Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2026

Xuân Giữa Trời Đông

 

(Designed by ng.ha)
 

 

XUÂN GIỮA TRỜI ĐÔNG

Thấm thoát thời gian qua rất vội

Chân đi, lòng đứng lại bên trời

Quanh quẩn chỉ là bao chìm, nổi

Nửa đời gom lại mấy đầy, vơi!

*

Dù chẳng trách than đời lận đận

Bao phen cũng dở khóc, dở cười

Hưng phế biến thiên trong định phận

Ngụp lặn bao ngày cũng... hụt hơi!

*

Lồng lộng gió đùa, mây vụn vỡ

Chầm chậm hoàng hôn tiễn tà dương

Chợt thấy hiện về trong thoáng nhớ

những mùa xuân mộng của quê hương.

*

Quê hương xa thẳm bờ luân lạc

Một đời du tử áo sờn vai

Nắng đã phai màu trên tóc bạc

Xám cả trời mây, trắng dặm dài.

*

Gió gọi Xuân về trong nắng nhạt

Mơ hồ nghe khúc hát tình chung

Nỗi sầu thiên lý trên đất khách

vời vợi như mây khói muôn trùng.

*

Xuân vẫn nồng hương dù Đông lạnh

Đào, mai không có, mượn hoa lòng

Tô hồng một thoáng trời cô quạnh

Thêm một mùa xuân giữa trời đông!

Huy Văn

*****


XUÂN GIỮA TRỜI ĐÔNG
Huy Văn 

Trân trọng 
NHHN 


Nhớ Xuân Xưa

 

(Designed by ng.ha)

 

NHỚ XUÂN XƯA

 

Dù hình, ảnh đã thành quá khứ

vẫn nhớ hoài suối tóc vờn bay

Em về giữa không gian huyền ảo

Dáng chiêm bao, kỷ niệm tràn đầy.

*

Nhớ Em thuở môi cười, mắt biếc

Tim nồng, tay đan, dệt ước mơ

Giữa bấp bênh của thời kiếp nạn

tình đơn sơ mà đẹp không ngờ!

*

Nắng đọng trên tóc Em lấp lánh

Đường thơm hoa, cây lá trở mình

Ong bướm cũng vì Em nâng cánh

Trong vườn hồng ngập bóng hoa xinh.

*

Thoáng về trong giấc xuân viễn xứ

là mắt Em huyền dịu hương đời

Xưa mảnh khảnh trên đôi cánh áo

là mây trời trầm, bổng ngàn khơi.

*

Thầm thì giữa âm vang mộng mị

là lời tim e ấp, dịu dàng

Hồn mở ngỏ. Tình Em khải thị

Trên cành xuân lộc biếc miên man.

*

Lung linh dáng ngọc về trong mộng

cho tình xuân nở đóa nghinh tân

Đêm trở giấc riêng mình đối bóng

Nhớ Xuân xưa buồn thoáng mơ gần.

HUY VĂN

(Để nhớ Sài Gòn 1977 và Marie Thérèse

Nguyễn Thị Bạch Yến R.I.P)

*****


NHỚ XUÂN XƯA
Huy Văn

Trân trọng 
NHHN 

Ba Mươi... Vui Hơn Tết

 


BA MƯƠI... VUI HƠN TẾT
Nguyễn Thị Kim Loan

1

Ông bà mình có câu “Thấy 30 chưa phải là Tết” với nghĩa bóng, rằng sự gì chưa nắm trong tay là chưa vội mừng, chưa chắc ăn. Nhưng với nghĩa đen, theo tôi, thì không hẳn thế, vì Ba Mươi mới chính là Tết, thậm chí còn… vui hơn Tết, nên mới có lời thơ “Còn đêm nào vui bằng đêm Ba Mươi” đấy thôi!

Ngày Ba Mươi, sau một tuần bận rộn dọn dẹp kể từ ngày 23 Ông Táo, là ngày cuối cùng gấp rút cho mọi công việc để đón năm mới. Cứ khoảng 6-7 giờ tối, sau khi nhà cửa yên ổn sạch sẽ, chỉ còn dưới bếp bà chị Hai vẫn âm ỉ vài món ăn cho đêm Giao Thừa và sáng Mồng Một, các thành viên khác trong gia đình cũng bận bịu với những chuyện riêng của mình, thì tôi và nhỏ bạn thân có thói quen rủ nhau chạy xe lên chợ Xóm Mới mua bánh gai nóng hổi mới ra lò, mang về bày biện thêm cho mâm thức ăn ngày Tết. Đường đi chỉ vài cây số, lại chạy xe máy, nhưng phải dừng lại rất nhiều lần vì các trạm… đốt pháo của đám thanh niên nghịch phá giữa đường. Mà hình như họ chỉ chờ phụ nữ, con gái đi ngang, là bắt đầu đặt ngay viên pháo, úp cái lon sữa bò lên, rồi hò hét nhau bịt lỗ tai… chạy xa. Chúng tôi, cũng nhờ có “thâm niên kinh nghiệm” nên thường tránh kịp, dừng xe lại, chờ pháo nổ… “banh ta lông” rồi tiếp tục đi tiếp. Có nơi, đám thanh niên lại chơi kiểu quăng pháo, cũng may là họ quăng trước hay sau xe, chứ không trúng vào người, nhưng cũng gây ra bao phen ú tim, la hét tưng bừng…

Cứ như thế, cả đường đi lẫn đường về, cộng với thời gian mua bánh gai, thêm thời gian đứng ăn tại chỗ một cái bánh cho ấm bụng để lấy sức…tránh pháo, và khi vừa ăn bánh gai vừa ngắm “chợ mai” ngay ngã tư, những cành mai và những người mua, bán cuối cùng, vội vã trả giá để kịp mang cành mai về nhà trước giờ giao thừa, tổng cộng khoảng hơn hai tiếng, về đến nhà thì trời thật sự “tối đen như đêm 30”, vẫn còn hồi hộp, run lẩy bẩy vì những “trạm pháo phá làng phá xóm” ngoài kia.

Sợ thì sợ vậy, mà cũng thật mau quên, thành ra tối Ba Mươi năm nào chúng tôi cũng phải đi mua bánh gai, có lẽ vì nhớ cái cảm giác phiêu lưu, tim đập mạnh, dáo dác nhìn hai bên đường để tránh pháo, mà lòng lại vui lâng lâng, niềm vui đêm giao thừa của tuổi trẻ? Đúng là… yếu mà khoái ra gió!

Về đến nhà, loay hoay một hồi, phụ chị em trong nhà bày biện bàn thờ Giao Thừa, (tiện thể ăn vụng miếng chè kho còn dư trong nồi), tôi thảnh thơi ngồi xem Tivi, đọc báo Xuân, chờ phút giây “hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa” như lời của một bài nhạc Xuân của thời VNCH .

Dĩ nhiên, tác giả bài hát này viết cho hai người yêu hẹn hò nhau khi pháo giao thừa, nhưng ai cấm tôi gặp mấy cô bạn của tôi?

Nhóm chúng tôi 3 đứa cùng xóm cùng lớp, đã có một “luật bất thành văn” như thế. Khi những tràng pháo giao thừa vừa dứt, xóm vắng vẻ, nồng nàn mùi thuốc pháo, là cô bạn vừa mới đi mua bánh gai với tôi hồi tối, nhà nó ngoài đầu ngõ, liền xuất hành, đến cổng nhà tôi là nó réo tên tôi (vì ngại cái vụ… xông nhà). Chỉ chờ có vậy, tôi mau chóng bước ra. Hai đứa vòng ra đầu hẻm, ngang Chùa Vĩnh Quang còn tấp nập người ta hái lộc trong vườn Chùa, rồi ra đường cái hướng về nhà một cô bạn khác. Lúc này nhà bạn ấy đã giăng mùng ngủ khắp nhà (hồi đó nhà nào cũng có vụ giăng màn ngủ ngay sàn nhà, vì nhà nào cũng… đông con, phòng nào cho đủ), nhưng bạn cũng đang chờ sẵn, hoà vào nhóm 3 đứa đi lang thang khắp xóm, tận hưởng hương vị ngây ngất của khoảnh khắc trời đất giao hoà, giây phút đầu năm tinh khôi trọn vẹn, khi mà cả xóm đang yên lặng chuẩn bị đi ngủ sau phút giao thừa .

Chúng tôi chậm rãi tản bộ, chẳng cần phải nói chuyện nhiều, cứ thế mà đi, hạnh phúc mơ màng, ngắm nhìn xóm nhỏ thân yêu giữa đêm giao mùa huyền hoặc. Khi đi đến khu đường rầy xe lửa gần Ngã Năm chúng tôi quay trở lại xóm, chia tay ai về nhà nấy, hẹn gặp lại ngày mai Mồng Một đến chúc Tết gia đình nhau và qua chúc Tết Cha Phạm Ngọc Giá, à mà không, hẹn nhau… chút nữa vì đã qua năm mới rồi nhỉ!

Vậy đó, dù hồi ấy tôi cũng có một mối tình “nhè nhẹ” vắt vai, nhưng tôi chưa bao giờ một lần lãng mạn “Em đến thăm… chàng đêm Ba Mươi” như bài hát của Vũ Thành An, vì còn phải bận đi mua…bánh gai và đi dạo đêm giao thừa với bạn thân. Chàng chịu thì chịu, mà hổng chịu thì cũng… ráng chịu vì hai việc ấy đã trở thành một thói quen, một “luật bất di bất dịch” mà 3 đứa con gái chúng tôi đã vô tình tạo nên, để giờ đây chúng là những ký ức đẹp vô giá.

2

Nhà tôi, thuở đó, thuộc Phường 10 Quận Gò Vấp, vùng ven đô, hay còn được gọi là vùng “nửa chợ nửa quê”, vì nó không xa phố thị Sài Gòn và cũng rất gần ruộng vườn.

Nếu đi từ Ngã Năm Chuồng Chó, chạy xe đạp, lên Phú Nhuận cỡ chừng 10 phút, rồi chạy thêm khoảng 15 phút nữa là đến trung tâm đường Hai Bà Trưng, rồi lên đường Đồng Khởi, Nhà Thờ Đức Bà, Chợ Bến Thành… Nếu đi hướng ngược lại, về An Nhơn, là đến An Phú Đông rợp bóng mát cây xanh, vườn tược, mà còn có cả con sông bé tí, với một bến đò ngang thơ mộng. Hoặc đi theo hướng Thông Tây, nếu rẽ phải là lên Xóm Mới, một thời oanh liệt với nhiều lò sản xuất pháo lừng danh, qua cầu Sắt là gặp Xa Lộ Thủ Đức gió lộng, còn rẽ trái là lên phường 12 Thông Tây, nơi từng nổi tiếng là vườn trồng hoa Tết, cung cấp rất nhiều cho thị trường Sài Gòn mỗi dịp Xuân về.

Từ giữa tháng Chạp là thời gian nhộn nhịp nhất, khu vườn hoa rực rỡ đủ sắc màu cả một vùng không gian. Dòng người đi tảo mộ ở những nghĩa trang gần đó đều ghé vào mua những bó hoa tươi thắp mộ cho người thân. Tôi và lũ bạn, khi tan học, ghé nhà đứa bạn có vườn vú sữa, cả đám ngồi dưới tàn cây, đàn ca và ăn vú sữa… rụng trong gió Xuân hây hẩy, rồi trên đường về, đạp xe ngang qua những vườn hoa toả mùi thơm ngào ngạt mà nghe lòng nao nức một trời Xuân.

Dân xóm tôi có một “phong tục” rất dễ thương, là rủ nhau đi mua thêm hoa chiều Ba Mươi, lúc đó giá hoa rất rẻ, có khi gần như là cho không. Không phải chúng tôi cố tình đi mua trễ để dìm giá hoa, mà vì trong số nhà vườn có gia đình một người bạn thân của anh trai tôi. Ảnh kể, năm nào vườn cũng dư ê hề hoa vạn thọ và hoa cúc, nên chúng tôi đến mua thêm, mua ủng hộ, các chủ vườn hớn hở hào phóng, rối rít cám ơn những vị khách muộn màng giúp họ thanh toán những luống hoa cuối cùng để còn lo dọn dẹp đón Tết.

Riêng tôi, đi theo chòm xóm mua hoa vì… ham vui, vì mê khung cảnh nên thơ của… “gánh hàng hoa” cuối năm, chớ nhà tôi, năm nào anh bạn nhà vườn cũng đem tặng mấy chậu cúc, thược dược đẹp nhất vườn.

Những buổi chiều cuối năm, tôi thích ngồi trước quán nước nhà mình, ngắm những chiếc xe ba gác chở đầy hoa từ vườn Thông Tây hoặc chở đầy pháo từ Xóm Mới, trực chỉ trung tâm Sài Gòn cho người người mua sắm.

Thế đấy, cần gì phải chờ đến Tết, khi mà những buổi sáng trời trong veo, nhà nhà mang lư đồng, chén dĩa kiểu, bàn tủ ra sân chùi rửa rộn ràng. Đám con nít trong hẻm cũng biết lợi dụng thời cơ lúc ba má dọn dẹp cửa nhà để gầy các sòng bầu cua cá cọp cãi nhau ồn ào. Mấy chị em tôi mang dưa kiệu ra mảnh sân xi măng sau nhà phơi khô và khi chiều tối, nhóm thanh niên có máu văn nghệ ngồi đàn đúm bên bếp lửa canh nồi bánh chưng của nhà kế bên, với cây guitare thùng, bập bùng những điệu nhạc bolero thiết tha, nồng nàn: “Đón Xuân này tôi nhớ xuân xưa, hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa…” là đã thấy Mùa Xuân đang đến rồi.

Vui thay là thời gian đợi chờ. Hạnh phúc thay là những ngày rạo rực chuẩn bị đón Tết, và có ai như chị em tôi không, cứ hễ tiếng pháo giao thừa vừa xong, hai tay còn bịt trên hai lỗ tai vì sợ tiếng rền vang của pháo, chúng tôi nhìn nhau tiếc nuối bâng khuâng: “Thế là… hết Tết… Hết Tết rồi!”. Dẫu biết rằng còn ba ngày Xuân vui vẻ, nhưng phút giây tuyệt vời cảm xúc của đêm Ba Mươi phải chờ… 365 ngày mới có nữa!

Hơn một phần ba thế kỷ trôi qua, xóm nhỏ của tôi theo bể dâu biến đổi, hàng xóm bè bạn cũng lưu lạc bốn phương trời. Tôi nhớ có lời đồn rằng, vì sinh ra và lớn lên ở vùng “nửa chợ nửa quê”, nên nhiều cư dân nơi này thường có tính khí…ba rọi, “sáng nắng chiều mưa”, nửa tỉnh nửa mê, hổng giống ai!

Ngẫm mà đúng thật, vì có tôi đây, nơi xứ tuyết trắng Canada, đang mê man thương nhớ về những ngày Tết nắng rực vàng, của một thời xa lắc xa lơ…

KL

Edmonton, Xuân Bính Ngọ 2026

Đính kèm là hình của Lady Nguyễn Thị Kim Loan và Nha Sĩ Cao Minh Hưng gặp nhau 

Inline image


Thân mến 
TQĐ

Xuân Ngoài Cửa Ngục

 


XUÂN NGOÀI CỬA NGỤC
Truyện ngắn NGUYỄN THIẾU NHẪN 

Cứ hai đêm, Nhân lại có phiên gác. Theo giải thích của Mười Giáo, phó đại diện phòng giam, thì sở dĩ phải cắt người canh gác vì sợ các thù nhân thù ghét lợi dụng đêm hôm tìm cách giết nhau. Nhưng Tư Thành, đại diện phòng, cho Nhân biết sở dĩ trại giam đặt ra như vậy để đề phòng và gây khó khăn cho việc vượt ngục của tù nhân. Việc cắt gác được giữ bí mật, chỉ được thông báo năm phút trước giờ ngủ. Người phụ trách cắt gác là Mười Giáo. Tư Thành, nguyên phó ban quân quản tỉnh Cửu Long khi mới tiếp thu, kế đó là Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Tam Bình, nói với Nhân: 


“Anh nên để ý cái thằng Mười Giáo. Nó là giáo viên của “ngụy”, kế được làm an ninh ở phường Hòa Lạc, hăng hái lập công sao đó nhè bắn chết người vô tội phải vào đây nên nó lập công lắm. Anh đừng có thật lòng với nó quá mà thiệt.”

Vì lúc mới vào phòng, tóc Nhân đã bị nhà giam huyện cắt ngắn, Tư Thành nghĩ Nhân cũng là “phe ta” nên có gì anh ta cũng nói cho Nhân biết. Phần khác, có lần ra ngoài “làm việc” gặp Nhân đang ngồi với Hai Hiệp, là em cột chèo với Nhân nên anh ta bèn coi Nhân như... người nhà. 

Đêm nay, khi thằng Kiều, can phạm trong vụ án lường gạt cả 500 người ở Cầu Kè, bàn giao lại phiên gác, Nhân vừa lẩm bẩm câu kinh: “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát” đâu khoảng mười lần để tính giờ, thì thằng Thạch Hiếu xách cái quần cụt ướt nhẹp tinh dịch tới. Nhân lấy cái mũ nhựa nhà binh múc xối cho nó hai mũ để nó giặt cái quần đúng theo quy định của phòng giam. Cái quy định kỳ cục nhưng lại rất ích lợi và hợp vệ sinh. Chứ cứ để cái quần ướt nhẹp tinh dịch ra đó rồi nó bốc mùi ai mà chịu cho nổi. Cứ tới phiên Nhân gác là thằng Thạch Hiếu lại xách cái quần tới. Một hôm, lúc đánh lát, Nhân hỏi nó: 


“Rồi mấy đêm khác mày có phải đi giặt quần không?”

Nó cười khè khè:

“Có chớ, anh hai. Có khi phải đi giặt hai lần.”

Có lần đang xối nước, cái khăn rằn nó quấn ẩu tả rơi xuống. Nhân nhìn thấy cái bộ phận sinh dục của nó ướt nhẹp, đầy thẹo thâm đen, cong như mỏ két rất là kỳ cục. 

Thạch Hiếu là thằng ưa làm những chuyện quái đản trong phòng giam D.2 thuộc Khám Lớn của tỉnh Cửu Long này. Đang trong giờ lao động đánh lát, nó lấy một sợi dây lát lòn vào trong quần, buộc vào bộ phận sinh dục, đầu kia nó buộc vào sợi dây bính đang đánh, thỉnh thoảng nó nắm sợi dây lát giựt giựt rồi cười một mình. Có lần Mười Giáo thấy chuyện làm dị hợm của thằng Thạch Hiếu, tối đến họp phòng, bắt nó hứa không được làm chuyện kỳ cục như vậy nữa. Nó tỉnh bơ hỏi: 


“Lâu lâu ngứa quá tui gãi, được hôn, anh Mười?” làm cả phòng ôm bụng mà cười. Mười Giáo cũng bắt tức cười, nhưng phải cố làm mặt nghiêm:

“Gãi thì được, nhưng không được buộc vào sợi dây lát rồi giựt giựt.”

Chừng khoảng một tháng thì thằng Thạch Hiếu lại thổ huyết tùm lum trên bệ xi-măng trong khi cả phòng đang đánh lát thành những sợi dây bính nghe nói là để xuất khẩu qua Liên Xô làm thảm. Trại giam lại phải phái công an lái xe Honda, chở nó ngồi đằng sau với chiếc còng trên tay, chạy vào bệnh viện đa khoa. Ai thấy vậy cũng tỏ vẻ tội nghiệp cho nó, nhưng một hôm nghe nó kể lại sự việc, Nhân chỉ còn biết lắc đầu. 

Nó nói:

“Anh biết không, con vợ tui nó là Miên Vĩnh Bình, nó theo Việt Cộng hồi nào tui đâu có biết. Bây giờ nó hát ở đoàn cải lương Ánh Hồng. Tui mà vô tù là tại phải đi ăn cướp đặng mà cung phụng cho nó. Anh biết không, trước nó ở trong đoàn vũ của vua Miên. Bao nhiêu tiền, vàng đi ăn cướp tui đưa cho nó hết. Kế tui bị bắt, lâu lâu nó cũng có đi thăm nuôi. Lâu quá nó cũng chán. Chắc bây giờ nó đi ngủ với thằng khác rồi.”

Nó ngúc ngúc cái đầu:

“Đàn bà mà, anh hai!”

Nhân hỏi nó về chuyện thổ huyết, nó nhỏ giọng:

“Anh nghe rồi đừng có nói cho Mười Giáo nghe. Chả mà biết là tui chết. Anh biết ở bịnh viện Cửu Long nó có con y tá giống con vợ tui lắm. Nó là chuyên môn lo về cái vụ hộc máu của tui. Tui cũng hổng biết sao, hễ tui muốn hộc máu là tui làm được liền. Anh biết, ra ngoài đó mấy ông công an ổng cũng còn mình dính vô thành giường chớ đâu có để cho mình được tự do.”

Nó lại càng nhỏ giọng:

“Tui nói cái nầy anh hai đừng có nói cho ai biết nghe.”

Nhân nói:

“Hứa chắc.”

Nó nói:

“Thề đi!”

Nhân phải đưa tay lên nó mới chịu nói tiếp:

“Anh biết, ra ngoài đó có con y tá nó giống y chang con vợ tui. Nó đem mấy cái mũi thuốc mắc dịch gì đó nó chích là xong. Tui nằm im, tui đợi con nhỏ tới. Nó mặc áo y tá, nó mặc cái quần ny-lông trắng mỏng te, tui nhìn cái ngấn quần sì-líp của nó, tui nhớ tới vợ tui, tự dưng tui... ướt nhẹp.”

Nó lim dim mắt:

“Mà đã lắm chớ không phải như bị sọt-ty ở trong nầy. Anh biết, tui hít hít cái mùi của nó. Đàn bà, con gái nó có cái mùi gì mà mình... nói hổng được. Cứ mỗi lần ra nhà thương tui “làm” được ba, bốn lần. Có lần con nhỏ y tá đang chích thuốc, tui ưỡn người lên, nó nói: “Anh đừng có trân mình, gãy kim!” Mặc nó nói, tui cứ “quíu”. Tới chừng nó thấy cái quần nhà thương bị ướt, nó nhìn, đỏ mặt bỏ đi. Từ đó mỗi lần tui ra lại thấy đi theo nó có thêm một cha mà nó kêu là bác sĩ. Tui lại cũng như vậy, tại vì cứ nhìn con nhỏ y tá là tui muốn “sướng” rồi. Mỗi lần nó tới chích thuốc lại có cha mà nó kêu là bác sĩ. Tui nghe thằng chả rù rì cái gì với nó, rồi hai người nhìn tui. Tui thì có cần con mẹ gì. Ở trong nầy cũng bị như vậy. Ra ngoài đó cũng bị mà có đàn bà, con gái mình nhìn nó sướng hơn, thì mắc mớ gì mà mình hổng ra. Tui thì cứ coi như là tui đang ngủ với con vợ tui. Anh hai biết, mình cái gì...”

Nó cố nhớ một hồi, rồi nói tiếp:

“À... tưởng tượng nó sướng hơn thiệt.”

Nghe thằng Thạch Hiếu nói, Nhân không còn biết đâu là trời trăng mây nước. Hồi ở các trại tù Lào Cai, Vĩnh Phú, Nhân biết mỗi ngày có rất nhiều tù nhân lên phòng y tế khai: “Đêm qua bị xuất tinh mệt quá. Xin được phép nghỉ lao động một ngày.” Phải ở đây, phòng D.2 của khám lớn tỉnh Cửu Long, Nhân mới biết có một tù nhân có cách thổ huyết để được đưa ra bịnh viện, để được nhìn cô y tá vừa nghĩ tới làm tình với vợ và xuất tinh. *

Sáu Thông, bị bắt trong vụ án Cao Đài, nói: 

“ Nói thiệt với anh hai chớ mấy ổng muốn bắt thì bắt chớ tôi mà chính chị, chính em gì. Hồi đó trốn lính, vô Thánh Thất mặc áo tu. Tôi được một người dạy cho ciá bài thuốc con rắn mối, tới bây giờ vẫn còn hiệu nghiệm. Có tuổi như anh hai chắc biết ông Sơn Vương, người tù nửa thế kỷ ở Côn Đảo?”

Nhân gục gặc đầu. Saú Thông nói tiếp:

“Tôi nghi caí ông này ổng cũng cùng một thầy với tôi. Lột da mặt, căng da mặt gì cũng vyậ thôi. Anh hai biết, tất cả là từ mỡ rắn mối. Anh hai biết con rắn mối? Số một! Thịt ăn ađ4 ngon, mà hai caá lườn mỡ của nó mới là đan1g đồng tiền. Anh hai biết, bắt nó, lâý hai cái lườn mỡ, bỏ vô chén nấu sôi, để nguội. Muốn căng da mặt thì cứ đem thoa vào. Bảo đảm 72 phần dầu.”

Nhân hỏi:

“Bộ có thiệt vậy hả, cha nội?”

Anh ta lim dim mắt:

“Nói dóc với anh làm gì. Chưa ăn thua gì đâu. Cái công hiệu này mới là đáng đồng tiền, bát gạo: Cái đó mà anh đem thoa lên cái mõm cho thì ôi thôi, vô cùng công hiệu.”

Nhân hỏi:

“Thoa vô mõm chó làm gì?”

Anh ta cười ngất:

“Anh hai coi có vẻ dân chơi mà lại... lâu tiêu chậm hiểu. Thoa vô cái kia đó, chớ thoa vô cái mõm chó làm gì. Cái mõm chó là tôi bày đặt nói văn hoa là đen như mõm chó đó mà.”

Nhân lại càng ngạc nhiên. Anh ta tỉnh bơ tiếp:

“Anh biết, hồi đó nhờ ba cái vụ mỡ rắn mối mày mà một con mẹ “me Đại Hàn” bỏ thằng Củ Sâm theo tôi luôn.”

Nhân càng tò mò:

“Bộ có thiệt vậy sao?”

Sáu Thông hít một hơi thuốc Hoa Mai dỏm, nói:

“Nói dóc mà làm gì. Ở đây biết chừng nào ra mà nói dóc. Cái mỡ con rắn mối nó lạ lắm, nó làm cái da như căng ra. Mấy bà, mấy cô bôi vào nó cứ như là nghe nặng nặng. Nhè bôi vào cái chỗ đó mà không rửa đi thì nó cứ ngứa ngáy hoài. Và dĩ nhiên phải tìm người giải quyết, chuyện là như vậy.”

Hết Thạch Hiếu tới Sáu Thông, Nhân cứ như là “người Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng ngay sau 30 tháng Tư năm 1975.” Chưa hết, anh ta tiếp:

“Anh biết, trước mấy ông Cộng Hòa cũng đem tôi nhốt ở phòng D.2 này. Trước phòng này là phòng nữ. Ôi, ba cái bịch hột é lền khên.”
Nhân hỏi là cái gì vậy. Sáu Thông cười ngất:

“Anh hổng biết mẹ gì hết. Đó là bửu bối của mấy bà, mấy cô. Ở tù lâu quá chịu đâu có nỗi. Phải mua hột é về ngâm rồi bỏ vô mấy cái bong bóng cột lại để thay cho cái... vụ đó.”

Nhân ngạc nhiên thực sự:

“Thiệt hôn đó, cha nội?”

Sáu Thông hít hít mũi:

“Nói dóc với anh tôi có được thêm đồng xu, cắc bạc nào đâu. Anh nói anh ở tù tới bảy, tám trại tù, anh tính coi anh đã thủ dâm bao nhiêu lần? Mấy bà cũng vậy, mấy bả nhiều khi còn cần hơn mình. Anh đi hỏi có bao nhiêu thằng tù không thủ dâm. Nói chung là thằng nào cũng có thủ dâm, hoặc ít, hoặc nhiều.” 

Nhân lắc đầu. Hết biết!

*
Trước Tết một tháng, hội chơ Hoa Xuân mở ở kế trại giam bắt đầu mở cửa. Thôi thì suốt ngày ầm ĩ. Hết tuồng cải lương Nghêu, Sò, Ốc, Hến tới Lọ Nước Thần. Hết Khách Sạn Hào Hoa tới Dương Vân Nga. Càng về đêm càng ầm ĩ., nhức nhối. Một đêm thứ Bảy, gian hàng kế trại giam truyền thanh vở cải lương của soạn giả Năm Châu, có đoạn 18 năm sau người cha đi tù Côn Đảo về gặp lại đứa con. Đứa con hỏi (có thể là do anh kép thủ vai cương ẩu): “Cha đi ở tù có gì vui kể cho con nghe, cha?”

Trần Đời, thằng bị tù vì tội ăm trộm trâu, cười khành khạch, chửi thề:
“Đ.M., hỏi ngu. Muốn biết vui không vô phòng D.2 là biết liền.”

Cả phòng cười lớn. Mười Giáo chớp chớp cặp mắt gian ác:

“Anh em giữ trật tự.”

Tư Thành đang đánh cờ tướng với Nhân, lầm bầm:

“Mẹ, thằng thầy giáo gian làm anh em mất vui.”

*
Sáng mùng một Tết, Tư Cò, Phó Trung tâm Tạm giam, chỏ mỏm vào cửa sắt phòng D.2, mà theo lệnh được ban bố từ trước, tất cả các tù nhân đều ăn mặc quần áo tù chỉnh tề, xếp hàng ngay ngắn. Thằng cai tù ê a:

“Theo chính sách của Đảng và Nhà Nước, các anh em có người nhà đến thăm nhân dịp tết cổ truyền, anh em sẽ gặp được vợ con. Đề nghi không được khóc khi gạp người nhà. Không được nói là ở đây ăn uống thiếu thốn, lao động cực nhọc. Các anh em nghe rõ chưa?”

“Rõ!”

Mấy chục cái miệng gân cổ hô to.

Nhân và lão Thạch Kha, người bị kết tội liên lạc với đám phục quốc ở Núi Dài, được gọi tên đầu tiên. Nhân ngồi cố giữ bình tĩnh nghe lòng mình rộn lên. Cả năm rồi chứ có ít đâu. Đứa con lúc Nhân bị bắt dẫn đi trong đêm mà vợ chàng đang mang trong bụng bây giờ đã ra đời không biết mặt cha. Còn đứa con đầu lòng bây giờ chắc đã lớn.

Lão Thạch Kha không có vẻ gì rung động dưới khuôn mặt bì bì. Lão nhìn qua khung cửa sắt của phòng giam với cái nhìn vô hồn. Tình cờ Nhân thấy từ hốc mắt của lão có giọt nước mắt. Bắt gặp cái nhìn của Nhân, lão lấy tay áo lau vội nước mắt, nói bang quơ:

“Cứ nghĩ tới bà vợ, đêm qua không ngủ nghê gì được. Sáng cay mắt quá!”

Lúc được gọi ra, ở hành lang, Nhân nắm tay lão, nói:

“Tôi cũng phe ta đây!”

Lão xiết chặt tay Nhân.

Ngồi ở phòng chờ đợi, Nhân bồn chồn, lo lắng. Trước Nhân và lão Thạch Kha laàhai người đàn bà (hay hai cô gái?). Nhân nhìn cái ót của người ngồi trước mặt, lòng xúc động khi những những sợi tóc mọc loạn xạ trên cái gáy trắng xanh mướt. Những câu chuyện của Thạch Hiếu, Sáu Thông lại hiện đến trong đầu. Bị giam cầm trong lao tù bao lâu nữa tôi sẽ bị như Thạch Hiếu, Nhân tự hỏi.

Mấy cái bịch hột é để các nữ tù nhân thủ dâm là có thực hay Sáu Thông bịa đặt? Có phải mỡ rắn mối nấu lên có tác dụng căng da và kích dâm? Có phải cái vụ án Cao Đài là do nh ànước Cộng sản dựng lên chớ làm gì có chuyện người phụ trách đi phát lương làm rớt cái danh sách như Sáu Thông đã nói cho Nhân biết. Nhân chợt giật thót người lúc có bàn tay đặt lên vai. Tư Cò nói với giọng thân mật:

“Có chị và cháu vào thăm anh.” 

Nhân đứng dậy, Tư Cò nói:

“Anh lau nước mắt đi. Anh Hai Hiệp nói ra Tết anh sẽ về. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết. Thôi anh cũng đừng có buồn.”

Nhân biết Tư Cò, cái phòng giam D.2 và cả cái nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa này cũng chẳng bao giờ hiểu rõ chuyện của Nhân nó là như thế nào. Nhân vật Morizt trong Giờ Thứ Hai Mươi Lăm của nhà văn Georghiu nó còn đen trăng rõ rang ra đó. Còn Nhân? Mọi chuyện nó rối như một mớ bòng bong. Cũng như mọi người tù trở về từ các trại cải tạo, Nhân cũng muốn yên sống với vợ con để làm lại cuộc đời mà nào có được đâu. Cái guồng máy cộng sản nó cuốn hút và cách tàn nhẫn và đẩy ra ngoài, ngay cả những người của chế độ, nói gì người đã phục vụ một chế độ khác.

Nhân lấy tay áo tù quệt nước mắt. Nhân không muốn người vợ phải lo âu về mình. Trầm ngồi ở phía đối diện. Cái bàn cũng ngăn cách như cái bàn của nhân vật Nietsyn và vợ ở Tầng Đầu Địa Ngục. Đứa con đầu lòng nhìn Nhân xa lạ. Trầm cúi mặt. Những giọt nước mắt long lanh trên đôi mắt:

“Em tưởng người ta cho thăm chỉ có hai người. Phải biết em đem cả Ninh vào. Nó bậm trợn lắm. Ai cũng bảo giống anh.”

Nhân nắm lấy bàn tay gầy guộc của Trầm lúc nàng đưa qua một nắm tiền và nói với tên công an mặt mày đầy mụn, đang thò lõ cặp mắt cú vọ:

“Tôi muốn gửi chồng tôi ít tiền.”

Tên công an đếm tiền và đẩy xấp tiền về phía Nhân. Nhân lấy tờ giấy bạc 20 đồng đưa cho thằng con trai đầu lòng, nói:

“Ba lì xì cho con. Nói với mẹ mua vé số. Biết đâu nhờ đó mà thay đổi.”

Nhân thấy đôi mắt Trầm trũng xuống với nỗi buồn. Thằng con theo lời mẹ leo qua bàn, kề miệng vào hôn má Nhân. Anh nhắm mắt, nghẹn ngào:

“Thôi con về! Thôi em về!”

Kế bên, lão Thạch Kha đang ôm thằng cháu. Thằng nhỏ hỏi:

“Nhà ông nội bự quá vậy, ông nội? Con với bà lên ở với ông nội, được hôn, ông nội?” Kẻng gõ hết giờ thăm nuôi. Nhân không kịp nghe lão Thạch Kha trả lời câu hỏi của thằng cháu. 


San Jose 1990
NGUYỄN THIẾU NHẪN 


Bính Ngọ Tân Niên Chúc Mừng Thân Hữu - Xướng & Họa

 


BÍNH NGỌ TÂN NIÊN CHÚC MỪNG THÂN HỮU - XƯỚNG & HỌA 
Tuyến Lê & Lâm Hoài Vũ 

Trân trọng 
NHHN 

Chợ Tết

 

 


     CHỢ TẾT 

     Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,
     Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
     Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
     Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
     Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
     Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
     Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
     Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ.
     Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ,
     Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu,
     Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.

     Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa,
     Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa,
     Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh,
     Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.
     Người mua bán ra vào đầy cổng chợ.
     Con trâu đứng vờ rim hai mắt ngủ,
     Để lắng nghe người khách nói bô bô.
     Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ,
     Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán.
     Một thầy khoá gò lưng trên cánh phản,
     Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân.
     Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm,
     Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.
     Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,
     Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.
     Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
     Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu.
     Áo cụ lý bị người chen sấn kéo,
     Khăn trên đầu đang chít cũng bung ra.
     Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà,
     Quên cả chị bên đường đang đứng gọi.
     Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi,
     Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa.
     Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha.
     Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết,
     Con gà trống mào thâm như cục tiết,
     Một người mua cầm cẳng dốc lên xem.

     Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm,
     Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh,
     Trên con đường đi các làng hẻo lánh,
     Những người quê lũ lượt trở ra về.
     Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê,
     Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ

     Đoàn Văn Cừ



CHỢ TẾT 
Đoàn Văn Cừ

Trân trọng 
NHHN 

Tết Trong Mùi Nhớ

 


TẾT TRONG MÙI NHỚ
Vi Lê

Tâm lý con người ta lạ lắm, nhất là những người đang ở độ tuổi thích sống với hoài niệm, khi những tờ lịch cuối cùng còn chưa bị xé hết, đã nghe không khí Tết rộn rã xung quanh mình. Cái không khí luôn được nhiều người mong đợi ấy cứ len lén chui vô từng góc nhà, tràn xuống từng góc phố, xuất hiện trong những câu chuyện nơi đầu đường góc chợ, trong những câu thăm hỏi xa gần. Nhưng đó là những mùa Tết cũ khi tôi vẫn còn ở nơi quê nhà những năm trước.

Ở bên này, Tết thường đến lặng lẽ hơn. Không phải vì người ta không ăn Tết, mà vì Tết không gõ cửa bằng những thanh âm quen thuộc như ở quê nhà. Không có tiếng rao bán đủ loại hàng hóa xôn xao từ mấy cái chợ chồm hổm ở mấy ngã tư gần nhà hoà quyện trong vô số mùi hương hoa trái, không có mùi nhang trầm dịu nhẹ phảng phất từ những căn nhà hàng xóm san sát nhau, càng không có cảm giác “Tết sắp về” rõ rệt như ngày trước. Tết nơi xứ người, nhiều khi chỉ là một dấu chấm đỏ trên tờ lịch treo tường, là những phong bao lì xì treo lủng lẳng trên mấy chậu tầm xuân trong mấy khu chợ Việt Nam hay những bài đăng quảng cáo bán thực phẩm Tết online rộn ràng… trên mạng. Tất cả như nhắc tôi rằng ở một nơi cách nửa vòng trái đất, mùa xuân đang rộn rã nơi quê nhà.

Tôi đã sống ở Mỹ vừa đủ lâu để quen với mùa đông lạnh giá – giữa thời khắc quê nhà ngập tràn ánh nắng xuân ấm áp, với những cái Tết chỉ gói gọn trong vài ngày nghỉ hiếm hoi do mình tự khuấy động lên cho đỡ nhớ. Đủ lâu để mỗi khi Tết đến, tâm trí lại tự động quay về một miền ký ức cũ – nơi có ngoại, có ba, có những mùa xuân không bao giờ trở lại.

Redirecting...

Ngày đó, Tết bắt đầu từ rất sớm. Có lẽ từ khi những cơn gió tháng Chạp bắt đầu lao xao ngoài hiên, khi mấy cây mai trong xóm bắt đầu trổ nụ, là ngoại lại nhắc má tôi cái điệp khúc quen thuộc, lúc thì mua món này, nấu món kia, bàn thờ nhất định phải có mâm “ngũ quả”, cây mai trước nhà nhớ tước lá vào ngày nào là vừa… Ngoại tôi người nhỏ bé, tóc bạc trắng, mắt đã nhập nhèm khi mờ khi tỏ, tâm trạng lúc nhớ lúc quên nhưng mỗi khi nói đến Tết, giọng bà lúc nào cũng ấm áp, hứng khởi lạ thường. Đặc biệt là ngoại luôn nhớ và dặn dò không sót một chi tiết nào để có một cái Tết tươm tất, vẹn tròn.

Những cái Tết còn ngoại, nhà lúc nào cũng rộn ràng. Ngoại ngồi ở góc nhà, chậm rãi lau từng chiếc ly, cái dĩa kiểu, vừa làm vừa nhắc chuyện xưa. Ngoại thích làm mấy việc như vậy dù đám con cháu hay giành làm. Dường như chỉ khi tự tay làm mấy việc như thế này, ngoại mới cảm nhận được cái Tết đang đến rõ hơn, gần hơn. Ba tôi thì tất bật lau dọn mấy cái lư đồng trên bàn thờ, mấy khung cửa sổ, thay mấy cuốn lịch cũ, xịt rửa hết mấy chiếc xe máy của cả nhà. Ông bảo, Tết không cần phô trương, thừa mứa, chỉ cần nhà cửa sạch sẽ, ấm cúng, thức ăn vừa đủ là được.


Tôi nhớ nhất là những buổi đi chợ Tết cùng má và mấy đứa em. Chợ Tết ngày xưa đông nhưng không xô bồ, người đi chợ cũng không đề cao cảnh giác kẻ gian nhiều như bây giờ. Người ta đi chợ trong tâm thế thong thả, vừa mua vừa ngắm, vừa gặp gỡ, chuyện trò. Má nắm tay chị em tôi, rồng rắn dắt nhau đi giữa ngôi chợ quê đầy hoa trái, thanh âm, sắc màu. Hoa cúc vàng rực, vạn thọ cam ấm, mấy bó lay-ơn, lys được nâng niu đúng nghĩa “hứng như hứng hoa” vì mấy loại hoa này thường được trân trọng chưng bày trên mấy bàn thờ ngày Tết. Má thường đứng rất lâu trước một sạp hoa của người bán quen, nhìn ngắm, chọn lựa kỹ càng rồi mới quyết định mua như thể chọn hoa cũng là chọn vận may cho cả nhà trong năm mới.

Tác phẩm Gói bánh chưng ngày Tết - Happy Vietnam 2023 - Vietnam.vn

Trong khi má cứ thoăn thoắt quẹo hết hàng này tới hàng khác, tụi tôi lẽo đẽo theo sau, đứa tay ôm giỏ, đứa khệ nệ ôm hoa, có đứa chật vật với con gà bị trói chặt chân mà vẫn giãy đành đạch, nhìn đâu cũng thấy Tết. Mùi nhang, mùi bánh mứt, mùi lá dong, lá chuối trộn vào nhau thành một thứ hương rất riêng – mùi của những ngày cuối năm, mùi của Tết. Có khi má ráng mua thêm vài món dù nhà không thiếu chỉ vì “Tết mà con, thà dư hơn thiếu”. Dường như cái ý nghĩ mong muốn cho cả nhà được đủ đầy, sung túc luôn thường trực trong tâm trí bất kỳ bà nội trợ, người vợ, người mẹ nào. Hơn nữa, má muốn mua nhiều hơn một chút để người bán có thể về sớm hơn một chút để lo Tết cho nhà mình.

Về nhà, cả nhà cùng nhau bày biện hoa trái lên bàn thờ. Dù mẹ tôi thường được nhiều người khen ngợi là đảm đang, tháo vát và chu toàn nhưng trong mắt ngoại, mẹ dường như vẫn còn là một đứa trẻ. Ngoại chỉ dẫn từng chút một: trái cây phải xếp sao cho cân đối, hoa phải cắm sao cho hài hòa, đèn nhang phải chỉn chu… Tôi khi ấy chưa hiểu hết ý nghĩa của những nghi thức đó, chỉ thấy mọi người ai cũng nghiêm trang, ai cũng như chậm lại giữa nhịp sống thường ngày.

Ngoại tôi mất đã lâu. Ba cũng đã theo ngoại về miền mây trắng sau khi vui trọn một cái Tết vào một mùa xuân chưa xa. Nhưng mỗi khi nghĩ đến Tết, hình ảnh hai người ấy vẫn hiện lên rõ ràng như thể chỉ cần quay đầu là thấy, như thể họ vẫn đang hiện diện đâu đây, sẵn sàng cùng cả nhà đón Tết.

Bây giờ, ở một đất nước xa xôi, mẹ con tôi cũng bày bàn thờ mỗi dịp Tết. Nhưng căn nhà rộng rãi nơi xứ người không đủ ấm cúng để tái hiện trọn vẹn không khí Tết năm xưa. Trái cây mua ở các khu chợ châu Á, hoa mua ở chợ Mỹ, những loài hoa sặc sỡ nhưng chẳng giúp tôi vơi đi nỗi nhớ những loài hoa mộc mạc ở chợ Tết quê, mọi thứ ở đây vẫn đủ đầy nhưng cảm giác dường như đã khác. Không còn tiếng ngoại nhắc nhở, càm ràm, không còn dáng ba lặng lẽ lụi cụi dọn dẹp hết thứ này đến thứ khác. Gia đình các anh chị em đều ở xa. Chỉ còn tôi và mẹ, thắp nhang cho những người đã khuất, chợt thấy Tết của mình sao mà hiu quạnh, mong manh. Cũng may, tôi còn có mẹ. Mà còn mẹ là còn Tết, ai đó từng nói vậy.

Tết ở xứ người, con cái đi học, người lớn vẫn đi làm như ngày thường, lịch trình vẫn bận rộn như Tết không hề ghé qua đây. Buổi tối, cả nhà quây quần bên mâm cơm có bánh chưng, dưa món, canh khổ qua, dĩa thịt kho trứng – những món ăn mang theo ký ức Tết nơi quê nhà. Trong câu chuyện của mọi người, dù không chủ ý nhưng ai cũng nhắc đến những mùa Tết cũ. Dọn dẹp xong, tôi hay ngồi yên lặng nhìn ra ngoài khung kính cửa sổ, nơi tuyết lã chã rơi trắng trời, nghe ca sĩ Bằng Kiều hát Lạc mất mùa xuân đầy da diết, lòng chợt nhớ những ngày giáp Tết ở quê, khi trời se se lạnh, nắng vàng ươm như mật rải đều trên khắp cành cây ngọn cỏ, khi tiếng cười nói rộn ràng khắp con đường trước nhà.

Tôi nhận ra, Tết không chỉ là một cái mốc thời gian mà còn là ký ức hằn sâu trong tâm khảm mỗi người, là thứ mà càng già đi người ta càng nhớ rõ trong khi lại quên đi nhiều thứ. Tết nằm lại nơi những người đã đi qua đời mình, trong những thói quen tưởng chừng nhỏ nhặt: đi chợ hoa cùng má, nghe ngoại kể đi kể lại những câu chuyện cũ xì, cùng ba lặt lá mai vào những ngày tháng Chạp… Khi những người ấy không còn, Tết của đất trời vẫn vậy nhưng Tết trong lòng người ở lại dường như cũng đổi thay theo.

Nhưng có lẽ, chính vì vậy mà Tết hoài niệm mới trở nên quý giá. Nó nhắc tôi nhớ mình đến từ đâu, nhắc tôi trân trọng những gì vẫn còn lại sau những gì đã mất, và nhắc tôi gìn giữ những giá trị cũ cho thế hệ sau. Tôi kể cho con tôi nghe về những cái Tết không có iPad, không có mạng xã hội và game online, chỉ có không khí gia đình và sự chờ đợi, nôn nao, háo hức, giản dị mà hạnh phúc.

Tết ở nơi xa, tôi chẳng mong gì nhiều. Chỉ mong có một buổi chiều yên tĩnh, thắp nén nhang, gọi tên những người thân yêu trong lòng, và cho phép mình được thả hồn theo nỗi nhớ. Nhớ để thấy mình vẫn còn quê hương ngự trị trong lòng, vẫn vẹn nguyên một miền Tết cũ – nơi có ngoại, có ba, và có một tôi của những ngày rất trẻ, trong veo, luôn háo hức mỗi độ xuân về.

Vi LÊ

Tin Vui Đầu Năm Dương Lịch 2026!

 


TIN VUI ĐẦU NĂM DƯƠNG LỊCH 2026!
Văn Đàn Tiếng Quê Hương

Tin Cực vui! Dự Luật ACR-71 Đã Thông Qua, Thành Cộng Tốt Đẹp! Người Việt San Jose Giờ Bắt Đầu Sửa Soạn Cho Những Sinh Hoạt Hân Hoan Chào Đón Xa Lộ Mang Tên Lịch Sử “Little Saigon Freeway!” San Jose!


San Jose – Bắc Californiạ Những ngày đầu năm 2026 ghi dấu một bước ngoặt lịch sử đối với cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Bắc California: buổi điều trần Dự luật ACR-71 đã thành công tốt đẹp, mở ra lộ trình hiện thực hóa danh xưng “Little Saigon Freeway” tại San Jose và các trục xa lộ trọng điểm của vùng.


Từ Nam Cali đến Bắc Cali – Hành trình của niềm tự hào


Sau dấu mốc lịch sử tại Westminster (Nam California), nơi đoạn xa lộ 405 chính thức được đặt tên Little Saigon Freeway theo Dự luật AB 2689, cộng đồng người Việt Bắc California tiếp tục viết thêm một chương mới cho lịch sử cộng đồng Tại Thung Lũng Hoa Vàng.


AB 2689 do Trí Tạ khởi xướng, đã được lưỡng viện Quốc Hội Tiểu bang California thông qua và Thống đốc Gavin Newsom ký ban hành. Lễ gắn bảng tên tại Westminster diễn ra trang trọng, xúc động, như một lời khẳng định căn cước, lịch sử và đóng góp của người Việt tỵ nạn sau hơn 50 năm viễn xứ.


Tuyên bố mở đường cho San Jose


Trong buổi lễ tại Westminster, sự hiện diện của Ash Kalra (đại diện Bắc California) đã thắp lên niềm hy vọng lớn. Trước đông đảo dân cử, lãnh đạo cộng đồng và truyền thông, ông long trọng tuyên bố sẽ đệ trình một nghị quyết tại Quốc Hội Tiểu bang California nhằm đặt tên các đoạn xa lộ 101 (và liên kết 280–680) tại Bắc California là “Little Saigon Freeway”, theo mô hình thành công ở Nam Calị


Đoàn kết Nam – Bắc: nghĩa cử từ cộng đồng


Đại diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Bắc California, ông Triệu Hà cùng phái đoàn đã đến chúc mừng. Đặc biệt, anh Lê Văn Hải thay mặt đồng hương Bắc Cali trao ngân phiếu 8.000 Mỹ kim để yểm trợ chi phí thực hiện bảng tên Little Saigon Freewaỵ Nghĩa cử ấy thể hiện tinh thần đoàn kết Nam – Bắc và quyết tâm gìn giữ danh xưng Little Saigon cho các thế hệ mai sau.


Buổi lễ khép lại trong bầu không khí xúc động và tự hào, khi tấm bảng “LITTLE SAIGON FREEWAY” được kéo vải che, đánh dấu một biểu tượng lịch sử – văn hóa – căn cước của người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ.


Đến giờ lịch sử tại Bắc Cali: Điều trần & Biểu quyết ACR-71


Dự luật ACR-71 do Ash Kalra làm tác giả, Trí Tạ đồng ký tên, đã được đưa ra điều trần và biểu quyết trước Ủy ban Giao thông Thượng viện, do Dave Cortese chủ tọa, tại Sacramento.


Thời gian & Địa điểm: Thứ Ba, 13/01/2026 – 1:30 PM. Thượng Viện Tiểu bang California, 1021 O Street, Phòng 1200


Buổi điều trần Dự luật ACR-71 đã thành công tốt đẹp, mở ra lộ trình hiện thực hóa danh xưng “Little Saigon Freeway” tại San Jose và các trục xa lộ trọng điểm của vùng.


Dấu mốc lịch sử!


Danh xưng Little Saigon Freeway không chỉ là một bảng giao thông; đó là biểu tượng của lịch sử, hy sinh và thành tựu của cộng đồng người Việt tỵ nạn. Cảm tạ Sự hiện diện đông đảo của quý đồng hương, là tiếng nói quyết định để đưa Little Saigon chính thức hiện diện trên các xa lộ Bắc California, đặc biệt tại San Jose.


Chúc Mừng Cộng đồng Người Việt Tại Bắc Cali! Với Thắng Lợi Này! Rút Ra Một Bài Học Đắt Giá: Nam & Bắc Cali Cùng Đoàn Kết Vận Động, Đã Đoạt Được Mục Đích Đầy Ý Nghĩa, Tốt Đẹp! Cái Tên Sài Gòn Thân Yêu, Sẽ Đi Vào Lịch Sử!


Văn đàn Tiếng Quê Hương