Thứ Tư, 8 tháng 4, 2026

Anh Hùng Bàn Phím

 


ANH HÙNG BÀN PHÍM
Nhất Hùng


Thật nực cười khi chứng kiến đám đông "chiến lược gia bàn phím" đang cuống cuồng lên đồng trước những nước đi của Tổng Thống Trump trong hồ sơ Iran. Có vẻ như trong thế giới của những người này, ngoại giao quốc tế nên diễn ra giống như một trận đấu vật biểu diễn - cứ phải lao vào húc nhau hùng hục cho đến khi một bên đo ván thì mới gọi là "anh hùng".

Hãy bỏ đi cái nhìn đầy cảm tính và có phần ngây ngô mà thay bằng một lăng kính thực tế hơn - thứ mà những người thích la lối mỉa mai thường thiếu vắng.

Khi TT Trump đưa ra một thời hạn chót, những người chỉ trích vội vã lôi thước dây ra đo lòng dũng cảm.

- Họ bảo: "Sao chưa đánh? Hết giờ rồi mà!"

- Thực tế là: Một thời hạn chót trong ngoại giao không phải là tiếng còi khai cuộc của một trận bóng đá, nó là một áp lực tâm lý đặt lên bàn cân lợi ích.

Việc ấn định một cái mốc rồi lùi lại không phải là sự do dự, đó là nghệ thuật của kẻ đang cầm trịch cuộc chơi. Khi đối phương (Iran) đang toát mồ hôi hột kiểm kê kho đạn và tính toán đường lui, thì những "nhà phê bình" của chúng ta lại ngồi rung đùi chê Tổng thống... hèn. Thật đúng là những người không bao giờ phải chịu trách nhiệm cho sinh mạng của binh lính thì luôn là những kẻ hiếu chiến nhất trên mạng xã hội.

Đàm phán trong chiến tranh là một cuộc đấu trí mà ở đó, tiếng súng đôi khi chỉ là nhạc nền. Những người chê cười việc “nói đàm rồi lại đánh - đánh rồi lại đàm” có lẽ không hiểu: Đàm bao lâu cũng còn hơn để một thế hệ phải nằm xuống trong vài ngày vì những quyết định nóng nảy.

Lối nhìn sự việc theo kiểu "đen hoặc trắng" - hoặc đánh cho tan nát, hoặc thôi đừng nói gì - là kiểu tư duy của những kẻ xem phim hành động quá liều. Họ không hiểu rằng:

Đánh là để buộc đối phương phải Đàm - Đàm là để củng cố vị thế cho những đòn Đánh tiếp theo nếu cần.

Việc Iran phủ nhận đàm phán trong khi các nước trung gian xác nhận là một màn kịch vụng về mà ai cũng thấu. Nhưng thay vì nhìn thấy cái thế yếu của Tehran, đám đông lại quay sang chỉ trích sự kiên nhẫn chiến lược của Washington.

Tại sao họ lại gọi là "hèn" khi thời hạn được dời lại? Đơn giản vì họ coi chính trị quốc tế là một sân khấu để thỏa mãn cái tôi cá nhân. Một suy tư đầy cảm tính: “Nếu ông không làm đúng như lời ông nói ngay lập tức, ông là kẻ yếu , kẻ hèn!”. Họ là những kẻ thích thỏa mãn cảm xúc nhất thời, bất chấp cái giá về kinh tế hay địa chính trị.

- Với cái nhìn cảm tính: Đặt “thời hạn chót” là không thể thay đổi - thay đổi thời hạn là hèn - là thỏa hiệp - là yếu đuối - là thua cuộc…

- Với cái nhìn thực tế chiến lược: Đặt “thời hạn chót” là công cụ ép đối phương nhượng bộ - là sự linh hoạt để đạt được kết quả tối ưu - là mục đích cuối cùng của sức mạnh quân sự - là bảo vệ lợi ích quốc gia lâu dài

Không có gì khôi hài hơn khi không ít ngườ thích dạy một tỷ phú, một Tổng thống cách đàm phán với những chế độ cứng đầu nhất thế giới. Sự thật là, trong khi đám đông còn mải mê tranh cãi xem ai "hèn", ai "dũng", thì những bánh răng của quyền lực thực sự vẫn đang chuyển động. TT Trump có thể dời thời hạn, có thể đàm phán ngầm, có thể bị chửi là "làm màu", nhưng kết quả cuối cùng mới là thứ định nghĩa lịch sử. Còn những tiếng la ó về sự "hèn nhát"? Chúng sẽ tan biến nhanh như làn khói súng sau một chiến dịch mà thôi.

Hãy bớt đọc tiểu thuyết anh hùng và bắt đầu học cách nhìn vào các con số và bàn cờ địa chính trị, trước khi mở miệng phê bình những "tính toán lợi hại" mà tầm mắt của mình chưa tới.

Những người đứng ngoài cuộc cứ đòi "phải đánh, phải diệt" hoặc la toáng lên “là hèn là thua cuộc”, cứ giống mấy ông khách xem đánh cờ vậy - người chơi thì đang toát mồ hôi tính từng nước đi để giữ quân, còn người xem thì cứ mắng sao không thí quân để ăn cho sướng mắt.

Chính trị đỉnh cao là trò chơi của những cái đầu lạnh, không phải nơi cho những trái tim nóng nảy và những cái miệng thích "nói cho sướng". Bớt hồ đồ đi mấy “ANH HÙNG BÀN PHÍM”

Nhất Hùng

Lệnh Ngừng Chiến Tạm Thời...

 


LỆNH NGỪNG CHIẾN TẠM THỜI...
From: 'Kim Vo' Via TVBQGVN

Thỏa thuận ngừng bắn giữa Hoa Kỳ và Iran hiện đang ở giai đoạn then chốt với các diễn biến mới nhất tính đến ngày 07/04/2026:

"Cựu sĩ quan tình báo Thủy quân lục chiến Hal Kempfer bàn về ý nghĩa của thỏa thuận ngừng bắn do Pakistan làm trung gian đối với Hoa Kỳ và Iran. Ông cho rằng điều này có khả năng mang lại tác động tích cực cho thị trường toàn cầu cũng như giá dầu, và thỏa thuận ngừng bắn có thể được gia hạn nếu mọi việc diễn ra thuận lợi."

Chi tiết bản thỏa thuận
  • Thời hạn: Lệnh ngừng bắn tạm thời kéo dài hai tuần đã được Tổng thống Donald Trump công bố và nhận được sự đồng thuận sơ bộ từ các bên.
  • Điều kiện then chốt: Mỹ yêu cầu Iran phải mở cửa hoàn toàn, ngay lập tức và an toàn eo biển Hormuz.
  • Lộ trình đàm phán: Sau giai đoạn ngừng bắn 2 tuần, các bên dự kiến sẽ thảo luận về một thỏa thuận rộng hơn (có thể kéo dài 45 ngày) bao gồm việc dỡ bỏ lệnh trừng phạt và các cam kết về hạt nhân.
  • Sự tham gia của các bên: Israel đã đồng ý tham gia vào khuôn khổ thỏa thuận này. 
Phản ứng từ phía Iran
  • Chính thức chấp thuận: Theo các nguồn tin mới nhất hôm nay, Iran đã chính thức chấp nhận lệnh ngừng bắn 2 tuần do Pakistan làm trung gian.
  • Lãnh tụ Tối cao: Đại giáo chủ Mojtaba Khamenei đã thông qua thỏa thuận này.
  • Đề xuất 10 điểm: Iran cũng đưa ra phản hồi riêng với kế hoạch 10 điểm, nhấn mạnh yêu cầu dỡ bỏ lệnh trừng phạt, đảm bảo an ninh và quyền kiểm soát eo biển Hormuz thay vì chỉ là một lệnh ngừng bắn tạm thời.
  • 'Kim Vo' via TVBQGVN
  • Kính mời quý vị theo dõi

Những Bài Học Xương Máu

 


NHỮNG BÀI HỌC XƯƠNG MÁU
Nhất Hùng


Để hiểu hơn về muôn vàn khó khăn của một chiến dịch giải cứu trong lòng địch và giá trị của sự việc giải cứu thành công hai phi công F15E bị rơi trong lãnh địa Iran, chúng tôi tóm tắt vài thất bại điển hình của quân đội Hoa Kỳ.

Lịch sử quân sự Mỹ từng có những chiến dịch giải cứu nhưng lại kết thúc trong bi kịch do sai lầm về tình báo, thời tiết hoặc sự phối hợp.

1. Chiến dịch Eagle Claw (Móng vuốt Đại bàng) tại Tehran, Iran (1980)

Đây được coi là một trong những thất bại đau đớn nhất của lực lượng đặc nhiệm Mỹ, nhằm giải cứu 52 nhân viên ngoại giao bị bắt làm con tin tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran.

Kế hoạch phức tạp được chuẩn bị với sự phối hợp giữa lục quân, hải quân và không quân. Tuy nhiên, ngay từ đầu, các trận bão cát sa mạc dữ dội đã làm hỏng hệ thống thủy lực của nhiều trực thăng. Khi số lượng trực thăng hoạt động không đủ để tiếp tục nhiệm vụ, chỉ huy ra lệnh rút lui. Trong lúc hỗn loạn tại điểm tập kết, một chiếc trực thăng EC-130 đã va chạm với máy bay vận tải tiếp nhiên liệu, gây ra vụ nổ lớn. Hậu quả là 8 binh sĩ thiệt mạng, 5 chiếc trực thăng bị bỏ lại sa mạc. Thất bại này đã góp phần khiến Tổng thống Jimmy Carter thua cuộc trong kỳ bầu cử sau đó và dẫn đến sự ra đời của Bộ Chỉ huy Các hoạt động Đặc biệt (SOCOM).

2. Trận Mogadishu (Black Hawk Down) tại Somalia (1993)

Nhiệm vụ ban đầu là bắt giữ các trợ lý cấp cao của lãnh chúa Mohamed Farrah Aidid, nhưng nhanh chóng trở thành một cuộc giải cứu đẫm máu cho các tổ bay trực thăng bị bắn rơi.

Lực lượng Ranger và Delta Force dự tính nhiệm vụ chỉ kéo dài khoảng một giờ. Tuy nhiên, dân quân Somalia đã dùng súng RPG bắn hạ hai chiếc trực thăng UH-60 Black Hawk. Quân Mỹ buộc phải ở lại qua đêm để bảo vệ và giải cứu các phi công trong vòng vây của hàng nghìn tay súng địa phương. Một cuộc chiến đô thị tàn khốc đã diễn ra. Lực lượng Mỹ cuối cùng cũng rút lui được nhờ sự hỗ trợ của xe bọc thép Liên Hiệp Quốc, nhưng cái giá phải trả quá đắt: 18 binh sĩ Mỹ thiệt mạng và hơn 70 người bị thương. Hình ảnh lính Mỹ bị kéo lê trên đường phố Mogadishu đã gây sốc cho dư luận Hoa Kỳ, dẫn đến việc Mỹ rút quân hoàn toàn khỏi Somalia.

3. Chiến dịch Red Wings tại Afghanistan (2005)

Đây là nhiệm vụ trinh sát và giải cứu đầy bi kịch tại vùng núi tỉnh Kunar, nhằm tiêu diệt một thủ lĩnh Taliban là Ahmad Shah.

Một nhóm 4 đặc nhiệm SEAL bị lộ vị trí và bị bao vây bởi lực lượng Taliban đông đảo. Trong nỗ lực ứng cứu đồng đội, một chiếc trực thăng MH-47 Chinook chở 16 binh sĩ (gồm 8 lính SEAL và 8 lính Night Stalkers) đã bị bắn hạ bởi một quả đạn RPG ngay khi đang tiếp cận vùng chiến sự. Toàn bộ 16 người trên máy bay thiệt mạng. Trong số 4 lính SEAL dưới đất, 3 người hy sinh sau cuộc đấu súng ác liệt. Chỉ duy nhất Marcus Luttrell sống sót nhờ được dân làng địa phương che chở.

Đây là tổn thất nhân mạng lớn nhất của lực lượng đặc nhiệm Mỹ trong một ngày kể từ sau Thế chiến II (tính đến thời điểm đó). Thất bại này cho thấy sự nguy hiểm của địa hình hiểm trở và việc thiếu hỏa lực yểm trợ tầm gần.

Điểm chung của ba thất bại này thường nằm ở sự chủ quan, đánh giá thấp khả năng của đối phương hoặc sự cố kỹ thuật ngoài ý muốn. Tuy nhiên, từ những bài học xương máu này, quân đội Mỹ đã cải tổ mạnh mẽ quy trình tác chiến đặc biệt để đạt được những thành công sau này.

Nhất Hùng


Khai Tử "Trật Tự Cũ"

 


KHAI TỬ "TRẬT TỰ CŨ"
Nhất Hùng


Cái gọi là "Trật tự Thế giới dựa trên luật lệ" mà phương Tây mơ mộng bấy lâu nay thực chất đã chết lâm sàng. Trong khi Washington chật vật với những nghị quyết vô thưởng vô phạt tại New York, thì các thế lực xét lại đang dùng “bàn tay sắt” để vẽ lại bản đồ địa chính trị. Đã đến lúc nước Mỹ ngừng đóng vai "người bảo vệ" cho một tòa lâu đài cát và bắt đầu xây dựng một Trật Tự Mới dựa trên sức mạnh áp đảo.

Liên Hiệp Quốc (UN) hiện nay không khác gì một "câu lạc bộ tranh luận" lỗi thời và bất lực.

- Nga đã chứng minh rằng các nghị quyết của UN chỉ là những tờ giấy lộn khi hàng trăm xe tăng tràn vào Ukraine, một quốc gia có độc lập có chủ quyền. Một thành viên thường trực Hội đồng Bảo an ngang nhiên xé bỏ luật chơi, khiến tính chính danh của tổ chức này trở về con số không.

- Trung Cộng không chỉ sách nhiễu Thái Bình Dương, họ đang thực hiện một cuộc xâm lược chậm bằng cách quân sự hóa các thực thể địa lý, bất chấp luật pháp quốc tế (UNCLOS). Việc Bắc Kinh coi thường phán đoán của tòa án quốc tế là minh chứng rõ nhất cho việc: Luật lệ chỉ dành cho kẻ yếu, còn kẻ mạnh thì tự tạo ra luật.

- Iran đã biến các lệnh cấm vận thành trò đùa. Bất chấp mọi nỗ lực ngoại giao nhu nhược, Iran vẫn tiến gần đến ngưỡng vũ khí nguyên tử, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của các đồng minh chiến lược và sự ổn định của Trung Đông.

Nước Mỹ không thể tiếp tục lãng phí tài nguyên để duy trì một hệ thống, một “trật tự” mà nhiều kẻ khác đang lợi dụng để lớn mạnh. Trật tự Mới phải được định nghĩa lại bằng các nguyên tắc thực dụng:
- Mỹ cần rút ưu tiên khỏi các tổ chức quốc tế không hiệu quả và thay thế bằng các liên minh quân sự - kinh tế chọn lọc, nơi chỉ có những quốc gia cùng giá trị và lợi ích cốt lõi được tham gia. Xóa bỏ hình thức đa phương.

- Định luật duy nhất giữ cho thế giới không rơi vào hỗn loạn không phải là "đạo đức giả" của luật quốc tế, mà là sự răn đe tuyệt đối từ kho vũ khí và tầm ảnh hưởng của Mỹ. Hoà bình thông qua sức mạnh.

- Khi lợi ích Hoa Kỳ bị đe dọa, Mỹ có quyền và nghĩa vụ hành động trước, không cần chờ đợi sự đồng thuận từ một tập thể nhu nhược. Mỹ cần đơn phương quyết đoán.

Trật tự cũ đã sụp đổ dưới sức nặng của sự phản bội, sự yếu hèn và tham vọng soán ngôi. Thay vì cố gắng hàn gắn một bình gốm đã vỡ, Mỹ cần đập tan nó để đúc nên một thanh kiếm mới. Một Trật Tự Mới do Mỹ dẫn dắt, dựa trên sức mạnh thực tế và sự trừng phạt đích đáng cho những kẻ thách thức, là con đường duy nhất để bảo vệ nền Văn Minh Nhân Loại.

Nhất Hùng

Phần 2 - Biên Đoàn Nghị Viên Phục Vụ Cử Tri Hay Thái Thú Vùi Dập Cử Tri?

 


PHẦN 2 - BIÊN ĐOÀN NGHỊ VIÊN PHỤC VỤ CỬ TRI HAY THÁI THÚ VÙI DẬP CỬ TRI?
Tạp Chí Nàng Thế Kỷ 21


Tạp Chí Nàng Thế Kỷ 21

Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 


Hình Ảnh Lưu Niệm - Tiền Giấy Phát Hành Thời Đệ 1 Việt Nam Cộng Hòa

 


HÌNH ẢNH LƯU NIỆM - TIỀN GIẤY PHÁT HÀNH THỜI ĐỆ 1 VIỆT NAM CỘNG HÒA
Từ: Mail

Tiền Giấy Phát Hành Thời Đệ Nhất 

VNCH


Giấy bạc 1 đồng.
Tên thường gọi: Đập lúa.

Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).


Giấy bạc 2 đồng.

Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Chiếc buồm.

Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ
).



Giấy bạc 5 đồng.

Tên thường gọi: Cày ruộng.

Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).

Giấy bạc 10 đồng.
Tên thường gọi: Đỏ Lăng Ông.
Năm phát hành: 1962.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).


Giấy bạc 20 đồng.

Tên thường gọi: Nâu.

Năm phát hành: 1962.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ)


Giấy bạc 50 đồng.

Tên thường gọi: Tím chăn trâu.

Năm phát hành: 1956.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 100 đồng.

Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Máy cày.

Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).


Giấy bạc 200 đồng.

Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Lính bồng súng.

Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 500 đồng.

Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Thiên Mụ.

Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).


Giấy bạc 200 đồng.

Tên thường gọi: Bụi trúc tím.

Năm phát hành: 1958.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



Giấy bạc 500 đồng.

Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Dinh Độc Lập.

Năm phát hành: 1962.
Nhà in: Thomas De La Rue (Anh Quốc).



Giấy bạc 1 đồng.

Tên thường gọi: Sở thú.

Năm phát hành: 1955.
Nhà in: Bradbury Wilkinson (Anh Quốc).


Giấy bạc 5 đồng.
Tên thường gọi: Con Phụng.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: Thomas De La Rue (Anh Quốc).

Giấy bạc 10 đồng.

Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Cá hóa long.

Năm phát hành: 1955.
Nhà in: Thomas De La Rue (Anh Quốc).

Trân trọng 

NHHN



Cái Giá Của Danh Dự & Niềm Tin

 


CÁI GIÁ CỦA DANH DỰ & NIỀM TIN
Nhất Hùng
Sau khi giải cứu được hai phi công F15 E bị rơi ở Iran, dư luận bàn tán trái chiều: Thành Công - Thất bại với đủ mọi lý lẽ. Trong thế giới quân sự và chính trị, đôi khi cái giá của sự "thất bại" thường bị thổi phồng bởi những con số trên bảng quyết toán, nhưng giá trị của một "thành công" chiến lược lại nằm ở những thứ không thể mua được bằng tiền.

Những kẻ chỉ trích thì chi li liệt kê tính toán từng đồng, những kẻ hoài nghi thì gọi đó là một "sai lầm đắt đỏ". Nhưng có một chân lý phải thẳng thắn nhìn nhận:

TRONG NGHỆ THUẬT CHIẾN TRANH VÀ VỊ THẾ CỦA MỘT SIÊU CƯỜNG, KHÔNG CÓ CUỘC GIẢI CỨU BINH SĨ NÀO LÀ THẤT BẠI.

Việc đưa được hai phi công trở về từ lòng đất đối phương không chỉ là một nhiệm vụ chiến thuật, đó là một tuyên ngôn về giá trị của con người và sức mạnh viễn chinh.

Để những người chỉ trích có cái nhìn toàn cảnh, hãy nhìn vào những gì Hoa Kỳ “tốn phí” vào chiến dịch này:

- Huy động các phi đội hộ tống, máy bay tiếp dầu trên không (KC-135/KC-46), và các trực thăng tinh nhuệ như HH-60W Jolly Green II…, tiêu tốn hàng trăm triệu USD chỉ riêng tiền nhiên liệu và bảo trì giờ bay.

- Tái định hướng các vệ tinh quân sự và huy động mạng lưới tình báo mặt đất trong thời gian thực chiếm dụng những nguồn lực khổng lồ mà thông thường phải mất nhiều tháng để điều phối.

- Biết bao rủi ro, Hoa Kỳ phải đặt lên bàn cân mối quan hệ ngoại giao mong manh và nguy cơ leo thang xung đột toàn diện chỉ vì hai cá nhân.

Nhưng xin quý vị hãy nhớ: Tiền có thể in thêm, khí tài có thể tái tạo, nhưng niềm tin của người lính vào quốc gia là thứ nếu mất đi sẽ không bao giờ lấy lại được.

Cuộc giải cứu hai phi công F15E đạt cả hai thắng lợi Chiến Thuật và Chiến Lược:

Thắng lợi về mặt Chiến thuật: Về mặt kỹ thuật quân sự, đây là một bài học giáo khoa về khả năng tác chiến hiệp đồng:

- Việc triển khai lực lượng đặc nhiệm thâm nhập vào một trong những lưới lửa phòng không dày đặc nhất thế giới mà vẫn bảo toàn được mục tiêu là một kỳ tích và thể hiện khả năng phản ứng nhanh.

- Hoa Kỳ đã chứng minh rằng không có "vùng cấm" nào là tuyệt đối. Việc đi vào và đi ra khỏi lãnh thổ Iran một cách thành công đã vả một cú tát trực diện vào năng lực phòng thủ của đối phương. Khẳng định một lần nữa Hoa Kỳ đã làm chủ không phận Iran.

- Phi công của Hoa Kỳ nắm giữ những bí mật về công nghệ radar và quy trình tác chiến của F-15E. Nếu họ bị bắt làm con tin, cái giá phải trả cho việc thay đổi toàn bộ hệ thống mã hóa và chiến thuật toàn cầu sẽ tốn gấp hàng nghìn lần chi phí cuộc giải cứu này.

Thắng lợi về mặt Chiến lược: Hiện thực hóa lời thề không bỏ lại đồng đội - Không Một Ai Bị Bỏ Lại Phía Sau.

Một quân đội mạnh không phải vì nó có nhiều tiền, mà vì nó có linh hồn. Đây là giá trị thực và vĩnh cửu.

- Khi kẻ thù biết rằng, Hoa Kỳ sẵn sàng lật ngược cả thế giới để cứu một người lính, địch sẽ phải run sợ trước ý chí đó. Cuộc giải cứu gửi đi thông điệp: “Không có biên giới nào ngăn cản được sự trả đũa nếu làm tổn thương binh sĩ Hoa Kỳ.”

- Hãy tưởng tượng một phi công trẻ đang bay trên bầu trời đối phương. Anh ta chiến đấu hết mình vì anh ta biết chắc chắn: Dù có chuyện gì xảy ra, đồng đội sẽ đến đón anh về. Đó là thứ tạo nên những chiến binh dũng cảm nhất, không phải những bảng kế toán khô khan. Đó chính là sức mạnh tinh thần cho một đội quân.

- Chỉ có siêu cường mới có khả năng và dám chấp nhận rủi ro để thực hiện những nhiệm vụ "bất khả thi". Việc rút lui hay bỏ mặc phi công vì "chi phí cao" sẽ là dấu chấm hết cho vai trò lãnh đạo thế giới.

Một sự thật hiển nhiên - Khi hai phi công bước chân xuống khỏi trực thăng cứu hộ, mọi tranh luận về "thất bại" đều trở nên vô nghĩa.

Thành công không đo bằng USD. Thành công được đo bằng việc giữ trọn lời thề: Không bao giờ bỏ lại đồng đội. Giá trị vô hình: danh dự và niềm tin là cái giá hoàn toàn xứng đáng!

NHẤT HÙNG

Bao Giờ, Hỡi Tháng Tư

 


BAO GIỜ, HỠI THÁNG TƯ
Nguyễn Văn Thành

Kính chúc Quý Vị sức khỏe và bình an!


Giới thiệu các bài hát của Nguyễn Văn Thành:

Giới thiệu các bài nhạc phổ thơ:

Giới thiệu các bài hát tình ca Nguyễn Văn Thành:

Giới thiệu các bài nhạc biếm:

Giới thiệu các bài hát Karaoke:

Mời xem kênh Hoàng Kỳ - (DCC):

Trân trọng 

NHHN 


Kính mời quý vị thưởng thức


Từ "Lời Nguyền Tháng Tư" Tới Cái Chết Bi Thương Của Bà Ngô Đình Lệ Quyên

 


TỪ “LỜI NGUYỀN THÁNG TƯ” TỚI CÁI CHẾT BI THƯƠNG CỦA BÀ NGÔ ĐÌNH LỆ QUYÊN
Chi Nguyễn

Bà Ngô Đình Lệ Quyên là con gái của ông Ngô Đình Nhu và bà Trần Lệ Xuân, từng là tiến sĩ Luật trước khi qua đời trong tai nạn giao thông ở Rome, Ý.


Ông Ngô Đình Nhu kết hôn với bà Trần Lệ Xuân, người xưa thường hay gọi tắt là vợ chồng Ngô đình Nhu. Hai người có với nhau 4 người con, 2 gái và 2 trai gồm: Ngô Đình Lệ Thủy, Ngô Đình Trác, Ngô Đình Quỳnh và Ngô Đình Lệ Quyên.


Ngô Đình Lệ Quyên sanh năm 1959 tại Sài Gòn, là con gái út của ông bà Ngô Đình Nhu, Sinh thời, bà là một người sống khá kín đáo và khép mình, nên không có nhiều thông tin về bà. Không giống như anh chị em, khi chế độ TT Ngô Đình Diệm sụp đổ, cả bác là Ngô Đình Diệm và cha bà là Ngô Đình Nhu bị ám sát, Lệ Quyên mới có 4 tuổi. Vì thế, bà gần như không có ký ức gì nhiều về quãng thời gian khi dòng họ Ngô còn đứng trên đỉnh cao quyền lực. Sau năm 1963, Lệ Quyên bị buộc phải rời khỏi Sài Gòn, đến gặp mẹ Trần Lệ Xuân ở Paris. Ký ức tuổi thơ của bà là những ngày tháng sống lưu vong ở châu Âu sau khi xin tỵ nạn ở Rome.


Tại thời điểm đó, anh trai của ông Diệm là Ngô Đình Thục đang là giám mục ở Tòa thánh Vatican. Vì thế, bà Trần Lệ Xuân đã đưa 4 người con tới đây xin tỵ nạn, nhờ anh chồng giúp đỡ. Đức giám mục Ngô Đình Thục luôn rất yêu thương các cháu, nên ông cung cấp cho họ nhà cửa tiện nghi, ngoài ra còn chi tiền cho các cháu ăn học.


Sau khi định cư ở Rome, Ngô Đình Lệ Quyên được tiếp nhận nền giáo dục toàn diện từ tiểu học tới trung học Công giáo tổ chức tư nhân Sisters Nevers. Bà theo học Đại học Rome, lấy bằng Tiến sĩ Luật rồi trở thành luật sư ngành công pháp quốc tế nổi tiếng. Bà cũng tham gia khóa học 2 năm về Thần học Marian ở ĐH Marianum, Rome.


Dù vậy, bà chỉ được mời thỉnh giảng ở đại học chứ không thể làm giáo sư. Nguyên nhân là một trong những điều kiện bắt buộc ở ĐH Rome là giáo sư giảng dạy phải có quốc tịch Italia, còn Ngô Đình Lệ Quyên thì kiên quyết không nhập tịch.


Bà Lệ Quyên lấy chồng người Ý, nhưng vẫn giữ họ Ngô chứ không mang họ chồng. Bà cũng cho con lấy họ bên ngoại, đặt tên cho con trai duy nhất là Ngô Đình Sơn. Về điều này, ông chồng người Ý của Lệ Quyên đã chấp nhận.


Được biết, Lệ Quyên từng là Giám đốc phụ trách vấn đề di dân của tổ chức Cartitas, tổ chức thiện nguyện thuộc Tòa thánh Vatican. Tại tổ chức Cartitas, Lệ Quyên là một nhà lãnh đạo cương quyết, cứng rắn, nhưng lại ăn nói nhỏ nhẹ, khiêm nhường và sống rất đúng chuẩn mực. Nhiều người kể lại rằng, bà sống rất giản dị, thân thiện với người xung quanh.


Ngô Đình Lệ Quyên nổi tiếng ở Rome là người rất cứng đầu, bởi nhất định không xin nhập quốc tịch Italia. Mặc dù nếu có, con đường sự nghiệp của người phụ nữ này hẳn sẽ tươi sáng hơn. Dù vậy, bà chối bỏ con đường đó, dốc sức mình cho công tác thiện nguyện và sống đời ẩn dật.


Năm 1969, bà là một trong những người lưu vong nước ngoài đầu tiên nhận tình trạng tỵ nạn chánh trị ở Italia. Mãi tới gần 40 năm sau, vào tháng 4/2008, Tổng thống Cộng hòa Giorgio Napolitano đã trao quyền công dân Ý cho bà bởi "những đóng góp nổi bật cho Nhà nước". Đây là một vinh dự mà ít người ngoại quốc nào có được ở nước này.


Trang blog của Caritas of Rome viết: "Lệ Quyên đóng vai trò rất lớn trong chính sách của Caritas ở mọi mức độ. Bà được nhiều nhân viên ở Caritas biết. Ðồng sự của bà khắp thế giới luôn nhớ đến bà trong vai trò một người dấn thân cho người nghèo".


Tai nạn bất ngờ:


Ngày 16/4/2012, Ngô Đình Lệ Quyên tử nạn trong một tai nạn giao thông. Truyền thông khi đó đưa tin, vụ tai nạn xảy ra 8h30 ở ngoại ô Rome, khi Lệ Quyên trên đường vào trung tâm thành phố làm việc. Lực tông mạnh giữa xe máy của bà và một xe bus chở học sanh đi ngược chiều đã khiến bà bị hất văng 7m. Cũng có nơi ghi rằng, chiếc xe máy do Lệ Quyên cầm lái bất ngờ ngã ra đường và bà bị một chiếc xe buýt chở học sinh cán phải, tử vong tại chỗ.


Nhiều ngày sau đó, truyền thông ở Rome đồng loạt đưa tin, bình luận về cái chết thương tâm của Ngô Đình Lệ Quyên. Lãnh đạo TP Rome đã gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia đình bà. Có nơi đã trích dẫn lời Phó Thị trưởng thành Rome, Sveva Belviso phát biểu: "Tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc nhất đối với cái chết bất ngờ của bà Ngô Đình Lệ Quyên, một người phụ nữ đã hết sức chuyên nghiệp trong công việc trên cương vị trưởng bộ phận giúp di dân tại Caritas, hỗ trợ những người khó khăn trong xã hội".


Có một số người đồn đoán rằng, gia đình bà Trần Lệ Xuân bị mắc "Lời Nguyền Tháng Tư". Nguyên do là nhiều người trong gia đình bà đều chết vào tháng tư, ví dụ như Ngô Đình Lệ Thủy mất tháng 4/1967, bà Trần Lệ Xuân tháng 4/2011 và sau đó là Ngô Đình Lệ Quyên mất ngày 16/4/2012. Tất nhiên, đây chỉ là những lời đồn đoán, còn những đóng góp cho xã hội của Ngô Đình Lệ Quyên đã khiến nhiều người không khỏi tiếc thương cho sự ra đi của bà.


Chi Nguyễn


50 Năm... Tháng 4 Lại Về

 


5O NĂM ... THÁNG 4 LẠI VỀ
Lê Minh Ngọc – Mỗi Độ Tháng Tư Về…


Hàng năm, cứ mỗi độ tháng Tư về, là thiên hạ lại thấy xuất hiện trên báo chí và mạng lưới, những tin tức hình ảnh liên quan đến biến cố tháng Tư năm 1975. Năm nay, cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” của tác giả Phạm Huấn bỗng được thấy đặc biệt chiếu cố, khai thác đều trên các mạng lưới. Và tên tuổi Phạm Huấn được đặc biệt nhắc nhở, đề cao. Một nét đặc biệt hơn nữa: đến những chữ nghĩa trong cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” của răng-đen-mã-tấu Văn Tiến Dũng, cũng được trang trọng trưng bày, xen kẻ với chữ nghĩa của Phạm Huấn! … Lý do tại sao, xin dành quyền thẩm định phê phán khách quan lại cho quý độc giả, sau khi đọc xong bài viết nhỏ bé này.Khoan thai mà nhận diện tin tức, chúng ta thấy có hai phần khác nhau:


Phần 1 là những trích dẫn từ ngay trong chính cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” của tác giả Phạm Huấn. Và phần 2, là những bài viết khác, nhưng cũng nhằm vào một hướng : mạt sát Miền Nam Việt Nam ngày trước !


Hãy bắt đầu bằng những trích dẫn từ ngay trong cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên”.


Trong phần này, trên nhiều mạng lưới, thấy có trích ra nhiều đoạn, mô tả nhiều diễn tiến dồn dập, ào ạt, nóng bỏng. Trong dòng diễn tiến cuồn cuộn đó, có một đoạn trích dẫn “bắt mắt” tôi nhất. Bắt mắt tôi, vì cường độ chữ nghĩa của tác giả cũng có, và vì giá trị xác tín của nguồn tin cũng có.


Xin chép lại nguyên văn đoạn này:


“Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù tăng phái cho mặt trận Khánh Dương, buông súng trưa ngày 1.4.1975, sau khi vỡ tuyến, bị tràn ngập, và không còn được tiếp tế, liên lạc được với Quân đoàn II. Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù bị tổn thất 70% lực lượng. Đó là thực trạng và tinh thần chiến đấu của các đơn vị chủ lực Quân Đoàn II, và Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù trong những ngày sau cùng trên chiến trường Cao Nguyên, Pleiku, Kontum, Nha Trang:


Chưa đánh đã bỏ chạy! Đúng!”…


Nếu là người dưng nước lã, đọc thoáng qua, chắc tôi cũng chỉ dững dưng đọc tiếp. Nhưng riêng tôi, không là người dưng nước lã với Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù. Tôi đã có những tháng năm phục vụ trong đơn vị này. Sự thật không phải như vậy. Hoàn toàn không.


Nhân đây, tôi cố gắng trình bày lại, hầu quý độc giả, tất cả những diễn tiến, mà các đơn vị Nhảy Dù Việt Nam có tham dự trong những tháng ngày cuối cùng của cuộc chiến. Trước khi mổ xẻ đoạn văn của Phạm Huấn trên đây, tôi xin thưa trước một điều.


Vì nhu cầu trình bày mạch lạc tin tức dữ kiện, để Quý Vị dễ theo dõi, sẽ có đôi lúc tôi phải viết lên liên hệ của cá nhân tôi với các đơn vị này. Xin đừng hiểu lầm, là người viết muốn nói về “cái tôi” của mình.


Trong biển lửa mênh mông và cường độ khốc liệt của cuộc chiến bất hạnh đó, tôi nghĩ, và tôi chắc rằng, mỗi chúng ta chưa đáng là con đom đóm. Từ các cấp lãnh đạo, chỉ huy của Việt Nam, cho đến cả Đại Sứ Mérillon của Pháp, ngay cả chính Đại Sứ Graham Martin của Mỹ, cũng chỉ là nạn nhân, phục vụ cho quyền lợi kinh tế và chiến lược tối thượng của Hoa Kỳ và Trung Cộng. Ra hải ngoại này, “cái tôi” là điều mà đại đa số qúy vị độc giả, trong đó có chính tôi, đã quá kinh tởm, trong rừng lúc nhúc các “bút ký chán chường”!


Trọn năm 1973, tôi là lữ đoàn phó Lữ đoàn này, hành quân vùng “Động Ông Đô” ở Quảng Trị. Đụng chạm suốt năm, nhiều kỷ niệm mồ hôi xương máu, ký ức còn nóng hổi như mới ngày hôm qua.


Tháng giêng năm 1974, Bộ Tư Lệnh Nhảy Dù bổ nhậm tôi làm Lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù, thay thế Đại Tá Nguyễn Thu Lương (K4TĐ).


CAC CHIEN SI NHAY DU NGHI NGOI TREN QUOC LO, SAU MOT CUOC HANH QUAN TRUY LUNG DICH QUANLữ Đoàn 2


Nhẩy Dù ở lại bắc Quảng Trị, trách nhiệm vùng khoảng phía tây Phong Điền/La Vang, dưới sự phối hợp và kiểm soát hành quân của Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến. Còn lại, SĐND (-) được Trung Tướng Ngô Quang Trưởng tư lệnh Quân Đoàn I điều động về nam đèo Hải Vân để giúp trấn giữ Đà Nẵng.


Hòa Đàm Ba Lê kết thúc ngày 27 tháng giêng năm 1973: Henry Kissinger và Lê Đức Thọ được giải “Nobel Hòa Bình” sau đó, là bản án bức tử cho “đồng minh” Nam Việt Nam, vì quyền lợi chính trị và chiến lược của chính “đồng minh” Hoa Kỳ! Cộng Sản Hà Nội không còn có nhu cầu nhắm chiếm Huế để làm “thủ đô” cho Nguyễn Hữu Thọ và Nguyễn Thị Bình nữa. Họ dồn áp lực tối đa vào Đà Nẵng và Ban Mê Thuột, và mục tiêu tối hậu là... Sài Gòn.


Sau đúng 1 năm ở lại Quảng Trị, tháng 12 năm 1974, tôi bất thần lại được Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, tư lệnh Dù sau cùng, cho lệnh tôi bàn giao LĐ2ND ngược lại cho Đại Tá Nguyễn Thu Lương.


Tôi trở về BTL/Phòng 3 Hành Quân (ở Non Nước, Đà Nẵng) nhận lệnh mới. Tiễn tôi ra trực thăng chỉ huy, là “Moshe Dayan” Trung Tá Lữ Đoàn Phó Trần Văn Sơn K8TĐ. Anh em Dù gọi Sơn như vậy, vì Sơn đã bị thương mất một mắt, ngày còn là ĐĐT ở TĐ5ND, nhưng vẫn tình nguyện ở lại với đơn vị.


Tại căn cứ Non Nước, công việc của tôi hằng ngày, là bay đi kiểm soát phần huấn luyện của các đơn vị Nhảy Dù “Đa Năng”. Đây là những trung đội và đại đội, được rút ra từ 6 tiểu đoàn Nhảy Dù cũ đang tham chiến trong vùng Thường Đức và Đại Lộc, phía tây Đà Nẵng, thuộc các LĐ1ND (Tr/Tá Nguyễn Văn Đỉnh K15VB) và LĐ3ND (ĐT Lê Văn Phát). Khi tôi còn trách nhiệm LĐ2ND tại bắc Hải Vân trong năm 1974, chính tôi cũng nhận được lệnh rút các trung đội và đại đội từ các tiểu đoàn cơ hữu của tôi (TĐ5, 7, và 11 ND), gởi đi huấn luyện “Đa Năng”.


Địa điểm huấn luyện nằm ngay trong vùng trách nhiệm hành quân của LĐ3ND, phía tây Đà Nẵng, nên tôi gặp “Bố Già” Phát rất thường xuyên.


Các đơn vị huấn luyện, đi “bứng chốt” ban ngày, và chạm địch ban đêm như cơm bữa.


Hạ tuần tháng Giêng năm 1975, tôi được lệnh Chuẩn Tướng Lục Quân Lưỡng, đưa “Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù”, đơn vị có cái tên mới cáo cạnh, về Sài Gòn gon nhận lệnh Bộ Tổng Tham Mưu (vì Bộ Tư Lệnh/SĐND còn ở Đà Nẵng).


Khi kéo quân ra khỏi vùng hành quân của LĐ3ND, tôi hỏi “Bố Già” Phát:


“ĐTá Lương đang ở đây, sao ông Tướng không để ĐT Lương đi, mà kéo tới kéo lui chi rắc rối vậy, đại tá có biết không”?.


Tôi hỏi vậy, vì các Tướng Bùi Thế Lân, Tướng Lê Quang Lưỡng, Tướng Ngô Quang Trưởng, và hai ông đại tá này là bạn cùng khóa 4TĐ với nhau. Giọng Bố Già Phát bỗng nghiêm trọng hơn thường ngày:


– “Ở đây nặng, nhưng đơn giản. Chỉ có thằng Việt Cộng trước mặt thôi. Mấy năm nay, TQLC và Dù không được về Sai Gòn. Về đó, Ngọc nhớ phải thận trọng mọi mặt…”


Sáng ngày 20 tháng Giêng năm 1975, tôi đang ngồi trên xe Jeep tại bến tầu Đà Nẵng để xem các tiểu đoàn chuyển quân xuống chiến hạm của HQVN để về Vũng Tầu, thì Chuẩn Tướng Lưỡng đến nơi bằng xe. Ông hỏi diễn tiến công việc ra sao. Tôi trình bày vắn tắt, là suông sẻ như kế hoặch. Và nhân đó, có hỏi “mi mí” ông tướng, xem nhiệm vụ của tôi ở Saigon trong vài ngày sắp tới, đại khái như thế nào.


Tướng LQ Lưỡng đăm chiêu:


– “Đánh rắn, phải đánh giập đầu. Đáng lẽ phải có Tổng Trừ Bị bảo vệ Biệt Khu Thủ Đô và Tổng Tham Mưu từ sớm hơn, như hồi Mậu Thân vậy. Anh về đó, tình hình sẽ không nhẹ nhàng gì hơn ngoài này đâu. Khác với các Lữ Đoàn còn lại đây, là tình hình có thể đột biến bất ngờ, mà anh chỉ có một mình. Ngoài việc điều binh ra, anh phải cảnh giác luôn luôn, báo cáo chặt chẽ với tôi. Trường hợp thật đặc biệt, phải có lệnh của tôi”.


Ông Tướng không nói rõ, nhưng tôi đã hiểu mi mí, qua câu nói của ông anh “Bố Già” Lê Văn Phát. Dĩ nhiên, chuyện loại này, chả ông nào nói rõ trước cả. May quá, thời cuộc không xoay chuyển về hướng đó. Sau này, đọc hồi ký của Tướng Lê Quang Lưỡng ở hải ngoại, mới thấy ông nói rõ hơn.


Và ông Tướng vội vả ra đi, trước khi bảo tôi giao cho các Tiểu Đoàn Trưởng đôn đốc việc hải hành. Còn tôi, thì ra ngay phi trường, đã có nhân viên BTL/Phòng Tư lo phương tiện C-130 bay về trước, trình diện Bộ Tổng Tham Mưu nhận lệnh.


Tôi ghi lại đoạn này, để quý độc giả theo dõi mạch lạc hơn, vì trong những biến cố sau cùng, các LĐ2ND và LĐ4ND vừa kể, lại sẽ còn dính líu đến hoạt động của LĐ3ND, đơn vị đã bị Phạm Huấn khai tử trước, trong cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên”, trước khi lịch sử của cuộc chiến tranh lạnh thế kỷ thứ 20 bức tử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau đó.


Tôi rời Bố Già Phát, nhưng không phải vì thế mà tôi “mất dấu” Lien Đoàn 3 Nhảy Dù.


Tình hình điều động và tham chiến của các Lữ Đoàn và Tiểu Đoàn bạn trong binh chủng, đều được ban tham mưu Lữ Đoàn thuyết trình hằng ngày. Sau nhiều trận chạm địch, các Tiểu đoàn được hoán chuyển, để binh sĩ được về thăm gia đình, đơn vị được bổ sung và chỉnh bị. Cho nên tại vùng hành quân, ít khi các Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn có được đủ mặt các tiểu đoàn cơ hữu của mình.


Thường thì mỗi Lữ Đoàn Nhảy Dù tham dự hành quân với 3 Tiểu đoàn tác chiến, một Tiểu đoàn Pháo Binh ND, một Đại đội Công Binh ND, một Đại đội Truyền Tin ND, một Đại đội Quân Y ND, một Đại đội Trinh sát ND, và Đại đội Chỉ Huy Công Vụ (các ban tham mưu Lữ Đoàn, Quân cảnh, An ninh, súng cối …)


Đúng 2 tháng sau khi tôi rời Vùng I Chiến Thuật, thì SĐND cũng được Bộ Tổng Tham Mưu điều động về Sài Gòn. LĐ3ND xuống tầu Hải Quân, rời Đà nẵng ngày 15 tháng 3. Đang lênh đênh trên biển, thì được lệnh tấp vào Cầu Đá Nha Trang: LĐ3ND được tăng phái cho QĐII, theo đơn xin của Thiếu Tướng Tư Lệnh Phạm Văn Phú. Bộ Tư Lệnh/SĐND cùng các Lữ Đoàn 1 và 2 tiếp tục hải hành về hướng Nam.


ĐT Lê Văn Phát được lệnh di quân gấp lên đèo Khánh Dương, lập phòng tuyến. Nhiệm vụ là: trì hoãn trục tiến của các đơn vị Cộng quân, bọc hậu cho các đơn vị bạn trong vùng giao phó.


Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, lực lượng Cộng quân ào ạt trên các trục đông tiến này, gồm có các các Sư đoàn F10, 316 và 320 CSBV.


Trục địch quân đi ngay vào tuyến án ngữ của LĐ3ND trên đèo Khánh Dương, chính là Sư đoàn F10, cùng với một Trung-đoàn chủ lực miền, và đặc công, giao liên. Tổng cộng đông gấp 5 lần lực lượng của Nhảy Dù tại đây. Cộng quân có đầy đủ pháo yểm, trong khi LĐ3ND chỉ có hỏa lực của 1 Tiểu Đoàn pháo binh 105 ly cơ hữu. Đó là tương quan lực lượng chính xác tại đèo Khánh Dương ngày 17/3/75.


Lúc bấy giờ LĐ3ND của Bố Già Phát gồm có TĐ2ND (Th/tá Trần Công Hạnh K20/VB), TĐ5ND (Tr/Tá Bùi Quyền K16VB), và TĐ6ND (Tr/tá Nguyễn Văn Thành, K9TĐ). Thiếu tá Nguyễn Ngọc Triệu là TĐT/TĐ2 Pháo Binh/ND. Lữ Đoàn Phó là Trung tá Trần Đăng Khôi K16VB.


Quân Nhảy Dù giữ vững đèo Khánh Dương, chận đứng Sư Đoàn F10 tại đây cho đến ngày 22 tháng 3. Sáng hôm đó, địch giảm cường độ tấn công, chỉ bám sát tuyến đang chạm, nhưng lại tung 2 trung đoàn đánh bọc hông. ĐT Phát xin không yểm. Tướng Phú chấp thuận, nhưng lại không có phi tuần để thỏa mãn yêu cầu. Tướng Phú cho lệnh LĐ3ND tuần tự lui quân về nam, xa nhất là dừng lại Cam Ranh chờ lệnh.


Khi về ngang Huấn Khu Dục Mỹ, ĐT Phát có gặp Đại Tá Nguyễn Hữu Toán, chỉ huy trưởng Huấn Khu Dục Mỹ và Đại Tá BĐQ Nguyễn Văn Đại, Chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân, K8VB.


ĐT Phát Nhảy Dù cho ĐT Nguyễn Văn Đại BĐQ biết về tình hình địch trước mặt, nói thẳng với Đại Tá Đại hai điều. Một là, địch đông hơn mình nhiều lần, có đủ tiếp liệu và hỏa yểm hùng hậu. Còn mình thì đến hôm nay, khó còn trông cậy gì vào “ở trên” và “sau lưng” nữa. Đại Tá Phát hỏi Đại Tá Đại có phụ giúp được gì trong việc giữ an ninh trục lộ phía sau, dẫn về Ninh Hòa hay không, vì địch thế nào cũng bọc hông đặt chốt để gây khó khăn cho điều động chung của các đơn vị thuộc huấn khu này.


ĐT Đại đồng ý, và gửi Viễn Thám BĐQ đi thi hành. Nhờ vậy, cuộc lui binh tại đây, thảm cảnh ở Quốc Lộ 7 đã không xảy ra.


LĐ3ND chưa về đến Cam Ranh. Ngày 30 tháng 3, mới về đến đèo Rù Rì, phía bắc Nha trang, thì mất liên lạc với Bộ Tư Lệnh/QĐ II. ĐT Phát không còn cách nào khác hơn, là phải liên lạc thẳng về BTL/SĐND ở Saigon bằng máy GRC-106 để xin lệnh.


Lệnh của Tướng Lưỡng cho LĐ3ND là trực chỉ phi trường Bửu Sơn Phan Rang, để phối hợp với Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh SĐ6KQ, tổ chức phòng thủ phi trường này, và tái lập an ninh trật tự tại hai thị xã Phan Rang và Tháp Chàm.


Ổn định vừa được Nhảy Dù phục hồi tại đây, thì Trung Ương cử Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi ra đến, đặt Bộ Tư Lệnh nhẹ của Quân Đoàn III tại Bửu Sơn đúng ngày 1 tháng 4 năm 1975.


Trước mặt Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, LĐ3ND vẫn còn cầm súng trên tay, và đang hiển hiện là niềm tin tưởng, là nỗi vững tâm của quân dân Tháp Chàm Phan Rang, của Tiểu Khu Ninh Thuận.


Vậy LĐ3ND nào chưa đánh, đã buông súng bỏ chạy, đầu hàng?!


Ngày 4 tháng 4, LĐ3ND được Tướng Lữ Quang Lưỡng cho thay thế bằng LĐ2ND, do ĐT Nguyễn Thu Lương đưa ra Bửu Sơn bằng vận tải cơ C-130. Không Quân VN chuyển các Tiểu Đoàn 3, 7 và 11 Nhảy Dù đến Bửu Sơn, và bốc các Tiểu Đoàn 2, 5 và 6 Nhảy Dù về Tân Sơn Nhất.


Lập tức LĐ3ND được bổ sung và chỉnh bị nhanh chóng. Tr/tá Trần Đăng Khôi được bổ nhậm làm lữ đoàn trưởng LĐ3ND, thay thế Bố Già Phát (lên Tham Mưu Phó Hành Quân BTL/SĐND).


Trở lại với hai Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù tại Vùng III Chiến Thuật. Tôi từ Đà Nẵng bay C-130 về Saigon ngày 20 tháng giêng/75, trình diện Bộ TTM. Gặp Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng Phòng 3. Ông ta hỏi tôi ngay về khả năng tham chiến của LĐ4ND.


Tôi thưa, có 2 Tiểu đoàn sẵn sàng ngay, ba Tiểu đoàn nữa (15, 16 và 18) sẽ về đến và sẵn sàng khoảng 2 tuần sau. Và tôi cũng không quên khai thật, là tôi chưa có hậu cứ, chưa có Lữ Đoàn Phó, nhất chưa có Pháo binh Nhảy Dù cơ hữu như các Lữ Đoàn cũ.


Tướng Thọ vào đề: “Tôi ghi nhận những điều đó. TTM sẽ phối hợp với hậu cứ Sư Đoàn Nhảy Dù lo tiếp cho anh. Bây giờ tình hình phía Tây bắc Biệt Khu Thủ Đô nghiêm trọng. Địch đã vượt sông Vàm Cỏ, chiếm xã Lương Hòa. Vùng Đức Hòa Đức Huệ bị uy hiếp nặng nề. Phải nhờ anh lên đó giúp họ ngay. Anh sang Phòng 2 nghe tình hình chi tiết vùng này. Tôi nhờ Phòng Tư lo phương tiện cho anh lên đó”.


Hai ngày sau, tàu HQ cập bến Sài Gòn. Tôi hướng dẫn hai Tiểu Đoàn 12 và 14ND về tạm trú tại sân cờ của TĐ8ND trong Hoàng Hoa Thám. Các Phòng sở của BTL/Hậu cứ đến, nhanh chóng giúp đỡ các trang bị cần thiết. Tôi gọi các Tiểu Đoàn Trưởng đến, trải bản đồ ra, chỉ tình hình và mục tiêu.


Và tôi nhấn mạnh trang bị: bản đồ, điện trì, lựu đạn M-26 tối đa, phóng lựu M-79, và ống phóng M-72 (vì không có pháo binh, khi hữu sự, sẽ phải đánh như đơn vị khinh chiến).


Đoàn xe đến, LĐ4ND “xuất hành” trận đầu tay, trực chỉ lên hướng Tây Ninh. Đến “Thành Ông Năm” (một trại Công Binh trên quốc lộ 13), xưống xe, lấy đội hình hướng về mục tiêu Vàm Cỏ Đông.


Quần thảo 2 ngày ven bờ con sông nổi tiếng, đẩy lui được đầu cầu vẹm về bên kia, tái chiếm được Lương Hòa, an ninh lại trục lộ. Trận đầu tay này, cũng như những lần chạm địch mấy tháng sau đó, LĐ4ND đã “đánh khô”, vì không có pháo cối yểm trợ.


Hai Tiểu Đoàn 12 và 14ND bắt được rất nhiều vũ khí đạn dược, dọc theo dãy lùm bụi, ngay vùng đầu cầu mà địch vượt sông hai đêm trước, còn nguyên trong nhiều thùng gỗ bọc giấy dầu, bôi đầy mỡ bò màu vàng của Trung cộng: AK47, B-41, và “thượng liên nồi” mới toang (hộp băng đạn bự và tròn).


Tôi cho Ban 2 và Ban 5 đi tìm, liên lạc với giới chức địa phương, để phối hợp việc an ninh, cứu trợ và bình định. Tưởng là ai, hóa ra người trai khói lửa, lại là Thiếu tá Tô Công Thất, cùng khóa 16 với tôi ở Đàlạt!


Bắt tay bắt chân qua loa, hỏi cần gì không ? M-79, M-26, Claymore! Tôi kêu đệ tử để hết các loại này lại, rồi bái biệt người trai khói lửa, lội ngược ra quốc lộ, vì truyền tin báo có Chuẩn tướng Trần Đình Thọ sắp lên Thành Ông Năm.


Tướng Thọ bắt tay tôi : “Đơn vị anh không cần huấn luyện nữa. Vả lại, tình hình không cho phép”.


Và ông xỉa cho tôi một phóng đồ hành quân, cho đất đai làm ăn, án ngữ về hướng Bắc và Tây bắc thủ đô.


LĐ1ND vừa đặt chân đến hậu cứ khoảng giữa tháng 3/75, là liền được bổ sung, tái tiếp tế nhanh chóng. Và Tr/Tá Nguyễn Văn Đỉnh được lệnh trực chỉ lên Xuân Lộc ngay, để tăng cường cho SĐ18BB. Theo dõi phần thuyết trình hằng ngày, tôi được biết TĐ8ND của Thanh Râu, tức Th/tá Nguyễn Viết Thanh K19VB, đã làm ăn một trận để đời tại “Vườn cây Ông Tỵ”.


Trong tháng này, có Tr/tá Nguyễn Đình Ngọc cầm công điện mang tay, về trình diện tại Thành Ông Năm. Nội dung công điện: “Chỉ định Tr/tá NĐ Ngọc giữ chức vụ Phụ tá Hành Quân LĐ4ND. Quyết định hợp thức hóa Lữ Đoàn Phó sẽ theo sau”. Có ông này về, thật đỡ cho tôi quá. K19VB, nguyên TĐT/TĐ2ND ngày còn ở Động Ông Đô với LĐ3ND hai năm trước.


Giữa tháng 3, Biệt Khu Thủ Đô cũng có yêu cầu đến giúp Tiểu Khu Gia Định, giải tỏa xóm Cư Xá Thanh Đa (bị một đại đội đặc công xâm nhập), đến đầu cầu thương cảng xa lộ. Th/tá Nguyễn trọng Nhi K20VB được gởi đi với 2 Đại đội của TĐ12ND, và đã thanh toán xong trong cùng ngày 22 tháng 3.


Ngày 10 tháng 4, tôi được gọi về họp ở BTL/BKTĐ. Tại đây, tôi gặp Tr/tá Trần Đăng Khôi, LĐT/LĐ3 ND, cũng đến họp nhận lệnh.


Lữ Đoàn 3 được tăng cường hoạt động cho BKTĐ, thay thế LĐ4ND. Còn tôi được lệnh di quân LĐ4ND xuống tăng phái cho BTL/Quân Đoàn III, trách nhiệm khu vực từ Tam Hiệp, Biên Hòa, vắt qua sông Đồng Nai, hướng về Long Thành. Đấy là lần sau cùng tôi gặp, lần cuối tôi thấy LĐ3ND điều động đi thi hành một nhiệm vụ chiến thuật khác: bảo vệ khu kho xăng Nhà Bè, và an ninh trục thủy lộ Rừng Sát.


Tối 13 tháng 4, tôi được tin LĐ2ND chạm địch nặng nề tại Bửu Sơn Phan Rang. Lực lượng tấn công, vẫn là Sư Đoàn F-10, bị chận khựng lại.


Ngày 15 tháng 4, Sư Đoàn 325 Cộng Sản Bắc Việt từ quốc lộ 11 tăng cường đến, cùng với đông đảo chiến xa và pháo nặng. Tối 16 rạng ngày 17, ĐT Nguyễn Thu Lương và Tr/tá Trần văn Sơn bị báo cáo mất tích, cùng với Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang KQ.


Bửu Sơn thất thủ, tiếp theo là Tháp Chàm và Phan rang!


Sau cùng, LĐ3ND cũng đã buông súng, cùng với tất cả các đơn vị khác, khi hai ông Vũ Văn Mẫu và Dương văn Minh tuần tự cho lệnh buông súng chiều 29 và sáng 30 tháng 4 năm 1975.


Tôi không phải là người xa lạ đối với LĐ3ND. Mặc dù vậy, để đảm bảo sự chính xác của dữ kiện, tôi vẫn điện thoại kiểm chứng chi tiết kỹ lưỡng với những nhân vật trong cuộc, trước khi viết lại những diễn tiến cuối cùng của cuộc chiến, mà các đơn vị Nhảy Dù VN có can dự.


Tất cả vẫn còn đấy, chỉ trừ có Ch/tướng Phạm Ngọc Sang SĐ6KQ đã qua đời cách đây 3 năm, và “Moshe Dayan” Tr/tá Trần Văn Sơn đã nằm xuống trong những năm tháng tù đày ngoài bắc.


Bây giờ, mời Quý Vị hãy nhìn lại câu chuyện, kể về cùng một đơn vị đó, trong cùng thời gian đó, bởi đại ký giả chiến trường Phạm Huấn trong cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên”, đã phổ biến khắp thế giới, để mà ngán ngẩm cho điều mà chính các ngài viết lách này, gọi là … Lương Tâm Ngòi Bút :… “ Buông súng trưa ngày 1.4.1975, sau khi vỡ tuyến, bị tràn ngập . . Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù trong những ngày sau cùng trên chiến trường Cao Nguyên,Pleiku, Kontum, Nha Trang: Chưa đánh đã bỏ chạy! Đúng!” !!!


Trong khi đó, chính Đại Tá Nguyễn Văn Đại BĐQ, người cùng có mặt tại trận với LĐ3ND lúc bấy giờ, hiện đang cư ngụ tại Oregon, vừa nói điện thoại với tôi đêm qua:


– “Tình hình đó, địa thế đó, nhiệm vụ đó, LĐ3ND đã làm quá sức mình. Và ĐT Phát còn về ổn định lại Phan Rang Tháp Chàm, giúp tướng PN Sang, tướng NV Nghi nữa, trước khi được thay thế...”.


Đến tháng cuối cùng của chiến cuộc, tác giả Phạm Huấn vẫn còn lĩnh lương Thiếu tá của QLVNCH, sao lại có thể ăn nói khinh bạc đến vậy ? Đành rằng, chung cuộc vẫn là sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam, nhưng vẫn phải xin để cho, sự thật còn được là sự thật …


Chỉ trong một đoạn viết ngắn khoảng nửa trang giấy, tác giả đã đề cập đến diễn tiến và số phận của mấy chục đơn vị, một cách ngắn gọn, dễ dàng và tàn nhẫn: Thảm sát hết: “Từ các Trung Đoàn 41, 42, 47 Bộ Binh, mấy Liên Đoàn BĐQ, Lữ Đoàn 2 Thiết Kỵ, Liên Đoàn 6 Công Binh Chiến Đấu, các đơn vị Pháo Binh, đến các đơn vị Lôi Hổ, Thám Kích và LĐ3ND”.


Đơn vị Nhảy Dù này, sự thật ra sao, tôi là người trong cuộc, đã vừa thưa cùng Quý Vị.


Từ sau ngày rời Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, tôi về trình diện Liên Đoàn Nhảy Dù Việt Nam. Và tuần tự phục vụ qua các TĐ3ND, TĐ7ND, LĐ3ND, LĐ2ND, LĐ4ND. Tôi chưa hề được gặp gở ký giả chiến trường Phạm Huấn lần nào. Chỉ thỉnh thoảng đọc sách, thấy hình ông ta mặc Quân phục Nhảy Dù!


Còn mấy chục đơn vị khác, mà Phạm Huấn nêu tên ra trên đây, thì sao ? Tôi không rõ là Phạm Huấn hiểu biết thế nào về các đơn vị đó. Và càng không biết, các đơn vị đó, có được Phạm Huấn đến thăm viếng lần nào chưa. Nhưng khi trên giấy trắng mực đen, Phạm Huấn đã viết truyện chiến trường như đoạn viết về LĐ3ND trên đây, thì nếu người đời họ có chọn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên”, để sắp chung với “Đại Thắng Mùa Xuân” của Văn Tiến Dũng, cũng là điều hiểu được mà thôi!


Thiếu tá Phạm Huấn suốt đời ở thiên cung, mới trở thành tiên đọa xuống trần-gian Quân Khu II, chỉ vài tháng trước cuộc dầu sôi lửa bỏng, làm sao nắm vững được từng ấy tin tức dữ kiện? Rừng dữ kiện này, nếu được trình bày bởi các Vị Đại Tá, chức vụ tối thiểu từ Trưởng Phòng Nhì, Trưởng Phòng 3 Quân Đoàn trở lên, thì họa may mới khả tín …


Chua chát chưa chịu dừng lại tại đó.


Mãi đến nay, vài chục năm sau, tại hải ngoại, vẫn có những nhà văn, nhà báo, viết theo, lên án gắt gao tất cả, từ lãnh đạo đến thứ dân, từ tướng xuống quân ! Và khôi hài đen ở chỗ là, hầu hết đều nhập đề bằng câu “Có đọc Phạm Huấn, chúng ta mới thấy ..”, hoặc là : “Cuốn Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” của tác giả Phạm Huấn đã phơi bày ra tất cả “sự thật...”! ...


Với các ông gọi là nhà báo, nhà bình luận này, chữ nghĩa cẩu thả trên đây của Phạm Huấn, đã trở thành chữ nghĩa của thánh kinh! Rồi tất cả những văn chương, tư tưởng siêu việt này, rốt cuộc hội tụ về một đoạn tiểu sử, được phổ biến rộng rãi trên khắp các mạng lưới toàn cầu.


Xin chép lại nguyên văn, để Quý Vị thưởng lãm:


“Phạm Huấn là một nhà báo Quân đội và trong “Bộ Biên Tập Diều Hâu”, thành viên Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên và 2 Bên, đặc trách về Báo Chí, khi Hiệp Định Paris 1973 được ký kết, chủ tịch Hội Phóng Viên Chiến Tranh Việt Nam, 1972-1975.


Tác giả đã theo học… Trường Đại Học Quân Sự năm 1963. Và cả Trường Quân sự tại Hoa Kỳ : Infantry School (Fort Benning, GA, 1958), Civil Affairs School (Fort Gordon, GA) và Special Warfare School (Fort Braggs, NC, 1965).…


Trong nghề phòng viên chiến tranh, Phạm Huấn có một chỗ đứng riêng biệt, dù đi chung với những phóng viên nổi tiếng hàng đầu của thế giới như Moshe Dayan, Dickey Chapel, hay chỉ đi có một mình, bao giờ anh cũng được đón nhận nồng nhiệt của mọi chiến hữu ở ngoài mặt trận … ”.


Đọc qua đoạn trên, quý vị có thấy độc giả bị coi thường quá hay không?


Cùng một “văn phong” này, tôi nhớ đã được đọc đâu đó vài lần.


Lần đầu, năm 2005 thì phải. Anh Bùi Đăng, bạn cùng khóa 16 Đà Lạt với tôi, ở San Jose bắc Cali, gởi cho tôi nguyên một trang nhật báo Việt Ngữ khổ lớn. Nguyên trang báo, là bài Phân Ưu Trung Tá Phạm Huấn. Với nửa trang trên, đầy đủ sự nghiệp vĩ đại của người nằm xuống. Toàn là các khóa du học ngoại quốc, và các việc văn phòng. Anh Huấn quả đã được quân đội đãi ngộ, ưu ái, và đầu tư vào kỹ hơn ai hết.


Và nửa trang dưới, đầy đủ tên tuổi quân nhân Nhảy Dù, từ Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi… cho đến em út cấp úy, trong đó có tên tôi. Cầm tờ báo, tôi mới hay tin ông anh qua đời vì bạo bệnh.


Anh bạn Bùi Đăng gởi báo cho tôi, không họ Bùi, mà cũng chẳng tên Đăng. Mùa hè 1972, anh dẫn TĐ6ND nhảy xuống Đồi Gió Bình Long, mở đường máu vào cứu An Lộc. Bị trận địa pháo, Phạm Kim Bằng bỏ lại Đồi Gió một con mắt, đi vào An Lộc với một con. Trở thành Bằng đui, nhưng Bùi Đăng không chịu rời tiểu đoàn tác chiến Nhảy Dù.


Đầu năm 2007, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng lại ra đi.


Trên Internet và báo chí, liền ngay dưới sự nghiệp của Trung Tướng Trưởng, lại có hàng chữ: “Tài liệu của Đại Tá Phạm Huấn, chủ tịch Hiệp Hội Ký Giả Chiến Trường”(!).


Ông lỏi tì nào đó ơi, “văn phong” này nặng mùi lắm, xin ông dừng tay lại, đừng đem tên tuổi của ông anh mình ra mà diễu dở. Cấp bậc, thì ai cho bằng Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Đại Tướng Nguyễn Khánh. Chức vụ, thì ai sánh nổi với Quốc Trưởng Nguyễn Khánh và Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ! Có thơm tho chi đâu. Phải nói ngay từ bây giờ, kẻo nay mai, có một vì sao sáng nào khác rơi rụng, ông lỏi tì lại lôi ông anh Phạm Huấn dậy, mà truy thăng lên chuẩn tướng! Tội nghiệp cho ông anh.


Ông anh đã và đang sám hối về cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” dưới kia. Khó ăn, khó ở khi “hội ngộ” với anh em lính tráng người phàm, đã tham dự Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên ngày xưa lắm.


Hởi ông lỏi tì ơi, hãy để cho ông anh được yên nghỉ.


Dậu đổ, bìm leo. Viết lách chưởi bới, mạt sát, mọi thứ thuộc Miền Nam Việt Nam ngày trước, đã và vẫn đang là kiểu thời trang thịnh hành.


Có nhiều người viết, để vẽ lên hình ảnh mình là .. người hùng! Một số khác viết lên, để tỏ ra mình là người trí giả, là nhà tư tưởng, dựa vào cuốn Kinh Tân Ước Phạm Huấn! Riêng nhà báo vĩ đại Phạm Huấn, thì hùng dũng tỏ ra mình là nhà siêu quân sự, siêu lãnh đạo, chê bai xoa đầu từ trên xuống dưới, chả chừa một ai.


Chỉ nửa trang giấy, dẹp hết cả lực lượng một quân đoàn. Phạm Huấn luận về các ông anh, ông thầy, các ân nhân của chính anh ta, như Gia Cát Khổng Minh nói về các mạt tướng Trương Phi, Ngụy Diên!


Anh Phạm Huấn chỉ quên có một đôi điều nho nhỏ. Thật nhỏ. Nhỏ xíu. Vì tầm mắt anh không thấy. Mặc dù anh vẫn mặc quân phục tác chiến Nhảy Dù, mang lon thiếu tá của QLVNCH làm việc tại Ủy Ban Quân Sự 2 bên, 4 bên. Đó là việc Lập Pháp Mỹ, qua Quốc Hội Dân Chủ ngày đó, đã cúp hết viện trợ quân sự cho QLVNCH từ mùa hè 1973!


Đó là việc Hành Pháp Mỹ, qua tên Do Thái nói ngọng Henry Kissinger, đã công khai đứng về phía Lê Đức Thọ và Nguyễn Thị Bình, để bức thúc Hòa Đàm Ba Lê, bức tử VNCH. Cho nên, chuyện gì phải đến, đã đến. Theo Mỹ và Trung Cộng, chuyện đó, đáng lẽ phải xảy ra sớm hơn …


Trong hoàn cảnh đó, nếu rước đại ký giả Phạm Huấn vào Dinh Độc Lập, liệu đương sự gồng được mấy phút? Trong hoàn cảnh đó, nếu mời nhà báo Phạm Huấn sang Bộ Ngoại Giao, liệu ông anh gồng được mấy giờ? Trong hoàn cảnh đó, nếu phong cho Thiếu Tá Phạm Huấn thay thế Đại Tướng Cao Văn Viên, Thiếu Tá Huấn có lãnh đạo một tiểu đội ngày giờ nào chưa?


Các ông lính thợ vịn, ăn lương quân đội Miền Nam, mạt sát các đơn vị quân đội Miền Nam, nhưng chả bao giờ biết chút gì về các đơn vị này. Mạt sát, vì ganh tị, vì mất mát.


Bất cứ ai thật sự có trải qua những tháng ngày gạo sấy nước ruộng, đều biết rằng, cùng một cỡ đơn vị, cùng hỏa lực xấp xỉ nhau, bộ đội cộng sản chưa hề là đối thủ của Quân Đội Quốc Gia, dù là chính quy, hay địa phương, dù là TQLC, BĐQ, hay Bộ Binh, Không Quân, Hải Quân. Chiến thuật của cộng sản, có hai chữ “biển người”, là vì vậy.


Một phần ba thế kỷ đã trôi qua, bao nhiêu tài liệu đã được giải mật. Henry Kissinger trước sau ba lần thú nhận, đã bán đứng Nam Việt Nam. Lính tráng chúng tôi, là người phàm mắt thịt, chả nói làm chi. Còn các ông nhà văn, nhà báo, nhà bình luận : chất xám các ông để đâu, nấu bún ốc hết rồi sao? Bây giờ không có bom rơi đạn réo, mà còn phù thịnh, còn nói vuốt theo Văn Tiến Dũng, thì làm sao ngày xưa các ông dám phù suy, mà đỡ đần phần tí ti nào cho Quân Dân Miền Nam? Bây giờ mà còn nói vuốt theo Văn Tiến Dũng, là vô liêm, là bất trí …


Thảm cảnh tháng Tư, người khách quan, không ganh tị, không càm ràm bệnh hoạn, ai cũng thấy là vì hai lý do: Thứ nhất: Dân chúng nghe quân cộng sản tiến đến gần, đã kinh hoảng, đưa tới náo loạn. Có đúng vậy không, thưa Quý Vị? Và thứ hai: các đơn vị quân đội lại không có được những tiếp liệu, yểm trợ và hỏa lực tối thiểu nữa, để chu toàn nhiệm vụ chiến thuật được giao phó, vì QLVNCH đã bị cúp quân viện từ năm 1973, chỉ còn cầm hơi, “liệu cơm gắp mắm”.


Mùa hè năm sau, Trung Tướng Tùy Viên Quân Sự tòa Đại Sứ Anh Quốc ra thăm hỏa tuyến, có ghé qua Bộ Chỉ Huy/LĐ2ND ở phía nam sông Thạch Hãn. Nghe thuyết trình xong, ông đứng lên trước bản đồ, quay lại nói trước mặt tôi và đông đủ sĩ quan tham mưu hiện diện:


– “Giới quan sát quốc tế cho rằng, các ông không tồn tại nổi quá 6 tháng, sau Hiệp Định Ba Lê. Bây giờ, hơn một năm đã trôi qua ..”. Bấy giờ, là tháng 7 năm 1974.


Suốt chiều dài cuộc chiến, người lính mồ hôi, xương máu. Người dân quằn quại, thống khổ điêu linh.


Còn các ông thợ vịn, lính kiểng, sống phè phỡn ngay trong lòng Hòn Ngọc Viễn Đông, ăn tục nói phét, làm chơi ăn thiệt. Bây giờ, mồ ma Miền Nam Việt Nam không còn nữa, các ông muốn ăn thiệt, thì phải bò ra làm thiệt, dù là ăn .. welfare! Nên các ông tiếc nuối cái thời vàng son, sáng Thanh Thế, trưa Givral, chiều Đồng Khánh. Và các ông cay cú, các ông hằn học...


Có nhiều lý do làm sụp đổ Miền Nam.


Trước hết, là bàn tay lông lá của Mỹ Nga Tàu, và xuẩn vọng của tên đồ tể họ Hồ.


Kế đến, là những tham nhũng thối nát, mà các ông đã ngoắc mồm ra chửi bới hơn ba chục năm qua.


Mỹ, Pháp, Nga, Tàu, và nhất là Cộng sản Việt Nam bây giờ, có thối nát tham nhũng hay không?


Lý do thứ ba là ai? Là đám làm chơi ăn thiệt, là lũ kiêu binh hàm thụ. Là đám sâu bọ, dòi mọt, cặn bã của một Quân Đội hào hùng. Quân Đội “cao số” đã bị lịch sử cận đại trao cho một sứ mạng oan khiên, một “mission impossible” .. Những tên né tránh, đánh bóng chữ thọ, những bụi chùm gởi nặng trĩu trên thân cây gầy yếu Nam Việt Nam trước cơn giông bão, không có tư cách mở mồm về đoàn quân này…


Các cụ thường nói “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Các ông suốt đời chỉ trích ta bà thế giới. Sao các ông không dám nói, chính các ông mới là thủ phạm, mới là tội đồ thiên thu, làm Miền Nam nước Việt sụp đổ vào tay Cộng sản.


Nhân vô thập toàn, ai cũng có lúc lầm lỗi. Vả lại, cái “lỗi lầm” của Miền Nam Việt Nam, nếu có, là phần chính do cái thân phận nhược tiểu mà ra. Hàng trăm nước nhỏ trên thế giới, đã và còn đang đau khổ về cái “lỗi lầm” này. Miền Nam Việt Nam không còn nữa. Bây giờ đây, trách nhiệm đối với lịch sử và dân tộc, đang treo trên đầu bọn cầm quyền ở Hà Nội.


Năm 1965, tôi đi học khóa “Tác Chiến Trong Rừng” ở Mã Lai, Tân Gia Ba. Việt Nam lúc bấy giờ đang khói lửa mịt mùng, nhưng tôi thấy vẫn còn “văn miên” hơn năm nước Đông Nam Á. Bây giờ, các nước đó đã là “Ngũ Long Thái Bình Dương”. Cộng Sản chiếm trọn lãnh thổ hình chữ “S” đã một phần ba thế kỷ qua, không còn chiến tranh, lại được “Việt Kiều Phản Động” hằng năm giúp nhiều tỷ đô la. Vậy mà bọn cầm quyền Cộng Sản đã đưa Việt Nam, cũng vào thứ hạng số 5 trên thế giới : Nhưng là thứ năm, đếm từ dưới lên trên!


Tiếng nói của hải ngoại rất cần thiết. Quý Vị nào có sức, có trí, có “gu”, muốn phân tách, muốn sửa sai, muốn dạy dỗ, thì Hà Nội mới là hướng để quý vị trổ tài. Xin hãy thôi đè Miền Nam Việt Nam ra mà xỉa xói, mà kiêu binh cái lổ mồm! Thê thảm thay, chỉ vì một lý do: Dối gạt luôn chính lòng mình. Tôi không dám nói là, dối gạt chính lương tâm mình! Vì chỉ có trời, họa chăng mới biết, các ông có lương tâm hay không!


Tội nghiệp cho Miền Nam Việt Nam, đã bao năm tháng cưu mang, nâng niu, đãi ngộ các ông, kaki cũng như dân chính! Hít thở không khí tự do của Miền Nam, Trịnh Công Sơn đã dệt lên được những tình khúc bất hủ. Ngày Miền Nam sụp đổ, Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh, phừng phừng guitar hát bài “Nối Vòng Tay Lớn”. Rồi lặn ngụp trong vòng tay lớn của xã hội chủ nghĩa một thời gian, Trịnh Công Sơn đã mửa ra một ca khúc, chưa bao giờ nghe thấy trong âm nhạc nhân gian: “Tiến Thối Lưỡng Nan”!


Sau cùng, trên đỉnh cao trí tuệ của thời trang mạt sát Miền Nam Việt Nam, là các… chiến lược gia.


Thôi thì, Xuân thu nhị kỳ, luận đủ thứ chuyện chiến lược thiên trời địa đất. Cũng chỉ cùng một kiểu: mạt sát hết mọi sự của Miền Nam Việt Nam. Để mình cố nhón cao lên. Vì biết chắc rằng mình không đủ cao. Để tỏ ra mình là người thức giả. Vì biết mình đang tơ lơ mơ, không thức thật. Càng phải trực diện với việc áo cơm thân phận hằng ngày, nổi nuối tiếc mất mác thời vàng son, càng điên cuồng gào thét, dằn vặt, gậm nhắm.


Khổ một điều, không biết đọc địa bàn, nên không phân biệt nổi hướng Đông với hướng Tây, để mà bắn cái hỉ-nộ ái-ố vô duyên đó đi. Và cứ nhằm mọi thứ của Miền Nam Việt Nam mà phạng …


Đại Sứ Graham Martin, không như vậy. Ông đâu có muốn sự nghiệp ngoại giao trọn đời của ông, kết thúc cái kiểu này. Giờ phút cuối của Miền Nam Việt Nam, ông cũng chỉ kịp cuốn lấy lá cờ hoa. Bộ Tư Lệnh Quân Sự Mỹ (MACV) tại Sài Gòn, thì đã nhanh chân “rút lui trong danh dự” ra soái hạm của Đệ Thất Hạm Đội từ năm trước!


Cho nên, xin lỗi Quý Vị, ông đại sứ cũng chạy sút quần, ra tàu USS Blue Ridge ngoài biển đông, bước đến boong tàu ngồi thở. Được cái là, ông đại sứ biết đọc địa bàn. Ông biết rõ phương, để mà ngậm ngùi. Ông biết rõ hướng, để mà trách móc. Thở xong, ông chỉ vào lá cờ hoa, mà mắng cho mấy mắng:


“That’s not the way I saw American Honor”!


Tháng 4/2007.

Lê Minh Ngọc.

(Cựu Trung tá Lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 2, Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù)