Bài 63
TÂN THÀNH ĐẠO TRUNG NHỊ THỦ 新城道中二首
TÂN THÀNH ĐẠO TRUNG 新城道中
(KỲ NHẤT) (其一)
Đông phong tri ngã dục sơn hành, 東風知我欲山行,
Xuy đoạn thiềm gian tích vũ thanh. 吹斷檐間積雨聲。
Lĩnh thượng tình vân phi nhứ mạo, 嶺上晴雲披絮帽,
Thụ đầu sơ nhật quải đồng chinh. 樹頭初日挂銅鉦。
Dã đào hàm tiếu trúc ly đoản, 野桃含笑竹籬短,
Khê liễu tự dao sa thuỷ thanh. 溪柳自搖沙水清。
Tây yêm nhân gia ưng tối lạc, 西崦人家應最樂,
Chử cần thiêu duẩn hướng xuân canh. 煮芹燒筍餉春耕。
Dịch nghĩa:
Cơn gió đông như biết ta đang muốn lên đường vào núi, - Nên thổi dứt tiếng mưa còn đọng trên mái hiên! – Đám mây sau cơn mưa tạnh trên đỉnh núi như đang đội chiếc mũ bông trắng, - Mặt trời mới mọc treo trên ngọn cây như chiếc chiêng đồng. (c.1-4)
Hoa đào dại như cười mỉm bên hàng rào tre thấp, - Liễu ven suối tự lay bóng mình trên làn cát nước trong vắt. – Nhà của người dân ở sườn núi phía tây có lẽ là rất vui! – Họ nấu rau cần, nướng măng non đưa thức ăn cho người đang cày ruộng mùa xuân.
Tạm chuyển lục bát:
ĐƯỜNG ĐẾN TÂN THÀNH (Bài 1)
Biết ta vào núi - gió đông,
Thổi mưa dứt tiếng đọng còn mái hiên!
Tạnh mưa, núi đội mây mềm,
Chiêng đồng treo ngọn cây trên sớm trời.
Rào tre, đào dại mỉm cười,
Liễu lay cát suối, nước ngời ngời trong.
Non tây vui hẳn nhà dân!
Thức ăn măng nướng, rau cần cày xuân.
Chú thích:
**Đây là một bài thơ cho thấy tinh thần “an nhiên tự tại” của Tô Đông Pha trong cách thế nhìn nhận sự vật chung quanh. Nếu Nguyễn Du của chúng ta trong Đoạn Trường Tân Thanh hoặc trong nhiều bài thơ chữ Hán như Sơ Thu Cảm Hứng, Sở Vọng, Vọng Tương Sơn Tự (xem Bắc Hành Tạp Lục - Bài 37,38,39 đã đăng)...v...v.. thường gợi cho chúng ta cái nhìn hiện thực nhưng đầy bi cảm trước cảnh vật vô thường. Tô Đông Pha không bi đát hóa cảnh vật vô thường mà nhìn trong tâm thế an nhiên và có niềm vui trước cảnh vật khi ông tham dự trọn vẹn vào hữu thể sinh động. Đông Pha đón nhận với niềm vui khi mưa dứt có mây trắng nhẹ nhàng bay; ông vui khi mặt trời mới mọc tựa như chiếc chiêng đồng treo ngọn cây; ông vui lúc ngắm hoa đào hoang dại, rặng liễu khẽ lay in bóng trên dòng suối có cát trong vắt; ông vui khi hoa mới nở mỉm cười và lại vui khi xem người dân nấu rau cần hay nướng măng để ăn uống thêm sức cho vụ cày mùa xuân...v...v.. Nhà thơ để cho cảnh vật tham dự và hòa vui với tâm cảm ung dung của mình. Ngọn gió đông và cảnh vật trong bài thơ được nhân cách hóa để mong muốn làm bạn bè cùng tham dự với niềm vui của nhà thơ để lên đường. Thiên nhiên đầy sức sống trong toàn bài thơ !....Trong câu cuối cùng, thức ăn dân giả của thiên nhiên như rau cần, măng nướng ...v.v... cho thấy tâm hồn nhà thơ cũng giản dị và gần gũi với nông dân. Đó là cách sống của một người thấu rõ nguyên lý của Thiền gia và cốt cách “mộc nột cận nhân 木訥近仁” (sự đơn giản, mộc mạc gần gũi với đức Nhân – Khổng Tử) của Nho gia và Đạo gia!
- Tân Thành 新城: Tân thành trong bài thơ của Tô Thức chính là huyện Tân Thành thời nhà Đường và Bắc Tống bên Trung Hoa, nay là thị trấn Tân Đăng, nằm trong vùng Hàng Châu. Thời Đường, huyện có tên là Tân Thành 新城縣. Đến thời Ngũ Đại, để tránh húy cha của Chu Ôn (Lương Thái Tổ), huyện được đổi tên thành Tân Đăng 新登. Khi nhà Tống thống nhất Trung Hoa (năm 979), địa phương lại đổi về tên Tân Thành. Vì vậy, vào thời Tô Thức, địa danh chính thức vẫn là Tân Thành. Năm Hy Ninh thứ sáu (1073), Tô Thức đang giữ chức Thông phán Hàng Châu. Một trong những nhiệm vụ của ông là đi tuần tra các huyện thuộc Hàng Châu, xem xét việc trị thủy, nông nghiệp và dân sinh.
Trong chuyến công cán ấy, ông từ Hàng Châu đi về phía tây nam qua huyện Phú Dương rồi đến huyện Tân Thành. Chính trên con đường núi này, sau nhiều ngày mưa xuân, ông đã sáng tác hai bài "Tân Thành đạo trung 新城道中二首”.Người đời sau đã quen gọi là Đông Pha cổ đạo 东坡古道 hay Tân Thành đạo 新城道 để kỷ niệm con đường Tô Đông Pha từng đi qua.
- xuy đoạn 吹斷: gió thổi chấm dứt hay cắt đứt một vật nào đó. Ở đây, gió thổi làm bặt tiếng mưa rơi còn sót đọng lại...
- tích vũ thanh 積雨聲: tiếng mưa rơi còn sót đọng lại...
- tình vân 晴雲: đám mây sau khi trời mưa tạnh, mây khi trời quang đãng...Tô Đông Pha không dùng từ “bạch vân 白雲” mà dùng từ “tình vân 晴雲” để nói đến thời gian sau cơn mưa và sự thay đổi của làn mây trắng như bông (nhứ : sợi bông gòn trắng nỏn)...
- phi 披: khoác áo, đội lên đầu, mở ra, vạch ra, phơi bày...
- nhứ 絮: sợi bông vải màu trắng, loại hoa nhẹ như bông có thể bay được, bông gòn mềm mại và mỏng như tơ bay được...
- mạo 帽: mũ , nón đội đầu, khăn đội đầu...
- quải đồng chinh 挂銅鉦: treo (quải) chiếc chiêng (chinh) đồng lên...
- trúc ly đoản 竹籬短 : hàng rào, hàng dậu đan bằng tre (trúc ly) làm ở tầm thấp (đoản)...
- tự dao 自搖: tự mình lay động. Ở đây, cành liễu lay động qua lại ven bờ suối in bóng trên dòng nước đang chảy...
- yêm 崤: chỉ chung núi non. Yêm Tư San 崦嵫山 tên ngọn núi ở Cam túc, Trung Hoa xưa kia được cho là chỗ mặt trời lặn. Trời nhá nhem tối gọi là “nhật bạc yêm tư 日薄崤嵫” (tự điển Thiều Chửu).
- ưng tối lạc 應最樂: có lẽ, hẳn là (ưng) rất là vui - hướng xuân canh 餉春耕: đem thức ăn (hướng: đưa thức ăn, thết đãi, tặng cho..) cho
người đang cày ải trong mùa xuân...
Bài 64
TÂN THÀNH ĐẠO TRUNG 新城道中
(KỲ NHỊ) (其二)
Thân thế du du ngã thử hành, 身世悠悠我此行,
Khê biên ủy bí thính khê thanh. 溪邊委轡聽溪聲。
Tán tài úy kiến sưu lâm phủ, 散材畏見搜林斧,
Bì mã tư văn quyển bái chinh. 疲馬思聞卷旆鉦。
Tế vũ túc thời trà hộ hỉ, 細雨足時茶戶喜,
Loạn sơn thâm xứ trưởng quan thanh. 亂山深處長官清。
Nhân gian kỳ lộ tri đa thiểu, 人間岐路知多少,
Thí hướng tang điền vấn ngẫu canh. 試向桑田問耦耕。
Dịch nghĩa:
Cuộc đời mênh mông luôn trôi nổi, ta đi trên đó, - Đến bên suối, buông cương ngựa, lắng nghe tiếng suối chảy. – Thân như cây gỗ vô dụng sợ thấy người lục soát dùng búa rìu chặt gỗ rừng, - Con ngựa đã mệt mỏi chỉ mong cờ hạ và nghe tiếng chiêng thu quân để được nghỉ. (c.1-4)
Mưa xuân vừa đủ thời gian cho nhà trồng trà vui mừng! – Giữa núi non chập chùng sâu hút với vị quan thanh liêm. – Đời người có biết bao nhiêu là ngã rẽ! – Hãy thử ngoảnh về những người đang cày bừa nơi ruông dâu mà hỏi xem sao! (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
ĐƯỜNG ĐẾN TÂN THÀNH (Bài 2)
Nổi trôi thân thế ta đi,
Buông cương nghe suối rì rào chảy tuôn.
Rìu tìm cây bỏ chặt luôn!
Nghe chiêng, ngựa mỏi, thu quân hạ cờ.
Trồng trà vui sướng đủ mưa,
Chập chùng núi thẳm, quan ta trong ngời.
Biết bao ngã rẽ cuộc đời,
Ruộng dâu thử hỏi những người cày kia !
Chú thích:
** Bài thơ thứ hai cùng nhan đề với bài trên nhưng lại mang nhiều suy nghĩ của Tô Đông Pha về đường đời và sự nghiệp,công danh của chính mình. Ông đã suy ngẫm về bản thân trong thời buổi triều đình nhà Tống,Trung Hoa có nhiều phe phái : phe của Vương An Thạch còn gọi là “tân đảng” muốn cải cách chính quyền với “Tân pháp”. Còn phe kia gọi là “cựu đảng” do Tư Mã Quang, Âu Dương Tu, hai anh em Tô Thức và Tử Do..v..v..Tư tưởng của hai phái nhiều chỗ đối lập nhưng cả hai đều mong muốn cho triều đình và xã hội tốt hơn. Vương An Thạch và Tư Mã Quang hay Âu Dương Tu..v..v.. đều là những viên quan có công tâm, sống liêm khiết, đời tư cũng tốt đẹp (xem thêm: Nguyễn Hiến Lê, Tô Đông Pha, NXBVHTT tái bản, 2003). Ông cũng tự hào cuộc sống của một ông quan tuy bị biếm trích đi xa nhưng luôn giữ sự thanh bạch, liêm chính và trong sáng. Đồng thời, ông ví mình như loại gỗ không còn được dùng phải bỏ đi nhưng cũng sợ những tay thích lục lọi tìm kiếm để chặt bỏ di.. (câu 3).Ngoài ra, nếu bài thứ nhất cho thấy thái độ ung dung tự tại tìm đến thiên nhiên như người bạn gắn bó và một tâm hồn biết thưởng thức cảnh đẹp của thiên nhiên. Ở bài thứ hai này, chúng ta thấy Tô Đông Pha trở về vai trò của một ông quan trong sạch lại rất gần gũi với cuộc sống của người nông dân chân lấm tay bùn. Nếu chúng ta đã đọc “Đông Pha bát thủ” (bài 23 đến 28 đã đăng các kỳ trước) sẽ thấy rõ bản thân ông từng sống vất vả và nhiều lo toan về mùa màng và cuộc sống y như người nông dân khi bị biếm trích nơi xa Ngoài ra, tuy bị biếm trích làm chức quan nhỏ ở nơi xa nhưng ánh mắt của những kẻ từng hạ bệ, đưa các quan chống đối “tân đảng” dù đổi đi xa vẫn còn theo dõi bám sát (sưu lâm phủ 搜林斧), chực chờ ra tay loại trừ thêm lần nữa. Đó là hiện thực Tô Đông Pha phải đối diện hàng ngày dù đang trấn nhậm nơi xa!
Nhìn chung, ở từng thời điểm, ông có thể sống với tâm hồn thanh thản của Lão Trang, hoặc sống và vui với nếp Thiền khi chọn sự giản dị và thái độ bình tĩnh ung dung trước đổi thay. Rồi trong khi đối diện với thực tại và nhất là xuất thân là một nho sĩ, ông nghĩ đến việc đóng góp và xây dựng triều đình cùng bạn bè sao cho tốt hơn dẫu phải đụng chạm bị hạ chức và biếm trích. Cuộc đời quan trường thườngnhư thế. Nguyễn Trãi nước ta dù tận tụy phục vụ triều đình trong kháng chiến chống nhà Minh,Trung Hoa đến khi sắp đặt triều chính vẫn thường bị những kẻ phò tá Lê Lợi thường là loại võ biền ghen ghét. Vụ án “Lệ chi viên” hay “Nguyễn Thị Lô” là dịp bọn ganh tỵ tìm cớ “tru di tam tộc” gia đình Nguyễn Trãi không hề thương tiếc! Chắc chắn rằng từ Tô Đông Pha của Trung Hoa hay Nguyễn Trãi, Nguyễn Du của nước ta, Nho, Lão và Phật đã là ba nguồn suối nuôi dưỡng khí chất của các bậc túc nho, đạo gia và nhà Phật. Nó hòa hài không hề tách biệt quá đáng để tạo nên nhân cách của họ từ tinh túy của ba tư tưởng lớn của phương đông xưa kia. Đó là một đề tài rộng lớn để tìm hiểu...
- thân thế 身世: chỉ chung cuộc đời ,sự nghiệp và công danh của một con người nhất là thuộc hạng nho sĩ, trí thức thời trước...
- du du 悠悠: mênh mông, rộng lớn ,trôi nổi, dài dằng dặc, vô tận, bất tận, liên miên, hoang đường, lo lắng...
- ủy bí 委轡: ủy 委: buông lỏng, buông bỏ, vất bỏ, mệt mỏi, ngọn nguồn, giao phó, ủy thác, gán cho....Bí 轡: dây cương điều khiển ngựa. Ủy bí: buông lỏng dây cương ngựa...
- tán tài(tản tài) 散材 : là một thuật ngữ có gốc rễ từ triết học cổ đại của Trung Hoa, cụ thể là từ tư tưởng của Trang Tử có trong sách cùng tên. Tán 散: phân tán, buông thả, không tập trung, đồ vật không còn giá trị, thứ bỏ đi vô dụng... Tài 材: nghĩa là gỗ để có thể sử dụng làm đồ vật có ích, nghĩa khác là người tài năng hay chất liệu, con người còn giá trị. Tán tài : nghĩa đen là loại gỗ vô dụng không dùng vào việc gì có ích trừ bỏ đi làm củi chụm! Ở đây, có thể hiểu những người có tài như Đông Pha tự nhận chỉ làm loại gỗ “vô dụng” nhưng những kẻ ganh ghét, đố kỵ trong triều cũng sẽ “sưu tra” tìm tòi, vạch lông tìm vết để mưu hại, chặt bỏ đi (xem “sưu lâm phủ” kế tiếp)
- sưu lâm phủ 搜林斧 :tìm tòi, chọn lọc, kiểm tra... v.v... (sưu) loại cây gỗ trong rừng (lâm) để dùng búa hay rìu chặt bỏ đi (phủ)...
- bì mã 疲馬: con ngựa đã mệt mỏi (bì: chán nản, rã rượi, suy nhược, nhọc mệt, mệt nhoài...)
- quyển bái chinh 卷旆鉦: khi thu quân lại (quyển) người xưa bên Trung Hoa dùng chiêng (chinh) và hạ cờ đuôi nheo hay cờ hiệu trong quân, cuốn cờ lại (bái). Khi tiến công thì phất cờ và dùng trống (cổ) để thúc quân...
- hai câu 3 và 4: cho thấy tâm trạng bị “bỏ rơi”, phải bị biếm trích đi xa của Tô Đông Pha. Ông tự xem mình trở thành vô dụng bị buông bỏ trên con đường hoạn lộ. Mặt khác, ông bị cuốn vào những tranh chấp chính trị, phe phái trong triều đình chỉ mong được sống thanh thản, xa lánh danh lợi và tranh chấp. Cuộc đời về sau cho chúng ta thấy rõ điều này...
- tế vũ 細雨: trời mưa hạt rất nhỏ lại mịn màng (tế) dùng để chỉ những cơn mưa bụi nhẹ nhàng trong mùa xuân hay dùng để chỉ mưa xuân. Ở đây, cơn mưa hạt nhỏ mùa xuân đúng lúc đúng thời và đầy đủ sẽ giúp cho người dân trồng trà vùng núi ấm no,đem lại niềm vui hạnh phúc. Và vị quan chốn núi rừng xa xôi đang trên đường trấn nhậm cũng giữ được sự liêm chính, trong sạch hơn. Đó là nét đẹp trong thơ của con người họ Tô...
- túc thời trà hộ 足時茶戶: có đầy đủ thời gian cho những trận mưa xuân thấm đẫm vào những vườn của các hộ chuyên trồng trà (trà hộ 茶戶)...
- loạn sơn thâm xứ 亂山深處: nơi núi non chập chùng lại sâ thẳm nhìn khó phân định...
- kỳ lộ 岐路: những ngã rẽ quanh co gập ghềnh.... Đông Pha như muốn nóiđến những con đường lợi danh quanh triều đình khiến ông bị cuốn hút theo. Năm 1073, khi làm bài thơ này, phe của Vương An Thạch đang dâng lên vua bản án đối với phe “cựu đảng” gọi là “Ô đài thi án” khiến nhiều vị quan trong triều như Tô Thức, Tử Do, Âu Dương Tu, Tư Mã Quang... v.v... phải rơi vào cảnh tù đày hoặc trích biếm đi xa.
- tri đa thiểu 知多少: biết bao nhiêu, biết rất nhiều không ít...
- thí hướng 試向: thử (thí) hướng về (hướng), thử ngoảnh về...
- ngẫu canh 耦耕: hai vợ chồng (ngẫu) cùng nhau cày ruộng (canh). Cũng chỉ chung những người đang làm lụng, cày bừa nơi ruộng đồng. Trong câu cuối, Tô Đông Pha, bậc thức giả của chúng ta đã đặt ra câu hỏi và câu trả lời phải là của người nông dân nói riêng hay người dân nói chung nhất là khi cuộc sống tốt đẹp đem lại niềm vui thực sự (xem câu 5 và câu 8)
Bài 65
DƯƠNG QUAN KHÚC 陽關曲
TRUNG THU NGUYỆT 中秋月
Mộ vân thâu tận dật thanh hàn, 暮雲收盡溢清寒,
Ngân Hán vô thanh chuyển ngọc bàn. 銀漢無聲轉玉盤。
Thử sinh thử dạ bất trường hảo, 此生此夜不長好,
Minh nguyệt minh niên hà xứ khan? 明月明年何處看。
Dịch nghĩa:
Mây chiều đã gom lại hết, trời lạnh lẽo tràn đầy, - Chiếc mâm ngọc lặng lẽ chuyển dần qua dải Ngân Hà. – Cuộc đời này, đêm này không phải tốt đẹp mãi! – Sang năm, sẽ ngắm trăng sáng ở nơi nào ?
Tạm chuyển lục bát:
KHÚC DƯƠNG QUAN
TRĂNG TRUNG THU.
Mây chiều gom hết, lạnh tràn,
Lặng thầm mâm ngọc chuyển dần dòng Ngân.
Đời này, đêm đẹp chẳng lâu!?
Sang năm, trăng sáng chốn nào ngắm trông?
Chú thích:
** Bài thơ này trong các sách ghi chép về thơ của Tô Đông Pha hoặc các bản Đông Pha Từ ghi là Dương Quan Khúc – Trung Thu Nguyệt 陽關曲-中秋月. Lại có bản chép là “Dương Quan Khúc – Trung Thu Tác 陽關曲-中秋作“ ( xem : thuvien.net/ Tô Thức). Cũng có giả thuyết cho rằng bài thơ này là bài Trung Thu 中秋 của Đỗ Mục 杜牧 đời nhà Đường làm khi bị biếm trích với chức thứ sử Hàng châu (xem: thuvien.net/Tô Thức: Theo Toàn ĐườngThi – Khang Hy ngự định, Hà Bắc nhân dân xuất bản xã, 1993). Về nguồn tư liệu cũng không rõ ràng nên tạm thời chúng ta chấp nhận giả thuyết theo các bản in ấn từ bên Trung Hoa trước kia.
Theo đó, Đông Pha làm bài này khi ngắm trăng thu. Ông bồi hồi cảm xúc trước cái đẹp của vầng trăng sáng rồi cuộc đời này, đêm trặng đẹp tối nay kéo dài được bao lâu? Đó là câu hỏi ngàn đời của những ai nhìn vào sự hữu hạn của vũ trụ và con người trong cái vô hạn của thời gian. Đó là sự biến dịch mà Lão gia vẫn thường đề cập trong Đạo Đức Kinh hay sự vô thường mà đạo Phật luôn nói đến.
Còn Nho gia theo cách nói về của trời đất của Khổng Tử: ”Thiên hà ngôn tai? 天何言哉” (Trời nào có nói gì đâu?), vạn vật xoay chuyển tuần hoàn tự nhiên!
- Dương Quan 陽關: tên một quan ải nổi tiếng bên Trung Hoa cùng với Ngọc Môn Quan 玉門關, gọi chung là “Nhị quan 二關” là hai cửa ải quan trọng và nổi tiếng được nhiều nhà thơ Trung Hoa nói đến. Ải Dương Quan nằm ở huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, Trung Hoa được xây dựng vào năm 120 TCN thời Hán Vũ đế nhằm ngăn chặn sự xâm nhập và quấy nhiễu thường xuyên của các bộ tộc vùng Tây Vực. Dương Quan Khúc là khúc hát có nguồn gốc từ bài thơ “Tống Nguyên nhị sứ An Tây 送元二使安西“ của Vương Duy 王維. Về sau được phổ thành khúc đàn có tên “Dương Quan Tam điệp” gọi tắt là “Dương Quan Khúc 陽關曲 hay “Vị thành Khúc 渭城曲”. Đến đời Tống , cầm khúc này thất truyền.(xem thêm: thivien.net/Tô Thức) Thơ văn Trung Hoa và nước Việt chúng ta xưa kia thường dùng Từ “Dương Quan” để nói đến sự chia ly, xa cách (xem: “Đoạn Trường TânThanh” câu 1502)
- thu (thâu) tận 收盡: gom lại hết, lấy về tất cả, thâu gom sạch hết, nhận lấy hết cả...
- dật thanh hàn 溢清寒: tràn đầy, đầy quá sức (dật) khí lạnh trong trẻo...
- Ngân Hán 銀漢: hay còn gọi là Ngân Hà 銀河, sông Ngân, Thiên Hà 天河,Thiên Hán 天漢, Vân Hán 雲漢, Tinh Hà 星河 theo cách người Trung Hoa. Còn người Việt chúng ta vẫn gọi là dòng Ngân hay sông Ngân ( vì Hà đã là sông nên tránh điệp ngữ!). Ngân Hà là một dải gồm nhiều đám mây bụi và các vì sao lớn nhỏ trong đó có mặt trời và Mộc tinh là sao sáng nhất nhìn từ trái đất hình thành một “thái dương hệ” nhỏ trong hàng vạn thái dương hệ khác trong một Galaxy hình xoắn ốc. Nhìn xa như môt chiếc dĩa bay có hằng triệu triệu ngôi sao xoay quanh chuyển động của nó. Nói khác hơn, thái dương hệ và các hành tinh trong đó có trái đất xoay quanh mặt trời chỉ là hệ thống ngôi sao nhỏ trong hằng vạn dải tinh hà của một Galaxy khổng lồ ấy. Và trong vũ trụ bao la vô tận này lại có hằng vạn Galaxy lớn nhỏ đang hoạt động. Trái đất và thái dương hệ chỉ như một đám bụi bé nhỏ mà thôi...
- ngọc bàn 玉盤: cái mâm bằng ngọc là cách người Trung Hoa dùng để chỉ vầng trăng tròn đẹp như ngọc của ngày rằm...
- Hai câu đầu: Mộ vân thâu tận dật thanh hàn, Ngân Hán vô thanh chuyển ngọc bàn 暮雲收盡溢清寒, 銀漢無聲轉玉盤: Tô Đông Pha đã phác họa sự chuyển động nhẹ nhàng, lặng lẽ của thời gian và không gian của một đêm trăng rất sáng và trong trẻo trong cái lạnh dễ chịu của đêm rằm Trung Thu.
Nhà thơ không chỉ ngắm mây của buổi chiều tối đang gom hết lại giữa không gian lạnh và trong trẻo. Ông đã dõi mắt nhìn lên trời có vầng trăng tròn đang di chuyển ngang qua dải Thiên Hà hay Ngân Hán rất xa và cao hơn hẳn. Chữ “vô thanh 無聲” được họ Tô dùng cho thấy sự chuyển động của vũ trụ muôn đời vẫn lặng thầm. Vô thanh không phải là không hoạt động nhưng hoạt động này chúng ta vẫn thấy theo quy luật tự nhiên không hề cấu thành âm thanh để cảm nhận. Đó là một từ rất “đắc” và rất “đạt” của một con người tài hoa như Đông Pha.
- Hai câu cuối: Thử sinh thử dạ bất trường hảo, Minh nguyệt minh niên hà xứ khan? 此生此夜不長好,明月明年何處看: Từ vũ trụ bao la với dải Ngân Hà, từ vầng trăng vặng vặc như chiếc mâm ngọc, nhà thơ lại quay về với hiện thưc bé nhỏ của một đời người, một kiếp người và tự hỏi: Đời này, đêm nay đẹp đẽ như thế có còn mãi mãi tươi đẹp không hay nó chẳng kéo dài được mãi đâu!?. Từ đây, một cách nào đó , Tô Đông Pha đã giúp chúng ta nhìn lại kiếp người quá ngắn ngủi trong bầu trời hay vũ trụ rộng bao la để nhận ra cuộc đời quả là vô thường . Chữ “bất trường hảo” đã tập hợp để cho thấy không có gì là mãi mãi, luôn luôn tốt đẹp. Mọi cái đều theo quy luật sinh diệt của tạo vật mà Lão tử gọi là “biến dịch”, đạo Phật gọi là “vô thường” đó thôi ! Bước đường bị biếm trích của Đông Pha cũng xoay vần theo quy luật đó với đêm nay nhìn trăng đẹp còn ngày mai hay năm sau biết thưởng trăng ở chốn nào!!. Chữ “hà xứ khan 何處看” đã là một câu hỏi trong tâm tư nhà thơ về bước đường tương lai và sự nghiệp của mình.
Dương Anh Sơn
( Lần đến : THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA – Bài 66, 67 và 68)