Thứ Ba, 27 tháng 10, 2026

Linh Mục Lê Hữu Từ & Cuộc Di Cư Năm 1954 Chiến Dịch Con Đường Đến Tự Do

 


LINH MỤC LÊ HỮU TỪ & CUỘC DI CƯ NĂM 1954
Lê Huy Trứ

Linh Mục Lê Hữu Từ & Cuộc di cư năm 1954
Chiến dịch Con đường đến Tự do
(Operation Passage to Freedom, or Operation Exodus)


Lê Huy Trứ
Tham khảo & Biên soạn
August 5, 2026

Mục Lục
Giới thiệu của tác giả .................................................................................................................... 4
Giám mục Lê Hữu Từ công hay tội?........................................................................................... 4
Quan điểm và luận điểm chính của TS Trần Chung Ngọc ................................................... 5
1. Chi tiết cụ thể từ bài viết của TS Trần Chung Ngọc (Góc nhìn chỉ trích)....................... 5
2. Góc nhìn lịch sử đối lập từ các tài liệu học thuật khác...................................................... 6
2.1 Chủ nghĩa dân tộc tự vệ (Self-defense Nationalism)........................................................ 6
2.2 Giải pháp chính trị bất khả kháng .................................................................................... 6
2.3. Vai trò hòa giải và cứu hộ nhân đạo ................................................................................ 7
2.4 Tóm tắt so sánh hai góc nhìn ............................................................................................. 7
3. Khởi đầu: Sự tôn trọng và Lời mời làm Cố vấn (1945)..................................................... 7
4. Giai đoạn kết nối: Thư từ qua lại và sự dàn xếp mâu thuẫn (1946) ................................ 8
5. Bước ngoặt Kháng chiến toàn quốc và Sự rạn nứt (1946 – 1947) .................................... 8
6. Tóm lược mối quan hệ phức tạp.......................................................................................... 9
7. Chi tiết về cuộc di cư năm 1954 của giáo dân Phát Diệm vào miền Nam...................... 10
8. Số liệu di cư của Giáo phận Phát Diệm............................................................................. 11
9. Các con tàu vận chuyển và hành trình di cư.................................................................... 12
10. Nhân đạo – tình người cao thượng đầy cảm động ....................................................... 13
11. Trực tiếp tham gia của quân đội quốc gia .................................................................... 15
12. Những sĩ quan và quân đội quốc gia tiếp quản những khu vực do Việt Minh trao trả
lại trước khi ra Bắc theo Hiệp Định Genève ............................................................................ 16
13. Việc tái lập các làng giáo xứ Phát Diệm mới tại miền Nam........................................ 17
14. Giữ gìn và phát triển nghề truyền thống tại Xóm Mới - Gò Vấp (Miền Nam)......... 18
15. Số phận quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm ở lại miền Bắc (1954–1975) ...................... 19
16. Sự trống vắng về nhân sự và tôn giáo ........................................................................... 19
17. Thử thách từ bom đạn chiến tranh (1965–1972).......................................................... 19
18. Giai đoạn phục hồi sau năm 1975.................................................................................. 20
19. Ý đồ thiên tài của Cha Sáu (Linh mục Trần Lục) ....................................................... 20
20. Ngoại thất: Dáng dấp của một Ngôi Đình và Cung Điện cổ ....................................... 21
21. Nội thất: Sự bề thế của Nhà Gỗ Truyền Thống ........................................................... 21

22. Chi tiết chạm khắc: Điển tích Kinh Thánh bằng biểu tượng Á Đông ....................... 21
23. Thực trạng của Làng nghề Xóm Mới - Gò Vấp ngày nay........................................... 24
24. Ai mới thật sự là lực lượng chủ chốt thúc đẩy giáo dân di cư? .................................. 25
25. Điều gì xảy ra nếu Hoa Kỳ KHÔNG đồng ý và viện trợ tài chính? ........................... 26
25.1. Thảm kịch nhân đạo khủng khiếp tại các cửa biển và Hải Phòng............................ 26
25.2. Miền Nam không thể dung nạp và tái định cư............................................................ 26
25.3. Chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ sớm hơn............................................................ 26
26. Phương pháp Tâm lý chiến (Psywar) cụ thể của Edward Lansdale .......................... 27
27. Chiến dịch tin đồn truyền miệng (Black Rumors)....................................................... 27
28. Biến các biểu tượng tôn giáo thành thông điệp chính trị ............................................ 27
29. Tận dụng cấu trúc "Đầu tầu" của hàng giáo sĩ ........................................................... 28
30. Cách phân bổ viện trợ Mỹ tại các trại định cư Hố Nai và Gia Kiệm......................... 28
31. Viện trợ khẩn cấp (Cứu đói và Y tế)............................................................................. 28
32. Cấp vốn định cư lâu dài (Xây dựng hạ tầng cơ bản)................................................... 29
33. Mô hình tài trợ "Lấy Nhà thờ làm trung tâm"............................................................ 29
34. Viện trợ sản xuất và công cụ kinh tế ............................................................................. 29
35. Hiệu quả thực tế của Phái bộ Lansdale qua tài liệu giải mật ..................................... 30
36. Vai trò của Linh mục Hoàng Quỳnh: Tổng tư lệnh cuộc di cư .................................. 31
37. Ảnh hưởng của cử tri Hố Nai - Gia Kiệm trong cuộc Trưng cầu dân ý 1955 ........... 31
37.1. Tạo ra tỷ lệ phiếu bầu tuyệt đối.................................................................................... 31
37.2. Vành đai thép bảo vệ Sài Gòn....................................................................................... 32
37.3. Công cụ thuyết phục Washington ................................................................................ 32
38. Giám mục Lê Hữu Từ dưới mắt người ngoại quốc ..................................................... 32
39. Cuộc di cư 1954-1955 dưới mắt người Cộng sản ......................................................... 35
40. Bộ mặt thật của Lê Hữu Từ qua lăng kính của Cộng Sản.......................................... 36
Tạm Kết ....................................................................................................................................... 41
Tài liệu nghiên cứu...................................................................................................................... 42

Giới thiệu của tác giả

Trong tác phẩm "Bộ Mặt Thật của Giám mục Lê Hữu Từ" của Quang Toản & Nguyễn Hoài (1965) phản ảnh quan điểm chính thống của Việt Minh Cộng sản, cáo buộc Giám mục Lê Hữu Từ hợp tác với Pháp, ủng hộ Bảo Đại, nhận viện trợ Mỹ và bảo vệ các đảng phái Quốc Gia chống Cộng. Mặc dù cuốn sách nhằm đấu tố, Giám Mục Lê Hữu Từ là Việt gian, “phản động, ác ôn,” giả vờ hợp tác với Việt Minh Cộng Sản, nhận tham gia làm cố vấn cho chính phủ Hồ Chí Minh, để võ trang giáo dân, và để chống đối ‘chính phủ lâm thời’, đâm sau lưng ‘cách mạng’.

Nhưng những phân tích, và tố cáo vô số tội phản động của Linh mục Lê Hữu Từ trong tác phẩm "Bộ Mặt Thật của Giám mục Lê Hữu Từ" đã bị phản ứng ngược lại. Các dữ kiện trong bài viết đã cho thấy chiến lược khôn ngoan của Giám mục Lê Hữu Từ trong việc bảo vệ giáo dân trước làn sóng vô thần. Thái độ, quan điểm, và hành động của Ngài giữa hai áp lực, Thực Dân Pháp và Cộng Sản. Giám mục Lê Hữu Từ đã có quyết định khôn ngoan và sáng suốt, xứng đáng được tôn vinh bởi việc bảo vệ đức tin, tinh thần quốc gia dân tộc, và ý chí chống cộng của Ngài.

Tôi nhấn mạnh rằng, dù chưa được Vatican phong thánh, Ngài Lê Hữu Từ vẫn là biểu tượng của tinh thần bất khuất trong ký ức giáo dân, và quốc gia dân tộc.

Giám mục Lê Hữu Từ công hay tội?

Trong các bài viết phê phán lịch sử và Công giáo (đăng trên các trang như Sách Hiếm hay Giao Điểm), tác giả Trần Chung Ngọc thường nhắc đến Giám mục (linh mục) Lê Hữu Từ với quan điểm chỉ trích ‘nghiêm khắc.’ TS Trần Chung Ngọc xếp Giám mục Lê Hữu Từ vào nhóm những nhân vật tôn giáo có hành động mà ông cho là đi ngược lại lợi ích “quốc gia” trong giai đoạn kháng chiến. [1, 2]

Quan điểm và luận điểm chính của TS Trần Chung Ngọc

• Vấn đề "Khu tự trị" Phát Diệm: Trần Chung Ngọc cáo buộc Giám mục Lê Hữu Từ đã nhận vũ khí từ thực dân Pháp khi Pháp tái chiếm Việt Nam để thiết lập vùng tự trị Phát Diệm - Bùi Chu, hoạt động tách rời khỏi sự kiểm soát của chính quyền kháng chiến. [1, 2]
• Đường lối chống Cộng: Ông cho rằng các hoạt động và lực lượng dân vệ tại Phát Diệm dưới sự lãnh đạo của Giám mục Lê Hữu Từ thực chất là phục vụ chiến lược chống cộng theo lệnh của Vatican (Giáo hoàng Pius XII), gây ra những xung đột đẫm máu với lực lượng Việt Minh và người dân không theo đạo. [1, 2]
• Gắn nhãn chính trị: Trong các bài viết như "Tại Sao Tôi Chống Công Giáo" hay "Lịch Sử các Giáo Hoàng", Trần Chung Ngọc liệt kê tên Lê Hữu Từ vào nhóm những chức sắc Công giáo mà ông gọi là "lãnh chúa" hoặc có hành vi "phản quốc/việt gian" vì liên minh với ngoại bang chống lại phong trào giải phóng dân tộc. [1, 2]

Để hiểu rõ một cách khách quan về một giai đoạn lịch sử  phức tạp như sự kiện Giáo phận Phát Diệm (1945–1954), việc đặt các góc nhìn lịch sử trái ngược cạnh nhau để so sánh và phân tích là điều cần thiết. Dưới đây là chi tiết luận điểm từ các bài viết của Trần Chung Ngọc và các góc nhìn học thuật, và lịch sử đối lập. [3]

1. Chi tiết cụ thể từ bài viết của TS Trần Chung Ngọc (Góc nhìn chỉ trích)

Trong các bài khảo cứu lịch sử đăng trên Sách Hiếm và nhóm Giao Điểm, tác giả Trần Chung Ngọc đưa ra các dẫn chứng cụ thể nhằm chứng minh Giám mục Lê Hữu Từ không phải là một nhà ái quốc mà là một thế lực ‘cát cứ,’ - Chữ cát (割) có nghĩa là cắt xẻ, chia cắt. Chữ cứ (據) có nghĩa là chiếm giữ, đóng cứ. Ghép lại, cát cứ chỉ việc chiếm một lãnh thổ làm của riêng – phản kháng chiến: [1, 2]

• Lợi dụng danh nghĩa "Cố vấn Tối cao": Trần Chung Ngọc chỉ ra rằng, sau Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Giám mục Lê Hữu Từ làm Cố vấn tối cao cho Chính phủ Lâm thời nhằm đoàn kết lương và giáo. Tuy nhiên, ông Ngọc cáo buộc vị giám mục này chỉ lợi dụng danh nghĩa đó để đi kinh lý, ngầm tuyên truyền chống chính phủ, ngăn cấm giáo dân tham gia các hội đoàn cứu quốc. [1, 2]
• Thành lập "Khu tự trị" và vũ trang hóa tôn giáo: Ông nhấn mạnh việc Lê Hữu Từ thành lập lực lượng tự vệ vũ trang Công giáo tại Bùi Chu - Phát Diệm (dưới sự tổng chỉ huy của linh mục Hoàng Quỳnh).
Theo Trần Chung Ngọc, lực lượng này không nhằm mục đích chống Pháp mà thực chất để tiêu diệt các cán bộ nằm vùng của Việt Minh, biến vùng tôn giáo này thành một "quốc gia trong một quốc gia". [1, 2, 3]
• Thỏa hiệp nhận vũ khí của Pháp: Trần Chung Ngọc trích dẫn các tư liệu cho thấy đến năm 1949, khi cục diện chiến tranh thay đổi, Giám mục Lê Hữu Từ đã chính thức bắt tay với thực dân Pháp, nhận viện trợ vũ khí, và khí tài để đối phó với lực lượng kháng chiến, đi ngược lại lời thề độc lập dân tộc trước đó. [1, 2]
• Sự chỉ đạo từ Vatican: Ông Ngọc đặt hành động của Lê Hữu Từ trong bối cảnh sắc lệnh chống Cộng năm 1949 của Giáo hoàng Pius XII. Ông lập luận rằng mọi hoạt động của Lê Hữu Từ tại Phát Diệm đều phục vụ cho chiến lược toàn cầu của Vatican hơn là quyền lợi của dân tộc Việt Nam.

2. Góc nhìn lịch sử đối lập từ các tài liệu học thuật khác

Ngược lại với quan điểm của cố TS Trần Chung Ngọc, nhiều công trình nghiên cứu của các sử gia độc lập, các nhà nghiên cứu phương Tây, và những tài liệu của Giáo hội đưa ra một bức tranh đa sắc thái, và mang tính chất "kẹt giữa hai làn đạn" của Giám mục Lê Hữu Từ. [4, 5, 6, 7, 8]

2.1 Chủ nghĩa dân tộc tự vệ (Self-defense Nationalism)
• Các nghiên cứu phương Tây (như của Ronald H. Spector) chỉ ra rằng việc Lê Hữu Từ thành lập lực lượng tự vệ ban đầu không xuất phát từ mong muốn phục tùng Pháp hay Vatican, mà là để bảo vệ cộng đồng Công giáo trước sự nghi kỵ và các cuộc thanh trừng của những phần tử cực đoan thuộc Việt Minh trong giai đoạn giao thời hỗn loạn.
• Khẩu hiệu của lực lượng này ban đầu là "Chống thực dân, chống Cộng sản" (Chống Pháp để giữ độc lập, chống Cộng để giữ đạo). [8, 9]

2.2 Giải pháp chính trị bất khả kháng
• Sử gia Edward Miller phân tích rằng Giám mục Lê Hữu Từ rơi vào một thế kẹt địa lý chính trị nghiêm trọng. Việc ông chấp nhận nhận vũ khí của Pháp từ năm 1949 không phải vì lòng trung thành với thực dân, mà là giải pháp tình thế cuối cùng khi áp lực quân sự từ lực lượng kháng chiến tăng cao, và vùng Phát Diệm đứng trước nguy cơ bị xóa sổ.
• Bản thân người Pháp cũng không hề tin tưởng Lê Hữu Từ, họ coi khu tự trị Phát Diệm là một mối họa "chủ nghĩa dân tộc khó thuần phục" chứ không phải một đồng minh thực sự.

2.3. Vai trò hòa giải và cứu hộ nhân đạo
• Tài liệu từ phía Giáo hội nhấn mạnh Giám mục Lê Hữu Từ là một người có tinh thần dân tộc cao. Trước năm 1949, Phát Diệm từng là nơi trú ẩn an toàn cho nhiều trí thức, nhà yêu nước (kể cả những người không theo đạo hoặc thuộc lực lượng kháng chiến) chạy trốn sự lùng sục của quân Pháp.
• Chính ông từng dùng uy tín của mình để can thiệp, yêu cầu Việt Minh thả Ngô Đình Diệm khi ông Diệm bị bắt giữ tại địa phận năm 1946. [10, 11, 12]

2.4 Tóm tắt so sánh hai góc nhìn
Tiêu chí Góc nhìn của Trần Chung Ngọc Góc nhìn học thuật đối lập / Giáo hội Bản chất khu tự trị Cát cứ phản động, chia rẽ khối đại đoàn kết. Vùng đệm tự vệ, bảo vệ giáo dân khỏi chiến tranh.

Quan hệ với Pháp

Liên minh, làm tay sai nhận vũ khí chống lại đất nước.

Lợi dụng Pháp tạm thời, giải pháp tình thế bất khả kháng.

Động cơ hành động

Tuân thủ tuyệt đối lệnh chống Cộng từ Vatican.

Bảo vệ tự do tôn giáo và quyền sinh tồn của cộng đồng.

Muốn đào sâu hơn, chúng ta có thể tham khảo tin tức về mối quan hệ cá nhân phức tạp giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Giám mục Lê Hữu Từ thông qua các bức thư từ trao đổi giữa hai bên giai đoạn 1945–1947, hoặc chi tiết về cuộc di cư năm 1954 của giáo dân Phát Diệm vào miền Nam. [12, 13, 14]

Mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Giám mục Lê Hữu Từ (1945–1947) là một trong những chương phức tạp và đặc biệt nhất của lịch sử hiện đại Việt Nam. Đây không chỉ là mối liên lạc ngoại giao giữa một chính phủ non trẻ và một thủ lĩnh tôn giáo, mà còn là sự xen kẽ (alternate) giữa sự kính trọng cá nhân và những toan tính chiến lược đầy kịch tính.

Dưới đây là chi tiết về mối quan hệ này thông qua các bức thư từ và sự kiện lịch sử giai đoạn 1945–1947:

3. Khởi đầu: Sự tôn trọng và Lời mời làm Cố vấn (1945)

• Bối cảnh: Khi Giám mục Lê Hữu Từ được tấn phong vào tháng 10 năm 1945, ông đã chọn khẩu hiệu "Hãy đóng đinh tôi vào thập giá". Nhận thấy tầm ảnh hưởng to lớn của vị giám mục dòng Xitô (vốn có tinh thần dân tộc và lối sống khắc kỷ), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động thiết lập mối quan hệ.
• Hành động ngoại giao: Chính phủ lâm thời gửi đại diện (trong đó có Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu và Thứ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Ngọc Thạch) về dự lễ tấn phong.
• Bức thư đầu tiên và Lời mời: Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi một bức thư chúc mừng viết tay, ký tên "Hồ Chí Minh, người bạn kính trọng". Ngay sau đó, ông trân trọng mời Giám mục Lê Hữu Từ đảm nhiệm vai trò Cố vấn Tối cao cho Chính phủ Lâm thời. Giám mục Lê Hữu Từ đã nhận lời, đánh dấu giai đoạn hòa hợp ngắn ngủi nhưng quan trọng giữa chính quyền cách mạng và Công giáo.

4. Giai đoạn kết nối: Thư từ qua lại và sự dàn xếp mâu thuẫn (1946)

Năm 1946 là giai đoạn căng thẳng dâng cao tại địa phương (đặc biệt là vùng Phát Diệm - Bùi Chu) khi sự nghi kỵ giữa các cán bộ Việt Minh địa phương và lực lượng tự vệ Công giáo bắt đầu nhen nhóm. Thư từ giữa hai ông lúc này đóng vai trò là "kênh ngoại giao khẩn cấp" để hạ nhiệt tình hình:
• Sự kiện can thiệp thả Ngô Đình Diệm (Tháng 1/1946): Khi Ngô Đình Diệm bị Việt Minh bắt giữ, Giám mục Lê Hữu Từ đã viết thư trực tiếp cho Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị can thiệp dựa trên tinh thần đoàn kết quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh sau đó đã đồng ý thả ông Diệm tại Hà Nội để tránh làm rạn nứt mối quan hệ với Giáo hội Công giáo.
• Những bức thư mang tính chất "Cố vấn": Khi Giám mục Lê Hữu Từ viết thư bày tỏ sự lo ngại về việc các cán bộ địa phương tịch thu tài sản Giáo hội hoặc bắt giữ giáo dân vô cớ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trả lời với thái độ xoa dịu. Trong một bức thư năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôi biết Cụ là người yêu nước, tôi cũng là người yêu
nước. Có những hiểu lầm do kẻ xấu khiêu khích hoặc do thuộc cấp làm sai, xin Cụ hãy trực tiếp bảo cho tôi biết”.
• Bức thư "Gửi đồng bào Công giáo" qua trung gian: Vào các dịp lễ Giáng sinh hoặc Phục sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường gửi thư chúc mừng toàn thể giáo dân thông qua Giám mục Lê Hữu Từ, khẳng định chính sách "tự do tín ngưỡng" của hiến pháp non trẻ.

5. Bước ngoặt Kháng chiến toàn quốc và Sự rạn nứt (1946 – 1947)

Đêm 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Mối quan hệ cá nhân giữa hai nhà lãnh đạo bắt đầu đối mặt với thử thách sinh tử của địa chính trị:
• Bức thư cuối năm 1946: Trước khi rút lên chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khuyên Giám mục Lê Hữu Từ cùng giáo dân Phát Diệm sơ tán hoặc chuẩn bị tinh thần kháng chiến chống thực dân Pháp.
• Tháng 1 năm 1947 - Chuyến thăm bất ngờ: Để củng cố niềm tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bí mật về Phát Diệm thăm Giám mục Lê Hữu Từ. Tại đây, hai bên tái khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập. Giám mục Lê Hữu Từ thành lập "Ủy ban Kháng chiến Hành chính Phát Diệm" nhưng thực chất ban lãnh đạo đều là các linh mục và giáo dân trung thành với ông (đứng đầu là Linh mục Hoàng Quỳnh).
• Bản chất của sự rạn nứt từ giữa năm 1947:
* Thư từ thưa dần khi Giám mục Lê Hữu Từ bắt đầu nhận ra chính quyền cách mạng ngày càng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tư tưởng chủ nghĩa Cộng sản từ khối quốc tế (điều mà Giáo hội Công giáo toàn cầu kịch liệt phản đối).
* Ngược lại, phía Việt Minh bắt đầu có các báo cáo tình báo gửi về Trung ương cho thấy lực lượng tự vệ Phát Diệm đang tích trữ vũ khí, thiết lập các vọng gác tách biệt và không cho phép lực lượng ‘quân đội quốc gia’ vào địa phận nếu không có sự đồng ý của Giám mục.

6. Tóm lược mối quan hệ phức tạp

Mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh và Lê Hữu Từ giai đoạn 1945–1947 không đơn thuần là sự lừa dối hay lợi dụng lẫn nhau như các bên cực đoan thường mô tả. Đó là một nỗ lực thực sự mang tính lịch sử nhằm tìm kiếm một mẫu số chung mang tên "Độc lập dân tộc". Tuy nhiên, mẫu số chung đó đã tan vỡ khi ý thức hệ (Cộng sản vs. Công giáo chống Cộng) và vòng xoáy của cuộc chiến tranh Đông Dương ép cả hai người phải chọn đứng về hai chiến tuyến đối lập từ sau năm 1948–1949.

7. Chi tiết về cuộc di cư năm 1954 của giáo dân Phát Diệm vào miền Nam

Chi tiết về cuộc di cư năm 1954 của giáo dân Phát Diệm vào miền Nam (với các số tài liệu, con tàu vận chuyển và việc tái lập các làng giáo xứ Phát Diệm mới tại miền Nam).

Cuộc di cư năm 1954 của giáo dân Phát Diệm vào miền Nam là một phần quan trọng trong Chiến dịch Con đường đến Tự do (Operation Passage to Freedom) sau Hiệp định Genève. Dưới đây là các chi tiết cụ thể về số liệu, phương tiện vận chuyển và quá trình tái lập cuộc sống mới của cộng đồng này.

Trong ‘Nhìn lại cuộc di cư 1954-1955,’ Nguyễn Văn Lục viết, “Tôi bùi ngùi nhớ đến những người đã muốn đi mà không đi được và chịu cái cảnh đọa đầy thêm mấy chục năm và nay đã hơn nửa thế kỷ trôi qua.

Còn đối với người Mỹ, qua chiến dịch của hải quân Hoa Kỳ, ngoài vấn đề chi phí vật chất đồ sộ trong việc giúp người tỵ nạn di cư vào Nam, tôi còn nhìn thấy ở đấy tính cách nhân đạo của chiến dịch này.

Cũng từ đó tôi nhận ra hai điều: những tấm lòng của thủy thủ các tầu Mỹ, đồng thời nghị lực phi thường với một quyết tâm sắt đá của người di cư. Sự phi thường ấy làm ngỡ ngàng, gây ngạc nhiên cho các thủy thủ đoàn trong các chuyến tầu của Mỹ chở người tỵ nạn vào Nam.

“The determination of the men of Viet Nam: determined to worship their God, determined to be free, determined to escape to be so”.

Điều mà tôi muốn nhắc lại ở đây là cái quyết tâm của lớp người di cư miền Bắc, bằng mọi giá, giá nào cũng trả để di cư vào miền Nam. Không có cái quyết tâm ấy, họ đã không đi được.

Cái quyết tâm ấy còn giúp họ sau này xây dựng tương lai họ và cho con cái họ.

Việc di cư ấy nói cho cùng chỉ là sự kéo dài tình trạng trốn chạy cộng sản mà không phải đợi đến Hiệp định Genève, 1954. Ngay từ đầu thập niên 1950, phong trào tỵ nạn cộng sản đã thành hình dưới hình thức ”phong trào nhập thành", hay nói nôm na là phong trào “dinh tê”. Đã có bao nhiêu người tìm mọi cách dời bỏ khu “an toàn Phát Diệm”, thoát đi bằng đường biển, từ cửa Cồn Thoi, ra Hải Phòng vào những năm sau 1950? Và đã có bao nhiêu người có tiền bạc của cải đã chạy trốn vào Nam khi mà Hiệp định Genève chưa thành hình? Không phải theo Tây, cũng chẳng theo Mỹ, không theo Nhật, không theo Tầu cũng chẳng vì theo Thiên Chúa giáo mà người ta chọn đứng về phía này, phía nọ. Tất cả đều là những chọn lựa bất đắc dĩ chỉ vì không thể sống chung với người cộng sản được. Cộng sản trước đây và cộng sản bây giờ cũng vậy.

Cho nên đơn giản là chỗ nào có cộng sản thì người ta chạy. Liều mạng mà chạy. Chết cũng chạy. Cuộc di cư 1954-1955 và cuộc di tản 1975 đều giống nhau ở một điểm: không chấp nhận sống dưới chế độ cộng sản.

Không phải chỉ người Việt mới trốn chạy như thế. Dân chúng Đông Âu, từ những nước chư hầu của Nga cũng tìm cách trốn sang Tây Âu. Vào năm 1966, 6110 người Đông Đức đã đào thoát được sang Tây Đức. Tính từ năm 1949 đến 1952, 228.500 người đã trốn thoát khỏi các vùng do Nga Sô kiểm soát để tới Bá Linh. Và cứ như thế, 5 vạn người Tiệp Khắc đã trốn ra khỏi nước họ.{Trích Cuộc Di Cư lịch sử, Phủ Tổng Ủy Di Cư tỵ nạn, trang 276}

Cũng vậy, ở Hung Gia Lợi, ở Roumanie, ở Albanie, ở Ba Lan. Người ta cũng liều mạng trốn ra đi để tìm Tự Do.

Vì vậy, thế giới đã nhìn rõ thân phận người di cư, thấy họ lao đao khốn khổ liều mạng và đã dơ tay cứu vớt và không khỏi không khâm phục họ. Nhưng dù sao, cuộc chia lìa 1954, người di cư miền Bắc mới chỉ mất nhà, mất cửa. 1975, kẻ ra đi mới là kẻ mất nước.” [23]

8. Số liệu di cư của Giáo phận Phát Diệm

• Tỷ lệ di cư lớn nhất: Phát Diệm là một trong những giáo phận có tỷ lệ người di cư cao nhất miền Bắc.
• Số lượng linh mục: Khoảng 150 linh mục (chiếm phần lớn linh mục của giáo phận lúc bấy giờ, bao gồm cả Giám mục Lê Hữu Từ và Linh mục Hoàng Quỳnh) đã rời địa phận vào Nam.
• Số lượng giáo dân: Ước tính có khoảng 50.000 đến 60.000 giáo dân Phát Diệm đã di cư (chiếm hơn một nửa tổng số giáo dân của giáo phận vào thời điểm năm 1954).
• Tình trạng ở lại: Giáo phận Phát Diệm ở lại miền Bắc chỉ còn khoảng vài chục nghìn giáo dân và vỏn vẹn 3 linh mục già yếu để coi sóc các giáo xứ.

“Những người di cư ấy đều quyết tâm như thế mới đi được. Người ta nói đến cuộc bỏ phiếu bằng đôi chân. Có đến gần 2 triệu đôi chân đã bỏ phiếu như thế. Đó là đôi chân trần, chưa hề biết xỏ chân vào đôi giầy, đôi dép. Họ là những người dân quê nghèo nàn, cơ cực.

Cũng không phải chỉ có đa số là người Thiên Chúa giáo di cư mà thôi như đã có sự hiểu lầm từ trước đến giờ. Cuộc di cư 1954-1955 là của toàn thể dân chúng miền Bắc, Kinh có, Thượng có và đủ thành phần xã hội và tôn giáo.

Họ thuộc đủ loại người, đủ thành phần xã hội. Đồng bào các tỉnh miền Thượng như Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang {vốn là những nơi sào huyệt của Việt Cộng} cũng cùng với đồng bào Thượng ở Hòa Bình bỏ lại tất cả rừng núi quen thuộc lần mò về Hà Nội để vào Nam. Đã có hơn 10 ngàn người Nùng ở Hòn Gai được di cư dưới quyền đại tá Sung. Có 2340 người Nùng gốc Tầu đi vào Nam ngày 2/9 trên tầu Montrose. Có chuyến tầu như Beauregard chở các người thuyền chài và gia đình họ mang theo cả dụng cụ đánh cá. Đặc biệt hơn cả, có những gia đình và có khi cả một làng ở trong các vùng do Việt Minh kiểm soát như Vinh, Nghệ An tìm cách trốn thoát khỏi sự kiểm soát của cộng sản. Tỉ dụ dân chúng ở Ba Làng, huyện Tĩnh Gia tụ họp hơn 2 vạn người đòi di cư bị việt cộng nã súng bắn giải tán.Tỉ dụ những người di cư ở Vinh đà trải qua bao gian nan, khốn khó mới tìm được con đường đi đến tự do. Sau này, họ tụ tập định cư trong khu vực Bình Giả, Bà Rịa.

Trên bước đường đi tìm Tự do, nhiều người đã lên được tàu, nhưng vì quá mệt mỏi, kiệt sức đã chết trên tầu.

Trên chiến hạm Telfair, chuyến thứ tư chở người di cư vào miền Nam của Hải quân Mỹ ngày19/8. Người ta ghi nhận đã có hai người di cư chết trên tầu vì sốt rét và quá kiệt sức và bù lại có hai trẻ sơ sinh ra đời: “The deaths were caused by malaria and general weakness. The physical condition of the Vienamese as they boarded the American ships was often observed as desperate. Many of the Vietnamese had traveled great distances to reach the embarcation center, often at peril to them and seldom without hardship”. 

Căn bệnh sốt rét và sự ốm yếu chung đã gây nên chết chóc cho nhiều người. Người ta nhận thấy rằng tình trạng cơ thể của người Việt Nam khi họ lên những chiếc tầu Mỹ thường là tuyệt vọng. Nhiều người Việt Nam đã phải đi những đoạn đường rất dài để đến trung tâm tiếp cư, thường là nguy hiểm cho chính bản thân họ và ít khi mà không có sự gian khổ. {Trích OPTF, trang 82}

Nhưng nếu tính chung tất cả cuộc di cư thì đã có 66 người di cư chết trên biển vì nhiều nguyên do, nhưng đồng thời ghi nhận có 184 trẻ sơ sinh trên các tầu chiến.

Và còn bao nhiêu người bỏ xác trên biển trên những bè mảng ghép vội vàng để đi tìm tự do?

Tình trạng đó cho thấy người di cư đã phải trả giá cho chuyến hành trình đi tìm tự do của họ.

Bất kỳ ai, đã là người Việt Nam đều có đủ lý do chạy trốn cộng sản. Cho nên, họ đều có một quyết tâm phi thường dám từ bỏ tất cả chỉ để mưu cầu một cuộc sống tự do. Và không thể có lời biện minh nào hùng hồn, xác tín và rõ ràng hơn được nữa.” [23]

9. Các con tàu vận chuyển và hành trình di cư

Hành trình di cư của giáo dân Phát Diệm diễn ra chủ yếu bằng đường biển, xuất phát từ các cửa biển tại địa phương hoặc tập kết ra Hải Phòng để lên tàu:

• Tập kết tại Hải Phòng: Nhiều nhóm giáo dân đi bộ hoặc dùng thuyền nhỏ xuôi dòng từ Phát Diệm ra vùng tập kết Hải Phòng. Tại đây, họ được bố trí trú ngụ tạm thời trong các trại lán trước khi lên tàu lớn.
• Các con tàu của Hải quân Hoa Kỳ: Phần lớn giáo dân Phát Diệm được vận chuyển bằng các tàu vận tải đổ bộ cỡ lớn (LST) và tàu chở khách của Hạm đội Mỹ. Các con tàu nổi tiếng tham gia chiến dịch này bao gồm USS General W. G. Haan, USS General R.

E. Callan, và nhiều tàu LST khác. Người dân thường gọi chung là "tàu há mồm" vì cửa tàu mở lớn ở phía mũi để đón người lên.
• Tàu của Hải quân Pháp: Một số nhóm di cư bằng các tàu chiến và tàu vận tải của Pháp như chiếc SS Sơn Tây hoặc các tàu bay dân dụng (cầu hàng không từ sân bay Cát Bi ra Tân Sơn Nhất).
• Điểm đến: Hành trình kéo dài từ 3 đến 5 ngày trên biển. Điểm cập bến chính tại miền Nam là Cảng Sài Gòn (Bạch Đằng) hoặc Vũng Tàu (Cap Saint-Jacques).

10. Nhân đạo – tình người cao thượng đầy cảm động

“Trong cuộc di cư này, cần ghi nhận rất nhiều thiện chí và những tấm lòng bên cạnh những con tầu chiến của hải quân Mỹ.

Đoàn lũ ấy người di cư từ khắp nơi trên giải đất miền Bắc và một phần miền Trung, trẻ già lớn bé mà phần lớn là trẻ con đã được bồng bế, gồng gánh ra đi như thế.

Ra đi để tìm ra một con đường sống... ý nghĩa, có tự do cho tương lai của họ.

Có lẽ đây là cuộc di cư vĩ đại và có ý nghĩa nhất sau cuộc di cư trong việc phân chia nước Ấn Độ làm hai giữa Hồi Quốc và Ấn Độ vào năm 1947. Cuộc di cư này cũng nhắc nhở mọi người đến cuộc di cư từ Bắc Hàn sang Nam Hàn vào mùa thu năm 1950.

Nó là bằng cớ cho thấy không thể nào sống chung với cộng sản được, dù là cộng sản Bắc Hàn hay cộng sản Việt Nam.

Hễ đã là cộng sản thì con người muốn làm người không thể sống chung được.

Khi đã vào đến miền Nam, họ nghĩ ngay đến việc tái định cự lập nghiệp. Và vô số những trại định cư sau này ra đời. Có những địa danh mới, địa chỉ mới trên bản đồ miền Nam Việt Nam.

Tên nó là Gia Kiệm, Hố Nai, Cử Chi, Phước Lý, sau này là Rạch Giá với các kênh 1,2,3,4.

Hố Nai đi hàng đầu với 26.912 người ở giai đoạn đoạn đầu. Sau này con số người đến Hố Nai là trên 40 chục ngàn người mà dự liệu lúc ban đầu chỉ là 10 ngàn người. Gia Kiệm với 10.107, Củ Chi với 4196 người và không thể quên Xóm Mới với 8606 người. Có những nơi ít đến không hiểu được như Đức Hòa, Chợ Lớn với 90 người, Chợ Gõ chỉ còn 50 người và Cây Co chỉ có 32 người.

Tỉnh đứng đầu trong việc dự liệu đón tiếp đông đảo người tỵ nạn là Xuân Lộc 200.000 người, Biên Hòa 100.000 người. {Trích OPTF, trang 98}

Trong số những người mới di cư vào Nam thì đến 60% là nông dân, 10% là dân thuyền chài. Còn lại trải đều cho công chức, sinh viên, thợ thuyền và người buôn bán.

Những người dân nghèo, 80%, ít học tưởng đi theo Việt Minh mới phải thì lại là thành phần đông đảo sợ hãi cộng sản nhiều nhất. Và đi nhiều nhất. Đi rất đông. Đi cả nhà. Và nhất là đi cả làng. Không phải một làng mà nhiều làng. 25 ngàn người trong cùng khu vực không hẹn mà cùng nhau bỏ ra đi.

Bài học ra đi ấy nhắc nhở chúng ta nhiều điều. Nhưng cái chính là dạy cho người cộng sản một bài học: con người không thể sống yên ổn và tử tế với người cộng sản được. Phải ra đi thôi. Bài học đó còn được nhắc lại một lần nữa vào năm 1975, nhưng xem ra người cộng sản vẫn chưa thuộc hay không muốn học vì cái bệnh vĩ cuồng của họ đã che mờ tất cả.

Và tôi mường tượng gần một triệu người di cư miền Bắc thì nay sẽ là bao nhiêu người? Họ ra sao bây giờ? Họ là những ai?

Lịch sử một đời người và lịch sử cả một dân tộc qua cuộc di cư này đánh dấu những thời kỳ đen tối nhất của dân tộc dưới gọng kìm cộng sản, đen tối hơn cả thời kỳ thuộc địa 100 năm thời Pháp thuộc, bị đè nén và sợ hãi hơn 1000 năm đô hộ Tầu. Nói ra mà hổ thẹn.

Nhân chứng cho những thời kỳ đen tối của lịch sử đất nước với con người của 1955 và 1975 vẫn còn cả vài triệu người.” [23]

“Bên cạnh những khổ đau, cuộc di cư ấy không thiếu những nét đẹp. Tôi vẫn thấy đẹp và ý nghĩa là câu chuyện do một anh thủy thủ người Mỹ tên John Ruotsala trên chiến hạm Montrose kể lại như sau: Khi bước lên tầu, các người di cư phải xịt thuốc DDT để diệt trừ chấy rận. {Mỹ chở sang 6 tấn DDT bột dùng trong công tác này} Nhiều người di cư hoảng sợ vì phải cởi quần áo, nhất là phụ nữ. Trong đó có trường hợp một bé gái khoảng 9 tuổi bế đứa em khoảng 3, 4 tuổi.

Thủy thủ Mỹ đã chẳng may xịt thuốc vào mắt đứa em 3 tuổi. Nó khóc, chị nó bình tĩnh dỗ dành em và lau mắt cho em. Sau đó, như không có chuyện gì xảy ra, ôm em bước lên thang để lên tầu.

Câu chuyện có vẻ bình thường, nhưng lại là những hình ảnh đẹp nhất trong cuộc di cư này.

Nó cho thấy tình nghĩa đùm bọc của gia đình Việt Nam, cho thấy tình chị em, cho thấy tình người, cho thấy tình liên đới nhân loại vượt lên trên những dấu ấn chính trị vốn đè nặng lên tâm trí người tỵ nạn.

Hình ảnh đó làm thủy thủ đoàn cảm động và nhận ra tính cách nhân đạo, tình người của cuộc di cư này. Đó là một khía cạnh đặc biệt bị quên lãng mà chỉ đến bây giờ đọc lại tôi mới nhận thức được rõ rệt về điều đó.

Và những thủy thủ đoàn trên các chiến hạm Mỹ có quyền hãnh diện về điều này. Điều mà cô Anne Peterson phục vụ trên tầu Consolation đã nói thay cho tâm tình của họ, “We were just heartbroken because we couldn’t do anything to help them.” Chúng tôi chỉ đau buồn vì chúng tôi đã không thể làm được gì để giúp cho họ.” [41] {Trích Operation Passage to Freedom, OPTF, trang 123}

“Trong cuộc di cư này, cần ghi nhận rất nhiều thiện chí và những tấm lòng bên cạnh những con tầu chiến của hải quân Mỹ.

Đoàn lũ ấy người di cư từ khắp nơi trên giải đất miền Bắc và một phần miền Trung, trẻ già lớn bé mà phần lớn là trẻ con đã được bồng bế, gồng gánh ra đi như thế.

Ra đi để tìm ra một con đường sống... ý nghĩa, có tự do cho tương lai của họ.

Có lẽ đây là cuộc di cư vĩ đại và có ý nghĩa nhất sau cuộc di cư trong việc phân chia nước Ấn Độ làm hai giữa Hồi Quốc và Ấn Độ vào năm 1947. Cuộc di cư này cũng nhắc nhở mọi người đến cuộc di cư từ Bắc Hàn sang Nam Hàn vào mùa thu năm 1950.

Nó là bằng cớ cho thấy không thể nào sống chung với cộng sản được, dù là cộng sản Bắc Hàn hay cộng sản Việt Nam.

Hễ đã là cộng sản thì con người muốn làm người không thể sống chung được.

Tôi viết bài này để làm chứng cho cái thời kỳ đen tối ấy, cho thế hệ sau hiểu...” Nhìn lại cuộc di cư 1954-1955 - Nguyễn Văn Lục, [23]

11. Trực tiếp tham gia của quân đội quốc gia

Ngoài ra, còn có hàng loạt sĩ quan cao cấp và binh lính thuộc các quân chủng Hải quân, Bộ binh (Lục quân), và Không quân của Quân đội Quốc gia Việt Nam đã trực tiếp tham gia điều phối, bảo vệ bến bãi, hoặc chỉ huy các đơn vị rút lui và di tản trong Chiến dịch Passage to Freedom (1954). [1, 2]

Vai trò cụ thể của các quân chủng và các sĩ quan tiêu biểu bao gồm:

1. Quân chủng Hải quân (Naval Forces)

Hải quân Quốc gia Việt Nam lúc này còn non trẻ, phối hợp chặt chẽ với Lực lượng Đặc nhiệm Task Force 90 của Mỹ và Hải quân Pháp để bảo vệ an ninh hàng hải và trung chuyển dân cư. [1, 2]
• Hải đoàn Xung phong Ninh Giang: Do các sĩ quan Việt Nam chỉ huy, đây là một trong những đơn vị nòng cốt điều động các tàu đổ bộ nhỏ để gom người dân di cư từ các vùng sông ngòi sâu trong nội địa Bắc Bộ (như Bùi Chu, Phát Diệm, Nam Định) đưa ra cảng lớn Hải Phòng và Đồ Sơn.
• Các sĩ quan Khóa 1 Nha Trang: Ngoài Trần Văn Chơn và Lê Quang Mỹ, nhiều sĩ quan cùng khóa như Chung Tấn Cang (sau này là Phó Đô đốc) và Lê Vĩnh Hòa cũng tham gia tiếp quản, vận hành các tàu chiến Pháp bàn giao lại để xuôi dòng di cư vào Nam, định hình nên bộ khung của Hải quân Việt Nam Cộng hòa sau này.

2. Quân chủng Bộ binh / Lục quân (Army)

Nhiệm vụ của Bộ binh trong chiến dịch này cực kỳ phức tạp: Họ vừa phải tiếp quản các vùng đất do Việt Minh bàn giao tạm thời, vừa phải thiết lập trạm kiểm soát giữ an ninh cho dân chúng đổ về Hải Phòng, đồng thời tổ chức rút quân trật tự. [1]

• Đại tá Dương Quý Phan: Chỉ huy trưởng Phân khu (Sub-Division) Nam Định vào năm 1954. Ông và các sĩ quan dưới quyền đã tổ chức bảo vệ trật tự cho làn sóng người dân di cư rời bỏ các vùng đồng bằng Bắc Bộ để tiến về cảng tập kết. [1]
• Trung tá Phạm Văn Đổng (sau này thăng Thiếu tướng): Tham gia điều hành việc dịch
chuyển các đơn vị bộ binh đồn trú tại miền Bắc di chuyển vào Nam bằng đường biển, mang theo hàng chục ngàn tấn khí tài. [1]
• Đại úy Tôn Thất Xứng (sau này thăng Thiếu tướng): Sĩ quan bộ binh tham gia trực tiếp vào việc điều phối, bốc dỡ binh lính và tiếp tế dân sự tại Phân khu Nam Định và Hải Phòng trước khi lên tàu di tản vào tháng 7/1954. [1]

3. Quân chủng Không quân (Air Force)

Vào năm 1954, Không quân Quốc gia Việt Nam chưa có các phi đoàn vận tải lớn độc lập mà chủ yếu nằm trong cấu phần phối hợp với Không quân Pháp (French Air Force). [1]

• Cầu hàng không Gia Lâm – Tân Sơn Nhất: Các phi công và sĩ quan kỹ thuật Việt Nam đã phối hợp cùng Không quân Pháp vận hành các dòng máy bay vận tải như C-47 Skytrain và Bristol Freighter. Họ thiết lập một "cầu hàng không" liên tục từ sân bay Gia Lâm (Hà Nội) và Cát Bi (Hải Phòng) vào thẳng Sài Gòn.
• Kết quả của sự phối hợp này đã giúp di tản bằng đường hàng không hơn 210.000 người (bao gồm cả thường dân và thương bệnh binh quân đội) tránh được các rủi ro của tuyến đường biển. [1]

Chiến dịch này chính là bước ngoặt làm thay đổi toàn bộ cơ cấu nhân sự của Quân đội Việt Nam Cộng hòa sau này, khi phần lớn các sĩ quan tài năng gốc Bắc đã di chuyển toàn bộ lực lượng của mình vào miền Nam. [1, 2]

Nếu bạn quan tâm, tôi có thể cung cấp thêm thông tin về:

• Hệ thống quân trường (như Trường Sĩ quan trừ bị Nam Định) đã di tản vào Nam như thế nào.
• Cách thức chính quyền thành lập các đại đội địa phương quân từ chính người dân di cư để bảo vệ các vùng định cư mới.

12. Những sĩ quan và quân đội quốc gia tiếp quản những khu vực do Việt Minh trao trả lại trước khi ra Bắc theo Hiệp Định Genève

“Đây là một vấn đề ít được sách vở tài liệu nói tới. Theo lời một nhân chứng, đại úy Tùng lúc bấy giờ là sĩ quan tham dự vào chiến dịch tiếp quản này kể lại như sau cho tôi như một chứng từ miệng:

Đại úy Tùng thuộc đơn vị Sub Division Nam Định. Đơn vị này trước đây thuộc quân đội Pháp và đã được chuyển giao cho quân đội Quốc gia vào năm 1954 do sĩ quan Dương Quý Phan làm Tư lệnh. Trong đơn vị này có các sĩ quan như Tôn Thất Xứng {sau này thăng Thiếu tướng} trung tá Phạm Văn Đổng {sau cũng thăng Thiếu Tướng}.

Sau đó, đại úy Tùng được lệnh di chuyển vào miền Nam, tháng 7/1954. Đơn vị của ông do đại tá Lê Văn Kim {sau này thăng Trung tướng} làm chỉ huy trưởng cuộc hành quân. Tôn Thất Đính {sau thăng Trung Tướng} làm Tham Mưu trưởng đi tàu há mồm LST của Pháp đổ bộ Sa Huỳnh rồi thẳng đường đến Quy Nhơn. Tuy nhiên, việc tiếp quản lại do một tiểu đoàn dù của Tây đi trước nhận bàn giao trực tiếp từ phía Việt Minh, sau đó mới giao lại cho quân đội Quốc Gia.

Sau khi tiếp quản Quy Nhơn rồi lần lượt đến tiếp quản Sông Cầu, Tuy Hòa. Cũng xin nhắc lại trước khi có Hiệp định Genève thì nơi đây đã xẩy ra một cuộc hành quân lớn tên Opération Atlante có sự tham dự của Đỗ Cao Trí mang một Tiểu đoàn Khinh binh từ Bắc vào Tuy Hòa.

Cuộc hành quân kết cục là thất bại.

Tình hình ở Quy Nhơn lúc bấy giờ nằm trong tay quân đội Việt Minh. Không có điện, nước. Chỉ ở đường phố chính có điện nhờ dùng hai dynamô của xe thiết giáp chạy bằng dầu hỏa. Việc giao thông thì có một đoạn đường xe lửa chạy dài chừng 20 kilô mét, chỉ có một toa.

Không có đầu máy. Khi chạy thì người ta dùng tay nhận một cái cần từ trên xuống dưới như một thứ piston, cộng thêm sức của chừng 10 người đẩy cho toa xe lửa có đà để chạy. Khi nào toa xe ngừng lại thì xuống đẩy tiếp. Đến nơi thì họ lại nhảy xuống kéo thừng để cho toa xe ngừng lại thay cái thắng.

Tình hình dân chúng (trong vùng CS – bị nhồi sọ, tuyên truyền, và hăm dọa [TL]) thì tỏ vẻ lạnh nhạt, nếu không nói là ác cảm với quân đội Quốc Gia. Một lần, lính Quốc Gia mang trứng gà đến nhà dân để xin luộc, dân chúng từ chối không cho mượn bếp để luộc trứng.

Sau này, quân đội Quốc Gia phải bỏ công rất nhiều, dùng tâm lý chiến để lấy được lòng dân.

Đặc biệt, sau khi tiếp quản Quy Nhơn xong thì thủ tướng Ngô Đình Diệm có ra thăm ủy lạo dân chúng và sau đó, trong dân gian đã truyền tụng hai câu thơ như sau [23]

Mười năm không thấy cụ Hồ
Mới có 10 ngày đã đón cụ Ngô”

13. Việc tái lập các làng giáo xứ Phát Diệm mới tại miền Nam

Để nhanh chóng ổn định cuộc sống và giữ gìn bản sắc văn hóa - tôn giáo, các linh mục Phát Diệm đã chủ trương di cư theo từng làng, từng xứ. Họ mang theo cả chuông nhà thờ, tượng thánh và sách kinh để tái lập các "Phát Diệm thu nhỏ" tại miền Nam:

• Khu vực Gia Định - Gò Vấp (Xóm Mới): Đây là nơi tập trung đông đảo nhất giáo dân Phát Diệm di cư. Các giáo xứ lớn được thành lập tại đây mang tên gốc hoặc có mối liên hệ mật thiết như Giáo xứ Phát Diệm (Gò Vấp), Giáo xứ Thanh Bình, Giáo xứ hợp nhất.
Khu vực này phát triển sầm uất với các nghề truyền thống được mang từ miền Bắc vào.
• Khu vực Hố Nai - Biên Hòa (Đồng Nai): Giám mục Lê Hữu Từ và Linh mục Hoàng Quỳnh đã phối hợp với chính quyền Ngô Đình Diệm để khai hoang, lập các khu định cư lớn tại Hố Nai. Nhiều giáo xứ mới tại đây giữ nguyên cấu trúc tổ chức của các giáo họ ở Kim Sơn, Yên Khánh (Ninh Bình).
• Khu vực Định Tường (Mỹ Tho) và Bình Tuy (Lagi): Một số cánh giáo dân Phát Diệm khác được đưa về vùng đồng bằng sông Cửu Long hoặc vùng duyên hải miền Trung Nam Bộ để làm nông nghiệp và đánh bắt hải sản, tái lập các làng chài Công giáo tương tự như vùng ven biển Kim Sơn xưa.
• Trung tâm tinh thần Giáo phận Phát Diệm Phú Nhuận: Giám mục Lê Hữu Từ đã thiết lập Văn phòng Giáo phận Phát Diệm tại Phú Nhuận (Sài Gòn) để quản lý dòng tu, hàng giáo sĩ và duy trì các hoạt động mục vụ cho người di cư cho đến khi ông qua đời vào năm 1967.

Dưới đây là chi tiết về cả hai nội dung: sự hồi sinh của các làng nghề truyền thống Phát Diệm tại Xóm Mới - Gò Vấp và số phận đầy thăng trầm của quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm ở lại miền Bắc trong giai đoạn lịch sử này.

14. Giữ gìn và phát triển nghề truyền thống tại Xóm Mới - Gò Vấp (Miền Nam)

Khi hàng vạn giáo dân từ huyện Kim Sơn và Yên Khánh (Ninh Bình) di cư vào Nam, các linh mục đã chủ động quy tụ họ về vùng đất hoang sơ bấy giờ là Xóm Mới (Gò Vấp, Gia Định). Tại đây, họ đã tái lập các làng nghề truyền thống để vừa mưu sinh, vừa giữ gìn bản sắc cội nguồn:

• Nghề dệt chiếu và làm hàng cói Kim Sơn:
* Vùng Kim Sơn vốn nổi tiếng với nghề trồng cói và dệt chiếu. Khi vào Gò Vấp, đất đai không thích hợp để trồng cói, nhưng người dân Phát Diệm đã nhanh chóng thiết lập đường dây thu mua nguyên liệu cói thô từ các tỉnh miền Tây (như Long An, Đồng Tháp) chở về Xóm Mới.
* Hàng loạt khung dệt gỗ được dựng lên trong các căn nhà tôn tạm bợ. Chiếu Xóm Mới thời kỳ 1954–1975 nổi tiếng khắp Nam Bộ vì độ bền, hoa văn nhuộm màu sắc sảo và kỹ thuật dệt thủ công chặt tay của người thợ miền Bắc.

• Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu:
* Bên cạnh chiếu nệm, người dân Phát Diệm tại Xóm Mới đã sáng tạo ra các mặt hàng thủ công từ cói, lục bình và tre nứa như giỏ xách, mũ (nón), thảm lót và hộp đựng đồ.
* Vào thập niên 1960, các sản phẩm này không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn được các doanh nghiệp tư nhân tại Sài Gòn thu mua để xuất khẩu sang thị trường châu Âu và Mỹ, tạo công ăn việc làm ổn định cho hàng ngàn gia đình di cư, giúp Xóm Mới từ một vùng đất hoang hóa trở thành một khu đô thị bán công nghiệp sầm uất.

• Nghề làm giò chả và bánh chưng Ninh Bình:
* Cộng đồng di cư cũng mang theo ẩm thực đặc trưng của vùng Phát Diệm. Các lò làm giò lụa, giò thủ và bánh chưng mọc lên xung quanh các giáo xứ như Giáo xứ Phát Diệm (Gò Vấp), Giáo xứ Thanh Bình. Thói quen đọc kinh buổi sáng và tiếng chày giã giò ban đêm đã trở thành thanh âm đặc trưng của khu Xóm Mới suốt nhiều thập niên.

15. Số phận quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm ở lại miền Bắc (1954–1975)

Trong khi một nửa giáo dân và phần lớn hàng giáo sĩ di cư vào Nam, quần thể Nhà thờ chính tòa Phát Diệm (Ninh Bình) ở lại miền Bắc phải đối mặt với một giai đoạn vô cùng cô quạnh và chịu tổn thất nặng nề do chiến tranh:

Nhà thờ chính tòa Phát Diệm

16. Sự trống vắng về nhân sự và tôn giáo

• Sau năm 1954, toàn bộ tòa giám mục và hơn 100 ngôi nhà thờ lớn nhỏ trong giáo phận rơi vào tình trạng thiếu linh mục nghiêm trọng. Chỉ còn lại 3 linh mục già yếu ở lại coi sóc cho toàn bộ số giáo dân còn lại.
• Đại chủng viện và các dòng tu bị đóng cửa hoặc ngưng hoạt động. Quần thể kiến trúc đá nguy nga, vốn từng là trung tâm tôn giáo sầm uất, trở nên im lìm và hoang lạnh.

17. Thử thách từ bom đạn chiến tranh (1965–1972)

• Trong cuộc chiến tranh oanh tạc bằng không quân của Mỹ ra miền Bắc, khu vực Kim Sơn - Phát Diệm nằm trên tuyến đường huyết mạch di chuyển quân sự nên đã chịu nhiều trận ném bom dữ dội.
• Trận bom năm 1972: Đây là tổn thất lớn nhất đối với quần thể di tích này. Vào ngày 15/8/1972, bom Mỹ đã đánh trúng khu vực nhà thờ. Nhà nguyện Trái Tim Chúa Giêsu (được làm hoàn toàn bằng đá tự nhiên, khánh thành năm 1889) đã bị bom đánh sập một phần, các mảng phù điêu đá và hệ thống cửa võng gỗ quý bị hư hại nặng nề. Hàng loạt cửa kính màu và mái ngói mũi hài của nhà thờ chính tòa cũng bị áp lực bom làm vỡ nát.

18. Giai đoạn phục hồi sau năm 1975

• Sau khi đất nước thống nhất, từ thập niên 1980, Giáo hội Công giáo Việt Nam cùng với chính quyền địa phương đã bắt tay vào trùng tu lại những phần bị tàn phá.
• Năm 1988, quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm đã chính thức được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, khẳng định giá trị kiến trúc Á - Âu độc nhất vô nhị của nó, bất chấp những vết hằn sâu sắc mà lịch sử và chiến tranh đã để lại.

Quần thể Nhà thờ chính tòa Phát Diệm (Ninh Bình) là một kiệt tác kiến trúc độc nhất vô nhị trên thế giới. Đây là nơi duy nhất mà biểu tượng Công giáo phương Tây được "bản địa hóa" hoàn toàn vào trong hình hài của một ngôi đình, ngôi đền truyền thống Việt Nam.

Dưới đây là chi tiết về sự kết hợp Đông - Tây độc đáo này và lý do vì sao công trình được ví như một "ngôi đền Công giáo":

19. Ý đồ thiên tài của Cha Sáu (Linh mục Trần Lục)

Nhà thờ được xây dựng từ năm 1875 đến 1898 dưới sự chủ trì của Cha Sáu. Sống trong bối cảnh phong kiến và phong trào Cần Vương chống Pháp đang dâng cao, Cha Sáu hiểu rằng nếu bê nguyên kiến trúc Gothic hay Roman phương Tây về xây dựng, người dân Việt Nam sẽ coi Công giáo là "đạo ngoại bang" xa lạ.
• Giải pháp: Ông quyết định dùng chính phong cách kiến trúc cung đình, đền chùa quen thuộc của người Việt để làm vỏ bọc cho đức tin Công giáo. Điều này giúp giáo dân cảm thấy gần gũi, đồng thời xóa bỏ ranh giới tâm lý nghi kỵ với người ngoại đạo.

20. Ngoại thất: Dáng dấp của một Ngôi Đình và Cung Điện cổ

Nhìn từ bên ngoài, nếu bỏ đi các cây thánh giá trên đỉnh, người ta sẽ lầm tưởng đây là một quần thể đền thờ hoàng gia hoặc một ngôi chùa lớn của Phật giáo:

• Mái cong mũi hài chồng diêm: Thay vì những tháp nhọn vút thẳng lên trời của kiến trúc Gothic, các tòa nhà thờ tại Phát Diệm đều có hệ thống mái thấp, lợp ngói mũi hài quen thuộc của Bắc Bộ. Mái được làm theo kiểu "chồng diêm" hai tầng (thượng gia hạ kiều) với các góc mái cong vút lên như những mũi thuyền (nhìn rất giống kiến trúc Đình Tây Đằng hay Đình Chu Quyến).
• Phương Đình (Tháp chuông) mang dáng dấp Cổng Tam Quan: Tòa Phương Đình nằm ngay phía trước nhà thờ chính tòa là một khối đá khổng lồ cao 3 tầng. Lối đi xuyên qua Phương Đình được làm theo dạng vòm cuốn kiểu cổng Tam Quan cổ cổ điển. Tầng trên cùng treo một quả chuông đồng nặng gần 2 tấn, mái che bốn góc có tượng các vị thánh nhưng tạo hình uốn lượn hệt như các đầu đao ở cung đình.
• Hồ bán nguyệt và tháp đá giữa hồ: Trước Phương Đình là một hồ nước bán nguyệt lớn, ở giữa hồ có một hòn đảo nhỏ đặt tượng Chúa Vua (Christ the King). Đây là sự vận dụng hoàn hảo thuật phong thủy Đông phương (Tiền đường tụ thủy) để tạo sự thông thoáng và sinh khí cho công trình.

21. Nội thất: Sự bề thế của Nhà Gỗ Truyền Thống

Khi bước vào bên trong Nhà thờ lớn, không gian kiến trúc phương Tây biến mất, nhường chỗ cho một kết cấu đại đình Việt Nam:

• Hệ thống cột gỗ khổng lồ: Trần nhà thờ không làm bằng vòm cuốn gạch mà được nâng đỡ bởi 6 hàng cột gỗ lim nguyên khối (tổng cộng 52 cột). Mỗi cây cột có chu vi lên tới 2,6 mét, cao 11 mét, được đặt trên các phiến đá tảng để chống mối mọt và ẩm ướt.
• Kỹ thuật mộc truyền thống (Hệ rường rường): Toàn bộ hệ đỡ mái được liên kết với nhau bằng mộng gỗ, xà ngang, con rường, kẻ chuyền giống hệt cách làm nhà truyền thống của người Việt, hoàn toàn không dùng đến một cây đinh sắt nào.
• Sơn son thếp vàng: Khu vực gian cung thánh (nơi đặt bàn thờ chính) được làm bằng gạch, đá và trang trí bằng những bức cửa võng, chấn song gỗ chạm khắc tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy — phong cách trang trí cao quý nhất chỉ tìm thấy ở cung điện nhà vua hoặc các ngôi đền linh thiêng.

22. Chi tiết chạm khắc: Điển tích Kinh

Thánh bằng biểu tượng Á Đông

Sự dung hợp đỉnh cao nằm ở các bức phù điêu chạm khắc trên đá và gỗ quanh nhà thờ:

• Tứ quý và Tứ linh: Thay vì dùng hình ảnh thiên thần châu Âu, các nghệ nhân chạm khắc lên đá các biểu tượng văn hóa Á Đông như Long - Ly - Quy - Phượng (Tứ linh) hay Tùng - Cúc - Trúc - Mai (Tứ quý) để ẩn dụ cho các phẩm hạnh Công giáo.
• Tượng Thần Tài/Hộ Pháp hóa thân: Các bức tượng thiên thần thổi kèn bích quy quy hay thiên thần dâng hoa ở các góc mái được tạc với gương mặt đầy đặn, mặc áo giao lĩnh hoặc áo dài, chân đi hài, tạo cảm giác như những bức tượng hộ pháp ở các ngôi chùa làng.
• Bông sen và lá vối: Trên các bức phù điêu bằng đá mô tả các sự tích trong Kinh Thánh, người ta bắt gặp hình ảnh những đóa hoa sen nở rộ, lá vối, lá chuối — những loài thực vật đặc trưng của làng quê Việt Nam, biến những câu chuyện từ Trung Đông trở nên vô cùng bản xứ.

“Nằm kề nhau, nên hai giáo phận Bùi Chu và và Phát Diệm có cùng một khuynh hướng về đạo và đời. Đó là chưa nói 2 nơi này có cùng một lãnh tụ tinh thần của người Công Giáo miền Bắc từ năm 1954 đến 1967, là ngài Thaddeus Lê Hữu Từ, giám quản Tông Tòa hạt đại diện của cả hai nơi này qua từng thời kỳ.” [42]

Nhà thờ Bùi Chu

“Trong những điều mà người ta bàn tán, và nói Nhà Thờ Chánh Tòa Bùi Chu, thuộc xã Xuân Ngọc (Xuân Trường, Nam Định) là di sản, là lịch sử bởi được xây vào năm 1884, bởi giám mục người Tây Ban Nha Wenceslao Onate Thuận, nhưng thật ra, ẩn sau đó, là một câu chuyện của niềm tin, máu, nước mắt, oan khiên... không chỉ riêng của người Công Giáo, mà còn là cả một chặng dài lịch sử người Việt.

Người ta vẫn hay kể những câu chuyện kinh hoàng về người ở lại miền Bắc sau 1954, với “Cải Cách Ruộng Đất,” với các vụ án “Xét Lại Chống Đảng,” chiến dịch thanh trừng Nhân Văn-Giai Phẩm... nhưng rất ít có tài liệu nào nói lại rằng những người chọn ở lại, những linh mục, những giáo dân... đã sống thế nào trong những tháng ngày ấy, cho đến 1975.

Từ Tháng Bảy, 1954, dòng người ngược xuôi khi chia cắt đất nước, dù không thống kê được đầy đủ, nhưng theo sách Ramesh Thakur, Peacemaking in Vietnam, ước tính rằng có khoảng gần một triệu người từ miền Bắc Việt Nam chạy vào Nam vì từ chối sống dưới chế độ Cộng Sản. Trong khi đó, chỉ có gần 4,500 người từ Nam ra Bắc.

Đa phần họ được gọi tên là dân tập kết đời đầu. Tuy nhiên, đó chỉ là con số thống kê cho đến hết Tháng Bảy, năm 1955. Những cuộc đào thoát sau đó, từ Bắc vào Nam là còn chưa kể đến.

Trong số những giáo dân vào Nam, có không ít người từ Bùi Chu-Phát Diệm. Vì lẽ, hơn ai hết, từ năm 1945 họ đã hiểu Cộng Sản là gì. Đức Giám Mục Lê Hữu Từ (được tấn phong từ Tháng Mười, 1945) đã nhận ra được ẩn đằng sau Mặt Trận Việt Minh là bàn tay của Quốc Tế Cộng Sản. Chính vì vậy, ngài đã sớm hậu thuẫn cho tổ chức Việt Nam Công Giáo Cứu Quốc, nhằm tách biệt với hàng ngũ người Cộng Sản, đặc biệt trong bối cảnh mọi người Việt Nam đều quyết kháng Pháp để đòi độc lập dân tộc.

Đó không phải là suy đoán, vì tài liệu nghiên cứu (2009) nằm trong tàng thư của Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn, được tổ chức bởi Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn từ năm 2007, có ghi lại rằng Đức Cha Lê Hữu Từ đã công khai tách bạch giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản với người đứng đầu của chế độ miền Bắc là Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

Năm 1946, khi về Phát Diệm để tạo hòa hoãn với Đức Cha Lê Hữu Từ, trong vai trò là giám mục cố vấn chính phủ, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nghe trực tiếp lời tuyên bố của đức cha rằng: “Tôi và toàn dân Công Giáo Phát Diệm đoàn kết và triệt để ủng hộ cụ trong công cuộc chống thực dân Pháp, giành độc lập cho tổ quốc Việt Nam.

Nhưng nếu cụ là Cộng Sản thì tôi chống cụ, và chống cụ từ phút này.” Nhưng vào lúc đó, ông Hồ Chí Minh vẫn không nhận mình là Cộng Sản. Thậm chí ông còn nói với Đức Cha Lê Hữu Từ rằng sẽ có một cuộc phổ thông đầu phiếu “toàn dân sẽ định đoạt, cụ và tôi khỏi phải lo.”

Nhưng cuộc phổ thông đầu phiếu đúng nghĩa ấy, không bao giờ có với người miền Bắc sau 1954 và cả nước, sau 1975.” [42]

23. Thực trạng của Làng nghề Xóm Mới - Gò Vấp ngày nay

Bên cạnh sự trường tồn của Nhà thờ đá ở miền Bắc, số phận của làng nghề dệt chiếu và thủ công mỹ nghệ của cộng đồng Phát Diệm di cư tại Xóm Mới (Gò Vấp, Sài Gòn) lại có một kết cục rất khác do làn sóng đô thị hóa:

• Sự biến mất của nghề dệt chiếu: Từ sau năm 1990, quá trình đô thị hóa tại Gò Vấp diễn ra với tốc độ chóng mặt. Đất đai tăng giá, các căn nhà tôn chật hẹp của giáo dân xưa kia được xây cất thành nhà cao tầng. Không gian phơi cói, phơi chiếu rộng rãi không còn.
Thêm vào đó, sự xuất hiện của chiếu nhựa, chiếu trúc giá rẻ và nệm hiện đại đã khiến chiếu cói Xóm Mới mất đi chỗ đứng. Đến nay, tiếng khung cửi lạch cạch ban đêm ở Xóm Mới đã hoàn toàn tắt lịm.

• Chuyển đổi sang kinh doanh và dịch vụ: Cộng đồng giáo dân Phát Diệm tại các giáo xứ Xóm Mới, Thanh Bình ngày nay đã chuyển sang các ngành nghề thương mại, dịch vụ, công nghệ hoặc mở các xưởng may mặc công nghiệp nhỏ. Nghề làm giò chả thủ công truyền thống tuy vẫn còn một số hộ duy trì nhưng đã được máy móc hóa để cung cấp cho các siêu thị tại TP.HCM.

• Bản sắc tâm linh giữ vững: Dù làng nghề dệt chiếu đã mất đi, nhưng tính kết nối cộng đồng của người Phát Diệm tại đây vẫn rất mạnh mẽ. Các giáo xứ lớn tại Gò Vấp vẫn duy trì lối sống đạo nề nếp, các dịp lễ lớn như Giáng Sinh hay Tết Nguyên Đán, người dân gốc Phát Diệm vẫn giữ những nét văn hóa đọc kinh, sinh hoạt giáo họ đặc trưng của quê hương Ninh Bình xưa.

Chuỗi thông tin về mối liên hệ lịch sử, sự di cư và di sản của cộng đồng Phát Diệm đến đây đã khá trọn vẹn. Tôi mong độc giả có thể cung cấp thêm chi tiết và hình ảnh của cộng đồng Phát Diệm để bổ túc thêm.

Chúng ta chuyển qua một đề tài quan trọng khác nhưng vẫn liên quan đến lịch sử di cư này.

Ai mới thật sự là chủ chốt của đa số Công giáo di cư 1954 từ Bắc vào Nam? Nếu Hoa Kỳ không đồng ý và viện trợ tài chánh?

Linh mục Hoàng Quỳnh và hàng giáo sĩ địa phương mới thật sự là những người chủ chốt điều động và thuyết phục đại đa số giáo dân di cư năm 1954, chứ không phải bản thân Giám mục Lê Hữu Từ hay Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Nếu Hoa Kỳ không đồng ý và không viện trợ tài chính, cuộc di cư vĩ đại này vẫn sẽ diễn ra do nỗi sợ và động lực tôn giáo, nhưng sẽ biến thành một thảm kịch nhân đạo thảm khốc và cục diện chính trị miền Nam có thể đã thay đổi hoàn toàn.

24. Ai mới thật sự là lực lượng chủ chốt thúc đẩy giáo dân di cư?

Dù Giám mục Lê Hữu Từ và Giám mục Phạm Ngọc Chi (Phụ trách cứu trợ di cư) là những người lãnh đạo tinh thần tối cao, nhưng lực lượng cốt lõi trực tiếp biến cuộc di cư thành hiện thực là các Linh mục chính xứ, tiêu biểu nhất là Linh mục Hoàng Quỳnh.

• Quyền lực tuyệt đối tại xứ đạo: Ở nông thôn miền Bắc thời bấy giờ, các linh mục có uy tín dân sự và tinh thần tối cao. Giáo dân vốn sống khép kín trong các làng đạo, họ nghe và làm theo lời cha xứ một cách tuyệt đối.
• Linh mục Hoàng Quỳnh — Tổng tư lệnh hành động: Là người trực tiếp chỉ huy lực lượng tự vệ Phát Diệm trước đó, Linh mục Hoàng Quỳnh là người tổ chức cơ cấu di cư vô cùng chặt chẽ. Ông lập kế hoạch bốc dỡ toàn bộ tài sản chung của nhà thờ (chuông, tượng, sổ sách họ đạo), thúc đẩy giáo dân đi theo nguyên tắc "đi cả làng, di cả xứ".
• Chiến dịch tâm lý chiến từ nội bộ giáo sĩ: Nhiều linh mục đã truyền bá thông điệp mang tính chất sinh tử như "Chúa đã vào Nam" hoặc cảnh báo về viễn cảnh dưới chế độ mới. Tỷ lệ linh mục di cư lên tới 72% (cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ hơn 40% giáo dân di cư). Việc người chăn dắt rời đi buộc các đoàn "con chiên" phải hoảng sợ dắt díu nhau đi theo.

25. Điều gì xảy ra nếu Hoa Kỳ KHÔNG đồng ý và viện trợ tài chính?

Chiến dịch Con đường đến Tự do (Operation Passage to Freedom) tốn hàng trăm triệu USD do chính phủ Mỹ tài trợ. Nếu không có sự gật đầu và dòng tiền này, lịch sử sẽ rẽ sang một hướng hoàn toàn khác:

25.1. Thảm kịch nhân đạo khủng khiếp tại các cửa biển và Hải Phòng

• Dù không có tàu Mỹ, giáo dân vẫn sẽ bỏ trốn bằng thuyền đánh cá nhỏ, bè tre hoặc lội bộ xuyên qua rừng. Không có các tàu vận tải khổng lồ (LST) của Hải quân Mỹ bảo vệ, hàng vạn người sẽ chết chìm trên Vịnh Bắc Bộ do bão biển, lật thuyền hoặc đói khát.
• Hải Phòng (vùng tập kết) sẽ biến thành một trại tị nạn khổng lồ đóng băng trong dịch bệnh và đói nghèo vì chính quyền Pháp lúc đó đã kiệt quệ tài chính sau trận Điện Biên Phủ, không đủ sức nuôi ăn và cung cấp y tế cho gần 1 triệu người.

25.2. Miền Nam không thể dung nạp và tái định cư

• Khi làn sóng di cư đổ vào miền Nam, Mỹ đã viện trợ khẩn cấp để biến các vùng hoang hóa như Hố Nai (Đồng Nai), Cái Sắn (Cần Thơ), Gia Kiệm (Long Khánh) thành các khu định cư.
• Nếu không có tiền Mỹ, chính phủ non trẻ của Ngô Đình Diệm sẽ phá sản ngay lập tức trong vài tháng đầu năm 1954. Họ không có tiền để cấp đất, phát lương thực, dụng cụ nông nghiệp và vật liệu dựng nhà cho người tị nạn. Sự phẫn nộ của người nghèo di cư sẽ dẫn đến bạo loạn xã hội.

25.3. Chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ sớm hơn

• Khối giáo dân di cư (đặc biệt là nhóm Phát Diệm - Bùi Chu) chính là "thanh gươm và lá chắn" giúp Ngô Đình Diệm dẹp tan các giáo phái cát cứ (Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo) và củng cố quyền lực tại Sài Gòn giai đoạn 1954–1955.
• Không có viện trợ Mỹ để nuôi sống khối cử tri và lực lượng dân quân trung thành này, Ngô Đình Diệm sẽ mất đi chỗ dựa chính trị lớn nhất. Miền Nam có thể đã rơi vào một cuộc nội chiến hỗn loạn giữa các giáo phái ngay từ năm 1955, dẫn đến việc cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo Hiệp định Genève (1956) diễn ra theo một kịch bản hoàn toàn khác.

Chiến dịch tâm lý chiến của Edward Lansdale và cách phân bổ tiền viện trợ tại Hố Nai, Gia Kiệm là hai mảnh ghép cốt lõi biến cuộc di cư năm 1954 thành một sự kiện cải biến sâu sắc cục diện chính trị và nhân khẩu học miền Nam Việt Nam.

Dưới đây là chi tiết cụ thể về các thủ thuật tâm lý chiến ngầm và mô hình quản trị tài chính tại các trại định cư.

26. Phương pháp Tâm lý chiến (Psywar) cụ thể của Edward Lansdale

Đại tá Edward Lansdale, người đứng đầu Phái bộ Quân sự Sài Gòn (SMM), vốn là một cựu chuyên viên quảng cáo tại Mỹ. Ông không dùng quân đội để ép buộc, mà dùng lý thuyết quảng cáo thương mại kết hợp với các ẩn dụ tôn giáo để tác động trực tiếp vào tâm lý sợ hãi và niềm tin đạo đức của giáo dân.

Lansdale đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng giáo sĩ lõi (như các linh mục thân cận với Linh mục Hoàng Quỳnh) để triển khai các biện pháp sau:

27. Chiến dịch tin đồn truyền miệng (Black Rumors)

Lansdale tin rằng ở các làng quê miền Bắc, tin truyền miệng qua các rỉ tai rỉ rầm tại chợ hoặc sau thánh lễ có sức nặng hơn cả báo chí. SMM đã tung ra nhiều tin đồn ác ý:

• Tin đồn nổ bom nguyên tử: Phái bộ Mỹ tung tin rằng sau thời hạn 300 ngày tập kết của Hiệp định Genève, quân đội Mỹ sẽ ném bom nguyên tử hủy diệt hoàn toàn miền Bắc để tiêu diệt chủ nghĩa Cộng sản. Giáo dân chỉ có một con đường sống duy nhất là chạy vào Nam.
• Tin đồn về "hạn ngạch tôn giáo": Tin đồn lan truyền rằng chính quyền mới sẽ tịch thu toàn bộ ruộng đất nhà thờ, ra lệnh cấm hoàn toàn việc đọc kinh xem lễ và thanh trừng tất cả những người tham gia dân vệ Bùi Chu - Phát Diệm trước đó.

28. Biến các biểu tượng tôn giáo thành thông điệp chính trị

Đây là vũ khí tâm lý đáng sợ nhất đánh trúng đức tin tuyệt đối của giáo dân:

• "Chúa Kitô đã vào Nam" và "Đức Mẹ di cư": Các điệp viên thuộc SMM phối hợp với các linh mục di cư in ấn và rỉ tai khẩu hiệu này khắp các xứ đạo. Thông điệp ngầm hiểu là: Nếu con chiên ở lại miền Bắc, họ sẽ phải sống ở một nơi không có Chúa, tức là phạm tội bất tuân đức tin.
• In ấn truyền đơn giả mạo (Black Leaflets): Nhóm của Lansdale tổ chức in ấn hàng loạt tờ bướm giả mạo cơ quan chức năng miền Bắc, trong đó đưa ra những chỉ thị ngặt nghèo về kinh tế, thuế khóa và hạn chế tự do tôn giáo để giáo dân đọc được sẽ hoang mang, mất niềm tin và quyết tâm ra đi.

29. Tận dụng cấu trúc "Đầu tầu" của hàng giáo sĩ

Lansdale không tiếp cận giáo dân trực tiếp mà "bán ý tưởng" di cư cho các linh mục chánh xứ. Khi các cha xứ đồng ý di cư, họ tuyên bố trên tòa giảng: "Hỡi đoàn chiên, cha đi vào Nam, ai theo cha thì sửa soạn" hoặc cho lệnh kéo chuông nhà thờ dồn dập báo động ngày rời làng. Đối với giáo dân, bỏ lại cha xứ đồng nghĩa với việc mất linh hồn, điều này tạo ra một hiệu ứng dây chuyền di cư cả làng, cả xứ.

30. Cách phân bổ viện trợ Mỹ tại các trại định cư Hố Nai và Gia Kiệm

Khi dòng người đổ vào Nam, Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower đã viện trợ khẩn cấp hàng trăm triệu USD. Số tiền này được vận hành thông qua Phái bộ Viện trợ Kinh tế Hoa Kỳ (USOM) phối hợp với Phủ Đặc ủy Di cư Tị nạn của chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm nhanh chóng biến các vùng rừng rậm hoang vu như Hố Nai (Biên Hòa) và Gia Kiệm (Long Khánh) thành các pháo đài kinh tế - quân sự. [8, 9, 10, 11]

Tiền viện trợ được phân bổ theo quy trình 4 giai đoạn chặt chẽ:

31. Viện trợ khẩn cấp (Cứu đói và Y tế)

• Phân bổ: Ngay khi giáo dân bước xuống Cảng Sài Gòn hoặc Vũng Tàu, mỗi gia đình được cấp ngay khoảng 12 USD (một số tiền đáng kể thời bấy giờ) cùng với khẩu phần ăn khẩn cấp gồm gạo, sữa bột, cá hộp và vải bạt.
• Hình thức: USOM chi tiền để dựng hàng ngàn lán trại dựng tạm bằng tre lợp bạt tại Hố Nai và Gia Kiệm để người dân có chỗ trú chân qua mùa mưa đầu tiên. 

32. Cấp vốn định cư lâu dài (Xây dựng hạ tầng cơ bản)

• Cấp đất miễn phí: Chính quyền Ngô Đình Diệm dùng tiền Mỹ để đền bù giải tỏa các khu rừng cao su hoặc đất hoang, phân chia cho mỗi hộ di cư từ 1 đến 2 mẫu đất để làm nhà và canh tác.
• Tiền mặt xây nhà: Mỗi hộ gia đình nhận được một khoản hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt (khoảng vài ngàn đồng tiền Đông Dương/tiền Nam Việt Nam lúc đó) cùng vật liệu gồm tôn lợp mái, xi măng và đinh sắt để tự dựng nhà kiên cố thay thế lán bạt.

33. Mô hình tài trợ "Lấy Nhà thờ làm trung tâm"

Điểm đặc biệt trong cách phân bổ tài chính tại Hố Nai và Gia Kiệm là Mỹ và chính quyền ông Diệm giao quyền phân phối tiền, vật liệu trực tiếp cho các linh mục quản xứ chứ không qua các công chức địa phương:

• Xây dựng cơ sở tôn giáo công cộng: Tiền viện trợ được ưu tiên phân bổ để xây dựng Nhà thờ trước, sau đó là trường học giáo xứ, trạm y tế và giếng nước công cộng.
• Gắn kết cộng đồng: Cách làm này biến nhà thờ thành hạt nhân của trại tị nạn. Linh mục vừa là thủ lĩnh tinh thần, vừa là người giữ hầu bao quản lý việc phát gạo, phát tôn, giúp loại bỏ tình trạng tham nhũng của quan chức địa phương, khiến giáo dân vô cùng biết ơn và trung thành với chế độ mới. [3, 8]

34. Viện trợ sản xuất và công cụ kinh tế

• Mỹ phân bổ ngân sách mua sắm nông cụ (cuốc, xẻng, trâu bò) và hạt giống để phát cho giáo dân Gia Kiệm trồng hoa màu, cây ăn trái (như chôm chôm, chuối).
• Tại Hố Nai, tiền viện trợ được dùng để đầu tư hệ thống máy cưa, hỗ trợ các hợp tác xã mộc nghệ thủ công, giúp vùng đất này nhanh chóng tự túc kinh tế và trở thành một trong những hành lang kinh tế, vành đai phòng thủ quân sự kiên cố bảo vệ cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn. [8]

Tài liệu giải mật đã xác nhận Phái bộ Quân sự Sài Gòn (SMM) của Edward Lansdale đã sử dụng tâm lý chiến "cờ đen" và mạng lưới linh mục để thúc đẩy cuộc di cư năm 1954. Tại cuộc trưng cầu dân ý năm 1955, khối cử tri Công giáo di cư Hố Nai - Gia Kiệm, dưới sự dẫn dắt kỷ luật của các giáo sĩ, đã tạo ra "vành đai thép" và tỷ lệ phiếu bầu tuyệt đối, hợp thức hóa quyền lực cho Ngô Đình Diệm trước Mỹ.

Để tìm hiểu sâu hơn, chúng ta có thể tham khảo các nghiên cứu về vai trò của Linh mục Hoàng Quỳnh trong giai đoạn này.

Các phương pháp tâm lý chiến cụ thể mà phái bộ quân sự Mỹ (Sài Gòn Độc lập - do Edward Lansdale chỉ huy) đã phối hợp với các linh mục để kích ứng cuộc di cư. Và cách phân bổ các khoản tiền viện trợ Mỹ tại các trại định cư Hố Nai, Gia Kiệm Các tài liệu giải mật và các nghiên cứu sâu về lịch sử Công giáo miền Nam (như của Giáo sư Peter Hansen hay tư liệu giáo phận) đã soi rọi chi tiết về vai trò c a Linh mục Hoàng Quỳnh, hiệu quả thực tế của Phái bộ Lansdale, và tầm ảnh hưởng của khối cử tri di cư trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1955.

35. Hiệu quả thực tế của Phái bộ Lansdale qua tài liệu giải mật

Các báo cáo tổng kết của Đại tá Edward Lansdale gửi về Washington cho thấy một cái nhìn thực tế và bớt "thần thánh hóa" hơn so với các tin đồn lịch sử:

• Sự thừa nhận về giới hạn của tâm lý chiến: Trong các báo cáo giải mật, Lansdale thừa nhận rằng các biện pháp rải truyền đơn, dự ngôn của chiêm tinh gia hay tin đồn về bom nguyên tử chỉ có tác dụng kích ứng và tăng tốc độ quyết định ra đi, chứ không phải là nguyên nhân gốc rễ.
• Động lực gốc rễ là niềm tin tôn giáo và ký ức lịch sử: Nghiên cứu của Peter Hansen chỉ ra rằng giáo dân quyết định di cư phần lớn vì "ký ức tập thể" về những xung đột đẫm máu giữa tự vệ Phát Diệm và Việt Minh giai đoạn 1946–1954. Tâm lý chiến của Hoa Kỳ thành công vì nó đánh trúng vào nỗi sợ hãi có sẵn của cộng đồng, chứ không phải do giáo dân bị "lừa gạt" bởi các khẩu hiệu.

• Mạng lưới linh mục là kênh truyền thông hiệu quả nhất: Báo cáo của Hoa Kỳ khẳng định, thành công lớn nhất của Phái bộ Sài Gòn (SMM) là việc thiết lập được mối quan hệ đối tác mật thiết với các thủ lĩnh tinh thần bản địa. Thay vì tự mình hành động, Hoa Kỳ cung cấp phương tiện, tài chính và hậu cần đứng sau để các linh mục thực hiện quyền lực điều động của họ.

36. Vai trò của Linh mục Hoàng Quỳnh:

Tổng tư lệnh cuộc di cư

Nếu Giám mục Lê Hữu Từ là biểu tượng tinh thần tối cao thì Linh mục Hoàng Quỳnh mới là bộ não tổ chức và hành động của khối giáo dân Phát Diệm.
• Tổ chức di cư theo mô hình quân sự: Bản thân từng là Tổng chỉ huy lực lượng tự vệ Phát Diệm, Linh mục Hoàng Quỳnh áp dụng tính kỷ luật thép vào chiến dịch di cư. Ông chia đoàn người thành các toán, các họ đạo, phân công người phụ trách hậu cần, liên lạc với tàu Mỹ (Task Force 90) để bốc dỡ toàn bộ tài sản nhà thờ. [5]
• Hạt nhân kết nối chính trị: Khi vào miền Nam, Linh mục Hoàng Quỳnh trở thành cầu nối trực tiếp giữa Phủ Đặc ủy Di cư Tị nạn và các dòng tiền viện trợ của Mỹ. Ông đứng ra thương thảo vị trí đất đai, trực tiếp phân bổ vật liệu và lập ra các ban tự vệ tại các trại định cư để bảo vệ an ninh nội khu. [6]
• Thế lực chính trị Công giáo di cư: Về sau (những năm 1960), chính Linh mục Hoàng Quỳnh là người thành lập Ủy ban Hành động Công giáo, trở thành một thủ lĩnh chính trị có tiếng nói quyết định tại Sài Gòn, sẵn sàng tổ chức các cuộc biểu tình lớn để bảo vệ quyền lợi của khối Công giáo di cư. [7, 8]

37. Ảnh hưởng của cử tri Hố Nai - Gia Kiệm trong cuộc Trưng cầu dân ý 1955

Cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/10/1955 giữa Thủ tướng Ngô Đình Diệm và Quốc trưởng Bảo Đại là bài kiểm tra chính trị đầu tiên của miền Nam. Khối di cư Hố Nai - Gia Kiệm đã đóng vai trò quyết định trong việc hợp thức hóa quyền lực cho ông Diệm: [7, 8, 11, 22]

37.1. Tạo ra tỷ lệ phiếu bầu tuyệt đối

• Tại các khu định cư tập trung như Hố Nai (Biên Hòa) và Gia Kiệm (Long Khánh), các linh mục (dưới sự chỉ đạo ngầm của các thủ lĩnh di cư) đã quản lý cử tri theo từng giáo xứ. Giáo dân đi bầu cử theo hàng lối, tập trung và có sự giám sát đồng bộ.
• Kết quả tại các hòm phiếu vùng Hố Nai - Gia Kiệm đạt tỷ lệ bỏ phiếu cho Ngô Đình Diệm gần như 100%. Sự đồng thuận tuyệt đối này giúp bù đắp đáng kể cho sự nghi kỵ và thờ ơ của một bộ phận cư dân miền Nam "bản địa" hoặc các vùng chịu ảnh hưởng của các giáo phái đối lập (Cao Đài, Hòa Hảo). [7, 8, 11, 22]


37.2. Vành đai thép bảo vệ Sài Gòn

• Trước và trong ngày bầu cử, các lực lượng vũ trang địa phương và giáo phái (như Bình Xuyên) tìm cách phá hoại cuộc trưng cầu dân ý của Ngô Đình Diệm.
• Các trại định cư Hố Nai, Gia Kiệm được vũ trang hóa dưới dạng dân vệ tự vệ do các linh mục chỉ huy, án ngữ ngay trên trục lộ huyết mạch Đông Bắc (Quốc lộ 1). Khối cử tri vũ trang này đã chặn đứng mọi nỗ lực xâm nhập hoặc gây rối của các lực lượng chống đối ông Diệm từ phía ngoài vào thủ đô Sài Gòn.

37.3. Công cụ thuyết phục Washington

• Tỷ lệ bầu cử áp đảo (dù có những gian lận số liệu được ghi nhận khi tổng số phiếu bầu tại Sài Gòn vượt quá số cử tri đăng ký) và sự kỷ luật của khối cử tri Công giáo di cư đã giúp Ngô Đình Diệm chứng minh với các chính khách Mỹ tại Washington (những người vốn đang lưỡng lự) rằng: Ông Diệm thực sự có một cơ sở quần chúng trung thành, có tổ chức và quyết liệt chống Cộng. Điều này củng cố quyết định của Mỹ trong việc đổ hàng tỷ USD viện trợ vào Đệ Nhất Cộng hòa những năm sau đó. [7, 8, 11]

38. Giám mục Lê Hữu Từ dưới mắt người ngoại quốc

Trong cuốn tiểu thuyết “The Quiet American – Người Mỹ Trầm Lặng” của Graham Greene, có lẽ là cuốn tiểu thuyết tiếng Anh về Việt Nam được đọc rộng rãi nhất, nhà báo Anh Thomas Fowler đã đến hiện trường của một cuộc chiến giữa người Pháp và Việt Minh ở thị trấn Phát Diệm nằm rìa phía nam của đồng bằng sông Hồng khoảng 120 dặm về phía đông nam Hà Nội.

Ông mô tả quang cảnh – Tôi đã biết rõ Phát Diệm nhiều ngày trước những cuộc tấn công - một con đường phố hẹp và dài của những quầy hàng bằng gỗ, cắt ngang mỗi gần trăm mét bởi một con kênh, một nhà thờ và một cây cầu. Về đêm nó chỉ thắp sáng bằng nến hoặc đèn dầu nhỏ... và ngày hay đêm đường phố luôn chật chội và ồn ào. Trong lối sống thời trung cổ kỳ lạ của nó, dưới bóng phủ và bảo vệ của Giám mục Hoàng tử (LND: ám chỉ thời Trung cổ ở Âu châu), nó là thị trấn năng động nhất trong nước và bây giờ nó đã chết. Đống đổ nát và thủy tinh vỡ và mùi sơn cháy và vữa và lòng đường dài trống vắng đến ngút mắt. [24]

Các cuộc đụng độ tại Phát Diệm là một phần của cuộc tấn công quy mô lớn của Việt Minh vào tháng 5, tháng 6 năm 1951 tại khu vực sông Đáy, nhắm đến các thị trấn Nam Định, Ninh Bình, Phát Diệm, và Phủ Lý. Chiến tranh kéo dài từ cuối tháng 5 đến giữa tháng 6, khi các lực lượng Việt Minh, bị thiếu vũ khí, và bị cắt đứt khỏi đường tiếp tế đã phải rút lui. Tuy nhiên, bằng cách cầm chân quân phòng vệ của Pháp và quân tiếp viện của họ trong bốn thị trấn trọng điểm, các đơn vị tấn công của Việt Minh đã làm các lực lượng Việt Minh khác có thể xâm nhập vào các vùng khác của đồng bằng, thu tóm các vụ thu hoạch lúa, và tìm kiếm những tuyển mộ mới.[25]

Thương vong của cả hai bên đều nặng nề, mặc dù các con số chính xác không được biết rõ. Pháp tuyên bố rằng phía Việt Minh thiệt hại khoảng 9.000 người. Thương vong phía Pháp bao gồm con trai của Tướng Delattre de Tassigny, vị chỉ huy trưởng và Toàn quyền Đông Dương. 

Ngày nay, nhiều nghĩa trang quân sự chạy dọc theo Quốc lộ 1 đi qua vùng đồng bằng sông Đáy.

Bài viết này gơi ý cho thấy rằng việc liên kết (với Pháp) hay vai trò quân sự quan trọng của Phát Diệm không làm cho thành phố đáng được chú ý. Thay vào đó, Phát Diệm được biết đến rõ một cách bất thường, bản chất thật sự của Chiến Tranh Lạnh ở Châu Á trong thập kỷ từ khi Nhật đầu hàng vào năm 1945 cho đến Hội nghị Geneva năm 1954.
Trong nhiều cách thì Phát Diệm là một mô hình thu nhỏ của các giòng chồng chéo của chủ nghĩa khu vực, chủ nghĩa quốc gia, và tôn giáo. Vào năm 1945 đó là một khu vực rặc Ca-tô giáo trong một nước Việt Nam đa số phi Ki-tô. Giám mục của nó, Cha chánh nhất Thaddeus Lê Hữu Từ, hành xử không chỉ là lãnh đạo tinh thần mà là một nhà cai trị thế tục gần như tuyệt đối.[26]

Giáo phận Phát Diệm bao gồm hầu hết các tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa. Giáo dân Ca-tô chiếm khoảng 25 phần trăm tổng dân số, nhưng nhiều làng mạc và các huyện gần 100 phần trăm người Ca-tô giáo.

Một nhà báo Pháp mô tả: Phát Diệm và giáo phận kế cận Bùi Chu là một miền phong kiến, một lãnh địa của giáo hội nhân danh Chúa. Cảnh quan rặc nhà dòng. Mỗi quảng trường chính trên địa bàn có một nhà thờ rộng lớn trấn áp và vượt trên tất cả mọi thứ.... Mỗi khu vực với ngôi nhàthờ nằm ở chính giữa là một họ đạo; quản hạt là là một lãnh chúa và giáo dân là nông nô của ông ta. Vì lợi ích cho thể xác và linh hồn của đám nông dân, họ đã được thống trị bởi một đội quân nhỏ của các tu sĩ người Á châu với khuôn mặt béo tốt và áo chùng láng bóng; chưa kể đến một đám nữ tu người An Nam.[27]

Nhiều nơi thuộc lãnh địa của Từ người ta chỉ có thể đến được bằng đường thủy, và ông giám di chuyển khắp khu vực trong một chiếc thuyền phất phới lá cờ tiêu chuẩn của giáo hoàng (Vatican) màu vàng và trắng, và điều khiển bởi một đám trai trẻ vặm vở, mang trên vai huy hiệu riêng của Lê Hữu Từ, một con rồng Tàu cuộn xung quanh một cây kèn."[28]

Lê Hữu Từ là người Việt Nam thứ tư được thụ phong giám mục, thành phẩm của một nỗ lực bắt đầu bởi Giáo Hoàng Bê-nê-đích XV và Piô XI vào những năm 1920 để thành lập một "hàng giáo phẩm bản địa," ngay cả ở cấp cao nhất , trong khu vực bên ngoài châu Âu.

Việc truyền chức cho bốn tu sĩ đã được giáo dân Ca-tô Việt Nam nhiệt liệt coi trọng. Ca-tô giáo ở Việt Nam đã thường xuyên phải chịu đựng điều sĩ nhục của việc liên hệ với một tôn giáo bị Pháp áp đặt. Vì thế việc xuất hiện một hệ thống phân cấp của giáo hội Việt Nam có thể được xem như là một bước tiến lớn hướng tới việc thành lập một giáo hội quốc gia độc lập thoát khỏi bất kỳ sự liên kết nào với chủ nghĩa thực dân.[29]

Trong những năm 1920 và 1930 rất nhiều giám mục "bản địa" khác đã được thụ phong ở Trung
Quốc và các phần khác của thế giới thuộc địa. Tuy nhiên, Giám Mục Từ và láng giềng của mình,
Đức Cha Phạm Ngọc Chi, Giám mục Bùi Chu, là giáo sĩ duy nhất bên ngoài Vatican có quân đội
riêng của họ.

Phát Diệm 1950 - Giám mục Lê Hữu Từ và GM Phạm Ngọc Chi.
ảnh https://www.flickr.com/

Một phóng viên của tạp chí Time đã viết rằng quân đội của Từ có 1.700 người, một số có doanh trại trong khuôn viên nhà thờ. Họ được chỉ huy bởi "Thiếu tá” Ngô Cao Tùng, một cựu chiến binh của quân đội Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch, và được trang bị với khoảng một chục xe jeep và xe tải quân sự. Lực lượng của Từ còn gồm khoảng 6.000 dân quân kém vũ trang.

Liền kề khu tập thể của các tu sĩ là một "nhà máy nhỏ chế tạo lựu đạn, bom cối và súng phóng lựu."[30]

Phóng viên tờ Time mô tả Giám mục Từ là "một cá tính đáng chú ý... một người đàn ông quyến rũ và thu hút đáng kể."[31] Đồ đệ của giám mục mô tả ông là một người ủng hộ chủ nghĩa xã hội Ca-tô giáo biểu thị bởi "công lý, lẽ phải, nhân ái và khoan dung."[32] Nhà báo Pháp Lucien Bodard thì cung cấp một đánh giá ít thuận lợi hơn, báo cáo rằng vì Từ thuộc về một tu viện dòng Trappist (lối tu theo dòng Bê-nê-đích) tại làng Châu Sơn, ông đã ép các tu sĩ của ông hành xác đến chết và ông hành hạ mình bằng tự quất roi vọt. Tại Phát Diệm, Lê Hữu Từ là một pháp quan xử dị giáo, ép cải đạo – cho một đức tin không có tình yêu và không có lòng nhân đạo, ngoại trừ một kỷ luật tàn nhẫn. . . . Ông là một nhà tiên tri theo kiểu Cựu Ước. So với ông thì Đức ông Chi (SH- Phạm Ngọc Chi)... có vẻ hiền lành như bột. Nhưng trên thực tế ông ta cũng khá độc tài theo một tính cách khôn ngoan, kín đáo.[33]

Tuy nhiên , chẳng cần biết nhiệt tình tôn giáo của ông lớn đến đâu, và sự khẳng định của ông rằng chủ nghĩa cộng sản "xung đột trực tiếp với các giá trị tinh thần của giáo hội," ông cũng là một kẻ theo chủ nghĩa quốc gia mạnh mẽ và một đối thủ của sự thống trị của Pháp tại Đông Dương.[34] Một quan sát viên người Pháp mô tả ông là "linh hồn của sự đối kháng với Pháp" trong các nhà lãnh đạo Ca-tô giáo tại Việt Nam. [35] Là cha bề trên của tu viện dòng Trappist trong Thế chiến II, ông đã hợp tác với cán bộ Việt Minh và có khi còn giấu họ trong tu viện khỏi tay người Nhật và Pháp (LND: theo đúng chủ trương của Vatican và Mỹ trong thời kỳ chống phe trục). Như Charles Keith cho thấy, Từ đại diện "bộ mặt của một Giáo Hội Ca-tô Việt Nam nhìn xa hơn việc truyền giáo của mình và quá khứ thuộc địa để hướng tới một tương lai của một nước Việt Nam độc lập."[36]
Ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng, Từ và ba Giám mục Ca-tô khác của Việt Nam ở Đông Dương, đáp ứng lời yêu cầu của giới lãnh đạo Việt Minh, công bố một lá thư đến Giáo hoàng, kêu gọi Vatican và tất cả các cộng đồng Ca-tô hỗ trợ nền độc lập của Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam mới thành lập.[37] Trong tháng mười năm 1945, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huy Liệu, cựu hoàng Bảo Đại cùng các nhà lãnh đạo
khác của Chính phủ Việt Minh, ngoài ba giám mục người Việt và các linh mục tổng đại diện, còn có Thượng tọa Thích Trí Dũng và Đại đức Thích Tâm Châu, tham dự lễ thụ phong giám mục của Từ ở Phát Diệm, và Từ được bổ nhiệm làm "cố vấn tối cao" cho Chủ tịch nước. Ông Hồ có vẻ đã mặc nhiên công nhận "sự tự trị" của Phát Diệm và quyền của giám mục có lực lượng dân quân của mình.[38]

Không bên nào đặc biệt thoải mái với sự sắp xếp này. Việt Minh tiến hành tổ chức các chi bộ và các ủy ban xã trong lãnh địa của giám mục, trong đó có một nhóm mặt trận Ca-tô kết hợp giáo dân vào kháng chiến. Giám mục Từ đáp lại bằng Liên Đoàn Công Giáo, như là một phương tiện cho tổ chức cộng đồng Ca-tô. [39] Đồng thời, giáo phận tăng cường nỗ lực để trang bị cho lực lượng dân quân của mình với vũ khí hiện đại. Làm cho vấn đề thêm phức tạp, vào năm 1946, Phát Diệm đã bắt đầu thu hút số lượng đáng kể phe phái quốc gia chống Việt Minh như Đồng Minh Hội và Quốc Dân Đảng Việt Nam. Tại Hà Nội và các nơi khác những đảng này đã tham gia vào một cuộc đấu tranh mất dần quyền lực với Việt Minh và chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam mới thành lập của ông Hồ. Trong các địa bàn của Phát Diệm họ tổ chức các cuộc tấn công cán bộ Việt Minh, và trong một ngôi làng hơn 100 người ủng hộ Việt Minh đã bị sát hại.

Những cuộc tấn công này trùng với hồi kết thúc sự chiếm đóng miền Bắc Việt Nam của quân Trung Quốc vào mùa xuân năm 1946 và thỏa thuận của ông Hồ cho phép một sự trở lại bình yên của người Pháp lên phía bắc để đổi lấy sự công nhận chính phủ của ông là "một quốc gia tự do trong Liên hiệp Pháp" và hứa hẹn các cuộc đàm phán về sau. Một khi thoát khỏi sự can thiệp của Trung Quốc và mối đe dọa tức thì của người Pháp, Việt Minh đã trả đũa nhanh chóng chống lại đối thủ của họ trong Phát Diệm. Ba làng, nơi đã diễn ra các cuộc hành quân "thanh trừng cộng sản" đã bị tấn công bởi quân đội Việt Minh. Một vài tuần sau đó Giám Mục Từ đã bị nhắm bắn, nhưng không bị thương, bởi một người Việt Nam mà giáo dân của giám mục nhận ra là nhân viên an ninh của Việt Minh. [40]

39. Cuộc di cư 1954-1955 dưới mắt người Cộng sản

“Không gì tức tối bực bội hơn cho chính quyền cộng sản là chiến thắng xong, đuổi được thực dân Pháp phải ra đi. Vậy mà vô lý thay gần một triệu người đã ùn ùn kéo nhau bỏ chạy cộng sản. Gần một phần mười dân số toàn miền Bắc đấy. {Miền Bắc gồm 12 triêu người và chiếm 60.900 dặm vuông, miền Nam 11 triệu người và chiếm 66.300 dặm vuông} Ngay những người dân trong vùng bị Việt Minh kiểm soát từ 1946 như Vinh, Nghệ Tĩnh càng lo bỏ chạy bán sống bán chết. Họ phải hiểu tại sao chứ? Họ phải làm gì để hàng triệu người đã trốn chạy như vậy?

Phải có một câu trả lời chứ?

Nhưng họ cố tình không cần biết điều ấy và tìm cách bôi nhọ hình ảnh cuộc di cư 1954-1955.
Vì thế, cộng sản Hà Nội đã cho xuất bản cuốn sách: Sự thật về vấn đề di cư ở Việt Nam, Hà Nội.
Đó là sự thật của họ không phải là sự thật của người di cư. Cuốn sách này không dễ mấy ai còn giữ lại. Nhưng nó được tuồn sang Pháp. Sau này, ông linh mục, giáo sư Trần Tam Tỉnh, dạy ở tỉnh bang Québec, Canada đã dùng tài liệu này viết một cuốn sách rất bôi bác và tồi tệ về cuộc di cư này, đó là cuốn Dieu et César. Les catholiques dans l’histoire du Việt Nam, Rome ngày 19-5-1975, Vương Đình Bích, môt linh mục nữa đi theo cộng sản mà tôi gọi là một trong bọn Tứnhân bang đã chuyển ngữ ra tiếng Việt và đã đổi nhan đề cuốn sách thành:Thập giá và lưỡi gươm. Vương Đình Bích cũng bỏ không dịch câu: Les catholiques dans l’histoire du Viet Nam.

Sự tùy tiện của Vương Đình Bích còn thấy ở phần cuối cuốn sách. Ông đã bỏ phần Bibliographie selective của tác giả. Ông tự nhét thêm bài viết của Nguyễn Quang Huy, trưởng ban tôn giáo chính phủ về vấn đề phong thánh vốn chẳng ăn nhập gì với cuốn sách Dieu et Cézar. Đồng thời cho in bức thư chung của Hội đồng giám mục Việt Nam 1986. Phần ông Trần Tam Tỉnh, trong lời nói đầu của cuốn sách, ông đã viết: “Ce livre écrit avec amour par un des membres fidèles, de cette église catholique vietnamienne, n’a autre ambition que de présenter la vérité historique} Cuốn sách này được viết ra do một trong những đứa con trung thành của giáo hội Thiên chúa giáo Việt Nam, không có một tham vọng nào khác ngoài việc trình bày sự thật lịch sử. {Trích Dieu et César, Trần Tam Tỉnh, trang 13}

Nay thì chúng ta thử tìm hiểu xem, căn cứ vào cuốn sách để thứ tìm hiểu thứ lịch sử mà ông Trần Tam Tỉnh đưa ra là thứ lịch sử nào, một thứ lịch sử sao chép theo tài liệu của cộng sản Hà Nội trong cuốn: Sự thật về vấn đề di cư ở Việt Nam?” [23]

40. Bộ mặt thật của Lê Hữu Từ qua lăng kính của Cộng Sản

“Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Lê Hữu Từ được Hồ Chủ tịch mời ra làm cố vấn Chính phủ.
Trong suốt thời gian đảm nhận chức cố vấn, mọi hoạt động của Lê Hữu Từ không những không đem lại lợi ích nhỏ nhặt nào cho nhân dân, cho Tổ quốc, trái lại còn phá hoại sự nghiệp cách mạng, phá hoại công cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta.

Lê Hữu Từ lợi dụng địa vị giám mục và chức cố vấn Chính phủ, đi kinh lý các nơi, tuyên truyền xuyên tạc mọi chính sách đứng đắn của Chính phủ. Một mặt Từ ngăn cấm giáo dân gia nhập các đoàn thể cứu nước [1], mặt khác y tổ chức các hội đoàn để tập hợp những lực lượng phản động.

Ngòai mặt Từ tuyên bố: “Công giáo cứu quốc đứng trong mặt trận Việt Minh”, nhưng thực chất thì như báo Đời Sống, cơ quan ngôn luận chính thức của địa phận Phát Diệm, đã thú nhận: “Mấy tiếng ‘đứng trong Mặt trận Việt Minh’ chỉ là một mánh khóe che đậy một mưu toan thầm kín. Có đứng trong mặt trận Việt Minh mới có quyền lập tự vệ võ trang, mới có quyền tổ chức những hoạt động cứu quốc” [2]. Những hoạt động cứu quốc của Từ và đồng bọn thực ra đều là những hoạt động phản quốc.

Ngay từ đầu năm 1946, công việc đầu tiên của Từ là sắm sửa vũ khí. Từ đã triệu tập hội nghị linh mục toàn địa phận, vạch ra đường lối, chính sách chống Việt Minh, bắt các xứ phải góp tiền mua sắm vũ khí. Linh mục Chu và già Thiện được Từ giao phụ trách công việc này. Từ rất quan tâm đến mọi việc. Từ giao cho linh mục Hàm chuyển 15 vạn đồng cho Vũ Hồng Khanh để mua súng đạn; giao cho bọn Trung, Tròn và già Thoại 23 vạn đồng đi mua sắm ở Móng Cái, cử Trần Hữu Phan liên lạc với giặc Pháp ở Hà Nội; ủy quyền cho bọn Thiện, Điện viết giấy cầm 300 mẫu ruộng của Nhà chung Phát Diệm cho Nhà chung Hải Phòng để lấy tiền mua súng; viết thư xin tiền Khâm mạng Đrapiê...

Khâm mạng Đrapiê (Anthony Drapier)

Kết quả bọn già Thiện đã mua được bảy thuyền vũ khí của Pháp và được tàu Pháp hộ tống đưa về Cồn Thoi.

Để có nhiều vũ khí hơn nữa, Từ cho lập công binh xưởng ngay trong Nhà chung Phát Diệm và cử Hoàng Quỳnh đi các xứ thuộc Nam Định, Thanh Hóa vận động giáo dân góp tiền. Từ còn ra lệnh cho bọn vệ sĩ tìm cách cướp giật vũ khí của bộ đội và cán bộ khi họ qua Kim Sơn (Ninh Bình).

Linh mục Hoàng Huỳnh

Cùng với việc sắm sửa vũ khí, Từ tập hợp và tổ chức các lực lượng phản động.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Từ ra thông tri cho các xứ phải chuyển “Công giáo cứu quốc” thành “Tự vệ cứu quốc”. Những trung đội biệt lập, tổ chức từ trước, nay mở rộng thành các trung đội “vệ sĩ” (1946), “cựu chiến binh” (1947), các đoàn “dũng sĩ” (1948) ... Khi đã có vũ khí, có lực lượng, y chia địa phận Phát Diệm ra làm ba khu quân sự. Chỉ huy khu Phát Diệm là linh mục Hoàng Quỳnh, khu Phúc Nhạc là linh mục Hiệp và Cai Khoan, Cao Thăng; khu Gia Khánh, Gia Viễn, Nho Quan do linh mục Nguyễn Gia Đệ phụ trách. Các khu chịu trách nhiệm tổ chức huấn luyện quân sự, tình báo cho tự vệ và thanh niên Thiên Chúa giáo. “Tổng bộ Công giáo” phụ trách chung cả ba khu.

Hàng ngày, qua phòng thông tin và tờ tuần báo Tiếng Kêu (3), Lê Hữu Từ xúi giục giáo dân giết hại cán bộ, chống lại chính quyền và chia rẽ lương giáo. Từ xảo quyệt tự thảo ra “mật lệnh cấm đạo” và nói là của Tổng bộ Việt Minh do Từ lấy được, để ly gián giáo dân với chính phủ ta. Từ cho tự vệ bao vây, phá phách huyện bộ Việt Minh Kim Sơn và chém giết cán bộ ở đó (1947). Từ còn là kẻ chỉ đạo vụ phiến động Phúc Nhạc cuối năm 1947. Chính Từ đã đồng ý để cho bọn côn đồ phục kích giết hại đoàn đại biểu của Chính phủ ta về hội đàm với Từ tại Phúc Nhạc (4).

Trước những hoạt động phản cách mạng và chống phá kháng chiến của Lê Hữu Từ, người dân bên đạo phần nào đã thấy bộ mặt giả dối, phản dân hại nước của y, những lời đồn đại: “Cha Từ mồm thì theo cụ Hồ mà bụng thì theo Tây” hay: “Đức Cha hai lòng”, mỗi ngày một nhiều và lan rộng trong nhân dân.

Sau vụ phiến động Phúc Nhạc, một mặt ta kiên trì giải thích chính sách đoàn kết lương giáo, một mặt trừng trị những tên đầu sỏ phản động. Lê Hữu Từ và đồng bọn thấy rõ điều đó, nên chúng hoạt động theo một hướng mới: bí mật, cẩn thận, thủ đoạn tinh vi hơn trước. Từ chú trọng nhiều hơn vào các phần tử bất mãn với ta, y luôn luôn đưa ra vấn đề “cộng sản vô thần” để dọa con chiên ngoan đạo.

Tháng 10-1947, Từ được ‘chính phủ cho phép’ lập khu an toàn Phát Diệm. Khu an toàn gồm đất xã Phát Diệm, từ phố chạy dài tới nghĩa địa rộng nửa cây số, dài hai cây. Từ cho rào hết mọi cổng ngõ, dựng nhiều điếm canh ngày đêm có người túc trực, tình báo hoạt động ráo riết. Dần dần khu an toàn Phát Diệm trở thành sào huyệt của bọn phản động, côn đồ tứ xứ.

Năm 1948, Từ cho linh mục Hàm và già Thiệu đi Hải Phòng xin Pháp chóng mang quân vào Phát Diệm. Đáp lại sự cầu cứu của Từ, tháng 6-1948, tên mật thám Malicô (Malico) của Pháp đã thảo kế hoạch chiếm đóng Phát Diệm và giao cho nữ gián điệp Trần Thị Mật mang đến cho Từ. Điều kiện để quân Pháp đánh Phát Diệm theo yêu cầu của Malicô là: Pháp có bao nhiêu vũ khí thì Từ phải có bấy nhiêu thanh niên, và khu Phát Diệm phải được dùng làm căn cứ quân sự để đánh ra các vùng lân cận (5).

Tháng 3-1948, Từ ra lệnh tuyển tự vệ cho Nhà chung (Phát Diệm), bắt Bùi Chu phải chuyển vũ khí về Phát Diệm. Y cho mở liên tiếp các lớp huấn luyện tự vệ ngắn ngày tại Nhà chung, rèn 10 ngàn thanh mã tấu, tổ chức tập trận trong khu Nhà chung. Y và đồng bọn không ngớt xuyên tạc ý nghĩa lớn lao của ngày 2-9. Từ nói,“Ngày 2-9 không phải là ngày độc lập mà chỉ là ngày giành chính quyền!” [ngày CS cướp chính quyền, Lê Huy Trứ (TL)]

Tháng 8-1948, trong một buổi mít tinh cổ động cho Bảo Đại, Từ nói với giáo dân,“Cha sẽ tổ chức quân đội hùng mạnh để chống cộng sản Việt Minh,” và không ngớt tuyên truyền cho Bảo Đại. Để lừa đối nhân dân, một mặ, Từ ra thư luân lưu số 39, ngày 17-4-1949 tuyên bố, “Tôi đã tuyên bố nhiều lần rõ rệt thái độ của tôi: tôi vẫn đứng bên cụ Hồ để chống thực dân Pháp đến cùng”. Mặt khác, ngày 30-8-1949, Lê Hữu Từ triệu tập một cuộc họp bí mật quyết định:

1. Ủng hộ Bảo Đại. Chẳng bao lâu sau, đại diện của chính phủ Bảo Đại đã bắt đầu tiếp xúc Giám mục Từ.[34] Tại Hà Nội, Đại úy Trần Văn Đôn, một sĩ quan Việt Nam trong quân đội Thực dân Pháp và là một vị tướng trong tương lai của miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, tiếp cận Cha Minh với lời hứa hỗ trợ tài chính của Pháp cho một tờ báo của giáo phận Phát Diệm trong khi Giám mục Từ sẽ đồng ý hỗ trợ Bảo Đại. [31] Giám mục Từ có rất ít niềm tin vào Bảo Đại nhưng có thể nhìn thấy chỉ dấu gia tăng rằng người Pháp đang chuẩn bị một sự chiếm đóng quân sự toàn khu vực Phát Diệm. Từ cũng nghi ngờ rằng Việt Minh sẽ sớm sẵn sàng hành động chống lại ông ta.

Cuối cùng, ông chọn người Pháp. Trong tháng 10 năm 1949 một tiểu đoàn lính nhảy dù người Việt từ các lực lượng thực dân Pháp chỉ huy bởi Đại úy Nguyễn Văn Vỹ được thả xuống giữa Phát Diệm gần nhà thờ. Từ đã từng có các cuộc đàm phán bí mật với Vỹ, nhưng giám mục vẫn miễn cưỡng từ bỏ "tính trung lập" của mình nên không công khai chào đón người Pháp."Do đó, lực lượng dân quân Ca-tô đã giàn hàng sẳn sàng chiến đấu sau một con kênh," Bodard báo cáo rằng "sau khi họ đã hét lên ‘Coi chừng’, họ đã bắn một vài phát qua con kênh theo hướng những kẻ xâm nhập. Khi những kẻ xâm nhập trả đũa bằng một hoặc hai loạt đạn chỉ thiên, Đức cha Lê Hữu-Từ bị bắt buộc thừa nhận thất bại và phải ký một hiệp ước đình chiến."[33]

2. Vận động giáo hữu rời bỏ hàng ngũ kháng chiến. Ngày 10-10-1949, Từ nhận được thư của Bảo Đại ủy nhiệm coi sóc “phần đời” hai địa phận Phát Diệm và Bùi Chu. Cùng ngày ấy, linh mục đại úy Giêglen (Géglen), theo lệnh của Bộ Tổng tham mưu Pháp, bí mật tới Phát Diệm để bàn định với Từ về kế hoạch đón Pháp. Sau cuộc gặp gỡ này, Từ cho tổ chức chặt tre đóng hai hàng rào cọc bao vây lấy khu Phát Diệm: một từ Tam tổng qua Phát Diệm đến Đò Mười, một từ Sanh qua Phúc Nhạc đến Chợ Bút. Y còn cho sửa soạn nghĩa địa Lưu Phương, chặt cây, quét vôi làm hiệu cho quân nhảy dù. Đồng thời, y báo cho tu viện Châu Sơn tin Pháp sắp nhảy dù và ra lệnh cho linh mục bề trên của tu viện phải để Pháp đóng quân trong khu vực nhà dòng.

Ngày 16-10-1949, giặc pháp nhảy dù Phát Diệm và đổ bộ lên cửa biển Ba Lạt (Nam Định). Giặc đi đến đâu, bọn tay chân của Từ đứng ra dẫn đường chỉ lối đến đấy. Sau khi Pháp nhảy dù, Từ huyênh hoang tuyên bố trước giáo dân,“Tôi nghiêng bên nào bên ấy thắng”(!) [6] và “Chỉ trong một tháng, Pháp sẽ lấy xong Ninh Bình”! (7) Nhưng trước những tai họa do giặc Pháp gây ra quá nhiều, ngày 20-10-1949, Từ vội vã ra thư luân lưu an ủi, “Tôi hết sức đau đớn trước những nguy hiểm về tinh thần và vật chất mà anh em hoặc đã phải chịu hoặc có thể chịu từ ngày bắt đầu có cuộc hành quân trong xứ sở yêu quý, việc đã xảy ra bất ngờ quá”! (8) và chối cãi quanh co, “Tôi không bao giờ có ý tưởng cầu cứu quân đội Pháp, không hề có cuộc tiếp xúc nào với Bảo Đại”! (8). Xảo quyệt hơn, để lừa bịp giáo dân Bùi Chu, Phát Diệm, ngày 13-11-1949, Từ gửi thư lên Hồ chủ tịch nói,“Chúng tôi bị mắc nghẽn trong vòng vây của địch trong gần một tháng nay mới tìm dịp gửi thư lên Cụ... Tôi đau đớn vô cùng về việc này và sau gần một tháng trời, tôi vẫn còn buồn rầu và không ngủ được” (?!) [7].

Nhưng ngày 17-10-1949, đài phát thanh A.F.P của Pháp đã loan tin xác nhận, “Quân đội Pháp đã nhảy dù xuống Phát Diệm theo lời yêu cầu của Đức Cha Lê Hữu Từ” (7).

Giặc Pháp chiếm đóng Phát Diệm - Bùi Chu, Lê Hữu Từ cố sức vận động với quan thầy Mỹ (8) và mặc cả với thực dân Pháp để lập “Khu tự trị”. Để việc chiếm đóng khu Phát Diệm – Bùi Chu được nhanh chóng, Pháp tạm thời đồng ý. Từ vội vàng tổ chức cơ quan hành chánh, công an, tự vệ.... Y dung túng cho tay chân mặc sức cướp bóc vơ vét của cải, lùng bắt cán bộ trong khu, gây nên những cuộc xung đột đổ máu giữa lương và giáo. Từ cho lập lại phòng Thông tin và ra tờ tuần báo Lượm Tin thay cho tờ Tiếng Kêu (sau đổi thành nguyệt san Đời Sống), không ngớt xuyên tạc chính sách của ta và tán tụng bọn bù nhìn bán nước. Từ nêu ra nào “Phúc tử vì đạo”, nào “Bảo vệ Chúa”, “Bảo vệ thánh đường”, để dụ dỗ thanh niên vào ngụy binh. Từ bắt các xứ vùng tự do phải tuyển thanh niên đưa về Phát Diệm. Tổng bộ Phát Diệm, khu bộ Phúc Nhạc và nhiều xứ bộ đã công khai lập bàn giấy ngụy quyền ngay trong nhà thờ, nhà xứ. Tất cả chánh tổng, lý trưởng, trương tuần, ủy ban quân sự (có nơi gọi là ban bảo an, xã ủy....) đều do các linh mục chỉ huy và đặt dưới sự kiểm sóat của giặc Pháp. Lực lượng vũ trang của Từ lúc này mang một tên chung là “tự vệ”. Những đội quân “tự vệ” này được tung ra mặt trận phối hợp cùng giặc Pháp càn quét, cướp bóc khắp nơi. Để tăng cường lực lượng quân sự, Từ tổ chức ra quân “Tự lực đòan”, Từ tự tay trao lá cờ danh dự (!) và làm lễ rửa tội, rồi đặt tên cho đoàn quân. Từ đấy trong các trận càn, người dân vùng biển khó mà phân biệt được tội ác nào là của Pháp, tội ác nào là của lính cha Từ. Lính cha Từ, lính Quốc trưởng, lính Pháp chỉ là một khối thống nhất. Ít lâu sau, tiểu đòan “Tự lực” Bùi Chu cũng ra đời.” [14]

Tạm Kết

Linh mục Lê Hữu Từ tuyên bố, “Tôi không thiên về Anh, về Mỹ hay nước nào cả! Tôi không thiên về Bảo Đại, cũng không thiên cụ Hồ, không thiên về ai hết! Tôi chỉ thiên về Tổ quốc Việt Nam.” [14]

Tuy nhiên, trong thời kháng chiến chống Pháp trở lại Việt Nam, Giám mục Lê Hữu Từ cùng Linh mục Hoàng Quỳnh, hai người đã nổi danh với câu “Thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa.” [1]

“Ai có thể phủ nhận hay biện minh cho sự kiện là giám mục Lê Hữu Từ đã theo lệnh chống Cộng của giáo hoàng Pius XII, nhận vũ khí của Pháp khi Pháp trở lại Việt Nam...” [2]

Giám mục Lê Hữu Từ là một nhân vật lịch sử phức tạp, mang đặc điểm hảo hớn của một thủ lĩnh tôn giáo kiên cường bảo vệ giáo dân, đồng thời bị xem là người đi ngược lại lợi ích của phong trào giải phóng dân tộc do Việt Minh Cộng sản lãnh đạo. Đánh giá về Giám mục Lê Hữu Từ vẫn là đề tài tranh cãi, tùy thuộc vào việc đặt ông trong vai trò bảo vệ cộng đồng Công giáo, hay trong bối cảnh xung đột ý thức hệ Đông Dương (1945–1954).

Kết luận về ông đòi hỏi góc nhìn đa chiều, cân bằng giữa di sản bảo vệ đức tin, và những lựa chọn chính trị đầy tranh cãi trong giai đoạn lịch sử biến động thời đó.

Tài liệu nghiên cứu

1. Tại Sao Tôi Chống Công Giáo (Trần Chung Ngọc) - Sách Hiếm net Trong thời kháng chiến chống Pháp trở lại Việt Nam, Giám mục Lê Hữu Từ cùng Linh Mục Hoàng Quỳnh, người nổi danh với câu “Thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa.”
2. Vô Thần - Hữu Thần (Trần Chung Ngọc) - Sachhiem.net
Ai có thể phủ nhận hay biện minh cho sự kiện là giám mục Lê Hữu Từ đã theo lệnh chống Cộng của giáo hoàng Pius XII, nhận vũ khí của Pháp khi Pháp trở lại Việt Nam...
3. Giám mục Lê Hữu Từ & Phát Diệm 1945-1954, Đoàn Độc & Xuân Huy, Giám Mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm (1945-1954)
4. Giám Mục - LÊ HỮU TỪ & PHÁT-DIỆM – Heyzine
5. Phát Diệm: Chủ Nghĩa Dân Tộc, Tôn Giáo, Và Nét Nhận Dạng Trong Chiến Tranh Pháp-Việt Minh, Ronald H. Spector, Người Dịch: Trần Thanh Lưu,
https://sachhiem.net/SACHNGOAI/snT/TThL5.php
6. Điển hình là các công trình như cuốn hồi ký lịch sử "Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm: Những năm tranh đấu hào hùng" của Đoàn Độc Thư & Xuân Huy, nghiên cứu của Giáo sư Sử học Ronald H. Spector và Giáo sư Edward Miller.
Các luận điểm đối lập bao gồm: [1, 2, 3]
7. Con Đường Lên Nắm Quyền Của Ngô Đình Diệm, 1945-1954 - Edward Miller,
Con Đường Lên Nắm Quyền Của Ngô Đình Diệm, 1945-1954 - Edward Miller |PDF
8. Phát Diệm: Chủ Nghĩa Dân Tộc, Tôn Giáo, Và Nét Nhận Dạng Trong Chiến Tranh Pháp-Việt Minh
9. Đức Giám Mục Lê Hữu Từ là cháu đời thứ 8 của vua Lê Hy Tông (1676-1705) Nguyễn Lý-Tưởng, California, USA, lehuutu.pdf
10. (20+) ĐỨC GIÁM MỤC TAĐÊÔ LÊ HỮU TỪ: VỊ MỤC TỬ NHÂN... - Người Giồng Trôm | Facebook
11. Ngô Đình Diệm-Hoa Kỳ và số phận của miền Nam Việt Nam
12. Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959 | Nghiên Cứu Lịch Sử
13. Tađêô Lê Hữu Từ – Wikipedia tiếng Việt
14. Bộ mặt thật của giám mục Lê Hữu Từ, Quang Toản & Nguyễn Hoài (1965)
15. TG&LG - Người Công Giáo: Trọng Tâm Của Cuộc Di Cư (LM. Trần Tam Tỉnh)
16. Cuộc di cư Việt Nam (1954) – Wikipedia tiếng Việt
17. Resettling in Place.pdf
18. https://vi.wikipedia.org/wiki/Cu%E1%BB%99c_di_c%C6%B0_Vi%E1%BB%87t_Nam_(1954)
19. Operation Passage to Freedom - Wikipedia
20. Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc và vai trò của họ tại Việt Nam CH, 1954-1959 | Nghiên Cứu Lịch Sử
21. Milestones in the History of U.S. Foreign Relations - Office of the Historian
22. Migration of citizens of North Vietnam to South Vietnam after the Geneva Agreement on Indochina (1954 - 1955) | Migration Letters
23. Nhìn lại cuộc di cư 1954-1955, Nguyễn Văn Lục
24. Graham Greene, The Quiet American (New York: Penguin, 2004), pp. 38–39
25. Yves Gras, Histoire de la Guerre d’Indochine (Paris: Plon, 1979), pp. 226–228; and Edgar O’Ballance, The Indo-China War, 1945–1954 (London: Faber and Faber, 1964), pp. 136–139. Journal of Cold War Studies Vol. 15, No. 3, Summer 2013, pp. 34–46, doi:10.1162/JCWS_a_00369 © 2013 by the President and Fellows of Harvard College and the Massachusetts Institute of Technology
26. John Lewis Gaddis, The Long Peace: Inquiries into the History of the Cold War (New York: Oxford University Press, 1987).
27. Peter Hansen observes, “clerical leadership in many northern Catholic [parishes] sometimes took on aspects of an all-encompassing theocracy.” See Peter Hansen, “Bac Di Cu: Catholic Refugees from the North of Vietnam and Their Role in the Southern Republic, 1954–1959,” Journal of Vietnam Studies, Vol. 4, No.3 (Fall
2009), p. 178.
28. Lucien Bodard, The Quicksand War (Boston: Little Brown, 1967), p. 211.
29. Eric Gibbs, “Battle of Indo-China: Arms and the Bishop,” Time, 8 January 1951.
30. Charles Keith, “Annam Uplifted: The First Vietnamese Catholic Bishops and the Birth of a National Church,” Journal of Vietnamese Studies, Vol. 3, No. 2
(Summer 2008), pp. 143–145Gibbs, “Battle of Indo-China.”
31. Ibid.
32. Tam [Vu Van Cuong], Vietnam’s War, 1940–1975: The Causes of French and American Failures in Vietnam (Lawrenceville, VA: Brunswick Publishing, 1983), p. 112. Cuong was secretary and administrative assistant to Bishop Tu.
33. Bodard, Quicksand War, pp. 211–212.
34. Tam, Vietnam’s War, p. 115.
35. Quoted in Keith, “Annam Uplifted,” p. 159.
36. Ibid., p. 159.
37. Ibid., p. 128.
38. Gen. Marcel Carpentier to Ministre de la France Outre-Mer, 29 October 1949, Château de Vincennes, Paris, in Service Historique de l’Armée de Terre (SHAT), 10H170, Dossier 1; Bodard, Quicksand War, p. 212; and Tam, Vietnam’s War, p. 118.
39. Keith, “Annam Uplifted,” p. 159; Pham Van Bong, “Ngon lua khang chien” [Guard our people and aght the enemy], in Tap ky khang chien chong thuc dan Phap xam luoc [Flames of the resistance war: Memoirs of the anti-French resistance war] (Hanoi: Party History Studies, 1978), pp. 113–116; and Tam, Vietnam’s War, p. 132.
40. Tam, Vietnam’s War, p. 126.
41. Operation Passage to Freedom
42. Bùi Chu-Phát Diệm, vì sao là lịch sử? Tuấn Khanh (Blog RFA)