Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2026

Muôn Tạ Ơn Trới

 


 

 

MUÔN TẠ ƠN TRỜI 

Riêng tặng TT Donald  J. Trump để ghi lại khoảnh khắc lịch sử phi thường. 

       Tin trên mạng: Hồi 6:10 - 6:11 phút chiều ngày 13/07/2024 - giờ địa phương - tại thành phố Butler, tiểu bang Pennsylvania, Thomas Matthew Crooks, 20 tuổi, dùng súng ám sát cựu TT Donald Trump trong lúc Ông bắt đầu cuộc vận động tranh cử trước đám đông dân chúng. Rất nhiệm màu, Thượng Đế đã che chở Ông thoát nguy trong gang tấc. Chỉ một phút sau, Ông đứng lên, nắm tay trấn an và cương quyết với cử tọa rằng Ông sẽ không đầu hàng và cùng với những người dân yêu nước, Ông tiếp tục sứ mạng MAGA.

 

Hai mươi đã khát máu người

Thêm vài năm nữa thì ngươi thế nào?

Hai mươi, tuổi đẹp nhường bao

Vì đâu hung ác vì sao bạo tàn?

*

Sao không đi dệt mơ vàng

Mà đi cầm súng dã man giết người ?

Sau lưng, ai dựng kịch đời ?

Ai trao súng đạn, ai lời mộng du ?

*

Đem thân vào cõi sa mù

Được gì hay chỉ thiên thu ngậm ngùi !?

Cho hay muôn sự do Trời 

Ý Trời đã định, sức người khôn lay

*

Gây chi qủa nghiệp thế này 

Phải rằng công cụ của bày bất lương ?!

Sao không biết sống yêu thương

Mà tìm cái chết bạo cường tàn hung !?

 

Ông Trump chính bậc anh hùng

Thương dân, yêu nước, sánh cùng, mấy ai ?

Giết Trump, một đấng anh tài

Là đem giết cả tương lai Hoa Kỳ !!!

*

Tạ ơn Thượng Đế huyền vi

Mưu gian, kế ác mong chi hại đời !

Tạ ơn, muôn tạ ơn Trời

Ngăn tay ác qủy hại người hiền lương

*

Máu rơi ở giữa chính trường

Nung thêm bất khuất kiên cường thép gang

Phi thường, dũng cảm, hiên ngang

Nắm tay, Ông chẳng đầu hàng, giơ cao

*

Mừng vui, dân vỗ tay chào

Phút giây huyền nhiệm đi vào sử xanh

Năm châu phục bậc hùng anh

Và chê trách bọn vuốt nanh hại người !

 

Tạ ơn, muôn tạ ơn Trời ...

Ngô Minh Hằng

14/07/2024

 




MUÔN TẠ ƠN TRỜI 
Ngô Minh Hằng

Trân trọng 
NHHN 


Chúc Xuân

 


 

 

CHÚC XUÂN

(Riêng cho nước Mỹ, quê hương thứ hai vô cùng yêu dấu của tôi và của những người VN ṭy nạn CS chân chính. Riêng tặng những ai có trái tim đồng cảm.)

 *

Lòng cũng muốn có đôi lời chúc tụng

Khi đất trời thức dậy báo xuân sang

Nhưng trận chiến cho dù không tiếng súng

Đã làm Xuân tan nát những huy hoàng !

*

Đã làm Xuân đau thương từng cánh én

Từng niềm vui, hy vọng cũng bay xa

Chỉ còn lại những mảnh lòng uất nghẹn

Nhìn tương lai trong dâu biển nhạt nhòa

*

Có nằm mộng cũng không hề nghĩ tới

Rằng một ngày miền đất hứa tan hoang

Đáy vực thẳm, non sông đang hấp hối

Và quanh bờ đầy ma qủy, sài lang ...

*

Thương tiếc quá bao mùa Xuân năm cũ

Những xuân vàng, từng giọt nắng reo vui

Từ đây nhé, nếu loài người say ngủ

Thì thế gian bốn cõi sẽ đau vùi !... 

*

Và nhân loại sẽ chìm trong bụi đỏ

Trong đau buồn, trong hận tủi mênh mông

Tim óc mấy cũng tay cùm, thân rọ

Trời bao la nhưng mắt bịt, chân còng !

Lòng cũng muốn có đôi lời chúc tụng

Khi ngoài sân hoa bướm nhởn nhơ cười

Nhưng chúc gì, nụ mai vàng đã rụng

Và quanh ta mây phủ kín mặt trời !!!...

*

Nếu có chúc, ta thét lời tỉnh dậy

Tỉnh mau đi, ngăn đất nước điêu tàn !!!

Bọn phản quốc, nuốt tiền Tàu, chúng quậy

Cho Hoa Kỳ thành cộng, bởi lòng tham !

*

Nếu có chúc, ta chúc người thế giới

Chỉ đích danh tội phạm chính quân Tàu

Đoàn kết lại, đứng lên mà hỏi tội

Cộng lan tràn, nhân loại chết vì đâu ?

*

Nếu có chúc, ta chúc cho nước Mỹ 

Mau chung tay đuổi cộng khỏi sơn hà

Quét cho sạch bọn tham tàn, lừa mị

Để phục hồi, tươi sáng đất Cờ Hoa...!

Ngô Minh Hằng

20/1/2022



CHÚC XUÂN
Ngô Minh Hằng 

Trân trọng 
NHHN 


Mùa Xuân Ước Mơ



MÙA XUÂN ƯỚC MƠ
Nguyễn Văn Thành 

Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị thưởng thức 


 

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

Thư Mời - Lễ Giỗ Húy Nhật Trưng Nữ Vương

 


Tổ Đình Việt Nam
Vietnamese Cultural Center
Trần Hưng Đạo Foundation, Non Profit Organization
2236 SW Orchard St., Seattle WA 98106 USA
Điện thoại: 206-779 6875- Email: todinhvietnam@yahoo.com

THƯ MỜI
LỄ GIỖ HÚY NHẬT TRƯNG NỮ VƯƠNG

Kính gởi:   

-  Quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo.

-  Quý tổ chức hội đoàn, cộng đồng, hiệp hội Người Việt quốc gia

-   Quý cơ quan truyền thông báo chí . Kính nhờ phổ biến.

-   Quý Phụ nữ VN và gia đình.

Kính thưa quý liệt vị,

Tổ Đình hương khói hồn Dân Tộc

Một áng linh xưa vẫn sáng ngời.

    Cây có cội, nước có nguồn.Tri ân những bậc tiền nhân đã có công dựng nước, giử nước là nền tảng văn hóa phong phú ngàn đời của dân tộc Việt. Người Việt Quốc Gia ở hải ngoại dù công việc đa đoan vẫn theo truyền thống hàng năm tổ chức những buổi Lễ để hằng tâm bảo tồn nền văn hóa cổ truyền của tổ tiên để lại.

    Mục đích tri ân Công Đức của hai vị Trưng Nữ Vương đã nêu cao chí quật cường của Phụ Nữ Việt Nam; đã đánh tan quân xâm lăng Hán tặc đem thanh bình cho quê hương Việt Nam.

Trân trọng  kính mời quý vị cùng gia đình đến tham dự buổi Lễ Giỗ Hai Bà Trưng theo nghi thức tế lễ cổ truyền

    Điện Thờ Anh Hùng Liệt Nữ VN  2236 SW Orchard St., Seattle WA 98106 

   hồi 12:00 PM ngày Thứ Bảy 14-3-2026 tức Ngày 26 Tháng 2 Âm Lịch Năm Bính Ngọ. 

   Ban Tổ Chức Lễ Giổ Hai Bà Trưng đều là do các vị nữ lưu trách nhiệm và Ban tế Nữ Quan  mong muốn gìn giữ và truyền đạt nghi thức tế lễ cổ truyền đến các thế hệ con cháu Việt Nam .

    Sự hiện diện của quý vị sẽ làm buổi lễ tăng thêm phần long trọng.

    Seattle ngày 06 tháng 3 năm 2026

    TL. Trưởng Ban Tổ  Chức    

    Bà Đoàn Phương Thu                                   


Hạnh Phúc Đầu Xuân

 


HẠNH PHÚC ĐẦU XUÂN
Minh Kỳ & Lê Dinh

Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị thưởng thức 


Xin Tặng Cho Mẹ Và Những Bạn Tù Cuối Cùng

 


XIN TẶNG CHO MẸ VÀ NHỮNG BẠN TÙ CUỐI CÙNG
Phan Gia Đại 

(Đã có nhiều sách báo và bài vở viết về những nỗi thống khổ của hàng trăm ngàn người bị giam cầm hay lưu đầy tại hai miền Nam BắcViệt Nam sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản tháng Tư năm 1975, nhưng ít có tài liệu nào đề cập đến những người tù nhân chính trị còn lại sau cùng và sự thay đổi kỳ diệu trong lòng người và sự sụp đổ của hệ thống tuyên truyền của Cộng Sản.)


* * *

Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại, người xưa thường vẫn nói như vậy để thấy những ngày tháng trong ngục tù là cả thiên niên kỷ. Vậy mà chúng tôi đã bước qua năm thứ mười ba trong các trại giam tập trung mà được gán cho một danh xưng là trại cải tạo.


Trước khi có chuyến tầu chuyển những người tù cuối cùng trên đất Bắc xuôi về miền Nam thì có vài sự kiện đã xảy ra như là tiền đề cho chuyến tàu cuối cùng này: Sự kiện thứ nhất là năm 1983 thì đột nhiên được lệnh tất cả các trại giam Miền Bắc kể từ Thành Hoá trở ra đều phải chuyển hết từ nhân chính trị về trại Ba Sao, Nam Hà. Lúc đó không khí thật là nhộn nhịp khác thường và tuy rằng phải nằm chung với nhau mỗi buồng sĩ số người chỉ 60 mà họ nhét vào tới 100 hay hơn nữa, nằm như cá mòi và chỉ ngủ nghiêng một bên mới nằm xuống được. Tuy nhiên chúng tôi đều mang trong lòng một niềm vui vì được biết tin do một số cán bộ vẫn thường vào cà phê trà lá cho biết là sẽ có một đợt lớn di chuyển tù nhân vào trong Nam. Khoảng tháng Năm thì quả thật hàng ngàn tù nhân đã được di chuyển vào Miền Nam nắng ấm và gần gia đình.


Sự kiện thứ nhì là đầu tháng Chín năm 1987, và vào dịp Tết năm 1988 đã có hai đợt thả tù chính trị lớn nhất tại trại Ba Sao Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh và được quảng cáo renh rang với báo chị nước ngoài. Các vị Tuyên Úy Phật Giáo, Tin Lành và Thiên Chúa Giáo đều được trả tự do trong dịp này trong đó có thầy Tâm là hoa thượng thầy của tôi. Trong lúc chia tay thầy vẽ lên trên ngực áo của tôi chữ Nhẫn và nhắn nhủ tôi ráng giữ gìn sức khỏe. Thấy nhắc tôi có nhớ chăng giấc mơ của thầy nhìn thấy tôi là một trong số những con cá cuối cùng nằm trơ trên lòng sông cạn?


Những người tù này được đưa đến nhà ga Nam Định để về miền Nam đoàn tụ với gia đình sau hơn 12 năm xa cách. Sau hai đợt thả này, các buồng giam trở nên trống vắng một cách lạ lùng. Chúng tôi nằm trong các buồng giam mà thấy rộng mênh mông và lòng tôi bỗng chùng xuống khi nghĩ đến vợ con mình, Mẹ già và các anh em không biết bao giờ hay có còn có ngày gặp mặt lại?


Sau hai đợt tha này, tổng số anh em chúng tôi còn lại tại trại Nam Hà chỉ còn vỏn vẹn đúng 90 người. So với vài chục ngàn quân dân cán chính VNCH đã bị đưa ra Bắc luu đầy từ năm 1976 thì đến đầu năm 1988chỉ còn lại 90 người và tôi là một trong số đó.


Những ngay tháng sau đó là thời gian lặng lẽ và chúng tôi vẫn sinh hoạt, đi lao động như một cái bóng trong âm thầm và an phận. Nhìn vào thành phần còn lại 90 người thì ngoài mấy ông Tướng ra, toàn là cảnh sát đặc biệt, an ninh quân đội, tình báo,v.v, những thành phần được họ coi là "nguy hiểm" cho chế độ. Những gì xấu nhất vẫn có thể xảy ra và không ai biết trước được.


Mùa Đông năm đó tại trại Nam Hà là mùa Đông mà tôi không bao giờ quên được trong đời. Chúng tôi nằm trong hai buồng giam rộng mênh mông bao quanh bởi hàng ngàn tù hình sự toàn là cướp của giết người và tù chung thân. Đã trải qua 12 mùa Động tại Miền Bắc nhưng Tết Nguyên Đán năm đó là một cái Tết buồn thảm nhất một phần cũng vì thời tiết đột nhiên trở lạnh đến cắt da cắt thịt với mưa phùn gió Bấc và sương mù dày đặc. Có lẽ Ông Trời cũng cảm thương cho số phận những người còn ở lại.


Chúng tôi được trại cho nghỉ một tuần không phải lao động và chỉ biết quấn chăn nằm chịu trận trong buồng giam. Thấy anh em tinh thần đều đi xuống tôi bèn khều anh Ngọc là Thiếu Tá An ninh quân đội, là “Bầu” Ngọc để nấu nước trà và mời anh em ngồi quây quần lại với nhau để ăn miếng bánh và hút điếu thuốc hàn huyên cho vui. Từ đó mỗi tối chúng tôi thường party và nỗi buồn cũng từ từ trôi qua. Có những buổi tối, các cán binh canh gác và cả cán bộ trực trại cũng thường ghé lại cửa sổ và xin ly nước trà và điếu thuốc lá và an ủi chúng tôi là thế nào cũng có một chuyến về Nam nữa. Nhìn họ, tôi không thể tưởng tượng rằng khoảng chục năm trước thì họ là những hung thần trọng trại giam bây giờ thì đôi lúc lại che chở chúng tôi trong những lần chuyển thư từ bí mật về cho gia đình. Tin tức sẽ di chuyển tất cả chúng tôi vào miền Nam như đem lại một luồng sinh khí mới đến với mọi người những người tù còn lại quá ít ỏi và sức khỏe suy yếu sau những ngày tháng rét mướt của mùa Đông


Tuy vậy phải chờ đến tháng Năm 1988, sau đúng 13 năm bi giam cầm và lưu đầy tại miền Bắc thì tin vui ngày chính thức chuyển trại vào miền Nam mới được thông báo. Chín mưoi người anh em chúng tôi còn lại cùng với một tù hình sự có người chú là cấp Tướng của Việt Cộng cũng được cho đi theo tổng cộng là 91 người ba lô gọn nhẹ sẵn sàng xuôi về Nam.


Chúng tôi được vận chuyển bằng những chiếc xe buýt cũng còn mới trực chỉ nhà ga Nam Định, hai người một còng tay lại với nhau. Chiếc còng nầy 12 năm trước khi được bí mật di chuyển từ miền Nam ra Bắc, tôi cũng đã bị còng như vậy với một anh bạn làm cùng sở trước kia.


Tay Thiếu Úy công an khi còng tay chúng tôi lại nói một cách nhẹ nhàng: "Các anh thông cảm cho". Tôi chỉ mỉm cười vì anh ta chính là người vẫn thường xuyên vào trại cà phê trà lá với chúng tôi và đã từng mạnh miệng nói rằng: "tôi nói chuyện với các anh trong này thì khác, khi bước ra khỏi cái cổng này tôi phải là con người khác rồi thì mới sống được với tụi này". Một tay Thiếu Úy khác trong khi nhâm nhi ly cà phê và hút điếu ba số năm thi an ủi chúng tôi:" Các anh mới ở tù 13 năm nhưng còn có tương lai tự do sau này và có thể còn đi ra nước ngoài nữa chứ chúng tôi thì ở tù chung thân trong chế độ này thì sao?".


Những chiếc xe nầy chậm chạp chạy theo con đường độc đạo từ trong trại ra ngoài thị xã và đến tối thì chúng tôi mới đến nhà ga Nam Định.


Trời đã sập tối và chúng tôi được lệnh xuống xe để chờ lên xe lửa. Tôi không thể ngờ rằng có một ngày tôi lại trở về nơi chôn nhau cắt rốn của mình trong tình trạng như thế này và trong lòng không khỏi chua xót.


Nhà ga Nam Định là một nhà ga lớn nhưng trông thật là nghèo nàn đến độ thảm thương với những ánh đèn điện vàng vọt từ trong các sập hàng quán chật hẹp và xiêu vẹo hắt ra không đủ soi sáng từng khuôn mặt của những người tù cuối cùng này. Trên nét mặt tuy đăm chiêu của họ vẫn thoáng một niềm vui vì sẽ được về miền Nam quê hương mình và gần hơn gia đình tuy rằng gian khổ vẫn còn trên con đường "tập trung cải tạo".


Chúng tôi thoáng nhớ lại trên đường rời từ trại Ba Sao xe chạy hai bên đường thấy có những cán bộ cả nam lẫn nữ ôm con của họ đôi mắt đỏ hoe vẫy tay chào chúng tôi. Đó là một hiện tượng chuyển biến ky diệu vì họ là những người đã thường xuyên vào trong trại để hàn huyên tâm sự và để cảm ơn chúng tôi vì đã giúp đỡ cho gia đình họ khi con cái đau ốm nặng và bệnh xá của họ cũng không có thuốc. Khu gia binh là nơi đã chịu nhiều ơn nghĩa từ những tù chính trị trong trại cho nên từ đó thái độ của họ đã chuyển 180 độ từ căm thù chúng tôi sang cảm mến những người mà họ đang giam cầm.Họ đã được cảm hóa và những sự tuyên truyền của Cộng Sản rằng các tên "Ngụy" nầy chuyên ăn gan hút máu người đã sụp đổ tan tành. Chính vì thế mà có tin tức gì thì họ thông báo ngay cho chúng tôi biết như chuyến tầu chuyển tù về miền Nam lần này thì chúng tôi cũng biết trước.


Vật chất đôi khi cũng là những chất xúc tác hữu hiệu cho sự chuyển biến con người. Đó là thời gian mà sau năm năm lưu đầy tại miền Bắc thì chúng tôi được họ cho phép viết thư về thăm gia đình và chính thức thông báo đang tập trung tại miền Bắc là điều suốt năm năm trước họ dấu kín. Từ đó gia đình được đến thăm hay gửi gói hàng tiếp tế qua bưu điện đã đem đến cho chúng tôi không những thực phẩm đồ khô mà quan trọng nhất là thuốc men nên đã cứu được nhiều anh em trong giai đoạn này.Dân chúng chung quanh trại giam kể cả các cán bộ trại cũng đều từ ngạc nhiên đến choáng ngợp trước sự giàu có của miền Nam vì có những thứ cả đời họ chưa biết đến bao giờ. Sự tuyên truyền về một miền Nam nghèo đói vì áp bức của Mỹ Ngụy cũng tan ra mây khói.


Viên Thượng Tá trưởng trại Nam Hà tuyên bố trước chuyến tàu cuối cùng chuyển tù chính trị vào Nam năm 1988 là: "Chúng tôi không muốn dùng chữ cải tạo giáo dục các anh nữa vì chúng tôi không đủ khả năng làm việc đó mà còn phải học hỏi ở các anh rất nhiều" và ông ta đã bảo các cán binh vào trong trại để xin học Anh Văn và các cán binh này rất hãnh diện khi bi bô được một hai câu chào hỏi.


Dòng tư tưởng của tôi bị ngắt quãng vì một đám cán bình súng ống đầy đủ đang thúc dục tất cả lên tàu. Suốt 13 năm di chuyển qua bao nhiêu trại giam từ Nam ra Bắc và bây giờ lại từ Bắc vào Nam, bây giờ chúng tôi mới có dịp nhìn thấy bao nhiêu là cảnh đẹp và hùng vĩ của đất nước khi xe lửa chạy dọc theo Quốc Lộ 1; và đồng thời cũng chứng kiến những cảnh đời cùng cực của dân chúng.Lẫn lộn trong những bài cát trắng ngần của bãi biển Cà Ná và hàng phi lao của Nha Trang với gió biển trong lành như thấm vào từng sở thịt trong người tôi, những thị tứ sầm uất khi đi qua Huế Đà Nẵng là hình ảnh con người đang ra sức cày thay cho trâu trong những thửa ruộng khô cằn thiếu mầu mỡ của miền Trung. Những hình ảnh những ngôi làng toàn mái nhà tranh vách đất nghèo đến xác xơ hai bên đường và cảnh người phụ nữ bụng chửa đã vượt mặt mà vẫn chầm chậm gánh tùng gánh gạch vào lò là những hình ảnh tôi không bao giờ quên được.


Một đoạn đường từ nhà ga Nam Định vào đến Hàm Tân, Bình Thuận chỉ hơn một ngàn cây số nhưng chiếc xe lửa cũ kỹ này phải lê cái thân xác của nó mất ba ngày và hai đêm mới đưa được đám tù này đến nơi. Lần này, tôi còng tay phải vào tay trái của anh Hầu mà tụi tôi vẫn thường gọi là Hai Hầu, Thiếu Tá An Ninh QD và hai anh em cứ phải thay phiên nhau kẻ ngồi trên ghế thì người nằm co dưới sàn tàu để có dỗ giấc ngủ. Đến buổi tối ngày thứ hai thì có một nhân viên hỏa xa, cậu ta rất còn trẻ, đến bên chúng tôi và bắt chuyện và giới thiệu là ba của cậu trước kia cũng làm cho Bưu Điện Sàigòn nên may mắn không phải đi cải tạo.


Thái độ của cậu ta đối với chúng tôi có vẻ rất là lễ phép, nhiều thiện cảm và câu nói của cậu ấy như vẫn còn văng vẳng bên tai của tôi:"Các anh, các chú và các bác dù là sau 13 năm tù đầy nhưng trông vẫn còn nhiều khí phách".


Khi tàu chạy qua một chiếc cầu trong tỉnh Thanh Hoá thì được lệnh là chạy thật chậm, chậm còn hơn người đi xe đạp bên đường, có lẽ tại cây cầu đã quá cũ kỹ. Ngồi trên toa tàu, tôi chợt nghĩ nếu chiếc cầu nầy sụp đổ vì sức nặng của con tàu thì quả là một sự kết liễu thật vô duyên.


Khi vừa vào địa phận miền Nam thì tàu được lệnh dừng lại tại một sân ga mà tôi không biết tên để đổi xe lửa. Khi xe đang chờ để vào trạm, viên Thượng Úy phụ trách chuyến di chuyển nầy tưởng rằng đã đến sân ga nên ra lệnh cho các người tù xuống xe. Sự bất cẩn của tên Thượng Úy nầy suýt nữa đã gây ra thương vọng cho anh em tù nhân trong đó có tôi. Bởi vì cứ hai người thì còng tay lại với nhau cái còng số 8, và anh Hai Hầu vừa bước chân xuống sân và tôi còn đang trên các bực thang thì bất ngờ tàu chuyển bánh. Tôi thì tay trái cầm cây đàn guitar, tay phải còng với anh Hầu nhưng vẫn nắm lấy cái giỏ xách đựng thuốc men vật dụng cần thiết và bộ ấm trả bằng sứ và chưa biết phải làm sao thì tên Thiếu Úy đứng dưới sân ga và gần cửa toa tàu la lên một tiếng: "Anh Đại đưa cho tôi cây đàn!" trong một tich tác động hồ, tôi ném cây đàn về phía tên Thiếu Úy, tay phải buông cái giỏ ra và nhảy một cái qua 2 bực thang xuống lòng đường trong khi toa tàu chạy vụt qua phía sau. Tôi cảm thấy lạnh suốt xương sống vì anh Hầu không hề biết là tàu vừa chuyển bánh nên kéo tôi xuống còn tôi thì đang chân chừ và ghì lại. Chỉ một tích tắc không nhảy xuống kịp thì hoặc anh Hầu hay tôi sẽ bị té xuống và rớt vào đường rầy xe lửa. Tôi nghĩ là Ông Bà linh thiêng hay ông anh Cả của tôi đã mất sau tám năm tập trung cải tạo đã phù hộ cho tôi bởi vì tên Thiếu Úy chính là một trong những tay cán bộ vẫn thường ra vào trại trà lá với chúng tôi và rất thích nghe chúng tôi hát những bản nhạc của chế độ cũ. Tôi lững thững đi theo đoàn người vào sân ga và chưa kịp hoàn hồn thì lại được lệnh leo lên cái tòa tàu mà suýt nữa tôi mất mạng vì nó để xuôi vào Nam.


Sau khi con tàu vào đến địa phận của miền Nam thì không khí hình như sôi động hẳn lên mỗi khi đi qua hay tạm dừng lại một sân ga nào như Huế, Nha Trang. Đồng bào hiếu kỳ hình như nhận ra được chúng tôi là những người tù chuyển trại khi mấy anh bạn tôi giơ vẫy tay còn đang bị còng lên chào đồng bào, thì họ ùa đến quanh xe và hỏi thăm tíu tít hay quẳng những gói bánh kẹo thuốc lá lên toa tàu chúng tôi. Đám cán binh lại phải làm việc để đẩy lùi những người dân đang bao quanh. Ngược giòng thời gian 12 năm trước thì tình hình thật là bi thảm khi các quân dân cán chính của chế độ cũ bị chở ra Bắc trên xe lửa khi đi ngang qua những xóm làng ven đường thì hàng loạt những cục đá đã được huy động ném lên tàu gây bao nhiêu là thương vong kèm theo với những lời mắng chửi nặng nề. Nhưng có lẽ điều in sâu vào trong ký ức của tôi là khi tàu ghé qua ga Diêu Trì lúc đó cũng đã xế chiều thi chúng tôi được lệnh ở nguyên trên toa và bỗng nhiên không hiểu sao thì dám cán binh võ trang đứng dàn hàng hai bên toa tàu canh giữ rất là nghiêm ngặt. Một lát sau từ trong cổng làng ùa ra hàng trăm dân làng chạy đến vây quanh toa tầu và vẫy tay chào chúng tôi, một số em bé lấy cớ buôn bán bưng các thúng bánh lá đến toa chúng tôi và để nguyên thúng bánh lại và chỉ cho chúng tôi đến lấy rồi tất tả chạy xuống. Rất nhiều dân làng muốn lên toa nhưng đều bị đám cán binh đẩy lùi ra. Người dân sau những năm tháng sống dưới chế độ hà khắc của Cộng Sản đã nhận ra đâu là Thiên Đường và chế độ cũ Việt Nam Cộng Hoà còn tốt đẹp hơn nghìn lần cái xã hội chủ nghĩa đang đầy ải cuộc đời của họ.


Cuối cùng thì sau ba ngày đêm di chuyển bằng xe lửa thì chúng tôi đã đến điểm tập trung là trại Z-30D Hàm Tân trong khu rừng Lá Buông, tỉnh Bình Thuận và được xe tải chở về đến trại giam.


Viên Thiếu Tá Nhu trưởng trại đích thân ra đón chúng tôi 90 người nhập vào 64 người đang còn trong trại tổng công là 154 người tù cuối cùng đã bị giam giữ từ năm 1975.


Viên Thiếu Tá này nói với các cán bộ dưới quyền hắn là phải đối xử" tử tế" với những người tù vì họ cũng "sắp được thả ra về". Chúng tôi được đối xử" tử tế" khi được “ưu ái” đưa vào khu rừng lá buông để tiếp tục con đường lao động khổ sai. Kể từ ngày xuôi tàu về miền Nam tháng Năm 1988, phải mất 4 năm sau đến tháng Năm 1992 thì 20 người tù cuối cùng trong đó có tôi mới hiểu được lời viên trưởng trại nói là"sắp được thả ra về" là như thế nào. Hai chục người trong đợt thả cuối cùng vào cuối tháng Tư và đầu tháng năm 1992 với 17 năm là những người ở tù lâu nhất sau khi Saigon thất thủ vào tháng Tư Đen 1975.


Viết lại xong January 11th, 2010


PGĐ


Hy Vọng Cho Iran Và Những Nơi Khát Vọng Tự Do Đang Cháy Bỏng

 

Who's next

Những Cung Đàn Lạc Điệu - HY VONG CHO IRAN VÀ NHỮNG NƠI KHÁT VỌNG TỰ DO ĐANG CHÁY BỎNG
Triều Giang


Trong tiếng reo hò, trong những điệu nhảy rộn ràng, và cả trong những giọt nước mắt nóng hổi của người dân Iran – những giọt nước mắt dồn nén suốt nhiều thập niên bị áp bức – thế giới đã chứng kiến cuộc không kích đầu tiên của Do Thái và Hoa Kỳ vào Iran, sáng thứ Bảy, ngày 28 tháng 12 năm 2026.


Cuộc tấn công chớp nhoáng ấy đã cướp đi sinh mạng của hơn 40 người, trong đó có giáo chủ Ali Khamenei, con trai của ông ta, người được nhắm là kế vị, và nhiều nhân vật cốt cán của một chính quyền thần quyền từng “hét ra lửa” suốt gần nửa thế kỷ. Diễn biến quá nhanh, quá mạnh, quá chính xác khiến cả thế giới sững sờ.


Người ta đặt câu hỏi:


– Làm sao Do Thái và Hoa Kỳ có thể hành động nhanh, mạnh, chính xác và thần tốc đến vậy?

– Làm sao một chế độ từng diễu võ dương oai, từng đe dọa sở hữu vũ khí hạt nhân, từng hô vang khẩu hiệu “Chết cho Do Thái, Chết cho Hoa Kỳ” lại sụp đổ chỉ trong giờ đầu của cuộc tấn công?


Suốt nhiều năm, chính quyền thần quyền Iran dồn tiền của quốc gia – tiền mồ hôi nước mắt của dân nghèo – để tài trợ cho các tổ chức khủng bố vũ trang khắp nơi, mở rộng ảnh hưởng và củng cố quyền lực. Trong khi đó, chính người dân trong nước phải sống trong đói khổ, bị kiểm soát, bị đàn áp, bị giam cầm và tra tấn chỉ vì dám đòi quyền sống đúng nghĩa của một con người.


Những cuộc biểu tình đẫm máu vẫn còn in dấu trên phố. Máu của người dân chưa kịp khô. Vậy mà chỉ trong khoảnh khắc, bộ máy quyền lực tưởng như bất khả xâm phạm ấy đã tan biến trong khói lửa.

Và rồi một điều ít ai ngờ tới đã xảy ra:


Người dân trong nước không còn sợ hãi.

Hàng triệu người tràn ra đường với cờ và biểu ngữ:


“Cám ơn nước Mỹ.”

“Cám ơn Tổng thống Trump đã giữ lời hứa.”

"Tự do cho Iran"


Tại Hoa Kỳ, ở những thành phố có đông cộng đồng người Iran, và nhiều thành phố trên thế giới, họ cũng xuống đường. Họ ôm nhau, hát, nhảy múa, vừa cười vừa khóc. Niềm vui quá lớn, quá bất ngờ – một niềm vui mà có lẽ họ từng nghĩ sẽ không bao giờ đến trong đời mình.


NHỮNG CUNG ĐÀN LẠC ĐIỆU

Thế nhưng, giữa khung cảnh hân hoan ấy, vẫn vang lên những “cung đàn lạc điệu”.


Có những tiếng nói phản đối cuộc tấn công, đưa ra những lập luận nghe có vẻ nhân danh đạo lý, nhưng khó thuyết phục được những người đã sống trong địa ngục đàn áp.


Họ nói:

– Đây là một cuộc xâm lăng tàn ác và trắng trợn.


Nhưng nếu đó là “xâm lăng”, tại sao hàng triệu người dân Iran lại xuống đường trong nước mắt biết ơn?


Họ nói:

– Cuộc chiến xâm phạm nhân quyền và quyền tự quyết của Iran.

Nhưng suốt 47 năm qua, nhân quyền của những người dân bị bắn chết như thú vật, bị treo cổ, bị ném vào ngục tối, bị tra tấn đến biến dạng nhân phẩm – ai bảo vệ? Ai lên tiếng? Quyền tự quyết nào cho những người phụ nữ bị đối xử như súc vật?


Họ nói:

– Cuộc chiến bất hợp pháp vì không được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn.

Nhưng trong lịch sử hiện đại, nhiều đời Tổng thống, cả Dân chủ lẫn Cộng hòa, đã sử dụng quyền hành pháp trong các chiến dịch quân sự khẩn cấp khi an ninh quốc gia bị đe dọa.


Họ nói:

– Cuộc chiến sẽ làm suy yếu nước Mỹ, sẽ kéo dài và tốn kém.

Có người còn tính toán chi phí từng ngày. Nhưng họ quên rằng cái giá của việc để một chế độ cực đoan sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt còn đắt hơn gấp bội.


Họ nói:

– Đây chỉ là hành động hiếu chiến, là toan tính chính trị.

Nhưng đối với người mẹ Iran vừa mất con trong nhà tù, đối với cô gái bị đánh đập vì không trùm khăn đúng cách, đối với những gia đình có người bị treo cổ giữa quảng trường – đây không phải trò chơi chính trị. Đây là sinh mạng. Là phẩm giá. Là quyền được sống như một con người.


HỌ LÀ NHỮNG AI?

Câu hỏi đặt ra:


Vì sao vẫn có những người phản đối việc chấm dứt một chế độ đã đàn áp chính dân tộc mình và gây bất ổn cho thế giới?


Một phần là vì quyền lợi. Những quốc gia và nhóm lợi ích từng hưởng lợi từ chế độ thần quyền ấy tất nhiên không muốn mất đi một đối tác chiến lược.


Một phần khác là vì đối nghịch chính trị nội bộ. Với họ, thành công của một chính quyền đối lập là điều khó chấp nhận, dù điều đó mang lại hy vọng cho hàng triệu con người.


Sự ganh tỵ, thù ghét, tính phe phái và tâm lý bầy đàn đôi khi khiến con người phủ nhận cả điều đúng, điều công bằng, điều có thể cứu sống người khác.


BÀI HỌC CỦA QUÁ KHỨ

Nhìn lại, tôi không khỏi liên tưởng đến những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa.


Miền Nam Việt Nam, dù có chính nghĩa bảo vệ tự do, đã bị bủa vây bởi những tiếng nói phản chiến, những phong trào truyền thông đầy cảm tính và định kiến. Trong khi những người cộng sản nhân danh “giải phóng” thực chất áp đặt một chế độ độc đoán, miền Nam lại bị quy kết là “phi nghĩa”.


Khi cuộc chiến kết thúc, hàng triệu người mới hiểu cái giá của sự ngộ nhận. Nhưng khi đó đã quá muộn.


HY VỌNG CHO IRAN

Tôi chỉ mong rằng Iran hôm nay sẽ không lặp lại vết xe của Việt Nam ngày xưa.


Rằng những người đang đứng giữa đường phố Tehran với lá cờ trong tay sẽ không phải một lần nữa sống trong sợ hãi.


Rằng ước mơ được sống như một con người – được nói, được nghĩ, được tin, được yêu mà không bị đàn áp – sẽ không còn là điều xa xỉ.


Hy vọng ấy đang ở rất gần.

Và nếu thế giới đủ tỉnh táo để lắng nghe tiếng nói của những người đã chịu đau khổ, thay vì những “cung đàn lạc điệu” của quyền lợi và phe phái, thì có lẽ lần này, tự do sẽ không chỉ là khoảnh khắc lóe sáng trong khói lửa, mà sẽ trở thành hiện thực bền vững cho dân tộc Iran.


VÀ NHỮNG DÂN TỘC KHÁT VỌNG TỰ DO ĐANG CHÁY BỎNG

Và rồi một câu hỏi khác âm thầm vang lên trong lòng nhiều người:

Sau Iran, liệu con dân của những quốc gia nào – vẫn đang sống trong sợ hãi và bị kiểm soát toàn diện – sẽ có cơ hội được “ké tiếp” trên chuyến tàu tự do ấy?


Cuba?
Nga?

Triều Tiên?

Trung Quốc?

Hay Việt Nam?


Đó không phải là lời kêu gọi chiến tranh. Cũng không phải là ước mong bạo lực lan rộng. Đó chỉ là một khát vọng rất con người: khát vọng được sống trong phẩm giá, được quyền lựa chọn tương lai của chính mình, được nói mà không sợ hãi, được nghĩ mà không bị trừng phạt.


Khi một dân tộc thoát khỏi xiềng xích, câu chuyện ấy không chỉ thuộc về riêng họ. Nó trở thành tia hy vọng cho những dân tộc khác đang âm thầm chịu đựng. Hy vọng có thể nhỏ bé, mong manh – nhưng một khi đã được thắp lên, rất khó dập tắt.


Lịch sử cho thấy tự do không lan truyền bằng vũ khí trước tiên, mà lan truyền bằng niềm tin. Và nếu Iran hôm nay thực sự bước sang một trang mới, thì điều đáng sợ đối với các chế độ độc đoán không phải là bom đạn – mà là hình ảnh hàng triệu con người không còn sợ hãi.


Bởi một khi nỗi sợ tan biến, mọi thay đổi đều trở nên có thể.


TỰ DO CHO VIỆT NAM!


TG

(03/2026)