Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2026

Ước Nguyện Đầu Xuân

 



 

 

     ƯỚC NGUYỆN ĐẦU XUÂN 

     

     Đầu năm, tâm trạng kẻ tha hương

     Cầu chúc Việt Nam sẽ quật cường

     Lộc Tổ xum vầy tràn hạnh phúc

     Tình nhà gắn bó ngập yêu thương

     Loại bày bán nước còn đầy xóm

     Diệt lũ buôn dân vẫn chật đường

     Dân tộc vùng lên trừ phản tặc

     Cho đời cho nước hết tai ương  

 

     Ngô Minh Hằng



ƯỚC NGUYỆN ĐẦU XUÂN 
Ngô Minh Hằng 

Trân trọng 
NHHN 

Khai Bút Xuân Bính Ngọ

 

 

 

     KHAI BÚT XUÂN BÍNH NGỌ

 

      Bao năm Xuân đến vẫn hoài mơ

     Vận Nước đổi thay hết giặc Hồ

     Đất Nước đứng lên tiêu diệt hết

     Toàn dân vùng dậy dựng cơ đồ

     Đập tan bè lũ phường ăn hại

     Xây dựng quê hương rạng sắc cờ

     "Xuân đến, Xuân đi, Xuân bất tận" 

     Cờ vàng Tổ Quốc vẫn đang chờ ...

 

     Nguyễn Vạn Thắng



KHAI BÚT XUÂN BÍNH NGỌ 
Nguyễn Vạn Thắng 

Trân trọng 
NHHN 


Chỉ Có Mẹ Là Mùa Xuân Thôi!

 

Hình minh họa

CHỈ CÓ MẸ LÀ MÙA XUÂN THÔI!
Nguyễn Gia Việt

Đọc được đoạn ngắn của một bạn trẻ trên threads, Gia Việt chép lại đọc chơi:

"Hôm nay, trong bữa ăn trưa muộn, tôi vô tình nghe được một cuộc trò chuyện rất ngắn giữa anh khách và chị chủ quán.

Anh hỏi, giọng bâng quơ: Mùng mấy chị nghỉ Tết vậy?

Chị chủ quán vừa dọn bàn vừa đáp: Tầm hai lăm, hai sáu gì đó em. Em có về quê ăn Tết không?

Anh trả lời: Dạ không chị ơi… Ba mẹ em mất hết rồi, nên em cũng không về nữa.

Chị chủ quán đáp: Ừ… chị cũng vậy. Ba mẹ mất cái là hết Tết luôn. Hồi còn ba mẹ, tới Tết là thấy háo hức lắm.

Anh khách: Dạ… Giờ cứ tới Tết là lại thấy buồn."

Đoạn văn này quá hay và ý nghĩa.

Năm nay kinh tế xuống đáy nên không ai vui, nhiều bạn không có tiền nên ngại về nhà. Nhưng ba mẹ ngày càng có tuổi thì không chờ được, thành ra các bạn cứ về nhà mình để vui vẻ với gia đình, ăn uống không cần khoa trương, chỉ sum vầy.

Các bậc cha mẹ cũng hiểu cho con mình, đừng đặt nặng tiền bạc vật chất quá, có năm này năm khác, có lúc làm ăn được có lúc thất bại, đừng làm áp lực tiền bạc phải đem tiền về để con mình nó không dám về nhà.

Một đứa con xa nhà, lúc nó muốn về nhứt là lúc nó cần gia đình an ủi nó nhứt.

Các bạn biết những "tội phạm" khét tiếng hay bị cảnh sát bắt ở đâu không? Thói quen khó bỏ, là ở nhà cha mẹ ruột của nó. Cảnh sát cứ canh chu vi 3 km quanh nhà mẹ ruột là đón được nó thôi. Trước khi đi xa phải về nhìn mẹ lần cuối.

Nhớ bài Nhớ Mẹ do Thiếu Tướng Lê Minh Đảo và Đại Tá Đỗ Trọng Huề đồng viết trong thời gian ở tù biệt giam Hà Tây ngoài Bắc.

Lịch sử đau thương của Nam Kỳ ta, người ta đem giam những người con ưu tú của VNCH ở tận đất Bắc xa xôi lạnh giá, khác biệt phong thổ, đi hàng vạn mà lúc về cũng rụng nhiều vì không chịu nổi khắc nghiệt.
Thiếu Tướng Lê Minh Đảo ở tù 17 năm, Đại tá Đỗ Trọng Huề, ở tù hơn 12 năm.

"Những chiều buồn trên đất Bắc, con hướng về Nam con nhớ mẹ nhiều
Mẹ ơi bao nhiêu năm tháng cứ trôi, cứ trôi cho bạc mái đầu
Không gian rưng rưng như sắp đứt
Gió về nghẹn ngào như tiếng nấc."

Những sĩ quan bị biệt giam đó ai cũng có một người mẹ, người mẹ mỏi mòn ngóng con từ Nam ra Bắc mù mịt không biết con mình ra làm sao, sống chết thế nào.

Ngày xưa làm gì có nhiều phương tiện như bây giờ, một năm có khi một cái thơ vài dòng nguyệch ngoạc là mẹ mừng như được vàng. Ở đất Bắc xa xôi con lại nhớ mẹ mỗi khi bị đối xử bạc đãi, dằn vặt. Có hàng triệu bà mẹ Nam Kỳ đã khóc hết nước mắt.

Hồi thời bao cấp Miền Nam mình có hàng triệu bà mẹ nuốt nước mắt tiễn con lên tàu cá vượt biên trong đêm đầy bão gió. Tôi nhớ có một khổ thơ của ông Trần Trung Đạo viết về mẹ khi ông từ Mỹ gọi về nhà:

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Chúng ta càng có tuổi sẽ hiểu sâu hơn bài nhạc này:

"Mẹ ơi, con hứa con sẽ trở về
Dù cho, dù cho xuân này đi qua
Dù cho én từng bầy bay về ngàn, dẫu gì rồi con cũng về
Chỉ bên mẹ là mùa xuân thôi."

Hạnh phúc nhứt cho những ai đã trung niên, đã già mà còn cha còn mẹ.

"Con dề đây má ơi!", "Má ơi má! má đâu rồi má?"

Hạnh phúc nhứt là khi nghe má lục đục bước ra rầy yêu "Mồ tổ cha mày! dìa thì mau dô nhà đi còn đứng đó la um sùm."

Thiệt hạnh phúc cho những thằng già độc thân đã năm sáu chục tuổi mà đi về nhà trễ còn có mẹ chờ cơm! 

Cũng vui suớng cho những thằng có vợ con đùm đề để rồi khi chửi lộn với vợ lại chạy qua nhà mẹ ruột xin cơm ăn ké.

Cơm mẹ nấu ngon nhứt đời, món gì cũng ngon dù tuổi già đôi lúc quá tay muối đường vì tay đã run.

"Ầu ơ... ..ơi...!
Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau".

Nguyễn Gia Việt (Tác giả)

Thân mến 
TQĐ


Hội Tết Hằng Năm Tại Oregon Chẳng Có Gì Đặc Biệt

 


HỘI TẾT HẰNG NĂM TẠI OREGON CHẲNG CÓ GÌ ĐẶC BIỆT
Huỳnh Quốc Bình

Coi chừng sẽ có ngày con em chúng ta sẽ “ăn Tết” hay tham dự Hội Tết thật “hoành tráng” do bọn tay sai VC hay đám đón gió trở cờ đứng ta tổ chức…

Xuân đến xuân đi mấy bận rồi,
Nỗi lòng viễn xứ có gì vui?
Quê cha đất tổ trong tay giặc!
Áo gấm xênh xang thấy ngậm ngùi!

NH Quốc Mỹ

***


“Hội Tết hằng năm tại Oregon chẳng có gì đặc biệt” là lời nhận xét của một số người mà tôi từng nghe những năm trước đây. Năm nay, Tết Bính Ngọ 2026, câu xác định “như đinh đóng cột” đó lại được tái diễn. Tôi có hỏi những người nói câu đó rằng, dựa vào điểm nào mà họ cho rằng Hội Tết tại Oregon do Ban Chấp Hành Cộng Đồng Việt Nam Oregon tổ chức“chẳng có gì đặc biệt”. Câu trả lời mà tôi nhận được từ những người đó là, “Thì năm nào cũng giống y như nhau. Năm nào cũng chỉ chào cờ, đọc diễn văn chống cộng, múa lân, ca hát, có ai thấy điều gì khác lạ đâu?

Tôi nghĩ những người nhận xét như thế cũng có phần đúng, nhưng đối với tôi nó hết sức phũ phàng. Nó phũ phàng là vì trong khi những người cố giữ những gì có tính cách truyền thống và văn hóa của người Việt Nam, lại bị chính những người Việt Nam khác hững hờ hay bài bác một cách vô tội vạ.

Quả thật, năm nào, cũng chừng đó tiết mục trong Hội Tết. Tuy nhiên, có một điều mà quan khách tham dự khó hình dung được về những gì mà ban tổ chức cần làm để có được một ngày Hội Tết truyền thống như thế. Tôi có đến hỗ trợ tinh thần các tình nguyện viên và Ông Chủ Tịch Từ Đức Tháo nên tôi biết rất rõ. Có những công việc “không tên và cũng không tiền” với bao công sức của nhiều tình nguyện viên đã tận tình đóng góp trước giờ khai mạc và sau khi buổi tổ chức kết thúc.

Tôi viết những lời này vào lúc nửa đêm, sau khi tôi từ địa điểm tổ chức về nhà. Dù biết rằng bài viết này được gởi đến quý đồng hương tại Oregon quá muộn màng, nhưng tôi không thể không viết. Chỉ còn không đầy 12 tiếng đồng hồ nữa là đến giờ khai mạc Hội Tết.

Năm nay Hội Tết Bính Ngọ 2026 được tổ chức tại địa điểm cũ, giống như năm trước vào ngày mai, Thứ Bảy, ngày 21 Tháng Hai, 2026

Khai mạc đúng 11 giờ trưa.
Địa điểm: Clackamas High School.
14486 SE 122nd Ave. Clackamas, OR 97015

Mỗi năm đồng hương tị nạn VC tại Oregon chỉ gặp nhau một lần trong Hội Tết, thiết nghĩ nó cũng không có gì gọi là làm phí thì giờ của nhau. Chúng ta đến Hội Tết của người Việt Nam không phải để so sánh với các chương trình văn nghệ có nhiều ca sĩ nổi tiếng do các trung tâm băng nhạc thực hiện. Chúng ta đến Hội Tết để cùng “tay bắt mặt mừng” và nói với nhau rằng: Tuy chúng ta mất nước hơn 50 năm qua, nhưng chúng ta vẫn còn nhau tại xứ người.

Viết đến đây tôi chợt nhớ mấy câu thơ của tác giả NH Quốc Mỹ mà thấy lòng mình ngậm ngùi và buồn man mác trong ngày Tết.

Xuân đến xuân đi mấy bận rồi,
Nỗi lòng viễn xứ có gì vui?
Quê cha đất tổ trong tay giặc!
Áo gấm xênh xang thấy ngậm ngùi!

Tôi e rằng, nếu người Việt tị nạn tiếp tục thờ ơ trong các sinh hoạt do người Quốc Gia chân chính tổ chức, và những cao niên chống cộng lần lượt “ra đi”, sẽ có ngày con em chúng ta sẽ “ăn Tết”hay tham dự Hội Tết thật “hoành tráng” do bọn tay sai VC hay đám đón gió trở cờ đứng ta tổ chức. Lúc bấy giờ người ta sẽ không còn thấy Cờ Vàng mà là cờ máu của VC tung bay. Nói thật, nếu phải chứng kiến cảnh đau lòng đó và nếu ngày đó chúng ta còn sống, chúng ta có muốn “cắn lưỡi tự vận” cũng không còn răng để mà cắn.

Tại Oregon, nếu tập hợp nào tổ chức ngày Hội Tết thường phải gặp thời tiết bất thường. Nhẹ nhất là mưa, tệ nhất là tuyết rơi và nhiệt độ xuống thật thấp. Do đó, việc di chuyển ngoài trời rất khó khăn, nhất là đối với các cao niên. Giả sử, nếu ngay ngày chúng ta tổ chức Hội Tết lại trúng ngày mưa gió và lòng chúng ta muốn tham dự, tôi dám bảo đảm chuyện mưa to, gió lớn sẽ không cản trở được chúng ta. Nếu lòng chúng ta không muốn tham dự bởi nó chẳng có gì quan trọng đối với mình, cho dù Hội Tết được tổ chức trước tư gia hay tổ chức bên cạnh cơ sở tôn giáo của chúng ta đi nữa, chúng cũng sẽ không màng để ý tới.

Tôi xin phép được chấm dứt bài viết này và xin nhường cho quý đồng hương hay quý độc giả viết phần kết luận giúp tôi.

Hẹn gặp quý đồng hương vào lúc:

11 giờ trưa hôm nay, Thứ Bảy, ngày 21 Tháng Hai, 2026
Địa điểm:
Clackamas High School.
14486 SE 122nd Ave.
Clackamas, OR 97015

Xin quý vị vui lòng chuyển bài viết này của tôi đến những ai mà quý vị có địa chỉ email của họ. Hãy đến để ủng hộ ban tổ chức, nhất là ủng hộ các bạn trẻ đã khổ công tập dợt cho phần trình diễn của họ.
Hẹn gặp quý vị tại buổi tổ chức nêu trên.

Huỳnh Quốc Bình
Cựu Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam Oregon (các nhiệm kỳ 1995-2001)
Viết xong lúc 1:06 AM.





HỘI TẾT HẰNG NĂM TẠI OREGON CHẲNG CÓ GÌ ĐẶC BIỆT
Huỳnh Quốc Bình

Trân trọng 
NHHN 

Thứ Năm, 19 tháng 2, 2026

Vui Xuân Thiếu Pháo

 

 

 

     VUI XUÂN THIẾU PHÁO

 

     Ra thơ vui Tết đón Xuân về

     Đốt pháo không cho thật chán ghê!

     Độc lập, Tư do toàn bịa đặt

     An bình, Hạnh phúc rõ trò hề

     Bao thằng cai trị toàn ngu dốt

     Cả lũ cầm quyền thật đáng chê

     Thử hỏi Xuân về không tiếng pháo

     Ngày Xuân chắc hẳn sẽ ê chề...

 

     Không cho đốt pháp thì ra thơ

     Để chửi cộng nô bọn giặc Hồ

     Đón Tết có lân vui tiếng pháo

     Mừng Xuân phố thị rộn sắc cờ

     Cầm quyền bày luật để ngăn cấm

     Cai trị dở trò mất tự do

     Đất Nước mong cho đời đổi mới

     Tưng bừng pháo nổ cho ra trò ...

 

     Nguyễn Vạn Thắng



VUI XUÂN THIẾU PHÁO

Nguyễn Vạn Thắng


Trân trọng 

NHHN 


Đường Vào Đại Học Harvard

 


ĐƯỜNG VÀO ĐẠI HỌC HARVARD
Đinh Trọng Phúc

CHÀO BẠN ĐỌC
Ngày đầu năm, tác giả muốn gửi bạn đọc của mình những bài viết tốt đẹp không hận thù căm ghét hay máu lửa oán hờn mà những gì tích cực nhất
Người miền trung của chúng ta từ bao đời nay tuy cực khổ nhưng luôn vươn cao ý chí về công danh khoa bảng hiếu học hơn người
Vậy tiện đây ngày mới năm mới người viết xin đăng lại bài viết đã hiệu chỉnh lại sau nhiều lần đăng và được đăng trên các trang mạng- dựa trên kinh nghiệm bản thân và gia đình. Bài mang tên
ĐƯỜNG VÀO ĐẠI HỌC HARVARD
trân trọng
Đinh trọng Phúc

NỖI LÒNG LƯU DÂN: ĐƯỜNG VÀO ĐẠI HỌC HARVARD

Chào bạn đọc

Trước tiên mời quý bạn đọc một tin tức mới nhất về Đại Học Harvard 

Bắt đầu từ năm học 2025-2026, Harvard sẽ miễn học phí cho sinh viên tứ các gia đình có thu nhập dưới 200,000 MK/năm, và chi trả toàn bộ sinh hoạt phí cho những sinh viên từ các gia đình có thu nhập dưới 100,000 MK/năm.  


(WASHINGTON, ngày 17 tháng 3, Reuters) – Đại học Harvard thông báo rằng từ năm học 2025-2026, trường sẽ miễn toàn bộ học phí cho sinh viên đại học từ các gia đình có thu nhập dưới 200,000 MK mỗi năm. Đối với sinh viên đến từ các gia đình có thu nhập dưới 100,000 MK, Harvard sẽ không chỉ miễn học phí mà còn chi trả phí bảo hiểm y tế, chỗ ở và các chi phí sinh hoạt khác.

 

Chính sách này đánh dấu bước đi quan trọng nhằm mở rộng cơ hội học tập cho sinh viên thuộc tầng lớp trung lưu. Trước đây, Harvard chỉ áp dụng chính sách miễn học phí cho những sinh viên có thu nhập gia đình dưới 85,000 MK mỗi năm. Việc nâng mức hỗ trợ lên đến 200,000 MK giúp nhiều gia đình có mức thu nhập trung bình vẫn có thể cho con em theo học tại trường mà không phải lo lắng về gánh nặng tài chánh.

 

Harvard College – chương trình cử nhân của trường – hiện có mức học phí và phí sinh hoạt lên tới 82,000 MK cho năm học 2024-2025, theo thông tin từ trang web chính thức của trường...(Vietbao.com ngày 18/3/2025) HẾT TRÍCH


thưa bạn đọc

Lâu nay chắc hẳn chúng ta thường nghe tên các trường đại học nổi tiếng tại Mỹ như Harvard, Yale, John Hoppkins,  Princeton, MIT, Stanford...tại vương quốc Anh như Oxford, Cambridge...

Người ta thường nghĩ chỉ có giới "quý tộc" hay "danh gia thế Phiệt" mới vào các trường này. Sự thật có phải vậy chăng?

Bài viết này, dựa trên một số kinh nghiệm cụ thể của gia đình  để góp phần nào giải tỏa những thắc mắc nói trên; cũng như "vén" một vài khung cửa nào đó giúp bạn đi sâu vào Harvard University đại diện cho những đại học tư thục có tiếng trên.


Trân trọng 
NHHN 

Ngày Tết Mùng Ba

 


NGÀY TẾT MÙNG BA 
Đỗ Công Luận 

Trân trọng 
NHHN 

Thư Của Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Mỹ Bắc Cali

 

THƯ CỦA BAN ĐẠI DIỆN CỘNG ĐỒNG VIỆT MỸ BẮC CALIFORNIA
Văn Đàn Tiếng Quê Hương

Trân trọng 
NHHN 

Lễ Thượng Kỳ Đầu Năm Âm Lịch Và Mừng Tết Bính Ngọ

LỄ THƯƠNG KỲ ĐẦU NĂM ÂM LỊCH VÀ MỪNG TẾT BÍNH NGỌ
Đời Mới Media

Ngày 17 tháng 2 năm 2026 nhằm ngày mồng 1 tháng 01 năm Bính Ngọ.Cộng đồng Việt Mỹ Bắc Cali và các Hội Đoàn Quốc Gia trong vùng đã tổ chức Lễ Thượng Kỳ đầu năm và mừng Xuân năm Bính Ngọ. Trên 200 đồng hương và quan khách là chính quyền- dân cử địa phương tham dự. Qua những thủ tục nghi lễ theo truyền thống Quân và Dân. Quý vị dân cử chúc Tết đến Đồng hương và tặng bằng tưởng lục . Chương trình Lễ Tết năm nay dưới sự điều khiển của nhiều MC: Thái Văn Hòa, Nguyễn Ngọc Thụy, Harrison, Trần Chánh Tùy và Cô Ngọc Mai..Với đoàn lân của Võ Sư Cẩm Bình đã làm cho không khí càng thêm sắc Xuân nhộn nhịp. Chương trình văn nghệ Xuân cũng đã đem lại hương Xuân ngọt ngào với niềm vui với Ly Rượu Mừng và Cô Gái Việt đem lại sự trìu mếm thương yêu cho cộng đồng Việt. Buổi lễ chấm dứt khoảng 2:30 chiều cùng ngày. DV

Vietnamese Cultural Center

Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 


 

Cây Mai Của Đồng Ngươn

 


CÂY MAI CỦA ĐỒNG NGƯƠN
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Ngày ba mươi Tết. Đồng Nguơn.

Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn.

Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?

Trên đường đi, hầu như ở đâu cũng thấy ruộng. Đến những xóm nhà dân thì ruộng được thay thế bằng những sân phơi thóc. Thóc phơi trước nhà, nhiều đến nỗi phơi lấn lên mặt đường. Thóc phơi ở sân bên hông nhà. Và chắc chắn là có cả ở sân sau. Con gái thị thành, lần đầu tiên thấy cái gì cũng lạ, lạ từ cây cầu tre lắt lẻo cho đến vườn chuối, ao bèo. Nhưng bây giờ chị đã thấy quen thuộc. Tất cả ẩn hiện trên đường đi. Và khi xe dừng trước ngõ xóm, đi vào khu dân cư, thì quang cảnh lạ hơn một chút.

Lính đóng trước nhà dân. Chị hỏi thăm. Và đây rồi! Lời dặn của anh thật chính xác, chị đã tìm ra anh. “Tìm ra”, là bởi vì anh đang xắn tay áo giúp bà chủ nhà phơi thóc. Một cảnh rất bình yên.

Anh giới thiệu chị với bà chủ nhà:
-    Thưa bác, đây là bà xã của cháu.
Hai người chào nhau. Bà chủ nhà, trạc tuổi mẹ của chị, trầm trồ một cách thật thà:
-    Cô… cô đẹp quá!
Chị ngượng nghịu cúi đầu. Anh tự nhiên hơn, khoe ngay:
-    Bà xã của cháu là hoa khôi trong trường đó bác!
-    Vậy sao? - Tiếng “Vậy sao” đặc trưng của người miền nam. Bà cũng không hỏi là trường nào.

Hai người bước chậm rãi trong sân phơi thóc. Đó là một khoảng sân tráng xi-măng sạch sẽ. Có mùi thơm thoảng nhẹ. Chị nghĩ “mùi thóc lúa”, rồi thầm chế nhạo mình dân thị thành ít biết về chuyện thôn quê. Ba năm qua, kể từ khi anh ra trường Thủ Đức, chị thỉnh thoảng đi thăm anh như thế. Anh đi nhiều nơi ở miền nam. Cô nữ sinh Đà Lạt từ cao nguyên xuống với cảnh ruộng đồng, rồi ra cũng đã khá quen. Có lúc thăm anh tận tiền đồn, nhưng cũng có lúc thăm tại nhà dân, nơi đoàn quân trú đóng chờ di chuyển. Lần này là Đồng Nguơn, một cái tên chưa một lần chị nghe đến, dù là trong bài học Sử Địa. Anh viết thư báo rằng anh không được về nhà ăn Tết. Tết này phải cấm trại. Lệnh cấp trên cho phép người nhà đến thăm. Và thế là chị đã biết Đồng Nguơn.

Họ đi vào nhà. Bà chủ nhà đang lui cui sau chái bếp chuẩn bị đãi họ bữa cơm chiều. Chị trố mắt ngạc nhiên, khi nhìn thấy bên trong nhà là nền đất, trái ngược hẳn với sân xi-măng láng bóng sạch sẽ phơi thóc ngoài kia. Anh hiểu ý, giải thích:

-    Ở đây nhà nào cũng vậy, họ coi trọng cái sân phơi thóc, nên tráng xi-măng kỹ lắm! Còn trong nhà thì đa số rất đơn sơ.

Bà chủ nhà bước lên nhà, chỉ vào bộ ván cao, bảo chị:
-    Tối nay cô nghỉ ở đây với tôi, không lo gì cả nhé!
-    Dạ, cám ơn bác. Mấy ngày cháu ở đây, sẽ làm phiền bác lắm ạ!
-    Không sao đâu. Tui có một mình, có cô và các anh đây sẽ vui mà! Con trai tui vài ngày mới về, cháu đi làm ở quận.
Chị hỏi:
-    Bác ơi, thóc phơi sau nhà, nhiều quá, một tay bác làm sao xuể ạ?
-    Mùa này không mưa, khi con trai về thì nó giúp tui. Nhưng cô biết hôn, mấy ngày nay có các anh đây giúp, tui cũng đỡ lắm!
Bà đưa đôi mắt nhìn anh, tỏ vẻ biết ơn.

Trời tối thật mau. Chị chưa kịp ngắm nhìn trọn vẹn quang cảnh xung quanh.

Những người lính ăn cơm ngoài sân, xong rồi họp lại đàn hát. Anh chị chơi với họ một chốc rồi anh nhắc chị đi ngủ sớm. Bà chủ nhà đã vào mùng.  Đèn dầu thắp mù mù. Hai người ngồi ở bậc thềm cửa. Muỗi bay vo ve bên tai. Anh không cho chị ngồi nữa, sợ bị muỗi đốt.
-    Ngủ sớm đi em! Sáng mai mình còn nhiều thời gian nói chuyện. Anh sẽ đưa em ra chợ chơi.
Chị “dạ”. Ngày mai còn nhiều thời gian. Chị vẫn có đủ thời gian báo cho anh một tin vui.

**

Mới đâu khoảng bốn giờ sáng. Chị bị đánh thức bởi tiếng lao xao người ta nói chuyện bên ngoài. Bà chủ nhà cũng thức giấc. Họ cùng lắng tai nghe.

Anh đến bên bộ ván, nói khẽ:
-    Anh phải đi.
Chị ngồi ngay dậy:
-    Anh đi sao?
-    Có lệnh hành quân.
Chị ra khỏi mùng, quơ chân tìm đôi giép mang vào. Bà chủ nhà cũng ra, nói vội:
-    Để tui gói cho mấy anh vài đòn bánh tét.
-    Dạ cám ơn bác.
Anh quay sang chị:
-    Tiếc quá, không được ăn Tết với em. Em về Sài Gòn ăn Tết với chú thím vậy nhé!
-    Dạ.
-    Hay là em ở lại đây chơi với bác một ngày, mai hãy về.
-    Dạ.
-    Em đừng buồn nhé!

Rồi anh ôm siết lấy chị. Chị muốn nói cho anh về tin vui. Nhưng chị tự ngăn mình lại. Anh sắp ra lại vùng hành quân, nhiệm vụ chắc sẽ rất nặng nề. Anh sẽ có nhiều việc để lo. Thôi, cứ để về nhà, viết thư sau cũng được.

Toán quân đã đi. Nhanh gọn như khi họ đến. Bà chủ nhà không ngủ lại được, ra sau bếp nhóm lửa. Chị đứng một mình trong gian nhà thênh thang.

**
Đứng trong sân phơi thóc, chị thấy rõ tấm lòng trân trọng của người dân thôn quê đối với “hạt ngọc trời cho”. Họ đã dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho việc trồng, gặt, phơi lúa. Bà chủ nhà, tóc đã pha sương, vừa xới những hạt thóc lên, vừa kể cho chị nghe chuyện gia cảnh của bà. Chồng chết khi bà mới sanh đứa con trai, bà ở vậy nuôi con. Phước cho bà, đứa con trai lớn lên cũng ngoan, chăm làm, nên bà không lo lắng gì nữa. Có mấy công ruộng bà cho người ta thuê, bà cũng đủ ăn với số thóc lúa phần bà có được. Trong khi nghe bà kể chuyện, chị dõi mắt nhìn phía vườn cạnh sân phơi thóc. Là một vườn mai. Sắc hoa vàng đã ánh lên một vùng. Mồng một Tết, nhà nông có người cũng vẫn ra ruộng. Nhưng sắc xuân về chan chứa không lầm vào đâu được. Bỗng đâu có vài tiếng nổ vang lên rời rạc. Bà chủ nhà cũng như chị, nghiêng tai lắng nghe. Hai người nhìn nhau. Họ ngầm nói qua ánh mắt: không phải pháo, mà là tiếng súng.

Chị sẽ không thể ở lại đây ăn Tết với bà chủ nhà như anh dặn. Anh không có mặt nơi này. Chị xin phép bà chủ nhà để về lại Sài Gòn. Bà không ép, gói ghém cho chị hai đòn bánh tét. Bà ân cần nói:
-    Cô cẩn thận nghen! Có bầu, đi đứng nhẹ nhàng, đừng xách nặng.
Chị cảm động. Mình không có nói gì với bà, vậy mà con mắt của người phụ nữ dạn dày với cuộc sống đã cho bà biết. Vâng, cái điều đã làm cho chuyến đi thăm chồng lần này của chị có một điều đặc biệt khác với những lần trước. Cái điều chị muốn kể cho anh nghe nhưng không đủ thời gian. Cái điều mà chị sẽ phải viết trong thư mà thôi.

Chị như lênh đênh trong cái không khí Tết ở miền quê, nhưng lại không giống Tết. Chị giống như người lữ hành cô độc nhiều hơn. Trên phà Mỹ Lợi về thành phố, màu vàng của hoa mai vẫn còn dịu dàng vương vấn. Tiếng pháo đốt lén rời rạc vang lên như từ mọi phía của mặt sông. Và như có khói bay vào mắt.

**
Ba mươi tháng tư. Đồng Nguơn.

Anh đứng trong sân sau. Sân phơi lúa thóc. Không có thóc. Bà chủ nhà đã gom hết thóc đi xay và trữ gạo vào nhà, như để chuẩn bị cho những ngày mưa tới. Mảnh sân trơ trụi như không có sức sống. Nhịp sống cũng có vẻ đang dừng lại thật. Anh đau đớn như bị ai tước đoạt một cái gì. Những ngày cố gắng chống chọi bằng tàn hơi rồi cũng phải chấm dứt. Anh cho đồng đội giải tán. Họ không còn thấy lại nhau. Mỗi người đi về trú quán của mình. Trên con đường nhỏ trước khi vào ấp Đồng Nguơn, bày ra một cảnh anh chưa từng bao giờ nghĩ đến: áo quần giày mũ của lính vương vãi khắp nơi. Anh cắn chặt môi, cố gắng giữ vẻ bình tĩnh. Bà chủ nhà, vẫn ân cần như trước, dọn cơm cho anh ăn. Bà ái ngại hỏi:

-    Anh tính sao?
-    Dạ, cháu về Sài Gòn, ra trình diện ạ!
-    Phải. Ai cũng vậy hết. Tui nghĩ chắc không sao đâu!
-    Dạ, chắc không sao…
-    Còn gia đình, còn vợ con, anh hãy ráng…
-    Dạ, cháu cám ơn bác, cháu sẽ ráng.
Anh nuốt miếng cơm vào họng. Cơm mặn đắng.

Khi chỉ còn một mình ngoài vườn, anh đấm mạnh nắm tay vào cột gỗ. Máu chảy. Anh để dòng nước mắt uất hận chảy tuôn.

**

Và như thế, như những người thất trận khác, anh trình diện, rồi đi vào trại “cải tạo”. Anh trấn an bà con đừng lo nghĩ nhiều cho anh. Chị đã theo gia đình đi về Đà Lạt sau mấy tuần tạm trú ở Sài Gòn “lánh giặc”. Bây giờ thì hết chỗ để lánh. Đâu đâu cũng là “họ” rồi!

Anh đi “tù cải tạo” hơn hai năm, rồi vì bệnh nặng nên anh được cho về. Bà con Sài Gòn mừng vui, lo lắng cho anh, hỏi anh “tính sao”. Anh đâu biết tính sao. Cuộc đời đã xoay chuyển không ngờ. Người thanh niên lớn lên với bao nhiêu hoài bão xây đắp, bây giờ như đứng trong một cái hố sâu của thất vọng. Anh vẫn còn trẻ quá mà! Hai mươi bảy tuổi. Anh chưa biết “tính sao”.

Trở về Đà Lạt. Gia đình của cha mẹ anh bị “kiểm kê” mất hết tài sản vì có một cửa tiệm trên chợ, nên được gọi là “tư sản mại bản”.  Ba anh thất chí. Anh thất chí. Hai cha con vác cuốc đi làm rẫy. Nhiều người Đà Lạt khi đó cũng đi làm rẫy. Như một cái “mốt” chăng? Không hẳn thế. Mà là một phương tiện để sinh sống. Không bán được khoai củ như nhà vườn chuyên nghiệp thì cũng “có cái để ăn”. Thời gian này người dân cao nguyên thiếu gạo hơn cả cái thiếu của miền xuôi. Gạo bán kèm với thức ăn độn là khoai sắn theo “tiêu chuẩn đầu người”. Có nhà ăn su ăn sú trừ cơm. Anh tận dụng chiếc xe gắn máy cũ để chở rau chở sú về nhà. Nhưng ba của anh thì muốn đi bộ. Ông thường mang cái túi lớn trên vai, oằn lưng vác về những hoa màu thu được. Có khi ông gánh. Ông bảo thời chạy “tản cư” năm 1945 ông cũng gánh. Bây giờ ông trở lại gánh. Ông chủ tiệm với ông làm rẫy là một. Ông cuốc bộ đến quen, nhất quyết không đi xe. Cứ như vậy cho đến ngày ông chết.

Anh càng thất chí hơn. Anh trở về phố. Hai vợ chồng thuê nhà ra ở riêng. Thằng con trai kháu khỉnh lớn nhanh. Chị đã nghỉ học lâu nay, ra chợ bán buôn . Nói “bán” cho hay ho, chứ cái gọi là gian hàng của chị là một khoảng sân nhỏ bên hông chợ, trên đó chị bày một ít rau để bán. Những chanh, những hành, những ớt. Thế thôi. Cái “gian hàng” oai phong như thế vẫn phải đóng tiền chỗ mỗi ngày. Nhưng Trời thương, nhờ cái mảnh gian hàng đó mà chị trang trải được những chi phí cho gia đình. Cô nữ sinh hoa khôi của trường nữ trung học áo xanh đã đổi khác rất nhiều, đã nhuốm phong sương đúng theo nghĩa đen, vì sương và gió sớm của xứ lạnh đâu có tha cho làn da của một ai. Buổi sáng chị ra chợ sớm đón những nhà vườn mang rau ra bỏ mối, ngồi bán suốt ngày cho đến tắt mặt trời, tối đến lo cơm nước, dọn dẹp nhà cửa, đón con từ bà nội về. Chị vẫn mỉm cười, không một lời than.

Nhưng anh thì mắc bệnh trầm cảm. Anh đã không quen được với cảnh đời mới dù anh luôn dặn mình hãy cố gắng. Đêm ngủ anh thường giật mình ngồi bật dậy, nghe ùa đến trong anh nỗi xót xa thương nhớ đồng đội. Anh nhớ những con suối, những khu rừng, những làng mạc thôn ấp. Anh nhớ cảnh nhường nhau từng bịch gạo sấy, từng điếu thuốc hút một nửa. Rồi anh thảng thốt trong một giấc mơ có cảnh các anh em đồng đội vội vàng cởi bỏ quân phục, tìm đường chạy mỗi người một phương. Anh vẫn còn nghe rất rõ giọng nghẹn ngào của người lính gần gũi mình nhất: “Thiếu úy! Em sẽ tìm lại Thiếu úy.”  Anh nhớ cái nắm tay chảy máu của mình. Anh lại hãi hùng với ký ức những ngày trong tù cải tạo. Những lời thuyết giảng xoáy vào tai. Những lời nhiếc móc. Những ngày nắng lửa lầm lũi đi lao động. Những buổi mưa dầm ngồi trú ở một góc nào đó nhớ nhà, nhớ cha mẹ vợ con. Anh đã bị một hậu chứng khó chữa lành. Anh không dễ dãi đi tìm quên ngoài quán nhậu. Anh tìm vào một thế giới có nhạc, có thơ văn. Nhưng tất cả đều không giúp gì được cho anh.

Một ngày, người lính cũ tìm đến nhà anh. Thầy trò mừng tủi. Người lính vẫn gọi anh là “Thiếu úy”. Và thật cảm động, anh ta tặng “Thiếu úy”  một chậu mai vàng. Cây mai Đồng Nguơn, vì anh ta là người dân miền ấy, đã được anh “rinh” lên xe đò đem đến tận đây để tặng người chỉ huy cũ của mình.

**

Cây mai trồng ở cao nguyên, vẫn sống nhưng không nở hoa. Bao nhiêu mùa xuân vùn vụt trôi. Mỗi Tết đến, anh trông chờ cây mai nở những nụ hoa vàng. Nhưng nó sống èo ọp, thoi thóp như một cơ thể héo úa. Người ta bảo cây mai nếu được chăm sóc tốt có thể sống cả trăm tuổi. Anh quyết định cho nó ra ngoài đất, không để trong chậu nữa. Có người anh em bạn rủ đi làm rẫy dưới chân đèo Prenn, anh đem cây mai về trồng dưới đó.

Anh chọn làm rẫy, sống như một người ẩn dật. Chị thì không muốn. Chị chọn sống ở Đà Lạt, ngay phố chợ để buôn bán. Chị đã sắm được một cửa tiệm nhỏ bán len và đan áo. Anh đi đi về về. Bề ngoài, trông họ vẫn là một gia đình bình thường.

Đứa con trai lớn lên thành một cậu thanh niên tuấn tú. Nhưng cậu có lối sống trầm mặc. Cậu thường tìm mua những mẩu đá quý, và ngồi một mình yên lặng hằng giờ, khắc lên những mẩu đá ấy nào tượng Phật, nào tượng Chúa, nào tượng thần tiên. Cậu thiếu sự gần gũi với cha. Hai mươi mấy năm, hai cha con chỉ nói với nhau những câu thật đơn giản. Mà anh cũng không biết có cái gì để chia sẻ cùng con. Bởi anh còn mang một tâm bệnh chưa chữa lành.

**

Chị khóc khi đọc những dòng chữ tuyệt vọng của anh:

“Có thể anh sẽ chết. Như bao người tuyệt vọng. Cây mai anh trồng mãi chẳng nở hoa. Anh không quên được quá khứ. Anh không quay lưng với mình. Nhưng anh hằng phải đối diện với những kẻ lãng quên, những kẻ quay lưng. Có lẽ anh sẽ chết. Một ngày nào cây mai chết vì không muốn nở hoa, anh cũng sẽ chết”.

Cả tuần nay anh không về nhà. Tết đến nơi rồi! Một mình chị lo “cúng quảy trong nhà trong cửa”, nói theo cách quen thuộc của người mình. Đứa con đi với bạn bè vào núi tìm mua đá quý. Chị nghe nỗi buồn xót xa bào xé trong lòng. Đã có ai đó nói rằng một người buồn quá có thể “vỡ tim”. Có một anh bạn đã chết vì nhồi máu cơ tim và chết trong giấc ngủ không ai hay biết. Anh rồi cũng thế sao? Chị hoảng hốt. Đứa con về nhà sáng mồng một. Hai mẹ con đèo nhau trên chiếc Honda, xuống rẫy của anh.

Chân đèo Prenn. Rẫy nằm sâu bên trong, cách đường lộ lớn một cây số. Thằng con chở mẹ trên đường đất đỏ gập ghềnh. Họ đến trước sân nhà, một ngôi nhà nhỏ như mọi cái nhà quanh đây dựng sơ sài để trông chừng vườn rẫy. Chị như rú lên khi trông thấy cây mai ủ rũ xơ xác, khô đét. Bao nhiêu năm nay nó vẫn sống tuy rằng sống buồn sống héo. Bây giờ nó muốn chết rồi chăng? Chị chạy như bay vào nhà. Ngôi nhà đơn sơ chẳng mấy khi khóa cửa. Chị sẽ gặp anh như thế nào đây? Ôi, anh ơi!..

-    Chúc mừng Năm Mới!
Chị giật mình. Anh trong bộ đồ tươm tất, trông như sắp sửa đi đâu. Chị bàng hoàng. Anh nói tiếp ngay:
-    Xin lỗi em. Anh chuẩn bị về trên nhà mình đây! Hôm nay là Tết mà! Mình về ăn Tết chứ em?
-    Dạ…
-    Con chở em xuống đây à?
-    Dạ, hai mẹ con chạy xuống với anh. Em sợ anh…
-    Sợ anh buồn à?
-    Không… Anh ơi, cây mai héo queo rồi!
Anh thở dài:
-    Phải. Mai vàng khó ra hoa nơi miền rừng núi lạnh lẽo. Ăn tết ba ngày xong mình cùng đi Đồng Nguơn đi em! Đi thăm thằng lính cũ của anh. Đi thăm ngôi nhà có lần em đã ghé đấy! Bà chủ nhà chắc bây giờ lụm cụm lắm rồi. Vườn mai của bà chắc nở đẹp phải biết. Phải đi Đồng Nguơn thôi! Thằng con cũng đi nữa. Anh có nhiều điều để chia sẻ với nó.
Nước mắt tràn đầy trong mắt chị. Người con gái hoa khôi trong trường nữ trung học áo xanh, bao năm dạn dày tần tảo vẫn sáng lấp lánh vẻ đẹp nhu lành. Chị gật đầu thật nhanh như sợ anh đổi ý, như sợ những gì mình nghe thấy chỉ là trong mơ.

Trước cổng, cây mai vàng xơ xác như sống lại. Cây mai của Đồng Nguơn.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh