Bài 91
QUÁ HẢI 過海
Bát tận nhàn sầu độc ỷ bồng, 撥盡閑愁獨倚篷,
Thuỷ quang diểu diểu tứ hà cùng. 水光渺渺思何窮。
Tùng Lâm địa xích cương Nam Bắc, 松林地斥疆南北,
Long Vĩ sơn hoành hạn yếu xung. 龍尾山橫限要衝。
Nghĩa khí tảo không thiên chướng vụ, 義氣掃空千障霧,
Tráng hoài hô khởi bán phàm phong. 壯懷呼起半帆風。
Biển chu tiện ngã triều thiên khách, 扁舟羨我朝天客,
Trực giá kình nghê khoá hải Đông. 直駕鯨鯢跨海東。
Dịch nghĩa:
Quét hết muộn phiền,ngăn chặn nỗi sầu, một mình dựa mui thuyền, - Ánh nước mênh mang, làm sao nói cho hết ý tứ! - Rừng tùng là ranh giới vạch cõi Nam Bắc! - Núi Long Vĩ nằm ngang chỗ ranh giới giao thông tấp nập và quan trọng. (c. 1-4)
Tấm lòng trọng nghĩa khí quét sạch ngàn tấm màn sương mù che phủ bầu trời! - Ôm ấp sự mạnh mẽ gọi gió nổi lên làm nửa cánh buồm giương lên. – Chiếc thuyền nhỏ mong muốn ta làm khách đi chầu nước lớn, - Cưỡi con cá kình lớn vượt qua biển Đông. (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
VƯỢT BIỂN.
Dựa thuyền riêng dứt ngăn sầu,
Mênh mang ánh nước ý sao tận cùng !
Bắc nam cương giới rừng tùng,
Định ranh xung yếu núi Rồng nằm ngang.
Trời mù khí nghĩa quét tan,
Ôm hùng, hô gió nổi giăng nửa buồm.
Khách chầu triều lớn thuyền con,
Cá voi cưỡi thẳng biển đông vượt liền!
Chú thích:
** Sau đây là 15 bài thơ (từ bài 91 đến bài 105) được cho là của Nguyễn Trãi làm ra khi đi sang Trung Hoa. Một vài câu thơ trong bài này hình như cho thấy vai trò sứ giả của triều Lê vượt biển sang triều cống Trung Hoa (bài 91, câu 7 và 8). Nhưng trong các tài liệu về lịch sử và tư liệu về cuộc đời của Nguyễn Trãi chưa thấy chỗ nào ghi rõ và xác định việc đi sứ hay đi việc riêng sang Trung Hoa sau cuộc kháng chiến chống nhà Minh, Trung Hoa thành công! Đây là vấn đề cần sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về Nguyễn Trãi để làm rõ và xác quyết, khẳng định là thơ của Ức Trai tiên sinh. Riêng trong bài thơ này , nếu đúng là thơ của Ức Trai tiên sinh, đã cho thấy được tâm tình của nhà thơ tuy có nỗi buồn riêng nhưng vẫn thể hiện niềm tự hào về núi sông hùng vĩ cùng tấm lòng nghĩa khí quyết tâm và lo lắng cho việc giữ gìn bờ cõi của dân Nam nơi một con người yêu nước .....
- bát tận 撥盡: vén, dọn, tẩy (bát)... cho hết (tận), dọn cho sạch...
- nhàn 閑: nhàn hạ, rảnh rỗi, bao lơn, lan can để ngăn chặn, hạn chế lối đi... Nhàn sầu 閑愁: ngăn chặn nỗi buồn sầu...
- bồng 篷: mui thuyền thường làm bằng tre đan hoặc cỏ tranh để che mưa nắng.
Chữ bồng cũng dùng chỉ con thuyền nhỏ...
- diểu diểu 渺渺: mờ mịt, mịt mùng, mịt mù, lênh đênh, trôi giạt, mênh mang....
- tứ hà cùng 思何窮: ý tứ không làm sao diễn đạt hết được.... Tứ thơ không sao nói hết ý được....
- Tùng lâm 松林: theo “Đại nam nhất thống chí “ biên giới nước ta thời nhà Mạc
có khu vực trồng rất nhiều cây tùng gọi là Trang trại Tùng Kính thuộc châu Vĩnh Yên, Bắc Việt .Sau vùng này bị nhà Mạc cắt đem dâng cho Trung Hoa. Đây chỉ là nghi vấn vì tên gọi trùng hợp liên quan đến rừng tùng nằm ngay cửa ngõ biên giới Việt Hoa.
- địa xích cương 地斥疆: vùng đất đã được phân ranh làm biên cương (giữa hai nước), vạc cõi, vạch giới hạn đất đai, lãnh thổ của đôi bên ...
- hạn yếu xung 限要衝: yếu xung hay xung yếu chỉ nơi giao thông tấp nập và quan trọng . Ranh giới hay bờ cõi (hạn) quan trọng....
- Long Vĩ Sơn 龍尾山: hay còn gọi là núi Bạch Long Vĩ ( Đuôi con rồng trắng) nằm tại châu Vạn Ninh ,Quảng Yên ( nay thuộc tỉnh Quảng Ninh ,Bắc Việt) là một bán đảo chạy dài ra biển hướng về đảo Hải Nam, Trung Hoa có địa thế dáng hình đuôi con rồng là nơi tàu bè tấp nập qua lại từ nước ta sang Tàu và ngược lại.
- yếu xung 要衝: hay “xung yếu 衝要” chỉ nơi quan trọng để phòng thủ bờ cõi và cũng chỉ nơi giao thông tấp nập cần chú trọng an ninh và quốc phòng....
- nghĩa khí 義氣: chuộng làm điều tốt đẹp, ghét điều xấu xa, sai trái; biết ra tay giúp đỡ người hoạn nạn, trừ bỏ cái ác... v.v....
- tảo không 掃空: quét dọn cho sạch, thông thoáng bầu trời....
- chướng vụ 障霧: tấm màn che hay sự ngăn trở (chướng) bởi sương mù (vụ)....
- tráng hoài 壯懷: ôm giữ, lo nghĩ trong lòng (hoài) sự mạnh mẽ hay hoài bão 怀抱 với chí khí lớn lao (tráng)...
- biển chu hay thiên chu 扁舟: chiếc thuyền nhỏ ...
- tiện (tiễn) 羨 : mong muốn ,ham thích, trông đợi ....
- triều thiên khách 朝天客: ngày xưa, nước ta là một nước nhỏ phải sống cạnh một nước lớn đầy tham vọng thống trị thiên hạ là Trung Hoa.Nước họ vẫn tự xưng là Thiên quốc, vua là Thiên tử (con của trời) và sứ giả nước ta đi triều cống hay đi chầu (triều) bên Trung Hoa gọi khách của Thiên quốc (thiên khách) hoặc “thượng quốc” (nước bề trên).[ Ở đây tạm dịch nước Trung Hoa là “triều lớn” hay “”nước lớn “ với “tinh thần tự tôn dân tộc” chứ không dịch với “tinh thần tự ti dân tộc” hay sự tôn sùng Trung Hoa theo lối xưa là “thiên quốc” hay “thượng quốc” (nước đứng vai bề trên)]
- trực giá kình nghê 直駕鯨鯢 : cưỡi (giá) con cá kình hay con nghê (kình nghê: cá voi lớn) đi thẳng ....
- khóa 跨: vượt qua, nhảy qua, bước qua, nhảy qua, gác qua....
Bài 92
ĐỒ TRUNG KÝ HỮU 途中寄友
Thượng quốc quan quang vạn lý đồ, 上國觀光萬里途,
Thiên nhai khuất chỉ tuế vân tồ. 天涯屈指歲云 徂。
Mộng trung thuỷ viễn sơn hoàn viễn, 夢中水遠山還遠,
Biệt hậu thư vô nhạn diệc vô. 別後書無雁亦無。
Khách dạ bất miên thiên cảm tập, 客夜不眠千感集,
Thanh thì thuỳ liệu thốn trung cô. 清時誰料寸忠孤。
Nam châu cựu thức như tương vấn, 南州舊識如相問,
Báo đạo kim ngô diệc cố ngô. 報道今吾亦故吾。
Dịch nghĩa:
Đường xa vạn dặm đi xem nền văn minh của nước lớn, - Nơi góc trời, bấm đốt ngón tay kịp đến một năm rồi ! – Trong giấc mộng, nước xa và non cũng xa, - Sau khi từ giã, vắng thư từ và tin nhạn! (c.1-4)
Đêm nơi đất khách không ngủ được với ngàn mối cảm xúc họp lại! – Thời buổi thanh bình ai có thể định liệu được tấc lòng kẻ tôi trung phải lẻ loi ?! – Đất phương Nam, người quen cũ nếu như có hỏi thăm, - Báo tin nói cho biết, tôi hôm nay vẫn là tôi thuở trước! (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
GIỮA ĐƯỜNG GỞI BẠN.
Dặm ngàn nước lớn đi thăm,
Góc trời bấm đốt, kịp năm đến rồi!
Nước non trong mộng xa xôi,
Chia tay thư vắng, nhạn trời cũng không!
Khách đêm chẳng ngủ tình dâng,
Thời bình ai đoán tấc lòng trung côi!?
Đất Nam quen cũ thăm người,
Báo nay tôi vẫn là tôi thuở nào!
Chú thích:
** Từ lâu, bài thơ này cùng 14 bài trích dẫn được nhiều nhà nghiên cứu cho là của Nguyễn Trãi. Nhưng chuyện Ức Trai tiên sinh qua Trung Hoa không thấy tư liệu nào ghi rõ nên chỉ là thơ đưa vào loại tồn nghi ( nghi ngờ còn lại ).Dầu vậy, trong một bài thơ cùng nhan đề “Đồ trung ký hữu” trong tập thơ “Hương Đình Cổ Nguyệt Thi Tập” (được cho của nhà thơ Hồ Xuân Hương có quê quán ở làng Cổ Nguyệt) trong kho lưu trữ của Thư Viện Quốc Gia ghi trong “Tứ gia thi tập” (ký hiệu R.423). Bài thơ cùng tên, nội dung cũng chỉ khác một vài chỗ (câu 1, 3, 6, 7 và 8):
Nhất khứ phiêu linh vạn lý đồ, ㇐去飄零萬里途,
Thiên nhai khuất chỉ tuế vân tồ. 天涯屈指歲云徂。
Mộng trung thủy viễn nhân hoài viễn, 夢中水遠人還遠,
Biệt hậu thư vô nhạn diệc vô. 別後書無鴈亦無。
Khách dạ bất miên thiên cảm tập, 客夜不眠千感集,
Thanh thì hoàn liệu thốn trung cô, 清時還料寸心孤。
Nam châu cựu thức nhân tương vấn. 南州舊識人相問,
Báo đạo ninh ngô diệc cố ngô. 報道寧吾亦故吾。
(tư liệu của <thivien.net>)
Tuy nhiên, nếu xét kỹ, chúng ta thấy rõ ngay trong câu 6, hình ảnh “trung cô” – người tôi trung đơn độc- không phải là hình ảnh của bà Hồ Xuân Hương vì bà chưa từng làm quan để có thể làm bề tôi “trung với vua” hay rộng ra “trung với nước”. Đây có lẽ là hình ảnh của Nguyễn Trãi đơn độc ,lẻ loi trong triều đình Lê Thái Tổ với nhiều kẻ ganh ghét,đố kỵ... Và đây cũng chỉ là sự tồn nghi vì chưa có tư liệu nào xác nhận việc đi qua Trung Hoa của Nguyễn Trãi.....
- thượng quốc 上國: xem C.T bên trên bài 91...
- quan quang 觀光 : đi xem xét hay tìm hiểu nền văn minh hay văn hóa của một khu vực, một bộ tộc hay một nước nào đó ....
- khuất chỉ 屈指: cong ngón tay lại để bấm đốt ngón tay tính toán...
- vân 云: phụ từ: rằng; mây (giản thể của vân 雲 )..
- tồ 徂: đi đến, kịp đến, đi sang, tới kịp, chết mất....
- khách dạ 客夜: đêm ở dất khách, đêm nơi xứ người...
- cảm tập 感集: cảm xúc hay tình cảm dồn lại dâng trào...
- thanh thời 清時: thời buổi thanh bình yên ổn...
- liệu 料: liệu định, dự đoán, đo lường, tính toán trước, vật liệu, vuốt ve....
- thốn trung cô 寸忠孤: chút lòng trung cô độc, lẻ loi...
- Nam châu 南州: chỉ nước ta ở đất phương Nam (và ngược lại là Trung Hoa ở phương Bắc)...
- cựu thức như tương vấn 舊識如相問: người quen cũ (cựu thức) ví như (như: nếu như,ví như, hoặc là, và, với, mà, không như, nên phải... v.v...) có hỏi thăm (tương vấn)...
- báo đạo 報道: báo tin và nói cho biết....
Bài 93
LAM QUAN HOÀI CỔ 藍關懷古
Hành tận thiên sơn dữ vạn sơn, 行盡千山與萬山,
Sóc phong xuy khởi mãn Lam Quan. 蒴風吹起滿藍關。
Quân vương tằng thử tư trung gián, 君王曾此思忠諫,
Chướng hải dao quan thất mã hoàn . 瘴海遙觀匹馬還。
Dịch nghĩa:
Đi hết ngàn non cùng muôn dãy núi, - Gió bấc nổi lên thổi khắp vùng
Lam Quan. – Nếu nhà vua đã từng nghĩ đến sự can gián của người tôi trung này, - Biển cả có chướng khí độc hại, trông từ xa thấy một con ngựa lẻ loi rồi cũng trở về.(c.1-4)
Tạm chuyển lục bát:
NHỚ LAM QUAN XƯA.
Đi muôn ngàn núi tận cùng,
Lam Quan gió bấc thổi lồng khắp nơi.
Tôi trung, vua nghĩ nghe lời,
Nhìn xa biển chướng, lẻ loi ngựa về.
Chú thích:
** “Lam Quan Hoài Cổ 藍關懷古”là bài thơ thuộc loại “vịnh sử hoài cổ”, dùng một địa danh để gửi gắm tình cảm của mình. Tuy được xếp vào thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi vẫn còn ở dạng tồn nghi vì chưa có chứng cứ sử liệu Ức Trai tiên sinh có qua Trung Hoa nhưng nội dung bài thơ cho thấy rõ tình ý của Nguyễn Trãi trong thời gian làm quan trong triều Lê Thái Tổ đã bị nhiều kẻ ghen ghét đố kỵ khi ông thường đưa ra những lời can gián trong triều. Thân phận của tiên sinh giống như hình ảnh con ngựa đơn độc bị đày đi xa, người tôi trung lẻ loi chịu nhiều oan khuất, nhiều bi thương nơi biển cả đầy chướng ngại ,lắm hiểm nguy chỉ còn hình bóng cô đơn trở về....
- Lam Quan: một cửa ải xưa rất nổi tiếng, nằm trong dãy Tần Lĩnh 秦嶺 ngăn cách phía băc và phía nam thành Trường An, Trung Hoa [nay thuộc vùng núi phía nam Tây An, tỉnh Thiểm Tây. Nó là cửa ngõ từ vùng Quan Trung (Trường An) đi xuống phía nam (Hồ Bắc, Hồ Nam, Quảng Đông bên Trung Hoa)]....
- Câu 1: Hành tận thiên sơn dữ vạn san 行盡千山與萬山: đi qua hết ngàn núi lại muôn vạn núi ,cho thấy chuyến hành trình xa xôi, gian nan với rất nhiều chướng ngại của núi non chập chùng....
- Câu 2: Sóc phong xuy khởi mãn Lam Quan 蒴風吹起滿藍關: gió bấc (gió bắc) thổi khắp nơi ở cửa ải Lam Quan đã gợi nên cảnh lạnh lẽo hoang vu của một cửa ải mang nhiều dấu tích lịch sử bao đời...
- Câu 3: Quân vương tằng thử tư trung gián 君王曾此思忠諫 cho thấy nhà vua đã từng nghĩ đến những lời can gián của người tôi trung. Đó là điển tích trong lịch sử (chuyện Hàn Dũ) từng đề cập đến lòng hối tiếc của nhà vua khi đày bậc tôi trung đi vào nơi xa xôi. Tác giả bài thơ có lẽ đã lấy cảm hứng từ câu chuyện của đại phu nhà Đường, Trung Hoa là Hàn Dũ 韓愈 (768-824) tự là Thoái Chi 退之, sinh quán ở Nam Dương nay thuộc tỉnh Hồ Bắc thời Đường Hiến Tông. Nhà vua không chịu nghe lời ông can gián lại còn giáng chức đưa đi làm Thứ sử ở vùng Triều Châu xa xôi. Hàn Dũ có làm bài thơ “Tả thiên chí Lam Quan thị điệt tôn Tương 左遷至藍關示姪孫湘 ” (Bị giáng chức đi xa, đến ải Lam dặn lại cháu Tương), trong đó có hai câu: “Vân hoành Tần lãnh gia hà tại, Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiến 雲橫秦嶺家何在, 雪擁藍關馬不前.” (Mây giăng ngang núi Tần, nhà ở nơi đâu? Tuyết che lấp ải Lam, con ngựa không chịu tiến bước). Tác giả bài thơ hay Ức Trai tiên sinh đã lấy ý từ bài thơ này của Hàn Dũ......
- Câu 4: Chướng hải diêu quan thất mã hoàn 瘴海遙觀匹馬還: từ nơi biển cả mang nhiều chướng khí, trông thấy một con ngựa lẻ loi từ xa (thất: lẻ loi, một, đơn lẻ, con...) quay trở về. Đi từ những cơn gió bắc lạnh lẽo của Lam Quan trong câu 2 (sóc phong) nối kết với khí độc nơi chốn biển cả (chướng hải) ở nơi xa xôi trong câu 4, Hàn Dũ cũng như tác giả bài thơ cùng chung mối tâm sự của kẻ tôi thần đơn độc, lẻ loi bị ruồng bỏ nhưng rồi cũng được trở về nhờ lời can gián ngày trước mà vua từng nghe khiến vua hối tiếc cho trở về lại kinh đô. Bóng dáng từ xa của một kẻ đơn độc trở về mang hình ảnh một con ngựa bi thương cũng lẻ loi ,lủi thủi trong bước hành trình.....
(Lần đến: ỨC TRAI THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI – Bài 94, 95 và 96)