Thứ Năm, 12 tháng 3, 2026
Iran: Hình Nộm Lên Ngôi
Iran: Bản Danh Sách Điều Kiện Hay Tờ Đơn Xin Đầu Hàng Trong Tủi Nhục?
Cung Buồn Cho Một Cánh Chim
Trung úy Phi Công Trần Văn Lương sinh năm 1944. Anh say mê bay bổng, thích mạo hiểm. Anh tình nguyện vào Không Quân năm 1969 rồi trở thành Pilot phản lực cơ A37. Năm 1971, anh chuyển sang lái F5.
Ngày 9 tháng 7 năm 1974, một phi tuần 3 phản lực cơ chiến đấu F5, trong đó có phi công Trần Văn Lương thực hiện phi vụ oanh kích quân CS để yểm trợ lực lượng bộ binh tại mặt trận Tây Ninh. Chiếc F5 của Lương đã bị trúng đạn phòng không của địch bắn rớt.
Sau đó, vào ngày 15/7/1974, chị nhận được thư báo của BTL/SĐ3 Không Quân do Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính ký cho biết:
“… Trong một phi vụ hành quân, Trung úy Trần Văn Lương đã mất tích tại tọa độ XT140745, vào ngày 9/7/1974 lúc 12 giờ 15…”
Khi Lương mất tích, con trai của Anh mới được 20 ngày, và người vợ trẻ chỉ mới vừa tròn 22 tuổi. Từ đó, theo vận nước nổi trôi, chị Hoa ôm nỗi đau buồn bất tận, thương con, ngóng chồng mòn mỏi…
Đột nhiên, vào cuối năm 1976, qua bưu điện, chị nhận được thư của Lương cho biết Anh hiện đang bị CS giam ở trại giam Yên Báy, Bắc Việt. Chị tức tốc cố gắng dò hỏi để xin phép được đi thăm chồng nhưng bọn phỉ quyền Hà Nội hèn hạ không cho phép.
Mãi đến đầu năm 1979, chị Hoa mới được họ chấp thuận. Lúc này Lương đã chuyển về trại giam Đô Lương, Hà Tĩnh. Mùa Xuân năm 1979, chị Hoa dẫn theo con trai là Trần Thanh Vũ, 5 tuổi, đi thăm chồng, và thăm cha.
Gặp chồng tại trại tù Đô Lương, chị ngạc nhiên khi thấy sức khỏe của chồng đã quá yếu! Anh không đi nổi, phải có cán binh CS của trại tù cõng Anh ra nơi thăm nuôi. Thân hình anh gầy tọp, mắt bên phải của Anh băng kín, mặt Anh bị sưng, và biến đổi khác thường. Anh cho biết Anh bị bệnh viêm mũi nặng, phát tác trên mắt và bệnh hành khiến Anh bị nhức đầu triền miên.
Vì quá xúc cảm nên trong gần một giờ thăm viếng, chị không nói được một lời nào mà chỉ biết khóc. Phút cuối của cuộc thăm nuôi, Lương ôm chặt hai mẹ con chị vào lòng và an ủi: “Em giữ gìn sức khỏe và cố gắng nuôi con!”
Chị Hoa trở về Sài Gòn tìm kiếm mua thuốc trụ sinh, hai tháng sau Chị trở lại Hà Tĩnh thăm và đưa thuốc cho chồng. Kỳ thăm nuôi lần thứ hai theo Chị Hoa thì tình trạng sức khỏe của Lương còn tệ hơn kỳ trước.
Khoảng tháng 10/1979, trong lúc Chị Hoa đang làm việc, có một người nào đó đã để lại tại nhà Chị một bức thư, trong đó ghi vắn tắt tin Anh Trần Văn Lương đã từ trần tại trại tù lao động khổ sai của cộng phỉ K1, trại 3 Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh, Bắc Việt, vào hồi 17:15g ngày 15/08/1979, kèm theo một bản nhạc mang tên “Cung Buồn Cho Một Cánh Chim”, thơ Trần Văn Lương, nhạc Văn Thùy.
Năm 1982, Chị Hoa và cháu Trần Thanh Vũ vượt biển tìm tự do. Chị đến Tân Gia Ba, và sau đó được định cư tại Hoa Kỳ. Cháu Vũ đã có gia đình sau khi tốt nghiệp Cao Học Hóa Học và đang làm việc tại San José.
Tôi hỏi Chị Hoa có thể cho tôi coi bản nhạc ấy được không? Chị đồng ý. Trở vào phòng riêng, khi ra, Chị cầm một bao thư lớn đựng giấy tờ, hình ảnh riêng của gia đình. Chị đưa cho tôi tờ giấy cỡ 8½ x 11 được gập làm 8, trong đó với những hàng chữ viết chì ghi lại bài “Cung Buồn Cho Một Cánh Chim”.
Tôi không thấy ghi nhạc và lời sáng tác năm nào, nhưng có thể vào thời điểm trước khi Lượng vĩnh viễn từ giã các bạn tù tại trại giam ở Hà Tĩnh. Người phổ nhạc tức nhạc sĩ Văn Thùy chắc cũng là bạn tù của Trung úy Lương.
Tôi thấy Chị nâng niu bản nhạc như một di sản trân quý duy nhất của Lương để lại. Tôi đề nghị Chị Hoa hát cho tôi nghe. Bằng giọng trong vắt nhẹ nhàng và truyền cảm, không cần nhìn bản nhạc, Chị trình bày bản nhạc “Cung Buồn Cho Một Cánh Chim. Thơ Trần Văn Lương, nhạc Văn Thùy. Buồn, chầm chậm” với các lời:
1. Người tìm vào đời đôi cánh chim bay
Phi đạo hẹn hò mở lối tung bay
Đường mây vút xa dâng đầy trong mắt ai
Ngày vui vẫn hẹn đợi chờ hòa khúc hát tương lai.
2. Người tình học trò đôi mắt như sao
Mơ vùng trời hồng gửi giấc chiêm bao
Ngày vui ái ân không dài như ước mơ
Tình trong nét mực ngọc ngà, buồn khóe mắt ngây thơ.
ĐK1.
Rồi một chiều thu mây mờ che kín non xanh
Người vợ hiền mơ bé thơ nào đâu thấy mặt anh
Trời buồn lộng gió, gió âm thầm đưa lá xa cành
Trời còn in mây, tình người còn đây, cớ sao người yên giấc mơ say.
ĐK2.
Người lặng tìm về hương khói mong manh
Xin một lời buồn để hát cho anh
Ngàn mây vẫn xanh như chờ mong dáng anh
Và đôi mắt buồn học trò đậm vết long lanh
Xếp đôi cánh bằng, ngàn thu an giấc cho anh.
Người Anh Hùng Không Quân Trần Văn Lương đã gãy cánh trong cô đơn tại một góc rừng nào đó gần trại tù Đô Lương thật giản dị: Không thân nhân, không bằng hữu, không lễ nghi quân cách, không tuyên dương, truy thăng, truy tặng, không hồi kèn vĩnh biệt, không tiếng súng tiễn đưa và không có cả hòm gỗ với quốc kỳ VNCH!
Bài viết như một lời tri ân đối với tất cả những Người Lính Quân Lực VNCH đã anh dũng hy sinh xương máu cho chúng ta, con cháu chúng ta được sống, và cho Miền Nam Việt Nam thương yêu được tồn tại trên hai thập niên.
Sài Gòn trong tôi/Posted by Nguyễn Phúc An Sơn/tvvn – PHS
(Nguồn: FB)
Bí Ẩn Loài Chim Bay Suốt Mười Tháng Không Hạ Cánh
Có loài chim gần như sống trọn cuộc đời trên bầu trời, bay liên tục hàng trăm ngày, vừa ăn, uống và ngủ ngay giữa không trung. Điều khiến nhiều người tò mò nhất là trong điều kiện như vậy, chúng sinh sản và duy trì nòi giống ra sao.
Trong thế giới chim trời, khi nhắc đến tốc độ bay, phần lớn mọi người thường nghĩ ngay tới chim cắt, loài săn mồi nổi tiếng với những cú bổ nhào đạt vận tốc hàng trăm km mỗi giờ. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn tồn tại một nhóm chim khác cũng sở hữu khả năng bay đáng kinh ngạc, thậm chí có lối sống gần như hoàn toàn gắn liền với bầu trời. Đó chính là chim yến.
Khả năng bay của chim yến khiến nhiều nhà khoa học phải kinh ngạc. Chúng có thể duy trì vận tốc hơn 100 km mỗi giờ, trong khi một số cá thể thậm chí đạt tốc độ trên 300 km mỗi giờ trong những pha bay nhanh. Điều đặc biệt hơn cả là khoảng 90% thời gian trong cuộc đời của loài chim này diễn ra trên không trung.
Các hoạt động thiết yếu như tìm kiếm thức ăn, uống nước, thậm chí ngủ nghỉ đều được thực hiện trong khi đang bay. Nghiên cứu của các nhà khoa học từng sử dụng thiết bị định vị gắn trên cơ thể chim yến cho thấy có những cá thể đã bay liên tục gần 300 ngày, tương đương gần 10 tháng, mà không hề hạ cánh xuống đất.
Khả năng này phần nào được giải thích bởi cấu tạo cơ thể đặc biệt của chim yến. Chúng có đôi cánh dài, thon và rất khỏe, thích hợp cho việc bay đường dài. Ngược lại, chân của chúng lại cực kỳ nhỏ và yếu. Bốn ngón chân đều hướng về phía trước, khiến chúng gần như không thể đứng vững trên mặt đất.
Nếu chẳng may rơi xuống mặt đất bằng phẳng, chim yến sẽ rơi vào tình trạng rất nguy hiểm. Với đôi cánh dài và chân yếu, chúng khó có thể lấy đà để cất cánh trở lại. Trong môi trường tự nhiên, điều đó đồng nghĩa với việc chúng có thể trở thành con mồi của các loài động vật khác như mèo hoặc thú săn mồi.
Chính vì vậy, việc duy trì phần lớn thời gian trên không trung chính là cách sinh tồn hiệu quả nhất đối với loài chim này.
Trong khi bay, chim yến tìm kiếm thức ăn bằng một phương thức rất đặc biệt. Chúng có thể mở miệng rộng khi bay và bắt những côn trùng nhỏ như muỗi hoặc ruồi bay trong không khí. Trung bình mỗi ngày, một cá thể chim yến có thể ăn tới hàng nghìn côn trùng bay.
Khi cần uống nước, chúng sẽ bay thấp sát mặt hồ hoặc sông, lướt mỏ qua mặt nước để lấy nước uống. Cách này cũng giúp chúng dễ dàng bắt thêm những côn trùng bay gần mặt nước.
Một trong những bí ẩn khiến nhiều người ngạc nhiên nhất là cách chim yến ngủ. Trong khi con người và nhiều loài động vật phải hoàn toàn nghỉ ngơi khi ngủ, chim yến lại có khả năng duy trì trạng thái nửa ngủ nửa tỉnh.
Não bộ của chúng có thể nghỉ ngơi luân phiên giữa hai bán cầu. Khi bán cầu não trái ngủ, bán cầu não phải vẫn tỉnh táo để điều khiển cơ thể tiếp tục bay. Đồng thời, một bên mắt vẫn mở để quan sát môi trường xung quanh. Sau khi phần não này nghỉ ngơi đủ, hai bán cầu sẽ đổi vai cho nhau.
Cơ chế này cho phép chim yến vừa bay vừa ngủ trong thời gian dài mà không rơi khỏi bầu trời.
Tuy nhiên, dù có thể sống phần lớn cuộc đời trên không trung, chim yến vẫn phải hạ cánh khi đến mùa sinh sản. Đây là thời điểm hiếm hoi chúng tìm đến các vách đá, hang động hoặc mái hiên nhà để làm tổ và ấp trứng.
Một trong những loài chim yến nổi tiếng nhất liên quan đến hoạt động sinh sản là chim yến sào. Loài chim này xây tổ bằng chính nước bọt của mình. Trong suốt hơn 20 ngày, chúng liên tục tiết ra chất dịch dính từ tuyến nước bọt, trộn với một ít lông, dần dần tạo thành chiếc tổ nhỏ có hình dạng giống một chiếc bát.
Những chiếc tổ này chính là tổ yến, một loại thực phẩm được nhiều người xem là có giá trị cao.
Trên thực tế, việc “nuôi yến” hiện nay không phải là nhốt chim trong lồng để lấy tổ. Chim yến chỉ có thể sống và săn mồi khi bay tự do trên bầu trời. Nếu bị nhốt, chúng không thể bắt côn trùng và sẽ nhanh chóng chết.
Thay vào đó, ở nhiều quốc gia nhiệt đới, người ta xây dựng các “nhà yến”. Bên trong những ngôi nhà này, ánh sáng được giữ ở mức rất thấp, độ ẩm cao và thường phát âm thanh của chim yến để thu hút chim hoang dã.
Khi chim yến bay vào làm tổ và nuôi con, con người sẽ không can thiệp. Chỉ sau khi chim non trưởng thành và rời tổ, người ta mới tiến hành thu hoạch tổ yến.
Tuy vậy, sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ tổ yến cùng với những thay đổi trong môi trường sống đang đặt ra nhiều thách thức đối với loài chim đặc biệt này. Việc sử dụng thuốc trừ sâu khiến số lượng côn trùng bay giảm mạnh, đồng nghĩa với nguồn thức ăn của chim yến cũng suy giảm.
Ngoài ra, quá trình đô thị hóa với các tòa nhà cao tầng hiện đại cũng khiến số lượng địa điểm thích hợp để chim yến làm tổ ngày càng ít đi.
Theo ghi nhận hiện nay, trong hơn 100 loài chim yến trên thế giới, đã có ít nhất 6 loài đang suy giảm nghiêm trọng về số lượng và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Loài chim gần như dành cả cuộc đời trên bầu trời này vì thế không chỉ là một kỳ quan sinh học, mà còn là lời nhắc nhở về sự mong manh của cân bằng tự nhiên trong thế giới hiện đại.
Sưu Tầm
Khi Lá Cờ Trở Thành Dụng Cụ Vận Động Chính Trị
Trong sinh hoạt chính trị tại các địa phương có đông người Việt tị nạn cộng sản, không ít ứng cử viên khi bước vào cuộc tranh cử đã chọn lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa làm biểu tượng và tuyên bố đứng trên lập trường của cộng đồng người Việt quốc gia. Họ đến các buổi sinh hoạt cộng đồng, các lễ tưởng niệm, các ngày quân lực, các buổi gây quỹ… để nói về lý tưởng tự do, dân chủ và sự chống đối chế độ cộng sản tại Việt Nam.
Những lời nói đó thường đánh trúng tâm tư của cộng đồng tị nạn — một cộng đồng đã mang theo vết thương lịch sử của ngày mất nước và luôn mong muốn những thế hệ lãnh đạo trẻ tiếp nối lập trường quốc gia.
Vì thế, đồng hương đã bỏ công sức vận động, gây quỹ, đi từng khu phố vận động cử tri, thậm chí coi sự đắc cử của người ấy như niềm tự hào của cộng đồng Việt tị nạn.
Nhưng đáng buồn thay, có những trường hợp sau khi đắc cử, vị nghị viên ấy lại quên đi tất cả những gì mình đã hứa.
Ông ta không còn xuất hiện trong các sinh hoạt chung của cộng đồng, không đứng ra bảo vệ quyền lợi của đồng hương khi cần thiết, thậm chí còn có những hành động gây chia rẽ nội bộ cộng đồng, tạo ra sự nghi kỵ và xích mích giữa các nhóm người Việt với nhau.
Nghiêm trọng hơn, vị dân cử này lại đi ngược lại lập trường mà chính mình từng tuyên bố, giao du và hỗ trợ những nhóm người làm ăn gắn bó với chính quyền cộng sản trong nước, quảng bá và giới thiệu các doanh nghiệp từ trong nước ra hải ngoại, như thể những cam kết trước đây chưa từng tồn tại.
Câu hỏi đặt ra là:
Dạng dân cử như vậy nên gọi là gì?
Trong ngôn ngữ chính trị và đạo đức công dân, người ta thường gọi đó là:
- Chính trị gia cơ hội
- Người mượn biểu tượng để vận động phiếu
- hoặc nặng hơn là kẻ phản bội niềm tin của cử tri.
Bởi vì điều đáng trách không chỉ là việc thay đổi quan điểm — trong chính trị điều đó có thể xảy ra — mà là việc lợi dụng biểu tượng thiêng liêng của một cộng đồng để đạt được quyền lực rồi quay lưng lại với cộng đồng đó.
Đó không chỉ là vấn đề chính trị, mà còn là vấn đề đạo đức và uy tín công cộng.
Vậy cộng đồng người Việt quốc gia nên làm gì trước những trường hợp như vậy?
Biện pháp của một xã hội dân chủ không phải là công kích cá nhân hay hành động cảm tính. Con đường đúng đắn của cộng đồng là:
Thứ nhất, lên tiếng công khai bằng truyền thông và diễn đàn cộng đồng để làm rõ sự thật, giúp cử tri hiểu rõ hành động và lập trường thật sự của người dân cử.
Thứ hai, giữ thái độ cảnh giác chính trị, không để bất cứ ai dễ dàng lợi dụng biểu tượng của cộng đồng chỉ để phục vụ tham vọng cá nhân.
Thứ ba, trong các kỳ bầu cử kế tiếp, cử tri có quyền dùng lá phiếu của mình để bày tỏ sự đánh giá đối với những người đã thất tín.
Trong nền dân chủ, lá phiếu của cử tri chính là bản phán quyết cuối cùng.
Một cộng đồng trưởng thành không phải là cộng đồng không bao giờ mắc sai lầm khi lựa chọn lãnh đạo.
Một cộng đồng trưởng thành là cộng đồng biết nhận ra sai lầm và sửa sai bằng chính quyền lực của lá phiếu.
Lá cờ vàng ba sọc đỏ đối với người Việt tị nạn không phải là một công cụ vận động tranh cử.
Đó là biểu tượng của lịch sử, của hy sinh, và của lý tưởng tự do.
Ai mượn biểu tượng ấy để bước vào chính trường mà sau đó quay lưng lại với chính những giá trị đó, thì sớm muộn cũng sẽ bị lịch sử và cử tri phán xét.
DUY VĂN
(Tổng Thư Ký Hội Truyền Thông Người Việt Bắc Cali)
Buổi Lễ Tri Ơn Người Lính Trong Cuộc Chiến Tại Việt Nam
Donald Trump Là Một Nhân Vật Vĩ Đại Trong Lịch Sử









