Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

Những Tháng Ngày Không Quên

 

Hình internet

NHỮNG THÁNG NGÀY KHÔNG QUÊN
Hoàng Thị Doãn

Đúng là những ngày tháng không quên thật! Sau 30.4.75, tôi bị ở lại Việt Nam là một điều quá ngu xuẩn rồi. Tự mình làm hại mình và hại cả tương lai con cái nữa. Niềm đau này thật không làm sao phôi pha được với thời gian, vết thương trong lòng tôi cứ chua xót ngậm ngùi! 

Nhớ lại ngày tôi vào trình diện tại trường SNA cũng là ngày không quên được nữa! Bước chân đến trường với tâm tư hoang mang cùng cực, không biết rồi đây mình sẽ làm gì và sẽ được đối xử như thế nào đây? Vừa vào đến sân trường đã thấy một số bạn bè ngồi sẵn trên các ghế đá, nhìn nhau nhếch mép không nổi; ai còn ai ở lại đều rõ cả rồi.

Nhìn kỹ các bạn đồng nghiệp, tôi thấy có người đã mặc áo bà ba quần đen. Có lẽ phải thay đổi cách ăn mặc như vậy mới thích nghi với hoàn cảnh mới chăng? Và Cộng Sản vào đây chỉ để làm cho con người trở nên quê mùa xấu xí mà thôi?!

Qua bao thủ tục như khai tên họ, nộp lại thẻ căn cước v.v… Chúng tôi trở lại nghề “gõ đầu trẻ” của mình. Ngay hôm khai giảng, nghe bài Quốc Ca dưới sân trường mà tôi rùng mình và muốn khóc! Tôi cứ bàng hoàng không thể ngờ được có một ngày quê hương tôi đều nhuộm đỏ như thế này! Viết đến đây, tôi lại nhớ có một lần phải điều khiển buổi lễ chào cờ, một bạn đồng nghiệp của tôi đã bắt đầu bài Quốc Ca “Này công dân ơi….”. Chúng tôi qua một thoáng sững sờ, muốn cười quá sức mà đành phải nín lặng.

Tôi may mắn hơn các bạn dạy Văn, Sử; môn Khoa học mà tôi phụ trách thì dù ở thời đại nào cũng phải diễn tả trung thực mà thôi. Chỉ tội nghiệp xót xa cho các bạn tôi, giảng bài mà không dám nhìn thẳng vào mặt học sinh, chỉ biết nhìn bức tường trước mặt và cố đóng cho xong vai trò. Nói dối quá sức như vậy làm sao khỏi hổ thẹn lương tâm của một nhà giáo đã chứ!

Những ngày tháng kế tiếp của chúng tôi thật nặng nề, chán nản, hội họp liên miên khiếp quá! Suốt tuần không có ngày nào được ở nhà. Buổi sáng vào lớp dạy, chiều lại họp. Chao ôi! Họp kiểu gì mà họp dữ vậy không biết? Nào là họp Tổ chuyên môn, họp Khối chủ nhiệm, họp Công đoàn, họp Ban đời sống, họp Ban văn nghệ rồi làm sổ sách, cộng điểm, phê học bạ… Trong phòng giáo sư, luôn luôn có một cái bảng đen chia ra 2 phần: Một phần ghi những việc làm tốt, phần kia là những việc chưa tốt. Điều làm tôi đau đầu và chán nhất là buổi họp đầu tháng, không có tháng nào là không có kế hoạch thi đua. Thí dụ “kế hoạch hái hoa dâng Bác” chẳng hạn. Lại còn thi đua giữa học sinh, thi đua giữa các giáo sư, các tổ chuyên môn, đăng ký dạy giờ, dự giờ, ngồi phê bình kiểm thảo lẫn nhau. Ra khỏi phòng họp là chân bước không muốn nổi và chỉ muốn “thua đi” cho nó rồi.

Sau đó lại có mục kết nạp các giáo viên vào Công đoàn; Ban Giám Hiệu cho đó là một vinh dự; còn tôi, tôi lại thấy chính sự kết nạp này nhằm để gây chia rẽ trong hàng ngũ giáo sư. Người chưa được kết nạp sẽ bị coi như là ý thức chính trị chưa tốt; nhưng làm sao tốt được, dù có chẻ đầu óc chúng tôi ra làm hai rồi nhét các chủ thuyết Karl Marx và Lénine vào, cũng thế thôi. Hè đến còn phải học chính trị nữa, năm đầu tiên phải học luôn 3 tháng; những giờ học tập dài lê thê và buồn ngủ quá! Ngoài miệng chúng tôi cũng thảo luận hăng say lắm nhưng thật ra chỉ nói như vẹt, ra khỏi phòng học là không biết mình nói cái gì nữa!

Sống với chế độ Cộng Sản thật đúng là chế độ làm bần cùng hóa nhân dân. Ngày nào các Thầy Cô ăn mặc áo quần sang trọng đẹp đẽ, được đám học sinh coi như thần tượng mà bây giờ mỗi Thầy Cô xách tòn ten mỗi người một túm cá, hay 1 túm thịt, một chút bột ngọt, một gói đường… Thật không còn vẻ hào hoa phong nhã của ngày nào! Một số học sinh thường nói với chúng tôi rằng:

– Chúng em nhìn thấy các Thầy Cô như vậy, thần tượng trong lòng chúng em tiêu tan hết!

Cũng đành tiêu tan thôi các em ơi! Vì chính bao tử của các Thầy Cô cũng cần chúng nó kia mà! Chúng tôi thường gọi loại cá này là cá “long hội“, có nghĩa là ăn vào nó sẽ lôi họng mình ra vì quá xương. Nhớ lại việc chia nhu yếu phẩm này mà buồn, cũng có nhiều vị đâm ra so bì cái này ngon, cái kia dở. Cuộc sống thê thảm quá! Đã vậy, ngay các thức cần dùng hằng ngày cũng không được phân phát đầy đủ: 3 người lãnh chung một ống kem đánh răng, hai người lãnh chung một cái mùng hay một cái vỏ xe đạp (xin nói rõ là phải trả tiền chứ không phải cho không đâu). Còn áo quần thì năm nay chỉ mua được 2 mét vải, chỉ may được cái áo thôi, chờ sang năm mới có quần và khi đó cái áo đã muốn rách rồi! Quá chán chường với chính sách bần cùng này nên có dịp là chúng tôi châm biếm mỉa mai. Có một lần đang trong buổi họp, đến giờ giải lao, các Thầy được cho đi lãnh quần đùi. Lãnh xong mặc luôn vào ngoài quần tây rồi trở vào ngồi họp, xem như không có gì xảy ra, làm cho chúng tôi cười một trận đến nôn ruột luôn.

Cứ thế với thời gian, chúng tôi gầy gò xanh xao dần. Đồng lương không đủ sống, nửa tháng lãnh lương một lần, cầm mấy chục bạc trong tay mà ngao ngán thở dài, không biết làm sao mà sống đủ trong hai tuần đây? Chúng tôi phải bán dần các thứ còn lại trong nhà để phụ thêm vào, theo đúng chủ trương “sạch nhà, sạch cửa”. Có một thời gian chúng tôi ăn toàn bo-bo, bột mì rồi đến khoai mì thay cơm; ăn làm sao cho hết một ngày cả mấy chục kilô khoai mì, mà để lâu thì bị hư thối, tháng đó bị hụt phần lương thực rồi đó. Ăn không đủ no mà lại làm việc quá nhiều, bắt chúng tôi phải soạn giáo án đầy đủ. Thật là một việc làm vô ích khi những bài dạy từ năm này qua năm kia đã nằm sẵn trong đầu óc chúng tôi, vậy mà đêm về phải thức viết lại ra giấy.

Ngoài ra, còn có hai việc khốn nạn nhất là trực đêm và trực cho heo, gà ăn. Gọi là trực đêm chứ nếu có ăn trộm vào gỡ hết gạch ngói của nhà trường, chúng tôi cũng không biết. Mà có biết cũng chẳng dám làm gì vì đàn bà chúng tôi vốn dĩ đã nhát gan rồi. Chỉ việc ban đêm đến trường, leo lên lầu, vào phòng giáo sư bật cho được ngọn đèn lên cũng đã quá mừng rồi. Sau đó, đóng chặt cửa leo lên bàn nằm và trông cho mau sáng; khổ nhất là đứa nào cũng muốn nằm vào phía trong chứ không chịu nằm ngoài gần cửa lớn, cuối cùng đành “oánh tù tì” thôi.

Tuy vậy, trực đêm chưa khốn khổ bằng trực heo, gà. Chủ trương chính sách gia tăng sản xuất, nhà trường đã dùng gầm cầu thang để nuôi; chỉ một đàn gà và hai ba con heo mà mỗi ngày đêm có ba ca trực, mỗi ca hai giáo viên. Chúng tôi thường nói lũ heo gà này thật tốt số, chúng được săn sóc kỹ hơn con cái của chúng tôi nữa. Chúng tôi đi suốt ngày thì giờ đâu mà chăm lo cho con, chúng học được chữ nào hay chữ đó, nhiều khi cơm cũng không kịp nấu mà ăn. Đó là chưa kể ngày lễ hay ngày chủ nhật phải đem học sinh đi dự lễ hay làm vệ sinh phường khóm nữa.

Tắm heo và cho gà ăn mà cũng có bảng nội quy treo sẵn trong phòng giáo sư, ai làm chưa tốt được nêu tên lên bảng đen liền. Cho gà ăn còn đỡ, tôi sợ nhất là tắm heo. Phải xắn quần, chui vào gầm cầu thang, người hơi cao như tôi lại càng khổ thân hơn nữa. Phân heo và nước lẫn lộn, bước vào hai chân cảm thấy ghê ghê làm sao! Việc đầu tiên là nắm ngay lấy vòi nước, nhắm mắt nhắm mũi dội cho phân trôi bớt đi đã, phần thì sợ heo cắn nên cứ xịt tưới vào mình nó rồi muốn cho nó đứng yên thì lấy bàn chải mà chà khắp mình. Có lẽ heo cũng giống người, sau khi tắm rửa mát mẻ xong, nó cũng thích đi dạo. Do đó có một lần sau khi tôi tắm cho nó xong, nó đã xổng chuồng chạy luôn, không làm sao chặn đuổi theo kịp. Cả trường vắng lặng vì đang có giờ học, vậy mà con heo hứng chí chạy ngay vào một lớp học, có lẽ nó cũng muốn “dự giờ”! Tôi vừa chạy theo vừa la lên, làm cho cả lớp hôm đó cười một trận đích đáng; cuối cùng cả thầy lẫn trò phụ nhau dắt nó về chuồng.

Tôi quá chán ngấy việc đi dạy học này rồi, ít ra cũng phải đủ ăn, công sức mình bỏ ra phải được đền bù xứng đáng. Muốn dạy tốt, học sinh phải học tốt; đằng này chính các em cũng chưa đủ no, làm sao học được? Vào lớp các em nằm ngay trên bàn mà ngủ vì 2 giờ sáng đã phải thức dậy phụ với mẹ lo dọn hàng. Nhìn thấy cả một thế hệ trẻ đang đi thụt lùi dần mà đau lòng vô cùng!

Tôi phải kéo lê những ngày buồn chán này vì nếu không có nghề nghiệp gì trong khi chồng đi cải tạo, cả nhà phải dọn đi Kinh Tế Mới. Cuộc sống thật nặng nề ngột ngạt, về địa phương làm gì cũng sợ bị để ý: Năm ba người bạn đến thăm, ngồi quây quần nói chuyện với nhau cho đỡ buồn cũng sợ bị Công an nghi ngờ. Đến trường gặp thêm cái nạn bắt phải bài trừ “văn hóa đồi trụy” như các băng “nhạc vàng” phải xóa hết hoặc cấm không cho nghe các đài ngoại quốc như BBC, VOA… Đầu óc luôn luôn bị căng thẳng, hôm nay đồn đổi tiền, ngày mai nghe đồn chuyện khác mà mỗi lần đổi tiền, nhân dân lại khốn đốn thêm vì vật giá leo thang vùn vụt. Lần đổi tiền đầu tiên tôi sợ quá, mỗi gia đình chỉ đổi được 200 đồng thôi. Cầm số tiền trong tay, tôi đã khóc, cứ sợ làm sao đủ sống, do đó cứ cho các con ăn toàn bí ngô và rau muống triền miên. Công nhân viên mỗi tháng mua được nửa ký thịt giá chính thức, còn ngày Tết mới mua được một ký-lô nhưng phải ra phường khóm xếp hàng từ 3 giờ sáng.

Sau 3 năm không chịu đựng nổi, tôi đã quyết định nghỉ dạy dù chưa biết làm gì để sống? Các bạn tôi cũng muốn nghỉ dạy lắm nhưng phần lớn ai cũng sợ vì ngoài việc đi dạy học có quen làm nghề gì khác đâu!

Tôi thì nhất định liều! Sống gì mà ngày qua ngày chỉ thấy mệt mỏi chán chường, không có gì vui cũng không có gì phấn khởi cho chân muốn bước tới. Tôi nộp đơn xin thôi việc, Ban Giám Hiệu đã nhiều lần đến nhà yêu cầu tôi vì các em học sinh mà ở lại, nhưng ai lo cho bao tử mấy mẹ con tôi đây? Bắt đầu đưa đơn là tôi không đặt chân đến trường nữa, dù chưa có quyết định nghỉ việc. Tôi không nhận thêm gì từ tiền lương cho đến nhu yếu phẩm.

Sau ba tháng thấy tôi không thay đổi lập trường, Ban Giám Hiệu đành chuyển đơn lên Bộ Giáo Dục. Kể từ đó, tôi mới thấy tâm hồn mình được thảnh thơi nhẹ nhàng rất nhiều. Tôi đi theo một nhóm học trò cũ ra đứng bán ở Chợ Trời, các em tập cho tôi buôn bán. Ra đến đây mới thấy thật đáng thương cho nghề giáo của mình, học hành chữ nghĩa thì nhiều nhưng cũng lại nghề đói nhất. Trong khi ở thế giới này, họ có cần văn chương trí thức gì đâu, vậy mà con cái họ được no ấm đầy đủ hơn con chúng tôi.

Những ngày đầu tiên ở đây, tôi cảm thấy tủi nhục quá, khó mà thích nghi với môi trường này, về nhà nằm xuống chỉ muốn khóc. Nhưng các con tôi cần cơm áo, tôi không lo cho chúng thì ai lo đây, chúng cần phải no để mà học. Do đó, tôi chai lì dần với thời gian, đã gọi là Chợ Trời rồi thì Thầy Cô cũng thế thôi, ngang hàng nhau hết.

Ô hô! Mỗi cuộc đời đảo lộn, ai giải phóng ai đây?

Khi đọc “Thương Nhớ Mười Hai” của Vũ Bằng ta thường bâng khuâng tiếc nuối những tháng Tư của dĩ vãng ấu thơ, vào hè của tuổi thơ với những nao nức về ngày nghỉ sắp tới, vội vã trao cho nhau những cuốn lưu bút ngày xanh ép đầy những cánh phượng đỏ thắm! Nhưng đến một tháng Tư kinh hoàng cách đây 30 năm thì những huyền diệu tháng Tư đã sụp đổ tan tành không vương vấn một dư âm nào của khúc nhạc ngày hè năm xưa! Bây giờ mỗi tháng Tư đi qua đời mình là một thẫn thờ hoài niệm khoảng thời gian mở đầu cho những gian nan thử thách với giông bão của cuộc đời.

Hình internet

30.4.75, ngày đau thương tang tóc cho toàn dân miền Nam Việt Nam, ngày sụp đổ của một chế độ không lấy gì làm tốt đẹp lắm để thay thế bằng một chế độ khác biệt trăm lần khác biệt và bạo tàn hung ác hơn.

Cứ mỗi tháng Tư vào hè trên quê hương, tôi không thể nào quên được 14 năm ở lại gian nan cùng cực, một thời gian khủng khiếp, vô hình đã trở thành một ấn tượng bi thảm cho người dân Việt Nam về hai tiếng 30/4.

Tháng Tư của kinh hoàng, của đau thương, của nghèo đói, của thử thách và cũng phải là khởi điểm của tranh đấu, hy vọng, tin yêu để tái tạo lại một quê hương Việt Nam thanh bình tươi sáng, hạnh phúc và tự do.

Hoàng Thị Doãn



Hình internet

"Khi Đàn Bò Vào Thành Phố"

 


"KHI ĐÀN BÒ VÀO THÀNH PHỐ"
Quốc Nguyên

Tháng Tư năm đó, trời Sài Gòn không nắng gắt như mọi năm. Không hiểu sao, nắng nhạt như vừa bị ai rút mất linh hồn. Những con đường quen bỗng trở nên xa lạ, như thể thành phố đã linh cảm được điều gì đó đang đến. 

Người ta bắt đầu nói nhỏ với nhau. Không còn những câu chuyện ồn ào quán cà phê, không còn tiếng cười tự nhiên. Mọi thứ như bị bóp nghẹt bởi một nỗi chờ đợi nặng nề.

Rồi buổi sáng ấy cũng đến. Không có khải hoàn ca. Không có ánh hào quang như những lời tuyên truyền sau này. Chỉ có tiếng xích sắt nghiến trên đường, tiếng giày dép lẫn lộn, và những đoàn người lạ tràn vào thành phố — ngơ ngác, lấm lem, ánh mắt vừa tò mò vừa chiếm hữu.

Người Sài Gòn đứng nép bên lề. Họ nhìn.
Và họ hiểu.

(Hình 1)
“Đàn bò vào thành phố” ai đó buột miệng nói nhỏ, rồi im bặt. Không phải để miệt thị, mà là một cách diễn tả sự ngỡ ngàng trước một thế giới va chạm: một bên là đời sống đô thị từng quen với tự do, một bên là những con người bước ra từ chiến tranh, mang theo cả một hệ thống niềm tin khác biệt.

Những ngày sau đó, thành phố thay đổi nhanh hơn người ta kịp nhớ. Những bảng hiệu bị tháo xuống. Những cửa tiệm đóng cửa. Những gia đình lặng lẽ biến mất sau một đêm — người đi “học tập”, người tìm đường vượt biển. Tiếng nhạc cũ không còn vang lên. Thay vào đó là loa phường, là những bài ca mới, là những khẩu hiệu cũ kỹ nhưng lặp lại đến mòn tai.

Ba tôi vẫn ngồi trước hiên nhà mỗi chiều, nhìn con đường từng tấp nập giờ thưa dần. Ông không nói nhiều, chỉ hút thuốc. Mỗi điếu thuốc tàn đi, như một phần ký ức bị đốt cháy.

Má tôi thì lặng lẽ hơn. Bà gói ghém mọi thứ như thể chuẩn bị cho một chuyến đi mà không biết bao giờ trở lại.

Những bữa cơm trở nên đạm bạc, nhưng nỗi lo thì đầy lên. Tôi còn nhỏ, chưa hiểu hết. Chỉ nhớ rõ một điều: người lớn không còn cười như trước.

Một buổi tối, điện cúp. Cả nhà ngồi trong bóng tối. Ngoài kia, thành phố cũng chìm trong im lặng lạ lùng. Ba nói khẽ, như nói với chính mình:

– Có những ngày, một dân tộc mất nhiều hơn một thành phố.

Không ai trả lời. Nhiều năm sau, khi đã rời xa nơi ấy, tôi vẫn nhớ về tháng Tư như một vết cắt không lành.

Không chỉ là mất mát vật chất, mà là sự đứt gãy của một đời sống, một niềm tin, một cách làm người. Người ta có thể gọi đó là “giải phóng”. Nhưng trong ký ức của nhiều người, đó là ngày bắt đầu của những cuộc chia ly.

Và mỗi khi tháng Tư trở lại, tôi vẫn thấy đâu đó trong lòng mình một thành phố cũ, một buổi sáng im lặng, và hình ảnh “đàn bò vào thành phố” không phải bằng chân, mà bằng định mệnh.

Sau đêm mất điện ấy, thành phố như bước sang một đời khác. Sáng hôm sau, người ta xếp hàng.

Xếp hàng mua gạo.

Xếp hàng mua nhu yếu phẩm.

Xếp hàng… để được sống một cách hợp lệ.

Những con người từng quen với lựa chọn, bỗng phải học lại cách chờ đợi. Không ai dạy, nhưng ai cũng hiểu: từ nay, mọi thứ đều phải xin.

Ba tôi không còn ngồi trước hiên nữa. Một ngày, người ta đến gọi tên ông. Không ồn ào, không giải thích dài dòng. Chỉ là một tờ giấy, vài câu nói ngắn gọn: “Đi học tập.” Má tôi đứng chết lặng. Tôi không hiểu “học tập” là gì, chỉ thấy cái cách ba xếp lại chiếc áo sơ mi cũ, chậm rãi như thể ông biết chuyến đi này sẽ rất dài.

Trước khi đi, ông nhìn tôi, đặt tay lên đầu:

– Ở nhà nghe lời má.

Câu nói giản dị nhưng ánh mắt ông lúc đó… như gửi lại cả một đời. Ba đi, rồi không có tin tức, kể từ đó ba không trở về nữa…

Thành phố tiếp tục đổi thay. Những căn nhà bị “quản lý”. Những người lạ dọn vào, nói cười lớn tiếng, dùng những vật dụng mà chủ cũ từng nâng niu.

Có những đêm, tôi thấy má ngồi lặng trước bàn thờ, không khóc, nhưng đôi vai rung nhẹ.

Người ta bắt đầu rời đi.

Ban đầu là vài người. Sau đó là nhiều người. Tin đồn về những chuyến vượt biển lan đi như gió. Nguy hiểm, ai cũng biết. Nhưng ở lại — dường như cũng là một kiểu nguy hiểm khác, âm thầm hơn.

Một tối, má gọi tôi lại.

– Con có sợ không?

Tôi không trả lời. Chỉ nắm chặt tay bà.

Vài tuần sau, chúng tôi lên đường. Không hành lý nhiều. Không lời từ biệt. Chỉ có một đêm tối và một con thuyền nhỏ chờ ở đâu đó ngoài bến nước.

Biển đêm rộng và lạnh. Con thuyền chở đầy người những gương mặt căng thẳng, những ánh mắt không dám nhìn nhau lâu. Mỗi người mang theo một câu chuyện, một mất mát, và một hy vọng mong manh.

Có lúc sóng lớn tưởng chừng lật úp tất cả. Có tiếng trẻ con khóc. Có người cầu nguyện. Có người im lặng như đã giao phó số phận. Tôi nằm sát vào má, nghe nhịp tim bà đập nhanh trong bóng tối.

Lần đầu tiên, tôi hiểu thế nào là sợ. Nhưng cũng là lần đầu tiên, tôi cảm nhận rõ một điều: người ta có thể bị đẩy ra khỏi nhà, khỏi thành phố, khỏi quê hương… nhưng vẫn cố giữ một thứ vô hình — niềm tin rằng ở đâu đó, mình sẽ lại được sống như một con người đúng nghĩa.

Chúng tôi may mắn sống sót.

Nhiều năm sau, ở một đất nước xa lạ, tôi lớn lên. Học một ngôn ngữ khác. Làm quen với một cuộc đời khác.

Nhưng mỗi khi tháng Tư về, ký ức cũ lại trở lại, không cần gọi. Má vẫn giữ thói quen cũ: nấu một bữa cơm đơn giản, thắp nhang, và ngồi rất lâu trước bàn thờ ba.

Phải rất lâu sau, chúng tôi mới biết: ba không bao giờ trở về. Không mộ. Không bia. Chỉ là một cái tên tan vào những trại cải tạo xa xôi, nơi mà thời gian không được đo bằng ngày tháng, mà bằng sự chịu đựng.

Tôi từng tự hỏi: Điều gì còn lại sau tất cả?
Không phải là hận thù, dù nó từng rất gần.
Không chỉ là nỗi buồn, dù nó vẫn còn đó.
Mà là ký ức. Một thứ ký ức không thể xóa, không thể thay thế, và cũng không thể truyền đạt trọn vẹn cho những ai chưa từng sống qua.

Thành phố bây giờ đã khác. Người ta nói nó phát triển, hiện đại, rực rỡ hơn. Có thể đúng. Nhưng với những người như tôi, luôn tồn tại hai Sài Gòn: một của hôm nay, và một của trước tháng Tư. Và giữa hai thành phố ấy là một khoảng lặng không bao giờ lấp đầy.

Nhiều năm trôi qua, tôi bắt đầu hiểu một điều: có những mất mát không ồn ào, nhưng kéo dài suốt một đời.

Ở xứ người, chúng tôi học cách sống lại từ đầu. Má đi làm sớm, về muộn. Những công việc lặng lẽ, không ai hỏi quá khứ. Tôi lớn lên giữa hai thế giới: ban ngày là ngôn ngữ mới, bạn bè mới; ban đêm là những câu chuyện cũ, những cái tên chưa bao giờ được quên.

Có những buổi tối, má kể về Sài Gòn. Không phải Sài Gòn sau này, mà là Sài Gòn trước tháng Tư nơi có tiếng xe, tiếng nhạc, có những quán nhỏ sáng đèn, và con người nói cười không cần dè chừng. Bà kể như giữ lửa, như sợ rằng nếu không nhắc lại, ký ức sẽ bị thời gian xóa mất. Tôi hỏi má:

– Có ngày nào mình quay về không?

Má im lặng rất lâu.

– Quê hương… không phải lúc nào cũng là nơi để trở về.

Câu nói ấy theo tôi suốt những năm trưởng thành. Rồi một ngày, khi đã đủ lớn, tôi trở lại. Má không đi cùng. Bà bảo:

– “Con cứ đi, nếu con cần hiểu.”

Tôi biết, có những vết thương không phải ai cũng muốn chạm vào.

Chiếc máy bay hạ xuống trong một thành phố đông đúc, sáng đèn, ồn ào. Người ta nói đủ thứ ngôn ngữ, nhưng tôi vẫn nhận ra âm điệu quen thuộc đâu đó trong từng câu nói.

Sài Gòn… vẫn là Sài Gòn.
Nhưng cũng không còn là Sài Gòn.

Tôi đi qua những con đường cũ, tìm lại căn nhà năm xưa. Nó vẫn còn đó, nhưng đã đổi chủ từ lâu. Cánh cửa sơn lại, hàng rào khác đi, không còn dấu vết nào của gia đình tôi — như thể chúng tôi chưa từng tồn tại ở nơi này.

Tôi đứng bên kia đường, nhìn. Không trách. Không giận. Chỉ thấy một khoảng trống kỳ lạ, như nhìn vào một bức ảnh mà mình từng ở trong đó, nhưng giờ bị cắt ra.

Tôi tìm đến nghĩa trang cũ. Không có tên ba. Chỉ là những hàng mộ nối dài, những tấm bia vô danh, và gió thổi qua như kể lại những câu chuyện không ai còn nhớ rõ. Tôi thắp một nén nhang, không biết gửi về đâu, chỉ mong rằng ở một nơi nào đó, ba sẽ nhận được.

– “Con đã về.” Tôi nói nhỏ.

Không có câu trả lời, nhưng lòng tôi nhẹ đi một chút.

Những ngày sau, tôi đi nhiều hơn, nghe nhiều hơn. Thành phố này có những con người sinh ra sau mọi biến động, họ sống nhanh, sống gấp, và có khi không mang cùng ký ức với thế hệ trước. Tôi không trách họ.

Ký ức là thứ không thể ép buộc.

Nó giống như một dòng sông ai đã từng trôi qua thì nhớ, còn người đứng trên bờ thì chỉ thấy nước chảy.

Đêm cuối trước khi rời đi, tôi đi dọc con đường cũ. Đèn vẫn sáng. Người vẫn đông. Không ai biết tôi là ai, và tôi cũng không cần ai biết. Chỉ có một điều tôi hiểu rõ hơn bao giờ hết:

Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra, mà là nơi những ký ức của mình còn được giữ lại. Dù ở lại hay ra đi, dù mất hay còn, những gì thuộc về tháng Tư năm ấy… vẫn nằm đó, trong một góc rất sâu của mỗi con người.

Khi máy bay cất cánh, tôi nhìn xuống thành phố lần nữa. Không còn giận dữ. Không còn hoang mang. Chỉ còn một nỗi buồn lặng lẽ và một lời hứa không thành lời:

Rằng tôi sẽ kể lại. Để một ngày nào đó, ai đó nghe được, và hiểu rằng có một thời, một thành phố đã đổi đời trong im lặng, và có những con người đã mang theo cả quê hương mình đi suốt phần đời còn lại…

Ký ức Tháng Tư
Boston, Massachusetts
Quốc Nguyên

THUYẾT MINH: TT Trump Ký Hai Sắc Lệnh Lịch Sử Và Lời Tuyên Bố Khiến Cả Thế Giới Chấn Động!

 


Thuyết Minh: TT TRUMP KÝ HAI SẮC LỆNH LỊCH SỬ VÀ LỜI TUYÊN BỐ KHIẾN CẢ THẾ GIỚI CHẤN ĐỘNG!
TammyUSA


Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 



Elon Musk Kêu Gọi Bắt 'Kẻ Cướp' Ro Khanna: Tên Dối Trá Này Đáng Lẽ Phải Ngồi Tù!

 


ELON MUSK KÊU GỌI BẮT 'KẺ CƯỚP' RO KHANNA: TÊN DỐI TRÁ NÀY ĐÁNG LẼ PHẢI NGỒI TÙ!
BTV EPOCH MEWS

TIN MỚI 23/6: ELON MUSK KÊU GỌI BẮT ‘KẺ CƯỚP’ RO KHANNA: TÊN DỐI TRÁ NÀY ĐÁNG LẼ PHẢI NGỒI TÙ! - YouTube

Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 



Thán Phục Nữ Tướng Gốc Việt Có Cấp Bậc Cao Nhất Chỉ Huy Lữ Đoàn Tác Chiến Hoa Kỳ-Đại Tá Danielle Ngô Inbox Updates

 


THÁN PHỤC NỮ TƯỚNG GỐC VIỆT CÓ CẤP BẬC CAO NHẤT CHỈ HUY LỮ ĐOÀN TÁC CHIẾN HOA KỲ - ĐẠI TÁ DANIELLE NGÔ
Tammy USA


Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 



Chuyến Đi Việt Nam Làm Sống Lại Sự Căm Ghét Chủ Nghĩa Cộng Sản

 


CHUYẾN ĐI VIỆT NAM LÀM SỐNG LẠI SỰ CĂM GHÉT CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
Dennis Prager - PBD dịchPBD dịch 

Thật khó dằn được cảm xúc riêng - đặc biệt là sự tức giận - suốt trong chuyến đi Việt Nam của tôi vào tuần trước. Tôi càng khâm phục người Việt bao nhiêu - sự thông minh, yêu đời, phẩm giá và làm việc chăm chỉ - tôi càng cảm thấy tức giận những người Cộng Sản về việc họ mang lại quá nhiều khổ đau cho người Việt (và dĩ nhiên cả người Mỹ chúng tôi nữa) trong thế kỷ thứ 20 này.

Bất hạnh thay, những người Cộng Sản vẫn còn cai trị nước này. Thế nhưng Việt Nam ngày nay chỉ còn theo mỗi một cách còn lại để thoát khỏi sự nghèo khổ. nói gì đến thịnh vượng: chủ nghĩa tư-bản và kinh-tế thị-trường. Vậy thì cái lý do mà hai triệu người Việt đã chết trong Chiến tranh Việt Nam đã hy-sinh đúng ra cho mục đích gì?

Tôi muốn hỏi một trong các nhà lãnh đạo cộng sản của Việt Nam câu hỏi này. "Thưa đồng chí, ông đã từ bỏ tất cả những gì mà đảng Cộng Sản của ông đã nhân danh:tài sản cộng đồng, hợp tác xã nông nghiệp, kế hoạch trung-ương chỉ đạo và chủ-nghĩa quân-sự, trong số nhiều điều khác nữa. Nhìn lại, vào thời đó, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản đáng yêu của ông đã hy sinh hàng triệu đồng bào Việt Nam cho mục đích gì?"

Không có câu trả-lời hợp lý. Chỉ có lời nói dối và lời nói thật, và sự thật thì không hợp lý. Lời nói dối là câu trả lời được đưa ra bởi các người cộng sản và nó được lập lại, giống y như tất cả các lời nói dối của cộng sản, bởi cái cánh tả không cộng sản trên thế giới. Lời nói dối đó đã (và đang tiếp tục) được dạy tại hầu hết các đại học phương Tây, và đã và còn tiếp tục được truyền bá bởi mọi giới truyền thông trên hành tinh này: Cộng sản Việt Nam, gồm cả Bắc Việt và Việt Cộng, chỉ chiến đấu thuần túy cho nền độc-lập quốc gia chống lại sự thống trị của ngoại bang.

Trước hết họ chiến đấu chống người Pháp, kế tiếp là người Nhật và sau đó là người Mỹ. Thế hệ trẻ Hoa Kỳ còn nhớ rằng họ đã được nhắc đi nhắc lại rằng Hồ Chí Minh là George Washington của Việt Nam, rằng ông ấy yêu thích Hiến Pháp Hoa Kỳ mà Hiến Pháp Việt Nam của ông ấy đã mô phỏng theo, và đã chẳng mong muốn điều gì khác hơn là nền độc-lập của Việt Nam.

Đây là sự thật: mọi nhà độc tài cộng sản trên thế giới đều là kẻ có tính hoang tưởng, sùng bái cá nhân, tham quyền, khát máu, Hồ Chí Minh thì cũng không khác. Ông ấy đã sát hại đối lập, tra tấn chỉ có Trời biết không biết bao nhiêu người Việt vô tội, cưỡng bách hàng triệu người chiến đấu cho ông ấy - phải, cho ông ấy và cho Đảng Cộng Sản đẫm máu của ông ấy, được hậu thuẫn bởi một tên sát nhân mọi thời đại Mao Trạch Đông. Nhưng những kẻ tối dạ tại Hoa Kỳ lại hô to "Ho, ho, Ho Chi Minh" tại các cuộc biểu tình phản chiến và họ mô tả Hoa Kỳ thực sự mới là kẻ giết người Việt. - "Này, này, LBJ, ông đã giết bao nhiêu đứa trẻ ngày hôm nay?"

Cộng sản Việt Nam đã không chiến đấu chống Hoa Kỳ cho nền độc lập của Việt Nam. Hoa Kỳ không hề muốn cai trị người Việt Nam, và có một tình trạng hoàn toàn tương tự chứng minh cho điều này:Chiến tranh Triều Tiên. Thế Hoa Kỳ chiến đấu chống Cộng sản Triều Tiên có phải là để cai trị Hàn quốc hay không? Hay phải chăng 37,000 chiến binh Mỹ chết tại Triều Tiên là để cho người Đại Hàn được hưởng tự do? Ai là người có được tự do hơn tại Việt Nam - những người sống tại miền Nam không cộng sản (với tất cả những khuyết điểm của nó) hay là những người sống dưới chế độ cộng sản Hồ chí Minh tại miền Bắc?

Hoa Kỳ chiến đấu để giải phóng chứ không phải để cai trị các xứ. Chính Đảng Cộng Sản Việt Nam, chứ không phải là Mỹ, là có ý muốn cai trị người Việt. Nhưng lời nói dối lại được loan truyền rộng rãi và hữu hiệu đến độ đa số thế giới - ngoại trừ những người Mỹ ủng hộ chiến tranh và những thuyền nhân Việt Nam và những người Việt khao khát tự do - tin tưởng rằng Hoa Kỳ chiến đấu để lấy tài nguyên, cho một "đế quốc Mỹ" hoàn toàn giả tưởng trong lúc cộng sản Việt Nam chiến đấu dành tự do cho người Việt.

Tôi đến "Vietnam War Remnants Museum" (Bảo tàng viện Tàn tích Chíến tranh Việt Nam) - nơi có ba tầng lầu trưng bày các hình ảnh chống Mỹ của Đảng Cộng Sản. Chẳng có gì làm tôi ngạc nhiên - chẳng phải sự thiếu vắng một lời chỉ trích cộng sản Bắc Việt hay Việt Cộng, hay là sự đe dọa rộng rãi mạng sống của những người không chịu chiến đấu cho cộng sản, hay những người đem sinh mạng ra đánh đổi lấy cuộc vượt thoát bằng thuyền, thà chấp nhận chết đuối, bị cá mập ăn thịt, hay bị tra tấn hay hiếp dâm bởi hải tặc, hơn là sống dưới sự cai trị của những người cộng sản, những người đã "giải phóng" miền Nam.

Tương tự như thế, cũng chẳng đáng ngạc nhiên là có một sự khác biệt rất nhỏ nhặt về lịch sử Việt Nam do Đảng Cộng Sản nói với những gì bất cứ sinh viên đại học được dạy bởi bất cứ một trường đại học nào và bởi ngay cả bất cứ giáo sư tại Hoa Kỳ, Âu châu, Á châu hay Châu Mỹ La tinh.

Tôi chấm dứt chủ đề mà tôi đã khởi đầu ở trên - người Việt Nam. Viếng thăm Việt Nam mà không phát sinh thiện cảm với người Việt Nam là điều không thể nào không có được. Tôi hy vọng rằng tôi sẽ còn sống đến ngày để nhìn thấy dân tộc Việt Nam thoát khỏi lời dối trá của Cộng Sản vẫn còn thấm đượm cuộc sống hàng ngày của họ, để hiểu rằng cái chết của mỗi người Việt trong cuộc chiến tranh chống Mỹ là một sinh mạng bị phí phạm, thêm một hy sinh nhân mạng trong tổng số 140 triệu sinh linh trên bàn thờ của một thần thánh giả dối khát máu nhất trong lịch sử: Chủ Nghĩa Cộng Sản.

Dennis Prager hiện có một chương trình truyền thanh thính giả đàm thoại (Talk Show) hàng ngày trên đài KRLA tần số 870AM bao gồm vùng Los Angeles và Orange County. KRLA liện hợp với 140 đài khác trên toàn quốc Hoa Kỳ. Ông viết xã luận hàng tuần, là tác giả của bốn cuốn sách và là sáng lập viên của Đại Học Prager trên mạng (www.prageru.com).

Quí vị có thể liên lạc với Dennis Prager trên trang mạng


Bản tiếng Anh

Trip to Vietnam Revives Hatred of Communism

By Dennis Prager
2/15/2011

It was difficult to control my emotions -- specifically, my anger -- during my visit to Vietnam last week. The more I came to admire the Vietnamese people -- their intelligence, love of life, dignity and hard work -- the more rage I felt for the communists who brought them (and, of course, us Americans) so much suffering in the second half of the 20th century.

Unfortunately, communists still rule the country. Yet, Vietnam today has embraced the only way that exists to escape poverty, let alone to produce prosperity: capitalism and the free market. So what exactly did the 2 million Vietnamese who died in the Vietnam War die for? I would like to ask one of the communist bosses who run Vietnam that question. "Comrade, you have disowned everything your Communist party stood for: communal property, collectivized agriculture, central planning and militarism, among other things. Looking back, then, for what precisely did your beloved Ho Chi Minh and your party sacrifice millions of your fellow Vietnamese?"

There is no good answer. There are only a lie and a truth, and the truth is not good.

The lie is the response offered by the Vietnamese communists and which was repeated, like virtually all communist lies, by the world's non-communist left. It was (and continues to be) taught in virtually every Western university and was and continues to be spread by virtually every news medium on the planet: The Vietnam communists, i.e., the North Vietnamese and the Viet Cong, were merely fighting for national independence against foreign control of their country.

First, they fought the French, then the Japanese and then the Americans. American baby boomers will remember being told over and over that Ho Chi Minh was Vietnam 's George Washington, that he loved the American Constitution, after which he modeled his own, and wanted nothing more than Vietnamese independence.

Here is the truth: Every communist dictator in the world has been a megalomaniacal, cult of personality, power hungry, bloodthirsty thug. Ho Chi Minh was no different. He murdered his opponents, tortured only God knows how many innocent Vietnamese, threatened millions into fighting for him -- yes, for him and his blood soaked Vietnamese Communist Party, backed by the greatest murderer of all time, Mao Zedong. But the moral idiots in America chanted "Ho, ho, Ho Chi Minh" at antiwar rallies, and they depicted America as the real murderers of Vietnamese -- "Hey, hey, LBJ, how many kids did you kill today?"

The Vietnamese communists were not fighting America for Vietnamese independence. America was never interested in controlling the Vietnamese people, and there is a perfect parallel to prove this: the Korean War. Did America fight the Korean communists in order to control Korea ? Or did 37,000 Americans die in Korea so that Koreans could be free? Who was (and remains) a freer human being -- a Korean living under Korean communist rule in North Korea or a Korean living in that part of Korea where America defeated the Korean communists?

And who was a freer human being in Vietnam -- those who lived in non-communist South Vietnam (with all its flaws) or those who lived under Ho, ho, Ho Chi Minh's communists in North Vietnam ?

America fights to liberate countries, not to rule over them. It was the Vietnamese Communist Party, not America , that was interested in controlling the Vietnamese people. But the lie was spread so widely and so effectively that most of the world -- except American supporters of the war and the Vietnamese boat people and other Vietnamese who yearned for liberty -- believed that America was fighting for tin, tungsten and the wholly fictitious "American empire" while the Vietnamese communists were fighting for Vietnamese freedom.

I went to the " Vietnam War Remnants Museum " -- the Communist Party's three-floor exhibit of anti-American photos. Nothing surprised me -- not the absence of a single word critical of the communist North Vietnamese or of the Viet Cong; not a word about the widespread threats on the lives of anyone who did not fight for the communists; not a word about those who risked their lives to escape by boat, preferring to risk dying by drowning, being eaten by sharks or being tortured or gang-raped by pirates, rather than to live under the communists who "liberated" South Vietnam.

Equally unsurprising is that there is little difference between the history of the Vietnam War as told by the Communist Party of Vietnam and what just about any college student will be told in just about any college by just about any professor in America, Europe, Asia or Latin America.

I will end with the subject with which I began -- the Vietnamese. It is impossible to visit Vietnam and not be impressed by the people. I hope I live to see the day when the people of Vietnam , freed from the communist lies that still permeate their daily lives, understand that every Vietnamese death in the war against America was a wasted life, one more of the 140 million human sacrifices on the altar of the most bloodthirsty false god in history: communism.

Dennis Prager has a daily radio talk show heard across America on 140 radio stations. He writes a weekly column, is the author of four books including Happiness Is a Serious Problem: A Human Nature Repair Manual, and founder of Prager University on the Internet (www.prageru.com). He can be contacted through his website www.dennisprager.com.

TOWNHALL DAILY: Be the first to read Dennis Prager's column. Sign up today and receive Townhall.com daily lineup delivered each morning to your inbox.