Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026

Tấm Ảnh Ngày Xưa

 


“Tấm ảnh sinh viên Việt Nam ở Pháp. Đã tuần hành
trên đường phố Paris. Để tang cho Việt Nam.
Ngày 27 tháng 4 năm 1975”.

 

 

TẤM ẢNH NGÀY XƯA

 

“Tấm Ảnh Ngày Xưa” sẽ còn sống mãi

Trong tâm khảm dân tộc Việt lưu vong

Ngày nào quê hương, Cộng còn tồn tại

“Ba Mươi, Tháng Tư” nỗi uất hận lòng!

 

Năm Mươi Bốn, đất Bắc ơi giã biệt!

Bảy Mươi Lăm Cộng sản cướp miền Nam

Nỗi trầm thống oán hờn sao kể xiết

Chúng bán rồi nước Việt cho ngoại bang!

 

Cuối thángTư Đen! Sửng sờ tôi khóc!

Ngoài đường xe, người hớt hải cuống lên

Trong nhiệm sở kẻ vò đầu, bứt tóc…

Mây xám giăng, mưa pháo rít vang rền!

 

Ai còn nhớ tiếng trực thăng lên xuống?

Đèn chớp, hụ còi hối hả tải thương…

Người âu lo, vội vàng, lui, tới muộn…

Đêm từng đêm, tôi khắc khoải đoạn trường!

 

Bởi chồng còn miệt mài ngoài biên trấn

Mấy tháng qua rồi vẫn vắng bặt tin

Hai Mươi Bảy, Tháng Tư! Niềm thống hận!

Giặc giã nhiễu nhương… súng đạn vô tình!

 

Hai con dại nằm nôi còn bé nhỏ

Vợ thương chồng, lo ngại lẫn chờ mong

Từ thị thành đến thôn quê… bỏ ngỏ

Cha mẹ, người thân… nát dạ, tan lòng!

 

Cảnh người bươn bả tìm đường lánh nạn

Chiến binh trở về, uất hận riêng mang!

Ba Mươi Tháng Tư! Việt Nam Cộng sản!

Có đau nào bằng, đau mất giang san!

 

Tôi chết lặng! Lắng nghe dòng lịch sử!

Ôi đoạn trường! Nước Việt lật sang trang!

Người lính Cộng Hòa, khí hùng bất tử!

Tuẫn tiết quyên sinh... quyết chẳng đầu hàng!

 

Thế giới bàng hoàng cúi đầu mặc niệm!

Dân Việt ngậm ngùi! Hờn oán thiên thu!

Biết bao người chết... liều thân vượt biển

Bao nhiêu kẻ bị cải tạo trong tù…

 

Giặc cắt Lạng Sơn, Hoàng Sa, Bản Giốc…

Đem đất đai, lãnh hải… bán cho người

Dân tộc lầm than, khốn cùng còi cọc

Cộng tan tành đất nước sẽ an vui...

 

Quê hương mất! Anh đớn đau tủi nhục!

Lệ thảm sầu nuốt vội! Chít khăn tang!

Tấm ảnh xưa! Cho tôi nhiều cảm xúc

Se thắt tâm tư! Mắt lệ dâng tràn!

  

Có vết thương, cả đời còn rướm máu!

Có nỗi buồn, mãi mãi vẫn không phai!

Lớp trẻ về! Niềm tự hào, cao ngạo…

Cùng các anh, thay Cộng sản tay sai…

 

Quyết đuổi bọn phi nhân, phường bán nước

Đem tự do no ấm… khắp mọi miền

Nước Việt Nam từ đây tròn ơn phước

Tự chủ, tự cường, an hưởng… đoàn viên

 

Tạ ơn tiền nhân, những người… gìn giữ

Chánh thể Cộng hòa, biển lặng sông trong

Chúng ta sẽ về quên đời lữ thứ…

Việt Nam ơi! Hạnh phúc ngập cõi lòng!

 

Quê hương ta ngày nào còn Cộng sản

Thì sẽ còn ngày Quốc Hận Ba Mươi!

Tháng Tư Đen! Ôi sanh linh đồ thán!

Dân Việt Nam còn khốn khổ tơi bời!

  

DƯ THỊ DIỄM BUỒN 

Email: dtdbuon@hotmail.com

 





TƯỞNG NIỆM
Cố KTS. Trần Đình Thục
Người chụp bức ảnh
Ngày 27 tháng 4 năm 1975 ở Paris

TẤM ẢNH NGÀY XƯA
Dư Thị Dễm Buồn

Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị thưởng thức NP Tấm Ảnh Ngày Xưa



Xin Đừng Đổi Tên Tháng Tư Đen

 


XIN ĐỪNG ĐỔI TÊN THÁNG TƯ ĐEN
Trần Long

Kính thưa quý vị,

Hằng năm, đến ngày 30 tháng 4, người Việt quốc gia, nhất là người Việt tị nạn Cộng sản đau buồn tổ chức lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận cũng như tưởng niệm Tháng Tư Đen. Đó là ngày mà Cộng sản Bắc Việt xé bỏ Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973, tấn công cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa. Sự kiện đó không thể bị bóp méo, không thể bị tô hồng, và càng không thể bị lãng quên.

Người Việt tị nạn cộng sản cử hành Lễ tưởng niệm ngày Quốc hận rất trang trọng để nhắc nhở nhau nỗi đau mất nước, nhắc nhở nhau nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh để chờ ngày giải cứu quê hương. Bởi vì chúng ta đều biết không có một chế độ độc tài nào có thể trường tồn trên đất nước Việt Nam. Vì vậy chế độ Cộng sản vô thần cũng chỉ là một sự hiện diện tạm thời trên đất nước, quê hương.

Mấy năm trước, Quốc hội tiểu bang California đã ra văn thư công nhận tháng 4 là Tháng Tư Đen của người Mỹ gốc Việt. Và gần đây nhất quận hạt Santa Clara cũng công nhận tháng 4 là Tháng Tư Đen và đồng ý cho treo cờ rủ VNCH trên cột cờ của quận hạt trong suốt tháng 4.

Sự việc gọi ngày 30 tháng 04 là ngày Quốc Hận cũng như tháng tư là Tháng Tư Đen ít nhiều cũng làm tổn hại ý nghĩa ngày "chiến thắng" của Đảng Cộng Sản VN, vì thế chắc chắn là chúng sẽ tìm cách phá hoại các sự kiện tổ chức Tưởng Niệm Quốc Hận.

Trong quá khứ đã có một số cá nhân và hội đoàn không hiểu vì lý do gì đã đề nghị lấy tên ngày Quốc Hận là Ngày Hành Trình Cho Tự Do của người Việt và đề nghị này đã bị phản đối dữ dội. Ai quan tâm hay sinh hoạt cộng đồng cũng đã biết những sự kiện này.

Nhiều bài viết đã đưa lên, lý luận rằng làm như vậy chỉ làm nhẹ đi ý nghĩa của ngày Quốc Hận của Tháng Tư Đen và như thế vô tình làm lợi cho Cộng Sản Việt Nam bởi vì Cộng Sản Việt Nam không muốn “ngày chiến thắng" của họ lại trở thành ngày Quốc Hận đau buồn cho người dân Việt Nam.

Gần đây Nghị viên Biên Đoàn của Thành phố San Jose, đề nghị tháng tư là tháng Di sản của người Mỹ gốc Việt. Theo ý cá nhân tôi sự việc này cũng sẽ làm nhẹ ý nghĩa của Tháng Tư Đen của người Việt tị nạn Cộng sản.

Theo tôi, sự việc đề nghị những tên khác có thể có nhiều lý do:

  1. Không sinh hoạt cộng đồng thường xuyên nên không hiểu rõ nguyện vọng của người Việt tị nạn Cộng Sản và ý nghĩa của ngày Quốc Hận và Tháng Tư Đen.

  2. Vô tình hay cố ý làm lợi cho Cộng Sản bằng cách làm nhẹ đi sự đau thương của dân tộc trong ngày CSBV cưỡng chiếm VNCH.

  3. ...

Dẫu cho vì lý do gì đi nữa, thì tôi cũng mong những người đại diện cho người Mỹ gốc Việt phải cẩn thận hơn khi muốn đổi tên hay có những đề nghị trung lập tên của ngày Quốc Hận hay Tháng Tư Đen trong Văn hóa của người Việt tị nạn Cộng sản.

Nếu chúng ta im lặng, lịch sử sẽ bị thay đổi. Nếu chúng ta lui bước, chính nghĩa sẽ bị xóa nhòa.

Kính thư, 

Trần Long.

(From: Long Tran tranlongshcd@gmail.com, VNCH, 17/04/2026)



Ý Nghĩa Của Ngày Quốc Hận 30/4

 


Ý NGHĨA CỦA NGÀY QUỐC HẬN 30/4
Trần Quốc Kim

Ngày Quốc Hận là ngày buồn thảm, vì đó là ngày mà chúng ta, những người Việt ở Miền Nam Việt Nam, bị mất đất nước vào tay cộng sản Bắc Việt tàn ác, từ Hà Nội, bằng sự xâm lăng bạo lực và bất hợp pháp của bộ đội Miền Bắc vào lãnh thổ tự do của dân Miền Nam, năm 1975.

Nhân Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 sắp đến, trước hết xin nhắc giới trẻ sinh sau năm 1975, một ý nghĩa quan trọng mà nhiều em vẫn chưa biết: Ngày Quốc Hận là ngày buồn thảm, vì đó là ngày mà chúng ta, những người Việt ở Miền Nam Việt Nam, bị mất đất nước vào tay cộng sản Bắc Việt tàn ác, từ Hà Nội, bằng sự xâm lăng bạo lực và bất hợp pháp của bộ đội Miền Bắc vào lãnh thổ tự do của dân Miền Nam, năm 1975. Tóm tắt, Ngày Quốc Hận 30/4 là Ngày Mất Đất Nước, nói rõ hơn là Ngày mất nước Việt Nam Cộng Hòa, của tất cả những người Việt yêu tự do, nhân quyền, dân chủ, và hòa bình.

Vậy mà, có những em sinh viên ở Mỹ còn tụ tập thành nhóm, để ăn uống, vui chơi, và nhảy múa, ngay trong ngày và đêm 30/4, như đã thấy trong các năm qua. Năm nay, xin các cha mẹ nhắc nhở và giải thích cho con cháu hiểu về ý nghĩa lịch sử của Ngày 30/4 đau buồn này, vì sau ngày đó, vào khoảng nửa triệu dân Việt ở Miền Nam đã bỏ mình trên Biển Đông do vượt biển.

Tôi mong các phụ huynh người Việt vẫn còn nhớ để dạy con cháu một câu tục ngữ Việt thông thường đã được phổ biến trong các trường học Miền Nam của chính thể Việt Nam Cộng Hòa, trước năm 1975: Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ. Chúng ta nghĩ sao khi thấy loài ngựa biết chia sẻ nỗi đau cho nhau và biết cư xử với đồng loại của chúng tốt hơn con người cư xử với nhau? Sự hy sinh can đảm và đầy nước mắt đó của nửa triệu đồng bào vượt biển, đã Thức Tỉnh Lương Tâm của Liên Hiệp Quốc. Nên Cao Ủy Tị Nạn của LHQ đã lo chi phí cho các Trại Tị Nạn Cộng Sản (CS) được dựng lên trên các đảo ở Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan… vào khoảng các năm 1978-1988, để đón nhận những người Việt Tị Nạn đến sinh sống tạm thời ở đó. Rồi những người Mỹ có lòng tốt và Quốc Hội Mỹ đã kêu gọi được chính phủ Mỹ chấp thuận cứu xét giấy tờ cho người Việt Tị Nạn CS được định cư với cuộc đời mới ở Mỹ. Dần dần, các nước Tự Do khác trên thế giới cũng ủng hộ và cho phép chúng ta định cư trên đất nước họ, với lý do tị nạn chính trị, như: Úc, Gia Nã Đại, Pháp, Đức, Anh, Tân Tây Lan, Bỉ, Đan Mạch, Na Uy… Đồng bào của chúng ta đã chết cho chúng ta được sống. Vậy nỡ nào bây giờ, cha mẹ, những người Việt tị nạn trước đây, thản nhiên (hoặc vô tình không biết) để cho con cháu mình tụ họp, vui chơi, nhảy nhót trong các buổi tối, gần Ngày Quốc Hận 30/4?

Kế đến, tôi muốn các em biết điều quan trọng thứ hai đã xảy ra vào hai năm 1988-1989: Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã hoàn thành một việc vĩ đại, giúp các tù nhân chính trị của Miền Nam, đang thống khổ lúc đó, do bị kỳ thị và bị đàn áp bởi sự độc tài của chế độ CS độc đảng trong nước. Năm 1988, Tổng Thống Reagan đã ký lệnh cho phép tất cả các Quân, Dân, Cán, Chính của VNCH, thuộc mọi cấp bậc và trình độ (đã bị tù tập trung khổ sai, ít nhất 3 năm trở lên, dưới chế độ CSBV) và gia đình của họ, được nộp giấy tờ xin đi Mỹ, hợp pháp. Nghĩa là, họ và gia đình, không phải đi trốn bọn công an VC một cách lén lút, đầy nguy hiểm, bằng cách đi bộ qua Thái Lan, Cam Bốt…, hoặc vượt biển với những con thuyền nhỏ bé như một chiếc lá mong manh và chết trên sóng biển đại dương nữa.

Trước đó một năm, vào năm 1987, nhiều Nghị Viện của Quốc Hội Mỹ thuộc cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, cùng với Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao lúc đó, là ông Robert Funseth, đã nỗ lực hoạt động như những người điều đình để trình bày Nghị Quyết 212. Khi họ mang nội dung của Nghị Quyết này đến thương lượng với VC trong việc thả tù chính trị của VNCH đang bị hành hạ trong các trại tù tập trung khổ sai (mà VC gian manh gọi là “học tập cải tạo”) thì bị VC chống đối mãnh liệt. Đảng CS Hà Nội nói rằng: “Không, chúng tôi không thả. Nếu thả hết bọn tù chính trị và tù quân đội VNCH này ra thì chúng đứng lên làm loạn cả nước, làm sao đảng cai trị dân được? Nước Mỹ của các anh có dám nhận hết tụi tù (dơ dáy) này qua Mỹ không thì chúng tôi mới thả…”

VC không ngờ TT Reagan đã nhanh chóng xác nhận là Mỹ sẽ nhận các tù nhân VNCH vào nước Mỹ ngay, vậy VC cứ thả họ đi. Nhờ vậy, một hiệp ước thỏa thuận đã được ký ngày 30/7/1989 bởi Hoa Kỳ và nhà cầm quyền VC. Nghị Quyết 212 hợp pháp đã giải thoát khoảng 300.000 tù nhân chính trị, và cùng với gia đình, họ được rời khỏi Việt Nam để định cư ở Hoa Kỳ.

Rõ ràng, đối với các cựu tù nhân chính trị VNCH: sau cơn mưa, trời lại sáng. Hãy hy vọng và cầu nguyện, ngay cả khi chúng ta bị phản bội, đang thất bại, hoặc gặp hoạn nạn… Tất cả rồi cũng trôi qua với cuộc đời tạm bợ này… Và hãy tin rằng những ai làm việc cho chính nghĩa và nhân nghĩa, sẽ có cơ duyên hội tụ và ủng hộ nhau để thành công.

(From: Bầu Trời VN - Trần Quốc Kim, 16/04/2026)


Cách Sơn Đả Ngưu

 


CÁCH SƠN ĐẢ NGƯU
Nguyễn Thị Bé Bảy


Ngày 24/4/2026


Trong truyện chưởng Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung, ông có nói đến một môn nội công tên là Cách Sơn Đả Ngưu. Đây là một đòn kung phu mà Quốc Sư nước Thổ Phồn tên là Cưu Ma Trí đã xử dụng.


Như tên gọi đúng theo nghĩa đen, Cách Sơn Đả Ngưu là đòn đánh hạ 1 con trâu ngăn cách bởi 1 quả núi, nghĩa bóng là không cần đánh trực tiếp vào 1 mục tiêu bị ngăn trở bởi chướng ngại vật, nhưng vẫn phá hủy được mục tiêu. Đây là công phu của một người luyện võ có nội lực thâm hậu thượng thừa


Trong cuộc chiến tại Iran, có thể nói TT Trump đã xử dụng đòn Cách Sơn Đả Ngưu: Mỹ đánh Iran mà Trung Cộng bị thiệt hại!


Vậy, Trung Công bị thiệt hại những gì?


Nguồn cung dầu từ Iran bị cắt đứt



Từ lâu, Iran đã đóng vai trò cung cấp một nguồn năng lượng thiết yếu cho Trung Cộng với mức giá ưu đãi. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn kể từ năm 2021, khi Thỏa Thuận hợp tác 25 năm giữa Iran và Trung Cộng được ký kết. Thỏa thuận này bảo đảm nguồn cung cấp dầu cho Bắc Kinh trị giá 400 tỷ mỹ kim với mức giá thấp hơn giá thị trường, để trao đổi với các khoản đầu tư vào những cơ sở hạ tầng của Iran và sự hợp tác an ninh từ phía Trung Cộng. Tính đến cuối năm 2025, Trung Cộng đã nhập cảng từ Iran lượng dầu thô lên tới khoảng 1,4 triệu thùng mỗi ngày, chiếm 13% tổng số lượng dầu thô nhập cảng, trong khi đối với Iran, nó chiếm khoảng 80% đến 90% tổng số lượng dầu thô xuất cảng của nước này.


Dầu thô từ Iran đến Trung Cộng thường được chuyển hướng để lách các lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ. Nhằm vô hiệu hóa những rủi ro về địa danh và tài chánh để tránh trừng phạt, nguồn dầu này chủ yếu được mua bởi các nhà máy lọc dầu tư nhân có quy mô nhỏ, thường được gọi là các nhà máy lọc dầu "teapot", thay vì được mua bởi các tập đoàn dầu khí quốc doanh lớn của Trung Cộng. Dầu mua từ Iran được thanh toán bằng đồng Nhân Dân Tệ thông qua hệ thống Thanh Toán Liên Ngân Hàng Xuyên Biên Giới (CIPS) của Trung Cộng mới được thiết lập, nhằm tránh xử dụng mạng lưới SWIFT thanh toán quốc tế, vốn có thể phát tín hiệu về các giao dịch tài chánh bị trừng phạt tới các cơ quan chức năng Tây Phương.


Kể từ khi các cuộc tấn công của Mỹ và Do Thái bắt đầu vào ngày 28 tháng 2/ 2026, hoạt động sản xuất và xuất cảng của Iran đã sụp đổ do cơ sở hạ tầng bị hư hại và hoạt động vận tải qua Eo Biển Hormuz bị đình trệ, và bây giờ thì đang bị Hoa Kỳ phong tỏa ngược, một đòn Gậy Ông Đâp Lưng Ông, nói theo Binh Thư thì là kế Phản Khách Vi Chủ, là kế thứ 8 trong 36 kế của Tôn Tử. 



Đối với Trung Cộng, điều này đã tạo ra một sự thiếu hụt tức thời  lượng dầu nhập cảng từ Iran, như đã nói, nó dao động từ 1 triệu đến 1,4 triệu thùng mỗi ngày, và các nhà máy lọc dầu tư nhân có quy mô nhỏ đã mất đi nguồn tiếp tế dầu thô giá rẻ, phải đối mặt với mức giá cao hơn trong bối cảnh thị trường đã trở nên căng thẳng trên khắp toàn cầu như hiện nay.

Trước đó, Trung Cộng đã chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc khủng hoảng năng lượng, sau khi đánh hơi từ những lời đe dọa của Mỹ đối với Iran đã leo thang mạnh mẽ vào đầu năm 2026. Để có dầu dự trữ, trong hai tháng đầu năm, lượng dầu Trung Cộng nhập cảng đã tăng vọt lên 16% . Nga đã cung cấp thêm khoảng 300.000 thùng dầu mỗi ngày để xuất cảng sang Bắc Kinh trong tháng 1 và tháng 2/2026 (tổng cộng khoảng 2,1 triệu thùng 1 ngày). Tuy nhiên, đối với Trung Cộng, con số này hoàn toàn chưa đủ. Lượng dầu Trung Cộng nhập cảng từ các quốc gia trong vùng Vịnh Ba Tư kể cả Iran hiện đang bị kẹt tại Eo Biển Hormuz, là 5,4 triệu thùng mỗi ngày, gần gấp ba số lượng dầu nhập cảng từ Nga.

Nói cách khác, trong ngắn hạn, Trung Cộng vẫn phải đối mặt với những hệ quả từ việc nguồn cung cấp một số lượng dầu đáng kể với giá thấp hơn thị trường bị cắt đứt đột ngột; điều này diễn ra trong bối cảnh giá dầu đang tăng vọt và hoàn toàn có thể duy trì ở mức quanh mốc 100 mỹ kim 1 thùng trong một thời gian dài. Các mô hình ghi độ biến động về nền kinh tế Trung Quốc trước biến động giá dầu cho thấy: cứ mỗi 25% giá dầu tăng lên, GDP của quốc gia này sẽ sụt giảm 0,5% (Rasmussen và Roitman, 2011). Điều này cho thấy rõ những rủi ro và thách thức to lớn mà Trung Cộng đang phải đối mặt.

Nhu cầu tiêu thụ nước ngoài giảm sút

Đối với Trung Cộng, mối đe dọa chính từ cuộc xung đột Iran là mức tiêu dùng toàn cầu bị chậm lại, kéo theo những hậu quả rõ ràng đối với ngành xuất cảng của Bắc Kinh. Sự phụ thuộc của Trung Cộng vào xuất cảng để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP trong năm nay, mà Bắc Kinh muốn duy trì ở mức khá cao từ 4,5% đến 5%,  là nhược điểm chính của Trung Cộng. Sự sụt giảm mạnh của tăng trưởng toàn cầu sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa sản xuất kéo theo lợi nhuận doanh nghiệp giảm sút, gây ra những hậu quả nghiêm trọng về phương diện tài chánh của các công ty Trung Quốc. Mức "tăng" lương công nhân hiện nay là dưới 1% và có thể giảm xuống thấp hơn nữa. Điều này sẽ càng làm trầm trọng thêm sự giảm sút nhu cầu tiêu dùng nội địa, với việc giảm đầu tư từ các công ty không còn kiếm được lợi nhuận khiến nột số công ty phá sản dẫn đến thất nghiệp, song hành với sự tiết kiệm của người dân trong nước.

Thử nhìn sang Châu Âu, đây cũng là thị trường lớn nhất của Trung Cộng, với mức tiêu thụ 15% lượng xuất cảng của Bắc Kinh. Giá năng lượng tăng cao cũng là một cú đấm tiêu cực đáng kể đối với sự tăng trưởng kinh tế của châu Âu, vỉ vậy nhu cầu tiêu thụ tại đây cũng giảm sút, do đó mứcxuất cảng sang châu Âu cũng sẽ giảm sút.

Cuộc chơi giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ tại Trung Đông

Tùy thuộc vào cách giải quyết, cuộc chiến Mỹ - Iran sẽ có những tác động sâu sắc đến vị thế chiến lược của Trung Cộng ở Trung Đông và xa hơn nữa. Nếu Hoa Kỳ giành được ưu thế, nắm quyền kiểm soát các tài sản của Iran, phá vỡ ảnh hưởng của nước này và có khả năng thiết lập một chế độ dễ sai khiến hơn, thì những thành quả ngoại giao khó khăn mà Bắc Kinh đã đạt được trong khu vực, và có thể ở cả khu vực Nam Bán Cầu rộng lớn hơn, sẽ bị suy yếu nghiêm trọng.

Một thí dụ là sự hòa giải giữa Saudi Arabia và Iran vào năm 2023, được Trung Cộng khéo léo làm trung gian, tiêu biểu cho một thành tựu mang tính bước ngoặt trong việc thúc đẩy ổn định và chống lại ảnh hưởng to lớn của Hoa Kỳ trong Vùng Vịnh.

Thỏa thuận này cũng nâng cao vai trò của Trung Cộng như một nhà trung gian trung lập theo Sáng Kiến An Ninh Toàn Cầu của nước này. Tương tự, việc Iran gia nhập tổ chức Hợp Tác Thượng Hải (SCO) năm 2023 và BRICS năm 2024, đã củng cố các khuôn khổ đa phương phù hợp với tầm nhìn của Bắc Kinh về một trật tự thế giới đa cực, làm suy yếu sự thống trị của Tây Phương.



Nếu Hoa Kỳ chiến thắng trong trong bối cảnh Trung Cộng hạn chế sự hỗ trợ dành cho Iran như hiện nay, thì những cấu trúc quan hệ hiện tại giữa Bắc Kinh và Iran có thể bị lung lay, buộc Trung Cộng phải điều chỉnh lại các liên minh của họ. Việc không đứng ra bảo vệ một "đồng minh" mà Trung Cộng đã kết nạp vào các nhóm nòng cốt của mình, có thể làm xói mòn uy tín của Trung Cộng tại khu vực Nam Bán Cầu, ít nhất là trong lĩnh vực an ninh; bởi lẽ, các quốc gia này không còn kỳ vọng vào một sự "đoàn kết" thiết thực từ Trung Cộng.

Ngược lại, một cuộc rút quân đột ngột của Hoa Kỳ, có thể do áp lực nội bộ, chi phí leo thang, hoặc do sự cố chấp của Iran, có thể tạo cơ hội để Trung Cộng mở rộng hoạt động ngoại giao và đầu tư; đồng thời, việc này cũng có thể thay đổi cách nhìn của các nước ở Nam Bán Cầu về việc ai mới là bên chiến thắng trong cuộc xung đột quân sự này?

Nhưng! Điều này không thể xảy ra dưới nhiệm kỳ 2 của TT Donald J,Trump!

Kết:

Hoa Kỳ đánh Iran nhưng Trung Cộng bị thiệt hại là một sự thật không thể chối cãi!

*Nguyễn Thị Bé Bảy 

23/04/2026


Ức Trai Thi Tập - Bài 91, 92 Và 93

 


ỨC TRAI THI TẬP - BÀI 91, 92, VÀ 93
Thầy Dương Anh Sơn

ỨC TRAI THI TẬP - MỘT SỐ BÀI THƠ ĐƯỢC CHO LÀ CỦA NGUYỄN TRÃI LÀM TRONG GIAI ĐOẠN SANG TRUNG HOA

Bài 91

QUÁ HẢI                                                                                   過海

Bát tận nhàn sầu độc ỷ bồng,                                                     撥盡閑愁獨倚篷,
Thuỷ quang diểu diểu tứ hà cùng.                                              水光渺渺思何窮。
Tùng Lâm địa xích cương Nam Bắc,                                         松林地斥疆南北,
Long Vĩ sơn hoành hạn yếu xung.                                             龍尾山橫限要衝。
Nghĩa khí tảo không thiên chướng vụ,                                       義氣掃空千障霧,
Tráng hoài hô khởi bán phàm phong.                                        壯懷呼起半帆風。
Biển chu tiện ngã triều thiên khách,                                           扁舟羨我朝天客,
Trực giá kình nghê khoá hải Đông.                                            直駕鯨鯢跨海東。

Dịch nghĩa:

Quét hết muộn phiền,ngăn chặn nỗi sầu, một mình dựa mui thuyền, - Ánh nước mênh mang, làm sao nói cho hết ý tứ! - Rừng tùng là ranh giới vạch cõi Nam Bắc! - Núi Long Vĩ nằm ngang chỗ ranh giới giao thông tấp nập và quan trọng. (c. 1-4)
Tấm lòng trọng nghĩa khí quét sạch ngàn tấm màn sương mù che phủ bầu trời! - Ôm ấp sự mạnh mẽ gọi gió nổi lên làm nửa cánh buồm giương lên. – Chiếc thuyền nhỏ mong muốn ta làm khách đi chầu nước lớn, - Cưỡi con cá kình lớn vượt qua biển Đông. (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

VƯỢT BIỂN.

Dựa thuyền riêng dứt ngăn sầu,
Mênh mang ánh nước ý sao tận cùng !
Bắc nam cương giới rừng tùng,
Định ranh xung yếu núi Rồng nằm ngang.
Trời mù khí nghĩa quét tan,
Ôm hùng, hô gió nổi giăng nửa buồm.
Khách chầu triều lớn thuyền con,
Cá voi cưỡi thẳng biển đông vượt liền!

Chú thích:

** Sau đây là 15 bài thơ (từ bài 91 đến bài 105) được cho là của Nguyễn Trãi làm ra khi đi sang Trung Hoa. Một vài câu thơ trong bài này hình như cho thấy vai trò sứ giả của triều Lê vượt biển sang triều cống Trung Hoa (bài 91, câu 7 và 8). Nhưng trong các tài liệu về lịch sử và tư liệu về cuộc đời của Nguyễn Trãi chưa thấy chỗ nào ghi rõ và xác định việc đi sứ hay đi việc riêng sang Trung Hoa sau cuộc kháng chiến chống nhà Minh, Trung Hoa thành công! Đây là vấn đề cần sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về Nguyễn Trãi để làm rõ và xác quyết, khẳng định là thơ của Ức Trai tiên sinh. Riêng trong bài thơ này , nếu đúng là thơ của Ức Trai tiên sinh, đã cho thấy được tâm tình của nhà thơ tuy có nỗi buồn riêng nhưng vẫn thể hiện niềm tự hào về núi sông hùng vĩ cùng tấm lòng nghĩa khí quyết tâm và lo lắng cho việc giữ gìn bờ cõi của dân Nam nơi một con người yêu nước .....
- bát tận 撥盡: vén, dọn, tẩy (bát)... cho hết (tận), dọn cho sạch...
- nhàn 閑: nhàn hạ, rảnh rỗi, bao lơn, lan can để ngăn chặn, hạn chế lối đi... Nhàn sầu 閑愁: ngăn chặn nỗi buồn sầu...
- bồng 篷: mui thuyền thường làm bằng tre đan hoặc cỏ tranh để che mưa nắng.
Chữ bồng cũng dùng chỉ con thuyền nhỏ...
- diểu diểu 渺渺: mờ mịt, mịt mùng, mịt mù, lênh đênh, trôi giạt, mênh mang....
- tứ hà cùng 思何窮: ý tứ không làm sao diễn đạt hết được.... Tứ thơ không sao nói hết ý được....
- Tùng lâm 松林: theo “Đại nam nhất thống chí “ biên giới nước ta thời nhà Mạc
có khu vực trồng rất nhiều cây tùng gọi là Trang trại Tùng Kính thuộc châu Vĩnh Yên, Bắc Việt .Sau vùng này bị nhà Mạc cắt đem dâng cho Trung Hoa. Đây chỉ là nghi vấn vì tên gọi trùng hợp liên quan đến rừng tùng nằm ngay cửa ngõ biên giới Việt Hoa.
- địa xích cương 地斥疆: vùng đất đã được phân ranh làm biên cương (giữa hai nước), vạc cõi, vạch giới hạn đất đai, lãnh thổ của đôi bên ...
- hạn yếu xung 限要衝: yếu xung hay xung yếu chỉ nơi giao thông tấp nập và quan trọng . Ranh giới hay bờ cõi (hạn) quan trọng....
- Long Vĩ Sơn 龍尾山: hay còn gọi là núi Bạch Long Vĩ ( Đuôi con rồng trắng) nằm tại châu Vạn Ninh ,Quảng Yên ( nay thuộc tỉnh Quảng Ninh ,Bắc Việt) là một bán đảo chạy dài ra biển hướng về đảo Hải Nam, Trung Hoa có địa thế dáng hình đuôi con rồng là nơi tàu bè tấp nập qua lại từ nước ta sang Tàu và ngược lại.
- yếu xung 要衝: hay “xung yếu 衝要” chỉ nơi quan trọng để phòng thủ bờ cõi và cũng chỉ nơi giao thông tấp nập cần chú trọng an ninh và quốc phòng....
- nghĩa khí 義氣: chuộng làm điều tốt đẹp, ghét điều xấu xa, sai trái; biết ra tay giúp đỡ người hoạn nạn, trừ bỏ cái ác... v.v....
- tảo không 掃空: quét dọn cho sạch, thông thoáng bầu trời....
- chướng vụ 障霧: tấm màn che hay sự ngăn trở (chướng) bởi sương mù (vụ)....
- tráng hoài 壯懷: ôm giữ, lo nghĩ trong lòng (hoài) sự mạnh mẽ hay hoài bão 怀抱 với chí khí lớn lao (tráng)...
- biển chu hay thiên chu 扁舟: chiếc thuyền nhỏ ...
- tiện (tiễn) 羨 : mong muốn ,ham thích, trông đợi ....
- triều thiên khách 朝天客: ngày xưa, nước ta là một nước nhỏ phải sống cạnh một nước lớn đầy tham vọng thống trị thiên hạ là Trung Hoa.Nước họ vẫn tự xưng là Thiên quốc, vua là Thiên tử (con của trời) và sứ giả nước ta đi triều cống hay đi chầu (triều) bên Trung Hoa gọi khách của Thiên quốc (thiên khách) hoặc “thượng quốc” (nước bề trên).[ Ở đây tạm dịch nước Trung Hoa là “triều lớn” hay “”nước lớn “ với “tinh thần tự tôn dân tộc” chứ không dịch với “tinh thần tự ti dân tộc” hay sự tôn sùng Trung Hoa theo lối xưa là “thiên quốc” hay “thượng quốc” (nước đứng vai bề trên)]
- trực giá kình nghê 直駕鯨鯢 : cưỡi (giá) con cá kình hay con nghê (kình nghê: cá voi lớn) đi thẳng ....
- khóa 跨: vượt qua, nhảy qua, bước qua, nhảy qua, gác qua....

Bài 92

ĐỒ TRUNG KÝ HỮU                                                              途中寄友
Thượng quốc quan quang vạn lý đồ,                                          上國觀光萬里途,
Thiên nhai khuất chỉ tuế vân tồ.                                                 天涯屈指歲云 徂。
Mộng trung thuỷ viễn sơn hoàn viễn,                                        夢中水遠山還遠,
Biệt hậu thư vô nhạn diệc vô.                                                    別後書無雁亦無。
Khách dạ bất miên thiên cảm tập,                                              客夜不眠千感集,
Thanh thì thuỳ liệu thốn trung cô.                                              清時誰料寸忠孤。
Nam châu cựu thức như tương vấn,                                           南州舊識如相問,
Báo đạo kim ngô diệc cố ngô.                                                    報道今吾亦故吾。

Dịch nghĩa:

Đường xa vạn dặm đi xem nền văn minh của nước lớn, - Nơi góc trời, bấm đốt ngón tay kịp đến một năm rồi ! – Trong giấc mộng, nước xa và non cũng xa, - Sau khi từ giã, vắng thư từ và tin nhạn! (c.1-4)
Đêm nơi đất khách không ngủ được với ngàn mối cảm xúc họp lại! – Thời buổi thanh bình ai có thể định liệu được tấc lòng kẻ tôi trung phải lẻ loi ?! – Đất phương Nam, người quen cũ nếu như có hỏi thăm, - Báo tin nói cho biết, tôi hôm nay vẫn là tôi thuở trước! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

GIỮA ĐƯỜNG GỞI BẠN.

Dặm ngàn nước lớn đi thăm,
Góc trời bấm đốt, kịp năm đến rồi!
Nước non trong mộng xa xôi,
Chia tay thư vắng, nhạn trời cũng không!
Khách đêm chẳng ngủ tình dâng,
Thời bình ai đoán tấc lòng trung côi!?
Đất Nam quen cũ thăm người,
Báo nay tôi vẫn là tôi thuở nào!

Chú thích:

** Từ lâu, bài thơ này cùng 14 bài trích dẫn được nhiều nhà nghiên cứu cho là của Nguyễn Trãi. Nhưng chuyện Ức Trai tiên sinh qua Trung Hoa không thấy tư liệu nào ghi rõ nên chỉ là thơ đưa vào loại tồn nghi ( nghi ngờ còn lại ).Dầu vậy, trong một bài thơ cùng nhan đề “Đồ trung ký hữu” trong tập thơ “Hương Đình Cổ Nguyệt Thi Tập” (được cho của nhà thơ Hồ Xuân Hương có quê quán ở làng Cổ Nguyệt) trong kho lưu trữ của Thư Viện Quốc Gia ghi trong “Tứ gia thi tập” (ký hiệu R.423). Bài thơ cùng tên, nội dung cũng chỉ khác một vài chỗ (câu 1, 3, 6, 7 và 8):
Nhất khứ phiêu linh vạn lý đồ, ㇐去飄零萬里途,
Thiên nhai khuất chỉ tuế vân tồ. 天涯屈指歲云徂。
Mộng trung thủy viễn nhân hoài viễn, 夢中水遠人還遠,
Biệt hậu thư vô nhạn diệc vô. 別後書無鴈亦無。
Khách dạ bất miên thiên cảm tập, 客夜不眠千感集,
Thanh thì hoàn liệu thốn trung cô, 清時還料寸心孤。
Nam châu cựu thức nhân tương vấn. 南州舊識人相問,
Báo đạo ninh ngô diệc cố ngô. 報道寧吾亦故吾。
(tư liệu của <thivien.net>)
Tuy nhiên, nếu xét kỹ, chúng ta thấy rõ ngay trong câu 6, hình ảnh “trung cô” – người tôi trung đơn độc- không phải là hình ảnh của bà Hồ Xuân Hương vì bà chưa từng làm quan để có thể làm bề tôi “trung với vua” hay rộng ra “trung với nước”. Đây có lẽ là hình ảnh của Nguyễn Trãi đơn độc ,lẻ loi trong triều đình Lê Thái Tổ với nhiều kẻ ganh ghét,đố kỵ... Và đây cũng chỉ là sự tồn nghi vì chưa có tư liệu nào xác nhận việc đi qua Trung Hoa của Nguyễn Trãi.....
- thượng quốc 上國: xem C.T bên trên bài 91...
- quan quang 觀光 : đi xem xét hay tìm hiểu nền văn minh hay văn hóa của một khu vực, một bộ tộc hay một nước nào đó ....
- khuất chỉ 屈指: cong ngón tay lại để bấm đốt ngón tay tính toán...
- vân 云: phụ từ: rằng; mây (giản thể của vân 雲 )..
- tồ 徂: đi đến, kịp đến, đi sang, tới kịp, chết mất....
- khách dạ 客夜: đêm ở dất khách, đêm nơi xứ người...
- cảm tập 感集: cảm xúc hay tình cảm dồn lại dâng trào...
- thanh thời 清時: thời buổi thanh bình yên ổn...
- liệu 料: liệu định, dự đoán, đo lường, tính toán trước, vật liệu, vuốt ve....
- thốn trung cô 寸忠孤: chút lòng trung cô độc, lẻ loi...
- Nam châu 南州: chỉ nước ta ở đất phương Nam (và ngược lại là Trung Hoa ở phương Bắc)...
- cựu thức như tương vấn 舊識如相問: người quen cũ (cựu thức) ví như (như: nếu như,ví như, hoặc là, và, với, mà, không như, nên phải... v.v...) có hỏi thăm (tương vấn)...
- báo đạo 報道: báo tin và nói cho biết....

Bài 93

LAM QUAN HOÀI CỔ                                                             藍關懷古

Hành tận thiên sơn dữ vạn sơn,                                                  行盡千山與萬山,
Sóc phong xuy khởi mãn Lam Quan.                                        蒴風吹起滿藍關。
Quân vương tằng thử tư trung gián,                                           君王曾此思忠諫,
Chướng hải dao quan thất mã hoàn .                                         瘴海遙觀匹馬還。

Dịch nghĩa:

Đi hết ngàn non cùng muôn dãy núi, - Gió bấc nổi lên thổi khắp vùng
Lam Quan. – Nếu nhà vua đã từng nghĩ đến sự can gián của người tôi trung này, - Biển cả có chướng khí độc hại, trông từ xa thấy một con ngựa lẻ loi rồi cũng trở về.(c.1-4)

Tạm chuyển lục bát:

NHỚ LAM QUAN XƯA.

Đi muôn ngàn núi tận cùng,
Lam Quan gió bấc thổi lồng khắp nơi.
Tôi trung, vua nghĩ nghe lời,
Nhìn xa biển chướng, lẻ loi ngựa về.

Chú thích:

** “Lam Quan Hoài Cổ 藍關懷古”là bài thơ thuộc loại “vịnh sử hoài cổ”, dùng một địa danh để gửi gắm tình cảm của mình. Tuy được xếp vào thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi vẫn còn ở dạng tồn nghi vì chưa có chứng cứ sử liệu Ức Trai tiên sinh có qua Trung Hoa nhưng nội dung bài thơ cho thấy rõ tình ý của Nguyễn Trãi trong thời gian làm quan trong triều Lê Thái Tổ đã bị nhiều kẻ ghen ghét đố kỵ khi ông thường đưa ra những lời can gián trong triều. Thân phận của tiên sinh giống như hình ảnh con ngựa đơn độc bị đày đi xa, người tôi trung lẻ loi chịu nhiều oan khuất, nhiều bi thương nơi biển cả đầy chướng ngại ,lắm hiểm nguy chỉ còn hình bóng cô đơn trở về....
- Lam Quan: một cửa ải xưa rất nổi tiếng, nằm trong dãy Tần Lĩnh 秦嶺 ngăn cách phía băc và phía nam thành Trường An, Trung Hoa [nay thuộc vùng núi phía nam Tây An, tỉnh Thiểm Tây. Nó là cửa ngõ từ vùng Quan Trung (Trường An) đi xuống phía nam (Hồ Bắc, Hồ Nam, Quảng Đông bên Trung Hoa)]....
- Câu 1: Hành tận thiên sơn dữ vạn san 行盡千山與萬山: đi qua hết ngàn núi lại muôn vạn núi ,cho thấy chuyến hành trình xa xôi, gian nan với rất nhiều chướng ngại của núi non chập chùng....
- Câu 2: Sóc phong xuy khởi mãn Lam Quan 蒴風吹起滿藍關: gió bấc (gió bắc) thổi khắp nơi ở cửa ải Lam Quan đã gợi nên cảnh lạnh lẽo hoang vu của một cửa ải mang nhiều dấu tích lịch sử bao đời...
- Câu 3: Quân vương tằng thử tư trung gián 君王曾此思忠諫 cho thấy nhà vua đã từng nghĩ đến những lời can gián của người tôi trung. Đó là điển tích trong lịch sử (chuyện Hàn Dũ) từng đề cập đến lòng hối tiếc của nhà vua khi đày bậc tôi trung đi vào nơi xa xôi. Tác giả bài thơ có lẽ đã lấy cảm hứng từ câu chuyện của đại phu nhà Đường, Trung Hoa là Hàn Dũ 韓愈 (768-824) tự là Thoái Chi 退之, sinh quán ở Nam Dương nay thuộc tỉnh Hồ Bắc thời Đường Hiến Tông. Nhà vua không chịu nghe lời ông can gián lại còn giáng chức đưa đi làm Thứ sử ở vùng Triều Châu xa xôi. Hàn Dũ có làm bài thơ “Tả thiên chí Lam Quan thị điệt tôn Tương 左遷至藍關示姪孫湘 ” (Bị giáng chức đi xa, đến ải Lam dặn lại cháu Tương), trong đó có hai câu: “Vân hoành Tần lãnh gia hà tại, Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiến 雲橫秦嶺家何在, 雪擁藍關馬不前.” (Mây giăng ngang núi Tần, nhà ở nơi đâu? Tuyết che lấp ải Lam, con ngựa không chịu tiến bước). Tác giả bài thơ hay Ức Trai tiên sinh đã lấy ý từ bài thơ này của Hàn Dũ......
- Câu 4: Chướng hải diêu quan thất mã hoàn 瘴海遙觀匹馬還: từ nơi biển cả mang nhiều chướng khí, trông thấy một con ngựa lẻ loi từ xa (thất: lẻ loi, một, đơn lẻ, con...) quay trở về. Đi từ những cơn gió bắc lạnh lẽo của Lam Quan trong câu 2 (sóc phong) nối kết với khí độc nơi chốn biển cả (chướng hải) ở nơi xa xôi trong câu 4, Hàn Dũ cũng như tác giả bài thơ cùng chung mối tâm sự của kẻ tôi thần đơn độc, lẻ loi bị ruồng bỏ nhưng rồi cũng được trở về nhờ lời can gián ngày trước mà vua từng nghe khiến vua hối tiếc cho trở về lại kinh đô. Bóng dáng từ xa của một kẻ đơn độc trở về mang hình ảnh một con ngựa bi thương cũng lẻ loi ,lủi thủi trong bước hành trình.....

(Lần đến: ỨC TRAI THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI – Bài 94, 95 và 96)

Dương Anh Sơn