ chủ quyền, còn Mỹ có được những bảo đảm về an ninh mà Washington quan tâm.

Chủ quyền và quyền kiểm soát vốn không phải là một. Một vùng đất thuộc về ai là vấn đề pháp lý; ai có thể triển khai lực lượng quân sự tại đó, ai có quyền bay qua, ai có thể xây dựng căn cứ và ai có thể ngăn đối thủ tiềm tàng xâm nhập lại là vấn đề chiến lược.

Nếu Mỹ có thể lâu dài bảo đảm rằng Nga, Trung Quốc và các đối thủ khác không thể thiết lập hiện diện quân sự tại Greenland, trong khi Washington vẫn có thể tăng cường triển khai khi cần thiết, thì xét từ góc độ phòng thủ Bắc Mỹ, việc tên ai được ghi trên “giấy chứng nhận quyền sở hữu” lại trở thành vấn đề thứ yếu.

Quan trọng hơn cả là vị trí địa lý

Nhìn trên bản đồ sẽ thấy Greenland không phải là một vùng đất Bắc Cực bình thường. Hòn đảo nằm giữa Bắc Mỹ và châu Âu, đồng thời nằm gần tuyến đường Bắc Cực từ hướng Nga tiến vào Bắc Mỹ.

Căn cứ Vũ trụ Pituffik của Mỹ hiện là một mắt xích quan trọng trong hệ thống cảnh báo tên lửa, giám sát không gian và phòng thủ Bắc Mỹ. Mỹ đã duy trì các hoạt động an ninh tại Greenland từ Thế chiến II; thỏa thuận quốc phòng Mỹ – Đan Mạch năm 1951 đã đặt nền tảng pháp lý cho sự hiện diện quân sự của Mỹ tại đây. Vì vậy, thỏa thuận mới không phải là lần đầu tiên Mỹ hiện diện tại Greenland, mà là bước mở rộng các cơ chế hiện có theo hướng rộng hơn và lâu dài hơn.

Do đó, điều đáng chú ý thực sự trong thỏa thuận này không phải là “Mỹ cuối cùng đã có được Greenland”, mà là một câu khác:

Mỹ không có được Greenland, nhưng có thể đã có được phần có giá trị chiến lược nhất của Greenland đối với Mỹ.

Điều này thậm chí có thể có lợi hơn việc mua đứt hòn đảo.

Mua lãnh thổ đồng nghĩa với điều gì? Mỹ phải đàm phán về giá cả, xử lý ý nguyện chính trị của người dân Greenland, đối mặt với các vấn đề pháp lý trong nội bộ Đan Mạch, đồng thời phải gánh trách nhiệm quản lý, xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công.

Nếu Mỹ thực sự tiếp nhận một vùng lãnh thổ có khoảng 56.000 dân, diện tích khổng lồ và môi trường tự nhiên khắc nghiệt, Washington sẽ có được lợi ích chiến lược nhưng đồng thời cũng phải gánh thêm hàng loạt trách nhiệm không mang tính chiến lược.

Cấu trúc hiện tại lại đơn giản hơn nhiều.

Quyền quản lý hành chính vẫn thuộc về bạn, các vấn đề xã hội vẫn thuộc về bạn, người dân vẫn là người dân của bạn; còn điều Mỹ quan tâm là an ninh Bắc Mỹ. Khi cần căn cứ, Mỹ có thể tăng cường hiện diện; khi cần sử dụng không phận, Mỹ có thể sử dụng; còn nếu các đối thủ muốn đưa lực lượng quân sự hoặc các khoản đầu tư nhạy cảm vào Greenland thì sẽ phải đối mặt với những hạn chế mang tính thể chế.

Điều này giống như không mua cả tòa nhà nhưng có được quyền sử dụng lâu dài tầng mà mình cần, đồng thời hợp đồng còn quy định đối thủ không được phép chuyển vào.

Tất nhiên, hiện vẫn chưa thể khẳng định quá mức về thỏa thuận này. Toàn văn vẫn chưa được công bố. “Quyền kiểm soát vĩnh viễn đối với an ninh và các nhu cầu khác” mà ông Trump đề cập cuối cùng sẽ bao phủ đến mức nào về mặt pháp lý vẫn cần chờ văn bản chính thức. Thỏa thuận cũng còn phải trải qua các thủ tục phê chuẩn tại Đan Mạch và Greenland. Đặc biệt, cách định nghĩa “đầu tư nhạy cảm”, cách thức vận hành quyền phủ quyết của Mỹ và việc thỏa thuận có tiếp tục được duy trì nếu Greenland độc lập trong tương lai hay không đều sẽ ảnh hưởng đến giá trị thực tế của nó.

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa trên khuôn khổ đã được công bố, cấu trúc của thỏa thuận khá rõ ràng.

Điều quan trọng nhất đối với Đan Mạch là: Greenland không bị lấy đi.

Điều quan trọng nhất đối với Greenland là: quyền tự trị và tự quyết không bị hủy bỏ.

Điều quan trọng nhất đối với Mỹ là: nhu cầu an ninh ở hướng Bắc Cực được thể chế hóa trong dài hạn, đồng thời không gian để các đối thủ tiến vào Greenland bị hạn chế.

3 bên không hoàn toàn có cùng nhu cầu, và chính vì vậy mới có khả năng đạt được một thỏa thuận mà mỗi bên đều nhận được điều mình quan tâm.

Đây cũng là một thực tế trong chính trị quốc tế rất dễ bị che khuất bởi câu hỏi “lãnh thổ thuộc về ai?”. Màu sắc trên bản đồ tất nhiên rất quan trọng, nhưng đối với một cường quốc quân sự, đôi khi điều quan trọng hơn màu sắc trên bản đồ là căn cứ nằm ở đâu, radar đặt ở đâu, máy bay có thể bay qua hay không, tàu chiến có thể đi vào hay không và đối thủ có thể tiến vào hay không.

Nếu văn bản chính thức cuối cùng xác nhận những điều khoản chủ yếu đang được công bố, Mỹ không nhất thiết phải tô Greenland thành màu của nước Mỹ trên bản đồ.

Bởi trong vấn đề an ninh quan trọng nhất, Washington có thể đã đạt được điều thực sự mình cần.

Tiểu Nhàn/ Epoch Times


Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Thư Kêu Gọi Đồng Bào Tham Gia Biểu Tình Ôn Hòa Tại Ottawa

 


THƯ KÊU GỌI ĐỒNG BÀO THAM GIA BIỂU TÌNH ÔN HÒA TẠI OTTAWA
Ban Tổ Chức 

Trân trọng 
NHHN 

Một Thời Mê Thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật

 

MỘT THỜI MÊ THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ ĐƯỜNG LUẬT
Y Thy Võ Phú

Có lẽ trong các thể thơ của người Việt, ít có thể thơ nào vừa được yêu, vừa bị “ghét” như thất ngôn bát cú Đường luật. Người không thích nó có rất nhiều lý do. Nào là niêm luật quá gò bó, nào là câu chữ quá ít, đang lúc cảm xúc tuôn trào thì đã phải lo đối, vần, bằng, trắc... rồi còn phải nhớ đây là một thể thơ có nguồn gốc từ đời Đường bên Trung Hoa, với một hệ thống quy tắc đã được hình thành và hoàn chỉnh qua nhiều thế kỷ, trước khi được cha ông ta tiếp nhận, vận dụng và dần dần Việt hóa. Đối với những người yêu sự phóng khoáng của thơ ca hiện đại, thất ngôn bát cú quả thật dễ tạo cảm giác như một chiếc áo quá chật.  Thơ mới mở tung cánh cửa câu chữ. Nhà thơ có thể tự do hơn với số câu, số chữ, nhịp điệu, hình ảnh và cách diễn đạt. Còn thất ngôn bát cú thì chỉ có tám câu, mỗi câu bảy chữ. Tất cả chỉ vỏn vẹn năm mươi sáu chữ.

Năm mươi sáu chữ mà muốn nói chuyện trời đất, nhân tình, thế sự, tình yêu, quê hương, bè bạn, nỗi nhớ, nỗi buồn… thì quả thật chẳng khác nào bắt một người mang cả một chiếc vali cảm xúc đi qua một cánh cửa chỉ vừa đủ cho một người lọt qua. Vậy mà lạ thay, cái thể thơ tưởng như "chật chội" ấy lại có những người mê nó đến mất ăn mất ngủ.

Thoạt nghe, thất ngôn bát cú thật đơn giản: tám câu, mỗi câu bảy chữ. Nhưng chỉ cần bước một chân vào bên trong cái khuôn tám câu bảy chữ ấy, người ta mới biết mình vừa bước vào một thế giới hoàn toàn khác. Không phải cứ viết đủ tám câu, mỗi câu đủ bảy chữ là thành thơ Đường luật. Còn phải niêm, phải luật, phải vần, phải đối…

Hai câu thực phải đối nhau, hai câu luận cũng phải đối nhau. Câu nào niêm với câu nào, chữ nào phải bằng, chữ nào phải trắc, vần nằm ở đâu, vận sử dụng thế nào… tất cả đều có những quy tắc nhất định.  danh từ đối với danh từ, tính từ với tính từ, ....vv...vv...

Đã vậy, những người mê thơ Đường luật còn không chịu dừng ở những luật căn bản. Họ còn “khám bệnh” cho thơ. Nghe chữ “bệnh” đã thấy đáng sợ.  Làm thơ mà cứ như đi khám sức khỏe.  Viết xong một bài, chưa kịp hỏi nó có hay không, đã phải lo xem nó có mắc bệnh gì không!

Trong những luật lệ được lưu truyền trong giới chơi thơ Đường luật, người ta nhắc đến cả một danh sách dài những lỗi, những “bệnh” của thơ: trùng vận, trùng từ, trùng ý, điệp điệu, điệp thanh, điệp âm, đại vận, tiểu vận, phong yêu, hạc tất, chánh nữu, bàng nữu… Rồi lại có thất niêm, thất luật, thất đối, thất vận, bình đầu, thượng vỹ, mạ đề, khổ độc…

Tất cả khoảng… hai mươi thứ bệnh!

Chỉ nghe tên thôi cũng đủ làm một người mới tập làm thơ chóng mặt. Người ngoài nhìn vào chắc sẽ hỏi:

- Làm thơ mà sao cực vậy? Viết vài câu cho vui không được sao?

Được chứ, nhưng một khi đã mê thì đâu còn nghĩ như người ngoài nữa. Người mê thơ Đường luật bắt đầu có cái thú rất lạ.  Săn tìm một chữ, cân nhắc một từ, đổi một câu, sửa một thanh, rồi đọc đi đọc lại xem câu thơ đã “chuẩn mực, tuyệt vời” chưa. Có khi chỉ vì một chữ mà mất cả buổi tối.

Một câu tưởng như đã hoàn chỉnh, đến khi đem đối với câu kia mới phát hiện một chữ "không ổn". Thế là sửa. Sửa xong lại đọc. Đọc xong lại sửa. Cứ thế mà mê.

Cách đây không lâu, tôi có dịp giúp một nhà thơ trình bày một tập thơ xướng họa. Cả ngàn bài thơ, tưởng rằng công việc chỉ còn là sắp xếp, dàn trang, chỉnh sửa cho ngay ngắn rồi hoàn tất. Vậy mà khi tập thơ gần như đã xong, tác giả đọc lại từng bài và bắt đầu phát hiện chỗ này cần đổi một chữ, chỗ kia cần sửa một chữ. Có khi chỉ một chữ rất nhỏ, tưởng như chẳng đáng để bận tâm, nhưng lại phải sửa cho bằng được. Nếu là một người không từng mê thơ Đường luật, có lẽ tôi đã bỏ cuộc giữa chừng. Bởi cứ sửa đi sửa lại một vài chữ trong hàng ngàn bài thơ quả thật là một công việc dễ làm người ta… bở hơi tai. Có những chữ đã thay rồi lại đổi lại. Có câu tưởng đã “okay”, đọc thêm vài lần lại thấy chưa vừa ý. Rồi lại tìm một chữ khác. Thử vào câu. Đọc lên. Cân nhắc. Sửa tiếp….Nhưng tôi hiểu.  Tôi từng có một thời là một “con nghiện” thơ Đường luật, từng mất hàng giờ chỉ để tìm một chữ cho đúng vần, đúng luật, đúng thanh, đúng ý và quan trọng hơn hết là phải nghe cho “đã”. Vì vậy, tôi hiểu cái cảm giác khó chịu của người làm thơ khi nhìn thấy một chữ nằm không đúng chỗ trong bài của mình. Nó giống như một cái gai rất nhỏ nhưng cứ cộm mãi trong da/thịt. Người ngoài có thể bảo: “Chỉ một chữ thôi mà, có gì quan trọng đâu?” Nhưng với người làm thơ, đôi khi chính một chữ ấy lại làm hỏng cả câu thơ, cả bài thơ. Nhất là với thơ Đường luật, nơi mỗi chữ đều phải gánh trên vai nhiều thứ: ý nghĩa, âm thanh, bằng trắc, vần điệu, đối ngẫu và sự hài hòa với những chữ đứng bên cạnh. Một chữ thay đổi, đôi khi không chỉ thay đổi nghĩa của câu mà còn làm thay đổi cả nhịp điệu và cái thần của bài thơ. Cho nên tôi không thấy phiền khi tác giả cứ muốn sửa. Trái lại, tôi hiểu và thông cảm.

Có lẽ bởi tôi đã từng đi qua cái thời mà một câu thơ chưa vừa ý có thể khiến mình nằm trằn trọc cả đêm. Một chữ chưa tìm được có thể khiến đang ăn cơm cũng phải nghĩ. Một câu đã viết xong nhưng đọc lên vẫn thấy “ lấn cấn” thì nhất định phải tìm cách sửa, dù chỉ sửa một chữ.

Nhìn tác giả cẩn thận đọc lại từng bài, tôi chợt nhớ đến chính mình của một thời xa trước. Hóa ra cái “bệnh” mê thơ Đường luật ấy, dù đã lâu không còn nặng như trước, vẫn chưa hoàn toàn biến mất. Nó chỉ nằm đâu đó trong ký ức, để rồi khi gặp một người cũng khó tính với từng chữ như mình ngày xưa, nó lại thức dậy. Và tôi nghĩ, có lẽ chỉ những người từng mê thơ mới hiểu được tại sao một chữ lại có thể quan trọng đến như vậy. Một chữ đúng chỗ, câu thơ có thể nhẹ đi. Một chữ sai chỗ, cả câu thơ có thể trở nên nặng nề. Có khi chỉ thay một chữ mà câu thơ bỗng có hồn. Thế nên, giữa hàng ngàn bài thơ xướng họa, việc tác giả cứ muốn sửa đi sửa lại từng chữ không còn làm tôi "khó chịu" nữa. Tôi ngồi làm cùng ông, chậm rãi sửa từng chỗ một, bởi tôi biết phía sau sự khó tính ấy không phải là chuyện cầu kỳ vô cớ, mà là tình yêu đối với những câu thơ của chính mình. Và cũng có thể, đó là một thứ “bệnh” mà những người từng mê thơ Đường luật rất khó chữa. Mà thật ra… có những thứ bệnh, mình cũng chẳng muốn chữa làm gì.

Nhưng có lẽ cái đáng nể nhất của những người mê thơ Đường luật là họ không chỉ bằng lòng với cái khuôn vốn đã chật chội ấy. Họ còn tìm cách làm cho nó khó hơn! Nếu chỉ có niêm, luật, vần, đối mà đã đủ đau đầu thì họ lại nghĩ thêm những trò chơi mới với chữ, với âm, với vần, với cách đọc và cả cách sắp xếp bài thơ.  Thế là xuất hiện cả một thế giới biến thể phong phú đến mức người ngoài nghe tên đã muốn… bỏ chạy.

Có Bình đầu, Thủ nhất thanh, Thủ nhất tự, trong đó các câu được ràng buộc bởi chữ hoặc âm ở đầu câu. Có Khoáng thủ, lại chia thành những lối như Dĩ đề vi thủ, Chiết tự khoán thủ, Chiết tự khoáng tâm, đưa chữ của nhan đề vào đầu hoặc vào những vị trí nhất định của bài.

Có Vĩ tam thanh, Độc vận, Hạn vận, Dĩ đề vi vận, Bát vĩ đồng âm… những biến thể tiếp tục đưa cái khó từ đầu câu xuống cuối câu. Rồi có Hườn cú, với những cách chuyển vĩ, hồi văn, tuần hoàn, nghịch hườn cú. Nghe thôi đã thấy thơ chẳng khác gì một bàn cờ chữ.

Mỗi chữ được đặt xuống không chỉ vì ý nghĩa của nó mà còn vì thanh, vì vần, vì vị trí và vì mối quan hệ của nó với những chữ chung quanh. Đã vậy, người ta còn nghĩ ra Phá lục: trong một bài thất ngôn mà câu đầu chỉ có sáu chữ. Rồi Trốn vận, trong đó câu đầu không gieo vần, vần bắt đầu từ câu thứ hai và câu đầu phải đối với câu thứ hai theo quy luật riêng. Có Cô nhạn nhập quần, khi câu đầu mang một vần khác với vần còn lại. Có Cô nhạn xuất quần, khi sự khác biệt ấy nằm ở câu cuối. Có Yết hậu, câu cuối được rút ngắn chỉ còn một hoặc hai chữ vận. Rồi Thủ vĩ ngâm, câu đầu và câu cuối lặp lại nhau; Thủ vĩ điệp vận, vận ở đầu lại quay về ở cuối. Chưa hết, có cả Tung hoành trục khoán, dùng một cặp câu đối làm chủ đề rồi phân bố các chữ theo một quy luật nhất định trong toàn bài.

Đến đây thì người bình thường có lẽ đã đủ lý do để hỏi:

- Làm thơ hay giải toán vậy?

Mà thật ra… cũng gần gần như thế! Nếu những biến thể trên chưa đủ, người làm thơ Đường luật còn chơi với sự lặp lại của chữ. Có Bát điệp: một từ được lặp lại trong cả tám câu. Có Bát điệp song ngữ, Bát điệp song ngữ độc vận. Có Điệp từ, Điệp từ láy, Điệp từ kép, hay Song điệp. Rồi đến Lưỡng đầu xà, nghe cái tên đã thấy hình ảnh một con rắn có hai đầu: hai cụm từ ở đầu và cuối câu được đảo vị trí cho nhau. Lại còn Lưỡng đầu xà nghịch thiệt, kết hợp với phép nói lái. Những người không quen với thế giới này có thể nghĩ đây là những trò chơi cầu kỳ. Nhưng đối với người mê, chính cái cầu kỳ ấy lại là cái thú. Bởi mỗi khi tìm được một cách đặt chữ vừa đúng luật, vừa có nghĩa, vừa nghe thuận tai, người viết có một cảm giác rất khó tả. Giống như vừa giải được một câu đố. Một câu đố chỉ có bảy chữ.

Rồi đến âm thanh. Có Song thanh, trong mỗi câu xuất hiện những cặp chữ tạo thành các mối liên hệ về vần. Có Tam song thanh, hay Song thanh điệp vận, đẩy sự ràng buộc ấy lên cao hơn. Có Liên thanh, chú ý đến những chữ cùng thanh được đặt cạnh nhau. Có Ngũ độ thanh, đòi hỏi sự phối hợp nhiều thanh dấu trong cùng một câu theo quy luật. Rồi Bát cú phân minh, Độc nữu, Bát nữu, chú trọng đến phụ âm đầu của các chữ. Đặc biệt còn có Điệp tự hồi văn, nơi một số lượng chữ hạn chế được dùng đi dùng lại để tạo nên một bài thơ có khả năng đọc thuận hoặc đọc nghịch.

Đến đây thì tôi thật sự khâm phục những người đã nghĩ ra những biến thể ấy. Bởi họ không chỉ làm thơ. Họ đang khám phá khả năng của tiếng Việt. Họ thử xem năm mươi sáu chữ có thể được sắp xếp đến đâu, âm thanh có thể biến hóa thế nào, một chữ có thể đảm nhiệm bao nhiêu vai trò, một câu có thể vừa có nghĩa lại vừa tuân thủ bao nhiêu lớp quy tắc.

Nhưng đó vẫn chưa phải là tận cùng. Những người mê thơ Đường luật còn nghĩ đến chuyện lấy một bài thơ làm thành nhiều bài thơ. Có Hoán vận, thay đổi vị trí các chữ vần để tạo thành bài khác. Có Thuận nghịch độc: đọc xuôi là một bài, đọc ngược lại vẫn thành một bài khác có nghĩa. Có những dạng mà đọc ngược từ cuối bài lên sẽ thành bài mới; có dạng đổi vần; có dạng đọc ngược mà vẫn trở lại bài cũ; có dạng đảo thứ tự chữ trong từng câu. Một bài thơ mà đọc xuôi được, đọc ngược cũng được. Đối với người bình thường, chỉ cần đọc xuôi một bài thơ cho hết đã là xong. Còn người mê Đường luật lại nghĩ:

- Hay là đọc ngược thử sao?

Thế rồi từ một bài thơ lại chuyển hồi văn. Một bài có thể chuyển thành bốn bài: nguyên bản, nghịch bản, rồi từ đó tạo thêm những bài ngũ ngôn bằng cách bỏ hai chữ đầu mỗi câu. Cao hơn nữa là Ngũ chuyển hồi văn, rồi Lục chuyển hồi văn, từ một bài thơ mà biến hóa thành năm, rồi sáu bài. Tới đây thì tôi không biết nên gọi đó là làm thơ hay là… làm toán bằng chữ.

Người mê thơ Đường luật còn không chịu để một bài thơ đứng riêng. Họ nối bài này với bài kia. Có Xa luân ngũ bộ, trong đó các vần được luân chuyển giữa năm bài như bánh xe quay vòng. Có Lộc lư ngũ bộ, một câu hoặc một vần chủ đề được di chuyển qua những vị trí khác nhau trong năm bài. Rồi Thủ vĩ liên hoàn: câu kết bài trước trở thành câu mở đầu bài sau. Bài nọ kéo bài kia đi. Cuối cùng thành cả một chuỗi. Nếu vòng lại được với nhau thì thành Thủ vĩ tương lân, tạo nên một vòng tròn khép kín. Có Liên hoàn thuận nghịch vận, Thủ vĩ quán châu, rồi Liên hoàn, Ô Thước Kiều, nơi một hoặc nhiều chữ cuối bài trước được đưa sang đầu bài sau.

Một bài thơ lúc này không còn là một bài thơ nữa. Nó trở thành một mắt xích. Rồi nhiều mắt xích nối lại thành một chuỗi. Nhưng có lẽ điều làm tôi nhớ nhất về thời mê thơ Đường luật không phải những cái tên kỳ lạ ấy. Mà là xướng họa. Một người xướng. Một người họa. Rồi người khác họa tiếp. Người xướng đưa ra một bài thơ. Người họa không chỉ phải hiểu cái ý của bài xướng mà còn phải dùng những vận đã có để đáp lại. Thế là những người chưa từng gặp nhau ngoài đời có thể ngồi bên những chiếc máy tính, mỗi người một nơi, cùng đối ẩm bằng chữ.

Không cần rượu, cũng chẳng cần trà, chỉ cần một bài xướng, một người đưa ra câu thơ rồi người kia tìm cách đáp lại, cứ thế thơ nối thơ, câu nối câu. Có khi một bài xướng kéo theo năm, bảy, mười bài họa, có khi chỉ một câu thơ cũng đủ khiến cả diễn đàn thức khuya, người thì tìm chữ, người tìm ý, người cân nhắc vần, người săm soi luật, có người phát hiện chỗ thất niêm, có người bắt gặp một chữ trùng, có người xuýt xoa vì một câu đối thật hay, rồi cũng có khi tranh luận đến tận khuya chỉ vì một chữ nên giữ hay nên đổi. Thế nhưng sáng hôm sau, tất cả lại gặp nhau trong một bài xướng mới, tiếp tục xướng, họa, đùa vui và đối đáp bằng những câu thơ. Có lẽ đó chính là cái tình rất riêng của những người cùng mê chữ: không cần quen biết ngoài đời, không cần chung một ly rượu, chỉ cần cùng yêu thơ là đã có thể ngồi với nhau hàng giờ, đối ẩm bằng câu chữ và kết thành những người bạn văn chương.

Tôi nghĩ cũng chẳng có gì đáng trách khi một nhà thơ không thích thất ngôn bát cú Đường luật, bởi mỗi người đều có một cái tạng riêng với thơ. Có người yêu lục bát, có người thích thơ tự do, có người say mê những câu thơ ngắn gọn, có người lại thích những bài thơ dài như một dòng sông, và cũng có người tìm thấy niềm vui trong cái khuôn phép nghiêm ngặt của Đường luật. Thơ vốn là chuyện của cảm xúc, mà cảm xúc thì mỗi người mỗi khác, cho nên chuyện người này yêu một thể thơ, trong khi người khác lại không tìm thấy sự rung động nơi thể thơ ấy, cũng là điều hết sức tự nhiên.

Trong số những nhà thơ đương thời mà tôi biết, những tên tuổi như Xuân Diệu, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Du Tử Lê, Trần Trung Đạo, Luân Hoán, Lê Hân, Hoa Văn… không gắn tên tuổi của mình với những sáng tác thất ngôn bát cú Đường luật. Riêng với nhà thơ Luân Hoán, tôi từng biết rằng khi ông khởi xướng tờ Ngôn Ngữ, ông cũng không chủ trương đăng những bài thơ thuộc thể loại này. Có lẽ đó cũng chỉ là một cách lựa chọn, một quan niệm riêng về thơ và về con đường sáng tác của mỗi người. Thơ mà, có ai bắt người ta phải yêu một thể thơ nào đâu.

Tôi từng có dịp nói chuyện với cố thi sĩ Hoa Văn khi ông còn sinh thời và nhớ ông kể rằng ông yêu thơ lục bát nhất. Ông từng thử làm một bài thất ngôn bát cú Đường luật, nhưng không thấy “cảm” được với thể loại ấy, cuối cùng ông xé bỏ bài thơ và từ đó không bao giờ đụng tới nó nữa. Tôi rất thích câu chuyện ấy, bởi nó cho thấy sự gắn bó của một nhà thơ với thể thơ mình yêu đôi khi không đến từ lý trí hay sự lựa chọn có tính toán, mà đơn giản chỉ là một thứ duyên.

Một thể thơ có thể rất hay, rất đẹp đối với người này nhưng lại hoàn toàn không chạm được vào tâm hồn người khác. Hoa Văn yêu lục bát, còn tôi đã từng mê thất ngôn bát cú; ông tìm thấy mình trong những câu sáu tám mềm mại, còn tôi đã từng say mê cái khuôn phép tưởng như chật chội của tám câu bảy chữ. Mỗi người một duyên, một cánh cửa riêng để bước vào thế giới thi ca, và có lẽ chính sự khác biệt ấy mới làm cho thế giới của thơ trở nên phong phú và đáng yêu hơn.

Càng về sau, tôi càng nghĩ rằng cái người ta gọi là “gò bó” đôi khi lại chính là cái thú của thơ Đường luật. Một người thích vẽ có thể thích một tấm canvas thật lớn, muốn đưa nét cọ đi đâu cũng được, muốn vẽ gì cũng không bị giới hạn, nhưng cũng có người lại thích vẽ trong một khung tranh nhỏ, bởi khung càng nhỏ thì người vẽ càng phải cân nhắc từng nét, từng mảng màu, từng khoảng trống để làm sao cho bức tranh vẫn có hồn. Thơ Đường luật cũng vậy, chỉ tám câu, năm mươi sáu chữ, nhưng chính vì ít chữ nên người làm thơ càng phải biết chọn chữ, chính vì có luật nên phải tìm cách diễn đạt sao cho vừa tự nhiên vừa đúng khuôn phép, chính vì có phép đối nên phải suy nghĩ kỹ về từng cặp ý, từng hình ảnh, từng chữ tương xứng, và chính vì có vần nên phải tìm được một chữ vừa đúng nghĩa, vừa đúng âm, vừa giữ được cái thần của câu thơ. Nói cách khác, những luật lệ tưởng như trói buộc ấy lại buộc người làm thơ phải động não, phải tìm tòi, phải cân nhắc và phải sáng tạo nhiều hơn, mà động não, suy nghĩ và tìm tòi thì đâu phải lúc nào cũng là chuyện xấu; đôi khi chính những giới hạn ấy lại mở ra một cách chơi chữ rất thú vị, khiến người ta càng làm càng say, càng sửa càng mê, và càng bị khuôn phép ràng buộc lại càng muốn tìm cách vượt qua nó bằng chính sự tài hoa của mình.

Có khi cái thú của thơ Đường luật không nằm ở bài thơ, mà lại nằm ngay trong quá trình người làm thơ vật lộn với từng câu, từng chữ để tìm cho ra một cách diễn đạt vừa ý. Một chữ tìm được sau cả giờ suy nghĩ, cân nhắc, thử đi thử lại đôi khi lại đem đến niềm vui lớn hơn cả một bài thơ viết trong vài phút, bởi người làm thơ biết rằng mình vừa tìm được đúng mảnh ghép còn thiếu. Chỉ một chữ thôi, tưởng như nhỏ bé và chẳng có gì đáng kể, nhưng nếu đặt đúng chỗ, đúng nghĩa, đúng thanh, đúng vần, nó có thể làm cả câu thơ bừng sáng, khiến ý thơ trở nên nhẹ nhàng hơn, âm điệu trở nên hài hòa hơn và cái thần của câu thơ cũng từ đó mà hiện ra rõ ràng hơn. Có lẽ chính những khoảnh khắc rất nhỏ như vậy đã làm cho người mê thơ Đường luật cứ tiếp tục say mê, bởi niềm vui đôi khi không phải là làm xong một bài thơ, mà là sau bao nhiêu lần tìm kiếm, cuối cùng cũng bắt gặp được một chữ tưởng như đã đứng đó từ lâu, chỉ chờ mình tìm ra.

Tôi đã từng có một thời mê loại thơ này đến độ thức khuya dậy sớm chỉ để tìm câu, tìm chữ họa thơ. Đang ăn cũng nghĩ đến thơ, đang làm việc cũng lẩn quẩn trong đầu một chữ chưa tìm được, nằm xuống rồi lại chợt nhớ ra một câu còn dang dở, có khi đang lim dim ngủ bỗng bật dậy vì bất ngờ tìm được một chữ thích hợp, vội vàng ghi xuống rồi đọc đi đọc lại, thấy chưa hay lại sửa, sửa xong vẫn thấy thiếu một chút gì đó lại tiếp tục nghĩ, có khi cả một buổi tối chỉ để cuối cùng tìm cho được một câu bảy chữ vừa ý. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mình ngày ấy thiệt… “khùng”, nhưng đó là một cái “khùng” dễ thương, bởi nó không làm mình say, không khiến mình gây gổ, không làm mình phá phách, mà chỉ khiến mình ngồi yên một chỗ và suy nghĩ mãi về mấy con chữ. Có lẽ đó là một trong những thứ “nghiện” hiền lành nhất mà một người yêu chữ có thể mắc phải. Ngày nay, chỉ cần gõ vài chữ vào máy tính là có thể tìm ra hàng ngàn kết quả, thậm chí có những công cụ còn có thể giúp chúng ta viết cả một bài thơ, nghĩ lại cái thời phải tự mình lục tìm từng chữ, cân nhắc từng câu, sửa đi sửa lại từng vần, tôi càng thấy thương cái thời mê thơ ấy hơn, bởi khi đó niềm vui không đến từ việc có ngay một bài thơ trong tay, mà đến từ chính những giờ phút mình kiên nhẫn vật lộn với câu chữ để tự mình tìm ra nó.

Tôi không dám nói làm thơ Đường luật có thể ngăn ngừa hay làm giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, bởi đó là vấn đề thuộc về y khoa và phải có những nghiên cứu nghiêm túc mới có thể đưa ra một kết luận tin cậy. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng việc thường xuyên đọc, ghi nhớ, tìm kiếm, so sánh, lựa chọn và sáng tạo bằng ngôn ngữ là một hình thức vận động trí óc rất đáng quý. Muốn làm một bài thơ Đường luật, người ta phải nhớ luật, nhớ vần, tìm chữ, cân nhắc ý nghĩa, đối chiếu từng câu, sửa từng chữ rồi lại đọc đi đọc lại để xem câu thơ đã thật sự “hay” chưa. Có khi chỉ vì một chữ chưa vừa ý mà phải suy nghĩ hàng giờ, rồi từ chữ ấy lại kéo theo cả một câu, một vế đối phải thay đổi. Cứ thế, bộ óc gần như không có lúc được phép nằm yên, lúc nào cũng phải hoạt động, phải nhớ, phải tìm tòi và phải sáng tạo. Có lẽ đó cũng là một cái thú rất riêng của người mê thơ Đường luật: vừa làm thơ, vừa bắt bộ óc mình làm việc, và trong những năm tháng mà tuổi tác ngày càng cao, tôi càng thấy những hoạt động khiến con người phải suy nghĩ, phải nhớ và phải sáng tạo như thế càng đáng được trân trọng.

Trong thời đại hôm nay, khi chỉ cần gõ vài chữ vào máy tính là có thể tìm ra hàng ngàn kết quả, thậm chí có những công cụ AI còn có thể giúp chúng ta viết cả một bài thơ, tôi lại càng nhớ cái thời phải tự mình ngồi hàng giờ để tìm một chữ, cân nhắc một câu, sửa đi sửa lại một vần mà vẫn chưa thấy vừa ý. Ngày ấy, một câu thơ không đến từ một cú nhấp chuột, cũng không có một công cụ AI nào lập tức đưa ra cho mình hàng loạt phương án để lựa chọn, mà nó đến từ sự kiên nhẫn, từ trí nhớ, từ vốn sống, từ những gì mình đã đọc, đã nghe, đã trải qua, và nhất là từ một cái đầu cứ nhất định không chịu đầu hàng trước bảy chữ. Có khi chỉ một câu thơ thôi mà phải mất cả buổi, thậm chí cả một đêm, nhưng chính vì phải tự mình tìm kiếm và vật lộn với từng con chữ nên khi cuối cùng tìm được câu vừa ý, niềm vui cũng trở nên đặc biệt hơn, bởi đó là câu thơ do chính mình kiên nhẫn tìm ra, chứ không phải thứ có sẵn chỉ sau một lần nhấp chuột.

Bây giờ tôi không còn thức khuya dậy sớm như ngày trước để săn tìm từng câu từng chữ nữa, nhưng thỉnh thoảng nhớ lại, tôi vẫn thấy thương cái thời mình mê thơ đến độ bỏ ăn bỏ ngủ. Có lẽ tuổi trẻ của một người yêu chữ cũng cần những cơn mê như thế, mê một câu thơ, mê một chữ, mê một người, mê một miền quê, mê một tiếng gọi, và đôi khi mê cả một thể thơ mà người khác cho là gò bó, cũ kỹ. Thất ngôn bát cú Đường luật chỉ có tám câu, mỗi câu bảy chữ, một cái khuôn nhỏ bé đến mức tưởng như chẳng chứa được bao nhiêu, vậy mà trong cái khuôn nhỏ bé ấy, biết bao thế hệ đã gửi vào đó tình yêu, nỗi nhớ, niềm vui, nỗi buồn, chí khí, thời thế và những tâm sự riêng tư nhất của con người.

Không những thế, những người mê nó còn tìm cách làm cho cái khuôn ấy trở nên kỳ ảo hơn, chữ lặp chữ, vần nối vần, âm đối âm, câu trước gọi câu sau, bài này kéo bài kia, có những bài đọc xuôi được mà đọc ngược cũng thành một bài khác, một bài có thể biến thành hai, thành bốn, thành năm, thậm chí thành sáu bài. Nghĩ cho cùng, đến lúc ấy, đó không chỉ còn là chuyện làm thơ mà đã trở thành một cuộc chơi đầy thú vị của trí nhớ, của ngôn ngữ, của sự khéo léo và trí tưởng tượng. Có người không thích nó, có người thử một lần rồi xé bỏ, có người cả đời không đụng tới, còn tôi thì đã từng có một thời mê mẩn nó đến “ghiền”, mê đến mức thức khuya dậy sớm chỉ để tìm một chữ, sửa một câu, họa một bài thơ.

Bây giờ nghĩ lại, tôi không còn muốn tranh luận xem thơ Đường luật hay hay dở, cũ hay mới, gò bó hay tự do, bởi thơ vốn không có lỗi, chỉ là mỗi người có một cánh cửa riêng để bước vào thế giới của thơ. Với tôi, đã có một thời cánh cửa ấy mang hình dáng của tám câu thất ngôn, tám câu thôi, năm mươi sáu chữ thôi, nhưng đủ để một người thức khuya dậy sớm, tìm từng chữ, sửa từng câu, xướng rồi họa, và có những đêm tưởng như đang ngồi đối ẩm cùng bạn bè mà trên bàn chẳng có lấy một chung rượu, chỉ có chữ, chỉ có thơ, và một thời mê đến quên cả ngủ.

Y Thy Võ Phú