Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026

Bài Tham Luận tại Đại Hội Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam

 


BÀI THAM LUẬN TẠI ĐẠI HỘI KHOÁNG ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM
Liên Minh Vì Dân Chủ Cho Việt Nam

Đề tài: Vận Động Quốc Tế Cô Lập Và Triệt Tiêu Chế Độ Cộng Sản Độc Tài Toàn Trị Tại Việt Nam

Kính thưa Ban Tổ Chức Đại Hội,

Kính thưa quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo,

Kính thưa quý vị nhân sĩ cùng quý đại biểu.

Hôm nay, trong bầu không khí trang nghiêm và tràn đầy tinh thần đồng tâm hiệp lực của Đại Hội Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam, chúng tôi lấy làm vinh dự được thay mặt Liên Minh Vì Dân Chủ Cho Việt Nam, đệ trình cùng quý liệt vị đôi dòng tham luận về một trọng tâm chiến lược trong công cuộc quang phục quê hương: Đó là nỗ lực vận động thế giới tự do nhằm cô lập và triệt tiêu bạo quyền độc tài toàn trị tại Việt Nam.

Kính thưa quý vị,

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày miền Nam tự do bị bức tử, non sông chìm đắm trong một màu tang tóc của chế độ cộng sản. Dân tộc ta, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, đang phải đọa đày trong một nhà tù khổng lồ, nơi mà những quyền làm người căn bản nhất bị tước đoạt một cách tàn bạo. Bạo quyền dẫu có thay hình đổi dạng, dẫu có dùng những mỹ từ xảo trá trên các diễn đàn quốc tế để che đậy sự thối nát bên trong, thì bản chất của chúng muôn đời vẫn là độc tài, tàn ác và sẵn sàng bán rẻ tiền đồ quốc gia cho ngoại bang để đổi lấy sự bảo bọc ngai vàng quyền lực.

Trước quốc nạn ấy, đồng bào ta ở quốc nội chưa bao giờ chùn bước. Những tiếng nói phản kháng dẫu bị đàn áp khốc liệt, những nhà đấu tranh dân chủ, những nhà báo độc lập dẫu phải mang gông cùm rên xiết trong ngục tối, vẫn là minh chứng hùng hồn cho tinh thần quật khởi của con dân nước Việt. Thế nhưng, nếu chỉ với đôi bàn tay trắng và bầu máu nóng, công cuộc đấu tranh của quốc nội sẽ vô cùng gian truân và chịu nhiều tổn thất trước một bộ máy bạo lực khổng lồ.

Chính vì lẽ đó, sự yểm trợ từ hải ngoại, đặc biệt là trên mặt trận ngoại giao và vận động quốc tế, không chỉ là bổn phận, mà đã trở thành một sứ mạng thiêng liêng và mang tính sống còn.

Kính thưa Đại Hội,

Thế giới ngày nay là một thế giới đại đồng, tương duyên và tương thuộc. Các nền dân chủ Tây phương, dẫu có những lúc bị chi phối bởi quyền lợi kinh tế hay chiến lược địa chính trị nhất thời, thì lăng kính nhân quyền và tự do vẫn là nền tảng đạo đức cốt lõi của họ. Nhiệm vụ của chúng ta – những người Việt tự do tị nạn cộng sản tại hải ngoại – là phải khéo léo dùng chính nghĩa của dân tộc để lay động lương tâm nhân loại, và dùng áp lực quốc tế làm đòn bẩy bẻ gãy gông cùm của bạo quyền.

Chiến lược vận động thế giới của chúng ta cần phải được dồn nỗ lực vào ba trọng điểm thiết yếu sau đây:

Thứ nhất, phải kiên quyết gắn liền Nhân Quyền với Thương Mại và Viện Trợ Ngoại Giao.

Chúng ta phải liên tục dóng lên hồi chuông cảnh báo tới các chính phủ tự do, các định chế tài chính quốc tế và các khối mậu dịch rằng: Mọi sự giao thương, mọi nguồn viện trợ đổ vào tay chế độ độc tài cộng sản tại Việt Nam nếu không kèm theo những điều kiện khắt khe về nhân quyền, thì đó chính là hành động tiếp tay cho kẻ ác, dung túng cho bạo lực. Chúng ta kêu gọi thế giới tự do áp dụng triệt để Đạo luật Magnitsky toàn cầu, vận động cho định danh Quốc Gia Cần Đặc Biệt Quan Tâm, trừng phạt đích danh những kẻ có máu mặt trong bộ máy công an, tòa án và đảng cầm quyền — những kẻ đã trực tiếp ra lệnh đàn áp, bóc lột đồng bào, tước đoạt tự do tôn giáo và giam cầm những người bất đồng chánh kiến.

Kính thưa quý liệt vị,

Nhân nói đến đòn bẩy kinh tế và ngoại giao, chúng ta nhất định không thể bỏ qua một vũ khí chiến lược vô cùng bén nhọn mà thế giới tự do, đặc biệt là Hoa Kỳ, đang nắm giữ: Đó là Đạo luật Thương mại, mà cụ thể là Quan thuế Khoản 301 (Section 301) dưới quyền thực thi của Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR).

Trong nhiều năm qua, nhà cầm quyền cộng sản đã dùng mồ hôi, nước mắt và cả sinh mạng của giới thợ thuyền Việt Nam để trục lợi. Chúng cấm đoán sự hình thành của các nghiệp đoàn độc lập, bóc lột nhân công với mức lương chết đói, dung túng tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng và thậm chí sử dụng cả lao động cưỡng bách trong các trại giam để sản xuất hàng hóa giá rẻ, ồ ạt tuôn đổ vào thị trường Hoa Kỳ và Tây phương. Sự mậu dịch bất công, đầy gian trá này không chỉ lũng đoạn nền kinh tế tự do, mà còn mang lại những nguồn ngoại tệ khổng lồ – nguồn dưỡng khí sinh tử để nuôi béo bộ máy công an trị và các tập đoàn tư bản đỏ.

Quan thuế Khoản 301 của USTR được thiết lập chính là để trừng phạt những quốc gia có hành vi thương mại bất chính, thao túng tiền tệ, và chà đạp các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Do đó, nhiệm vụ khẩn thiết của chúng ta, là phải mở một chiến dịch vận động ráo riết ngay tại Quốc Hội Hoa Kỳ và cơ quan USTR.

Chúng ta phải liên tục đệ trình những bản phúc trình đanh thép, cung cấp bằng chứng xác thực để đòi hỏi Hoa Kỳ phải giáng những đòn quan thuế Khoản 301 thật nặng nề vào các mặt hàng xuất cảng chủ lực của chế độ toàn trị. Phải thuyết phục chính giới Hoa Kỳ thấy rõ rằng: Mỗi đô la lợi nhuận thương mại chảy vào túi bạo quyền cộng sản là một đồng tiền thấm đẫm sự áp bức người dân lao động bất hạnh.

Khi các lệnh trừng phạt kinh tế và quan thuế Khoản 301 được áp dụng triệt để, khi mạch máu ngoại tệ bị tắc nghẽn và túi tiền nuôi dưỡng hệ thống kiêu binh bảo vệ chế độ bị vơi cạn, đó chính là lúc ngai vàng độc tài của chúng phải lung lay tận gốc rễ.

Thứ hai, vạch trần sự xảo trá và hiểm họa của chế độ đối với an ninh khu vực.

Chúng ta cần cho thế giới thấy rõ chế độ công an trị tại Việt Nam không chỉ là kẻ thù của nhân dân trong nước, mà còn là một mắt xích yếu kém và là một nguy cơ cho trật tự tự do tại Châu Á - Thái Bình Dương. Sự nhu nhược, đớn hèn của tập đoàn lãnh đạo trước sự bành trướng của ngoại bang ở Biển Đông là minh chứng rõ rệt cho việc họ sẵn sàng đem giang sơn gấm vóc của tổ tiên ra làm vật tế thần. Bằng cách chỉ rõ sự thật này, chúng ta sẽ thuyết phục được các cường quốc rằng: Chỉ có một nước Việt Nam thật sự dân chủ, do chính nhân dân làm chủ, mới có thể là một đối tác đáng tin cậy và là bức tường thành vững chắc bảo vệ an ninh, tự do hàng hải và hòa bình trong khu vực.

Thứ ba, xây dựng và củng cố tiếng nói thống nhất, uy dũng giữa Quốc Nội và Hải Ngoại.

Kính thưa quý liệt vị, không một cuộc vận động quốc tế nào có thể đạt được thành quả mỹ mãn nếu chúng ta thiếu đi sức mạnh nội lực. Thế giới sẽ chỉ nể trọng và lắng nghe chúng ta khi họ nhìn thấy một tập thể người Việt Nam đoàn kết, có tổ chức, có viễn kiến và có một chương trình hành động rành mạch.

Sự hiện diện của Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam hôm nay chính là biểu tượng sáng ngời cho tinh thần đồng tâm hiệp lực đó. Hải ngoại là cái loa phóng thanh, là nhịp cầu nối kết, là hậu phương vững chắc; nhưng quốc nội mới là chiến trường chính, là linh hồn của cuộc cách mạng dân chủ. Mỗi một bản phúc trình về tình trạng vi phạm nhân quyền, mỗi một thông điệp đẫm máu và nước mắt từ các ngục tù lương tâm ở quê nhà, phải được hải ngoại tiếp nhận, đúc kết và khuếch đại, làm vang dội khắp các hành lang nghị viện của các quốc gia tự do trên toàn thế giới.

Kính thưa quý đại biểu, cùng toàn thể quý chiến hữu,

Chúng ta đều thấu hiểu rằng, công cuộc quang phục quê hương và xây dựng lại nền móng tự do dân chủ cho nước nhà không phải là chuyện một sớm một chiều. Đó là một con đường dài đầy chông gai, đòi hỏi sự kiên tâm, sự hy sinh và một tinh thần bất khuất mang đậm dũng khí của con cháu Bà Trưng, Bà Triệu.

Những kẻ độc tài có thể dùng súng đạn để bịt miệng người dân, có thể dùng ngục tù để giam hãm thể xác của những người yêu nước, nhưng chúng quyết không thể nào giam hãm được linh hồn và khát vọng tự do của một dân tộc đã có bốn ngàn năm văn hiến. Lịch sử nhân loại đã chứng minh, không một bạo quyền nào có thể tồn tại mãi mãi trước sức mạnh cuồng phong của lòng dân.

Liên Minh Vì Dân Chủ Cho Việt Nam tha thiết kêu gọi sự đồng hành, sát cánh của quý hội đoàn, quý nhân sĩ và toàn thể quốc dân đồng bào. Chúng ta hãy cùng nhau gác lại những dị biệt tiểu tiết, hãy lấy đại cuộc của non sông làm trọng, để kết thành một khối thép vững chắc. Với chính nghĩa sáng ngời của dân tộc, cộng hưởng cùng sự vận động và yểm trợ mạnh mẽ từ bức tường thành của thế giới tự do, chúng ta có một niềm tin sắt đá rằng: Ngày tàn của bạo quyền độc tài trên quê hương thân yêu của chúng ta đã không còn xa.

Liên Minh Vì Dân Chủ Cho Việt Nam 



Thông Cáo Báo Chí Về Kết Quả Đại Hội Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam 2026 Tại Orlando, Florida



THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ KẾT QUẢ ĐẠI HỘI LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM 2026 TẠI ORLANDO, FLORIDA
Ban Tổ Chức

Thông Cáo Báo Chí

Về Kết Quả Đại Hội Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam 2026 tại Orlando, Florida Orlando, Florida, ngày 9 tháng 8 năm 2026 Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam trân trọng thông báo:

Đại Hội Liên Kết Quốc Nội – Hải Ngoại Việt Nam 2026 đã được tổ chức trong hai ngày 8 và 9 tháng 8 năm 2026 tại Trung Tâm Văn Hóa Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Trung Tâm Florida, Orlando, Florida, Hoa Kỳ.

Đại Hội quy tụ đại diện các tôn giáo, cộng đồng, tổ chức, đoàn thể, chính đảng, nhân sĩ, trí thức, truyền thông, chuyên gia, doanh nhân, cựu quân nhân, giới trẻ và đồng bào Việt Nam đến từ nhiều địa phương tại Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu và các nơi khác. Một số chức sắc tôn giáo và đại diện từ Việt Nam cũng gửi thư chúc mừng Đại Hội.

Sau hai ngày làm việc, Đại Hội đã đạt được những kết quả chính:

1. Tu chính và kiện toàn Nội Quy, củng cố cơ cấu tổ chức và phương thức sinh hoạt của Hội Đồng.

2. Mở rộng sự liên kết đến các cộng đồng, tổ chức, tôn giáo, đoàn thể, nhân sĩ, giới truyền thông và đặc biệt là thế hệ trẻ Việt Nam trên toàn thế giới.

3. Thông qua chương trình hành động tổng quát về nhân quyền, tự do tôn giáo, tù nhân lương tâm, quốc tế vận, truyền thông, văn hóa, chủ quyền quốc gia, yểm trợ quốc nội và xây dựng thế hệ kế tiếp.

4. Đề cử bổ sung LM Nguyễn Hữu Lễ, Ông Huỳnh Công Ánh và GS Nguyễn Chính Kết vào Hội

Đồng Chủ Tịch; đồng thời thành lập chín Văn Phòng Đại Diện tại nhiều địa phương.

5. Đổi danh xưng Ban Điều Hành thành Hội Đồng Điều Hành và bầu BS Võ Đình Hữu làm Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành.

Đại Hội tái xác định lập trường đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng, không Cộng Sản; kêu gọi nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam tôn trọng các quyền căn bản của người dân, chấm dứt đàn áp tôn giáo và những người bất đồng chính kiến, trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm, và trả lại quyền làm chủ đất nước cho toàn dân thông qua bầu cử tự do, dân chủ, có sự giám sát quốc tế.

Đại Hội cũng khẳng định lập trường bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế tiếp tục hỗ trợ những nỗ lực ôn hòa nhằm thúc đẩy tự do, dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam.

Đặc biệt, chiều Chủ Nhật, ngày 9 tháng 8, Đại Hội phối hợp với Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Trung Tâm Florida long trọng tổ chức Lễ Tôn Vinh Cờ Vàng, khẳng định Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng của truyền thống dân tộc, tinh thần tự do, chính nghĩa quốc gia và khát vọng dân chủ của người Việt Nam. Đại diện các thế hệ hậu duệ Việt Nam Cộng Hòa cũng phát biểu về trách nhiệm tiếp nối lý tưởng tự do và dân chủ.

Hội Đồng trân trọng kêu gọi đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, đặc biệt thế hệ trẻ, tiếp tục tham gia và hỗ trợ công cuộc Liên Kết Quốc Nội – Hải Ngoại, cùng tạo dựng sức mạnh chung cho tương lai Việt Nam.

Trân trọng,

HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI HẢI NGOẠI VIỆT NAM

Liên lạc Ban Tổ Chức:
Ô. Lưu Văn Tươi, Trưởng Ban – (407) 491-9299. Email: tuoiluu4905@gmail.com
Bà Nguyễn Tố Anh, Chủ tịch CĐNVQG Trung Tâm Florida – (352) 408-5709. Email: toanh48@yahoo.com
BS Đỗ Văn Hội – (407) 234-3596. Email: hoivando@gmail.com
Nhân sĩ Nguyễn Trung Châu – (917) 450-4259. Email: chauflorida4032@gmail.com
Nhân sĩ Lê Thanh Liêm – (561) 460-7988. Email: Anthonyle65@gmail.com
BS Võ Đình Hữu, Trưởng Ban Điều Hành HĐLK/QNHN/VN: Drhvo@yahoo.com
Email Hội Đồng: lienket.qnhn@gmail.com. Website: www.lienketqnhn.org
Xem Các tin tức về đại hội: Website: www.lienketqnhn.org
Đài OVM4TV (THVN Hải Ngoại): Phần I: https://www.youtube.com/watch?v=1s49Y8W95kM&t=24s
Đài SBTN: https://www.youtube.com/watch?v=AO7EofHAt7w&authuser=0

Kính mời quý vị theo dõi 



Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

Phân Ưu Bà Trần Thị Ngọc Loan (CHSNH - K64-71)

 






PHÂN ƯU BÀ TRẦN THỊ NGỌC LOAN (CHSNH - K64-71)
Vô Cùng Thương Tiếc 

Trân trọng 
NHHN 

Đáng Chi Đâu

 


ĐÁNG CHI ĐÂU
Biếm Thị Tha Hương


ĐÁNG CHI ĐÂU 

Hôn môi chút xíu đọ tài nhau
Sao cả trần gian phải lắc đầu ?!
Ống kính chỉ dòm ngay một chỗ
Tấm hình còn gởi khắp năm châu !
Chị ôm chức phó đo giường giỏi
Anh cướp ngôi vua cuỗm vợ ngầu
Gia phả cháu con nằm lộn ổ ...
Thì bà mi miệng đáng chi đâu !
*
Tha Hương
11/02/2023


Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 


Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

Đi Coi Mắt Vợ

 

Hình minh họa (internet)

ĐI COI MẮT VỢ 
Lê Đức Luận 

Ông Tư là người nhiều chuyện - nhiều chuyện ở đây không phải là “ngồi lê đôi mách”, mà là những chuyện thời sự nóng bỏng “giật gân” ông “lượm” được trên Internet, YouTube hay trên truyền thông, truyền hình, rồi thêm vào những nhận định của mình để nói cho bà con nghe chơi.

Trời sinh ông Tư cái tật hay nói — không được nói, ông cảm thấy bức bối như không khí thiếu oxy, như bữa ăn thiếu nước mắm.

Trải qua tám mươi năm cuộc đời, có một thời gian ông phải kiềm chế lời nói. Đó là những ngày sau năm 1975, khi phải sống dưới chế độ cộng sản ở quê nhà. Nói nhiều mà sai chính sách, chúng nó cho đi “mò tôm” (1) hay đưa vào trại tập trung cải tạo ngồi “bóc lịch” (2) và đi lao động khổ sai mút mùa…thì đời tàn trong ngõ hẹp.

Bởi vậy, ông vừa ngán vừa chán nên tìm đường vượt biên sang Mỹ.

Khi được sống trong đất nước tự do, ông tha hồ nói cho thỏa chí bình sinh. Nhưng ngày nay, công nghệ thông tin ở Mỹ tiến bộ quá nhanh - chỉ cần một chiếc điện thoại cầm tay hay lướt qua bàn phím máy vi tính (computer) - Internet cho biết đầy đủ mọi tin tức thời sự, hoặc hỏi “ông Google” hay “ông AI”, người ta sẽ biết được các chuyện đông tây kim cổ.


Lời nói của ông Tư đâm ra thừa!
Nhưng nói là cái tật trời sinh — ông không bỏ được…
Bạn bè gọi ông là nhà bình luận thời sự chính trị.

Nhưng ngày nay lại xuất hiện nhiều “nhà bình luận” về thời sự. Họ bình luận theo “đơn đặt hàng”, theo phe nhóm, theo đảng phái. Họ tranh cãi, nhục mạ nhau bằng ngôn từ thiếu văn hóa — qua đó bộc lộ tính “bát nháo” trong ngành truyền thông.

Dần dà, những lời nói trung thực và tâm huyết của ông Tư hầu như lạc lõng giữa đám truyền thông “bát nháo” - dân ta coi những lời bình luận đó như gió thoảng, mây trôi…đôi khi còn bảo: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi…”

Bởi vậy, bây giờ ông Tư chuyển sang kể chuyện đời xưa.

Chuyện đời xưa - ông kể - chỉ cách nay mấy mươi năm thôi, chứ không phải truyện cổ tích. Đó là những chuyện về phong tục, tập quán ở quê hương nghèo khó của ông - mô tả sự nhân nghĩa, đạo đức và cái khôn ngoan thâm thúy của người xưa. Những điều người ta không tìm thấy trên Google, hỏi “ông AI” cũng ú ớ — không trả lời được. Cho nên đám trẻ rất thích nghe ông Tư kể chuyện “đời xưa”.

Vậy là có đất dụng võ, ông cảm thấy vui khi biết mình chưa đến nỗi vô dụng.

Hôm nay, ông kể một chuyện vui - “đi coi mắt vợ”:

Năm ấy, tôi mười hai tuổi, anh tôi mười sáu. Tuy lớn hơn bốn tuổi, nhưng anh tôi vẫn còn khờ lắm. Trong chín năm kháng chiến, ở những vùng Việt Minh kiểm soát, đa số thanh thiếu niên nam nữ học hết bậc tiểu học thì ở nhà giúp cha mẹ làm công việc đồng áng, chứ không phải như sau này, vào lứa tuổi đó thường ra tỉnh học tiếp bậc trung học.

Ở làng quê, thời đó, khi xong vụ mùa, được rảnh rang nhưng không có nhiều trò chơi giải trí. Ngoài các trò chơi dân dã như cút bắt, bịt mắt bắt dê, kéo co, nhảy dây, đá cầu…, anh tôi còn thích nhập bọn với mấy đứa con nít trong xóm để chơi đánh đáo, bắn bi, đánh trổng, thả diều.

Vào một buổi sáng mùa xuân — trời trong, gió nhẹ, anh tôi chơi thả diều ngoài đồng cùng bọn trẻ trong xóm — diều đang lộng gió lên cao, đám trẻ vỗ tay reo hò tán thưởng… Anh tôi thích lắm, nhưng bị mẹ gọi về.

Dù đang vui chơi với buổi thả diều hào hứng, anh tôi vẫn không dám trái lời mẹ, thu dây diều và trở về nhà. Vừa vào đến sân đã nghe mẹ bảo:

- Con rửa mặt, thay đồ, đi với mẹ và bà Năm đến nhà ông Xã Hai.
- Đến nhà ông Xã Hai làm gì vậy, mẹ? Anh tôi hỏi.
- Vào thay đồ nhanh lên, đi đến đó sẽ biết. Mẹ tôi bảo.

Trông mẹ và bà Năm mặc áo dài và có vẻ chải chuốt, anh tôi lấy làm
lạ, không muốn đi cùng, nên nói:

- Thôi, mẹ đi với bà Năm - con không đi đâu.
- Ô hay! Cái thằng này nói ngộ thiệt — đi là lo việc cho mày — không có mặt mày thì tao với bà Năm sang đó làm gì. Mẹ tôi nói gắt.

Bà Năm là người ở làng bên, chuyên làm công việc mai mối lương duyên, tiếng địa phương gọi đầy đủ là “bà mai dong”. Bà có khiếu ăn nói - thuyết phục lòng người rất tài, nên bà lên tiếng tiếp lời mẹ tôi:

- Hôm nay, mẹ con và bác dẫn con qua nhà ông Xã Hai là “đi coi mắt
vợ” đấy.

Bà tưởng nói thế anh tôi sẽ hăng hái cùng đi, không ngờ bị phản ứng ngược - anh tôi đổ quạu, mặt mày sưng sỉa, nói cộc lốc:

- Tui không đi đâu hết. Rồi bước ra sân.

Mẹ tôi ngỡ ngàng. Lần đầu tiên nghe thằng con nói hỗn. Bà Năm cũng ngạc nhiên trước thái độ và lời nói của anh tôi.

Hôm nay, bà bị tổ trác!

Ngày xưa, ở làng quê có hai bà được dân làng quý trọng: bà mụ và bà
mai. Bà mụ đón một đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời — thời nay người ta gọi là “nữ hộ sinh” làm việc trong bệnh viện. Bà mai làm mối cho đôi trai gái nên duyên vợ chồng — thời nay gọi là “chuyên viên tư vấn hôn nhân”. Bà mụ mở cánh cửa cho cuộc sống. Bà mai mở cánh cửa cho hôn nhân - cả hai đều không treo bảng hiệu, cũng không đăng quảng cáo. Uy tín của họ được gầy dựng bằng cái tâm và lời đồn từ làng trên, xóm dưới. Công việc họ làm không có giá cả hay tiêu chuẩn nào nhất định.

Thù lao cho công việc tùy thuộc vào lòng hảo tâm của thân chủ.

Vào dịp mồng Năm, ngày Tết, hai bà nhận được một vài món quà kỷ
niệm như xấp vải, bộ đồ trà, cái cơi trầu… hoặc những đặc sản như cân đường, giạ nếp, chai mật ong, gói trà, con gà, trái bí - coi như thù lao cho công khó. Nhưng niềm vui lớn nhất của hai bà là được đón nhận tấm lòng quý trọng của dân làng.

Hôm nay, anh tôi có thái độ vô lễ, không nghe lời bà Năm đề nghị, lại đổ quạu, định bỏ ra ngoài… Mẹ tôi giận sôi gan trước lời nói và thái độ thiếu tôn trọng của thằng con trai đối với bà Năm. Mẹ tôi quát:

- Mày tính đi đâu đó? Đứng lại, nghe tao bảo.

Lần đầu tiên thấy mẹ nổi giận với anh. Mẹ tôi cưng anh nhất nhà. Có những lúc anh tôi ngang ngược, mẹ vẫn dịu giọng và chiều theo ý anh tôi, làm tôi phát ghen, vì tôi bị mẹ đánh đòn đôi lần, nhưng anh tôi thì chưa bao giờ.

Thế mà lần này, mẹ vừa nói vừa lấy cây chổi lông gà nhịp nhịp lên trên bàn.

Anh tôi không dám bỏ đi, đứng dựa vào cây cột trước hàng hiên, mẹ tôi tiến đến gần, tay vẫn cầm chiếc chổi lông gà, xẵng giọng:

- Mày có đi không thì bảo?

Khi mẹ đến gần, anh tôi chạy qua ôm một cây cột khác. Cứ thế, mẹ con đuổi theo nhau như đang chơi trò cút bắt.

Cha tôi ngồi uống trà, thấy cảnh mẹ con đuổi theo nhau, ông mỉm cười. Nhưng nhớ đến bệnh đau tim của vợ, sợ xảy ra chuyện không hay, cha tôi ôn tồn bảo: “Thôi, bà lại nói chuyện với bà Năm, để tôi khuyên nó.”

Cha tôi quay qua phía anh tôi, nhỏ nhẹ:

- Hảo này (Hảo là tên anh tôi) - “đi coi mắt vợ” như đi chơi vậy mà.

Con đem theo cái ná cao su, đến đó nếu thích thì ngồi nghe người lớn
nói chuyện, không thích thì ra ngoài bắn chim. Vườn nhà ông Xã Hai
rộng lắm, có rất nhiều chim và cây ăn trái - tha hồ bắn chim và ăn trái
cây.

Cha tôi biết thằng con trai thích bắn chim, nên đưa ra đề nghị như vậy. Không ngờ có kết quả.

Nét mặt anh tôi không còn cau có, nói:

- Bảo “đi coi mắt vợ” thì con không thích. Con rất ghét nghe tiếng ấy.
- Tại sao con lại ghét nghe tiếng ấy? Cha tôi hỏi.

Anh tôi chậm rãi trả lời:

- Con thấy thằng Hùng ở xóm trên, sau khi “đi coi mắt vợ” về, nó cứ ngẩn ngơ như người mất hồn. Nó không còn muốn chơi với đám tụi con nữa. Cái mặt nó câng câng như thằng dở hơi. Cho nên, con không thích “đi coi mắt vợ”.

Cha tôi sành tâm lý, nên cười hiền rồi nói khích:

- Thì ra thế! Nhưng nó khác với con. Nó khờ khạo, còn con khôn ngoan, lanh lợi hơn nó, làm gì có chuyện ngẩn ngơ sau khi “đi coi mắt vợ”. Con nên đi một lần cho biết với người ta - vừa cho mẹ con vui, vừa không làm mích lòng bà Năm, lại được bắn chim, ăn trái cây và nhìn con gái đẹp.

Những lời nói khích của cha khiến anh tôi thay đổi thái độ và đồng ý đi theo mẹ và bà Năm.

Cả nhà đều vui. Chuyện “đi coi mắt vợ” của anh tôi coi như đã êm xuôi. Nhưng điều đáng nói là những ngày sau đó, anh tôi không còn nhập bọn với đám con nít tụi tôi đánh đáo, thả diều… mà len lén một mình qua vườn nhà ông Xã Hai — “bắn chim”.

Chuyện tình của anh tôi sau đó diễn tiến thế nào, tôi không rõ, chỉ nghe mẹ kể lại: Hôm đến nhà ông Xã Hai, anh tôi ra vườn bắn chim.

Con gái ông Xã Hai, lớn hơn anh tôi hai tuổi, cùng ra vườn chơi với anh tôi, cho anh tôi ăn ổi và uống nước dừa xiêm. Không hiểu là do mùi thơm của quả ổi, hay vị ngọt của nước dừa xiêm, hay do cái duyên dáng cùng lời nói dịu dàng của người con gái khiến anh tôi lưu luyến…

Những ngày tháng sau đó, không ai bảo, anh tôi tự động đến nhà ông Xã Hai, tự nguyện xin làm việc không lấy tiền công như đập lúa, phơi rơm… Một năm sau, anh tôi đòi mẹ cưới vợ - không ai khác hơn là con gái ông Xã Hai.

Bây giờ, trên đất khách, vào ngày giỗ, ngày Tết… anh em gặp nhau cùng con cháu sum vầy, tôi thường kể lại chuyện “đi bắn chim” và “đi coi mắt vợ” của anh tôi, cho con cháu nghe chơi.

Anh tôi cười hì hì…nói với mọi người: “Chuyện tình yêu, hôn nhân ngày xưa coi vậy mà lãng mạn, lại bền. Thời đó, bà mai có con mắt tinh đời: nhìn chàng trai xách đôi thùng nước hay vác cái cày, cái bừa ra ruộng; rồi nhìn cô gái quang gánh qua sân đình là đoán biết họ có hợp nhau hay không để làm mai, làm mối - se duyên vợ chồng. Kết quả là họ sống với nhau đến đầu bạc răng long, con cháu đầy đàn.”

“Ngày nay, bà mai là cái máy vi tính (computer) - có cả một đội ngũ kỹ sư viết lập trình (programming) - phân tích tinh vi: sở thích, cách suy nghĩ, nghề nghiệp, thu nhập…của đôi trai gái - rồi hứa hẹn tìm người phối ngẫu hoàn hảo. Thế mà ly hôn vẫn xảy ra hà rầm. Có lẽ cái máy vi tính ghép dữ liệu giỏi, nhưng chưa ghép được nhịp đập của hai con tim.”

Anh tôi kể tiếp: “Một ông hàng xóm có thằng con trai đến bốn mươi tuổi đầu mà vẫn còn độc thân. Nghe chuyện hôn nhân của anh tôi do mai mối, ông ta cũng muốn nhờ một bà mai kiếm vợ cho nó. Nhưng thằng con bảo: “Xưa rồi!” Nó sẽ tìm vợ qua máy vi tính — không cần bà mai.”

Chưa có thống kê nào nói rõ tỷ lệ hôn nhân qua Internet, nhưng xem đám con cháu trong nhà thì mười đứa đã có bảy đứa lập gia đình nhờ Internet kết nối. Ông Tư bảo: Đó là những “cuộc hôn nhân Internet”.

Ông Tư thường nói: Ngày nay, đám trẻ “nhấp chuột” (click mouse) là bắt gặp tình yêu — thực dụng theo kiểu “mì ăn liền”. Ngày xưa, ông bà mình tỏ tình qua lời nói xa gần rất ý nhị - cụ thể như bài ca dao phổ biến trong dân gian: “Hôm qua tát nước đầu đình/ Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen/ Em được thì cho anh xin/ Hay là em để làm tin trong nhà/Áo anh đứt chỉ đường tà/ Vợ anh chưa có,mẹ già chưa khâu… Khâu rồi anh sẽ trả công/ Đến khi lấy chồng anh lại giúp cho…”

Đây đã là một bước tiến bộ - trực tiếp ngỏ lời. Chứ thời xa xưa hơn nữa, muốn tiến đến hôn nhân trước tiên phải nhờ bà mai. Bà mai lặn lội hết ngõ này sang xóm khác - dò hỏi gia phong, xem nết ăn, nết ở của đôi trai gái mới đánh tiếng mai mối.

Xong việc bà mai, còn phải sang ông thầy bói nhờ xem tuổi — có “hạp tuổi” mới tiến đến hôn nhân.

Trong dân gian, quan niệm chọn tuổi thông thường là: “nhất gái lớn hai, nhì trai lớn một” hoặc “tam hợp”. Tam hợp là sự kết hợp của 3 con giáp trong Thập Nhị Địa Chi được cho là hợp tuổi, dễ hòa thuận và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống hôn nhân.

Có 4 nhóm tam hợp: Thân - Tý - Thìn
Tỵ - Dậu - Sửu
Dần - Ngọ - Tuất
Hợi - Mẹo - Mùi

Nhưng có 3 nhóm khắc tuổi, gọi là “tứ hành xung” - cần xem xét kỹ trước khi tiến đến hôn nhân: 

Tý - Ngọ - Mẹo - Dậu
Thìn - Tuất - Sửu - Mùi
Dần - Thân - Tỵ - Hợi.

Trong trường hợp đôi trai gái thương nhau mà bị khắc “tứ hành xung” thì phải nhờ ông thầy bói xem tuổi lại. Ông thầy bói kết hợp Thập Thiên Can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) với Thập Nhị Địa Chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) và Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thồ) tương sanh, tương khắc để hóa giải cho đôi trẻ tiến đến hôn nhân (3).

Quan niệm dân gian và phong tục truyền thống được rút ra từ kinh nghiệm cuộc sống lứa đôi — khoa học không thể chứng minh được. Bởi vậy, có nhiều truyện ngắn viết về hôn nhân rất tếu: Một chàng tuổi Hợi (con heo) thương nàng tuổi Dần (con cọp). Về nhà, mẹ cản: “Lấy con gái tuổi Dần, tàn đời con ơi!” Nhưng thương quá, ông cưới đại. Sau đó, người ta thấy: “con cọp” dịu dàng, dễ thương như “con mèo”; gia đình hạnh phúc, ăn nên làm ra - “con cọp” đâu có xơi tái “con heo” và đã cùng “con heo” sinh bầy con sáu đứa - lớn lên học hành giỏi giang, thành đạt. Ông tuổi con heo qua tuổi tám mươi vẫn còn khỏe mạnh, yêu đời.

Ông Tư kể tiếp về lễ nghĩa, sự khôn ngoan thâm thúy của người xưa so với sự thực dụng của người đời nay. Ngày xưa, cha mẹ “đặt đâu con ngồi đó”. Trường hợp những đôi trai gái lén lút thương nhau, không qua sự đặt để của cha, nhưng sợ bị cha mẹ trách mắng, nên trong dân gian có câu ca dao: “Thương nhau cởi áo cho nhau/ Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay” rồi được đưa vào âm nhạc qua làn điệu Quan họ Bắc Ninh nổi tiếng với tên “Qua Cầu gió Bay”: “Yêu nhau cởi áo ối à trao nhau/ Về nhà dối rằng, cha dối mẹ/ rằng a ối a qua cầu, tình tình tình… gió bay…”.

Điều đó chứng tỏ cha mẹ vẫn còn cái uy với con cái.

Ông thêm rằng: Nhớ lại mà thương các bậc cha mẹ khi sang Mỹ vào khoảng thập niên tám mươi, dẫn theo mấy đứa con đến tuổi cập kê. Lúc ấy, người Việt ở Mỹ chưa đông, khi gặp nhau ở chùa, ở nhà thờ, ngoài chợ, trong shopping mall thì mừng lắm — tiếu tít xin số phone, địa chỉ… Ngoài việc để gắn bó tình đồng hương, còn có ẩn ý là một mai làm đám cưới cho con sẽ mời được năm bảy chục khách. Bởi thế, mới có chuyện buồn cười: Một ngày đẹp trời, nhà nọ nhận được một thiệp cưới - vợ hỏi chồng, chồng hỏi vợ: “Người gởi thiệp cưới là ai vậy - quen biết thế nào?” Cả hai vợ chồng đều ú ớ, nhưng đến ngày cũng đến tham dự và nhủ lòng: “Sau này, đám cưới con mình sẽ mời lại.”

Ông Tư kể tiếp một tục lệ ngày xưa: Sau đám cưới 2 ngày, đôi tân hôn dẫn nhau về thăm nhạc gia, gọi là ngày “nhị hỷ”. Chàng rể mang theo lễ vật là cái đầu heo. Cả nhà gái đều chăm chú nhìn cái đầu heo. Nếu đầu heo còn đủ hai tai, coi như mọi việc tốt đẹp. Nếu nhìn thấy đầu heo bị xẻo mất một tai, ông bà nhạc hiểu rằng con gái mình không còn trinh trắng trước hôn nhân. Đây là “thông điệp” thầm lặng nhưng rất thâm thúy trong lối giáo dục của người xưa. Xấu hổ biết bao khi cả nhà gái nhìn cái đầu heo chỉ còn một tai!? Cho nên người con gái cố giữ trinh tiết cho đến ngày thành hôn.

Ông Tư còn nêu lên những câu tục ngữ có vẻ mộc mạc nhưng mang ý nghĩa sâu sắc, rút tỉa từ túi khôn của người xưa để truyền dạy kinh nghiệm cho con cháu trong việc tìm bạn trăm năm, như:

“Chọn vợ xem tông, chọn chồng xem giống” - “xem tông” mang ý nghĩa coi trọng gia phong, nề nếp gia đình; “xem giống” là xem xét dòng dõi, truyền thống (di truyền - gen).

Ca dao tục ngữ còn có những câu:

“Trai khôn tìm vợ chợ đông.
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”

Hàm ý: Người con trai nên mở rộng giao tiếp để có cơ hội gặp gỡ nhiều cô gái - chọn người phù hợp; còn người con gái tìm chốn ba quân là nơi quân đội đồn trú hoặc những nơi có những chàng trai có lý tưởng, có chí khí để tìm người bạn đời.

Ông Tư còn nói về cách bày tỏ tình yêu qua thơ văn. Ngày xưa Nguyễn Bính làm thơ:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa cô đơn
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi
Giá đừng có giậu mồng tơi.
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng…

Trời ơi! Chỉ cách có một giậu mồng tơi mà Nguyễn Bính không dám sang mà phải nằm mơ nhờ con bướm trắng:

Bướm ơi bướm hãy vào đây
Cho ta hỏi nhỏ câu này chút thôi

Vừa nhờ con bươm bướm trắng vừa lén nhìn nàng:

Mắt nàng đăm đắm trông lên
(thì) Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi
Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi
Tôi buồn tự hỏi: hay tôi yêu nàng?

Ông Tư nhận xét: Nguyễn Bính ngày xưa ngây ngô đến buồn cười - chỉ cách nhau “cái giậu mồng tơi” mà không dám “sang chơi thăm nàng” để tỏ tình. Cuối cùng, tự thán: “Hay tôi yêu nàng?”

Không biết ngoài đời Nguyễn Bính có “ ngây ngô” hay không, nhưng khi đọc bài thơ Cô Hàng Xóm, người ta thấy cái ngây ngô rất duyên dáng của Nguyễn Bính - mang vẻ chơn chất, ngây thơ và vụng về trong tình yêu.

Ngày nay, không có cảnh ấy đâu — một cái “nhấp chuột” đã bắt được tình yêu ở tận bên kia Thái Bình Dương.

Nguyễn Bính còn có mấy câu thơ để đời:

Thôn Đoài ngồi nhớ thông Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.(4)

- Bây giờ, bệnh tương tư và thất tình hầu như đã biến mất khỏi hồ sơ bệnh án. Tìm đâu ra một chàng Trương Chi và một nàng Mỵ Nương trong giới trẻ ngày nay? Chỉ có chuyện tình Ngưu Lang - Chức Nữ còn chút hơi hướng giống với những chuyện tình ngày nay. Ngưu Lang - Chức Nữ yêu nhau nhưng bị chia cắt bởi dòng sông Ngân, mỗi năm chỉ gặp nhau một lần vào ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch trên chiếc cầu Ô Thước nhờ đàn quạ bắc qua sông. Tưởng tượng đàn quạ như Internet, kết nối hai kẻ yêu nhau trong thời đại công nghệ thông tin.

Ông Tư đưa ra nhận định như trên, được đám trẻ đồng tình.
Được thể, ông Tư hỏi đám trẻ:

- Trong bài thơ Hai Sắc Hoa Ti-gôn, TTKH hỏi người tình:

“Nếu biết rằng tôi đã có chồng.
Trời ơi, người ấy có buồn không?”

Thời bây giờ, nếu người tình bỏ các anh đi lấy chồng, rồi mượn hai câu thơ ấy để hỏi - các anh sẽ trả lời như thế nào?

Một anh trong nhóm trẻ đáp ngay:

- “Nếu biết rằng em đã có chồng/
Anh vào “nhấp chuột”, thế là xong.

Ông Tư xoa tay, nói:

- Vậy thì phũ phàng quá! Ngày xưa, ông Tơ, bà Nguyệt ngồi trên cung trăng, xe sợi tơ hồng - nếu chỉ đứt, tơ vò còn “hạ thủ lưu tình” nối lại đường tơ. Bây giờ ông Google, bà Internet ở trong mây (cloud), nếu tình duyên trắc trở thì phát ra tín hiệu: “No results found” hay “Connection lost” — coi như chấm dứt một cuộc tình. Vậy thì quá bẽ bàng!

Ông Tư tự thán: Ông Google, bà Internet mới xuất hiện mấy mươi năm thôi đã khiến lòng người phũ phàng đến thế. Bây giờ thêm ông AI, không biết trong tương lai “nhân tình thế thái” sẽ như thế nào?

Cảm thấy buồn… ông Tư ra ngoài hiên hút thuốc.

LÊ ĐỨC LUẬN
(Tháng 8 - 2026)

(1) “Mò tôm” là thủ tiêu người chống đối bằng cách treo cục đá lên cổ, rồi dìm xuống sông.
(2) “Gỡ lịch” là ngồi tù.
(3) Muốn hiểu rõ, tìm đọc sách coi tuổi. Ở đây chỉ nêu lên vài thí dụ: Tương sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
(4) Bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính.


Hình minh họa (internet)