Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

Người Lính Già - Nửa Thế Kỷ Vẫn Nặng Nợ Non Sông

 


NGƯỜI LÍNH GIÀ – NỬA THẾ KỶ VẪN NẶNG NỢ NON SÔNG
DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY

Một đời áo trận – Một lòng với Tổ quốc

pCó những cuộc chiến đã lùi xa vào lịch sử, nhưng nỗi đau của người lính mất quê hương vẫn còn đó. Có những lá quân kỳ đã được xếp lại hơn nửa thế kỷ, nhưng lời thề bảo vệ Tổ quốc vẫn chưa bao giờ phai nhạt trong trái tim những người lính già Việt Nam Cộng Hòa.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày 30 tháng Tư năm 1975. Những người lính năm xưa, từng hiên ngang nơi chiến trường, từng đối diện với lằn tên mũi đạn, nay đã bước vào tuổi tám mươi, chín mươi. Mái tóc đã bạc, đôi chân đã yếu, bàn tay không còn vững vàng như thuở cầm súng bảo vệ quê hương.

Nhưng có một điều mà thời gian không thể làm thay đổi: Đó là lòng trung thành với lý tưởng Tự Do, với màu Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và với Tổ quốc Việt Nam.

Họ là những chiến sĩ Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Hải Quân, Không Quân, Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và những chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia, Cảnh Sát Dã Chiến, Cảnh Sát Đặc Biệt, những người đã âm thầm chiến đấu trên một mặt trận không kém phần hiểm nguy để bảo vệ an ninh và sự tồn tại của miền Nam tự do.

Ngày nay, họ sống lặng lẽ giữa xã hội Hoa Kỳ, không còn cấp bậc, không còn quyền hành, cũng chẳng mong cầu danh vọng. Người thì vui với con cháu, người tìm niềm an ủi nơi sinh hoạt hội đoàn, người âm thầm sống với những kỷ niệm của một thời chinh chiến.

Nhưng sâu thẳm trong tâm hồn, họ vẫn là những người lính chưa bao giờ quên Tổ quốc.

Có ai không xúc động khi nhìn thấy trong những buổi lễ tưởng niệm cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, những người cựu quân nhân già yếu vẫn cố gắng đến tham dự?

Có người phải chống gậy, có người được con cháu dìu đi, có người bước từng bước chậm chạp. Thế nhưng, khi lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ được kéo lên, khi bản quốc ca Việt Nam Cộng Hòa vang vọng, họ vẫn cố đứng thẳng người, đưa bàn tay lên chào theo quân cách.

Đôi mắt đã mờ theo năm tháng bỗng ánh lên niềm xúc động. Có người lặng lẽ lau nước mắt.

Giọt nước mắt ấy không phải là sự yếu đuối. Đó là giọt nước mắt của một thế hệ đã hy sinh tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, nhưng cuối đời vẫn chưa được nhìn thấy quê hương như lòng mình mong ước.

Trong những buổi lễ ấy, họ tưởng nhớ các vị nguyên thủ quốc gia của hai nền Cộng Hòa, tưởng nhớ những vị tướng lãnh, những chiến hữu đã nằm xuống và cả những đồng đội đã vĩnh viễn ra đi trong lao tù sau chiến tranh.

Họ tưởng nhớ không phải để nuôi dưỡng hận thù, mà để giữ gìn một phần lịch sử, để nhắc nhở con cháu rằng đã có một thế hệ từng sống, chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng mà họ tin tưởng.

Đặc biệt, những người cựu chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia, từng âm thầm hoạt động trong các ngành Cảnh Sát Đặc Biệt, Cảnh Sát Dã Chiến và các đơn vị bảo vệ an ninh, cũng mang trong lòng những ký ức không dễ gì giãi bày.

Họ đã trải qua những năm tháng hiểm nguy, những ngày tháng tù đày và những cuộc chia ly đầy nước mắt. Nhưng hôm nay, phần đông chỉ mong được sống những ngày cuối đời trong sự thanh thản, giữ trọn tình đồng đội và lòng yêu nước.

Họ không cần lịch sử phải ca tụng mình. Họ chỉ mong lịch sử đừng lãng quên những hy sinh của cả một thế hệ.

Điều đáng buồn là thời gian không chờ đợi ai. Mỗi năm, trong những buổi họp mặt, những hàng ghế lại thưa dần. Những khuôn mặt thân quen lần lượt vắng bóng. Những người lính từng sát cánh bên nhau ngày trước nay chỉ còn gặp lại qua những tấm di ảnh trong các buổi lễ truy điệu.

Rồi một ngày, lớp người cựu quân nhân ấy sẽ không còn nữa.

Ai sẽ tiếp tục gìn giữ những lá quân kỳ?

Ai sẽ kể cho thế hệ mai sau nghe về những chiến trường xưa, về những người lính đã nằm xuống, về những năm tháng lao tù và về nỗi đau của những gia đình phải rời bỏ quê hương?

Đó chính là trách nhiệm của những thế hệ tiếp nối.

Bởi lẽ, lòng yêu nước không chỉ thể hiện qua những lời hô vang trong các buổi lễ, mà còn phải được chứng minh bằng sự đoàn kết, bằng việc gìn giữ sự thật lịch sử, bằng tinh thần trách nhiệm và những hành động thiết thực hướng về đồng bào trong nước.

Và hơn hết, bằng một khát vọng chung: Một ngày quê hương Việt Nam thực sự có tự do, dân chủ, nhân quyền, công lý và thanh bình.

Đó chính là ý nghĩa cao đẹp của hai chữ QUANG PHỤC trong tâm tưởng những người lính già.

Không phải để trở về tìm lại quyền lực hay địa vị, mà để được nhìn thấy quê hương thoát khỏi những bất công, để người dân được sống trong tự do và phẩm giá, để dân tộc Việt Nam có thể cùng nhau xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn.

Người lính già hôm nay có thể không còn đủ sức cầm súng, nhưng vẫn còn đủ trái tim để yêu nước.

Có thể không còn đủ sức bước đi trên những chặng đường dài, nhưng tâm hồn họ vẫn ngày đêm trở về với quê mẹ.

Và có lẽ, ước nguyện cuối cùng của những người lính già ấy thật giản dị mà cũng thật thiêng liêng:

Được một lần nhìn thấy quê hương Việt Nam thanh bình, tự do trước khi nhắm mắt.

Được một lần thấy lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, biểu tượng của một thời tuổi trẻ, được con cháu trân trọng như một di sản lịch sử.

Được một lần trở về thăm quê cha đất tổ, thắp nén hương cho những đồng đội đã nằm xuống trên mảnh đất thân yêu.

NỬA THẾ KỶ ĐÃ QUA, NGƯỜI LÍNH CÓ THỂ GIÀ, NHƯNG LÒNG YÊU NƯỚC KHÔNG BAO GIỜ GIÀ.

MÁI ĐẦU CÓ THỂ BẠC, BƯỚC CHÂN CÓ THỂ CHẬM, NHƯNG KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG VẪN CHÁY MÃI TRONG TIM.

Và nếu mai này, những người lính già ấy không còn đủ thời gian để chứng kiến ngày quê hương đổi mới trong tự do, thì xin hãy để thế hệ con cháu tiếp tục mang theo ước nguyện chưa thành của cha anh.

Bởi vì:

TỔ QUỐC CÓ THỂ XA CÁCH NỬA VÒNG TRÁI ĐẤT, NHƯNG KHÔNG BAO GIỜ XA CÁCH TRÁI TIM NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA.

VÀ CHỪNG NÀO NHỮNG TRÁI TIM ẤY CÒN THAO THỨC, CHỪNG ĐÓ NIỀM HY VỌNG QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG VẪN CHƯA BAO GIỜ TẮT!

 

DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY

(PUBLISHER & EDITOR – IN – CHIEF OF MODERN LIFE MEDIA)

 

Kỷ Niệm Ngày Quốc Khánh 26 Tháng Mười, Nhìn Lạu Công Ơn Của TT Ngô Đình Diệm

 

Một người đàn ông cầm hình Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong một tiệm bán tranh ảnh ở Sài Gòn hối Tháng Ba, 1962. (Hình minh họa: Michael Ochs Archives/Getty Images)

KỶ NIỆM NGÀY QUỐC KHÁNH 26 THÁNG MƯỜI, NHÌN LẠI CÔNG ƠN CỦA TT NGÔ ĐÌNH DIỆM 
Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng

Tiếng hát của ca đoàn cất lên, vang vọng dưới những mái vòm cao vút của nhà thờ Đức Bà Sài Gòn sáng sớm hôm ấy. Lời Thánh Ca bằng tiến Latinh “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa tôi” ngân nga giữa bầu không khí trang nghiêm của một Thánh Lễ đặc biệt. Ngôi thánh đường chật ních giáo dân đến dự lễ nhân chuyến thăm Việt Nam của Hồng Y Francis Spellman, tổng giám mục New York, một vị thượng khách của tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Trong số những người cất tiếng hát hôm ấy có chính tác giả bài viết này, cùng nhiều thanh niên vừa từ miền Bắc di cư vào Nam sau Hiệp Định Geneva 1954.

Tiếng hát hôm ấy không chỉ là lời ca ngợi Thiên Chúa mà còn như một lời tạ ơn cho cuộc sống mới. Từ một miền Bắc chiến tranh, loạn lạc, nay được sống giữa Sài Gòn thanh bình, tự do, nhộn nhịp, chúng tôi cảm thấy tương lai đang mở ra đầy hy vọng. Sài Gòn lúc ấy quả thật xứng đáng với danh hiệu “Hòn Ngọc Viễn Đông.”

Nhưng đó chỉ là cảm nhận đơn sơ của tuổi trẻ.

Chúng tôi nào có ngờ rằng, ngay trong lúc Thánh Ca còn vang vọng dưới mái vòm, thì bên ngoài, trên bàn cờ chính trị Sài Gòn, những cuộc tranh giành quyền lực đang diễn ra hết sức quyết liệt. Người Pháp chưa chịu buông bỏ ảnh hưởng sau gần một thế kỷ đô hộ. Lực lượng của các giáo phái đang thách thức chính quyền trung ương. Và ngay cả Hoa Kỳ, đồng minh mà ông Diệm đang trông cậy, cũng chưa thật sự tin vào khả năng lãnh đạo của ông.

Bảy mươi mốt năm trôi qua. Những tài liệu được giải mật cho phép đặt lại một câu hỏi lớn: Nếu không có sự can đảm và quyết đoán của ông Ngô Đình Diệm trong những năm 1954-1955, liệu miền Nam có thể thoát khỏi phân hóa, thoát khỏi bóng thực dân, và dựng nên một quốc gia cộng hòa hay không?

Người muốn đi tu bỗng gánh vác vận nước

Ông Ngô Đình Diệm không phải là người xa lạ trên chính trường. Năm 1933, ông từng làm thượng thư bộ lại dưới triều Hoàng Đế Bảo Đại, nhưng chỉ vài tháng sau đã từ chức, vì không chấp nhận để người Pháp tiếp tục thao túng triều đình Huế. Từ đó, ông theo đuổi con đường độc lập dân tộc, chống cả thực dân lẫn Cộng Sản.

Theo hồi ký Con Rồng Việt Nam (1990), cựu Quốc Trưởng Bảo Đại kể lại rằng ông đã nhiều lần mời ông Diệm lập chính phủ, nhưng lần nào ông cũng từ chối. Lý do rất giản dị: Ông không muốn nhận trách nhiệm khi thực quyền vẫn nằm trong tay người Pháp.

Tháng Sáu, 1954, thời thế đã khác hẳn. Pháp vừa thảm bại ở Điện Biên Phủ. Hội Nghị Geneva đang định đoạt số phận Đông Dương. Bóng ma chia cắt đất nước hiện ra rõ rệt. Ông Bảo Đại lại mời ông Diệm một lần nữa.

Ông viết: “Sau khi thảo luận với ông John Foster Dulles (ngoại trưởng Mỹ), để cho ông ta biết ý định ấy, tôi cho vời Ngô Đình Diệm và bảo ông:

-“Cứ mỗi khi mà tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi đến ông. Ông thì lúc nào cũng từ chối. Nay tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị chia cắt làm đôi. Ông cần phải lãnh đạo chính phủ.”

-“Thưa hoàng thượng, không thể được ạ,” ông Diệm đáp. “Tôi xin trình ngài là sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đã quyết định. Tôi định đi tu…”

-“Tôi kính trọng ý định của ông. Nhưng hiện nay, tôi kêu gọi đến lòng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của mình. Sự tồn vong của Việt Nam buộc ông như vậy.”

Sau một hồi yên lặng, cuối cùng ông Diệm đáp:

-“Thưa hoàng thượng, trong trường hợp đó, tôi xin nhận sứ mạng ngài trao phó.”

Như vậy, giây phút ấy – ngày 16 Tháng Sáu, 1954 – là giây phút quyết định số mệnh của ông Ngô Đình Diệm. Ông muốn từ quan để đi tu, nhưng phải lĩnh nhận một sứ mạng đầy khó khăn, nguy hiểm, dấn thân vào một hành trình mà ở cuối đường, tử thần đã đứng sẵn để đợi ông.

Hôm đó, ông được trao cho quyền thành lập chính phủ. Ngày 7 Tháng Bảy, 1954, nội các Ngô Đình Diệm chính thức ra mắt.

Một miền Nam bên bờ vực thẳm

Khi ông Diệm nhận chức, thì trên lý thuyết, quốc gia Việt Nam đã có chủ quyền. Nhưng trong thực tế, bóng dáng người Pháp vẫn còn phủ kín khắp nơi nơi.

Quân đội quốc gia vẫn nằm trong hệ thống chỉ huy của Pháp. Ngay giữa Sài Gòn, lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn nắm cả bộ máy cảnh sát lẫn những sòng bạc, những nguồn lợi béo bở. Các giáo phái có quân đội riêng, cát cứ từng vùng.

Cùng lúc ấy, Thủ Tướng Diệm lại phải lo di chuyển gần 1 triệu đồng bào di cư từ miền Bắc vào miền Nam. Sau đó là gánh nặng định cư cho đoàn người này.

Về đối ngoại, Pháp muốn giữ ảnh hưởng, còn Mỹ muốn thay chân Pháp. Hai đồng minh cùng chống Cộng nhưng bất đồng về người lãnh đạo miền Nam.

Tướng Paul Ely, tổng tư lệnh quân đội Pháp, biết rõ thành tích chống thực dân của ông Diệm, nên đã cố thuyết phục Tướng J. Lawton Collins, đặc sứ của Tổng Thống Dwight Eisenhower tại Sài Gòn, để Mỹ để loại bỏ ông, viện cớ là ông không được người miền Nam ủng hộ, thiếu khả năng dung hòa và sẽ gây ra một cuộc nội chiến. Đáng ngại hơn, ông Collins ngày càng chia sẻ quan điểm của ông Ely

Chỉ vài tháng sau khi nhậm chức, ông Diệm đã bị bao vây bốn bề: Quân phiệt trong nước chống đối, Pháp muốn hạ bệ, và ngay cả đại diện của Hoa Kỳ cũng bắt đầu vận động để ông ra đi.

Tháng Tư Đen 1955: Khi Washington quyết định “thay lãnh đạo”

Người Việt quốc gia vẫn gọi Tháng Tư, 1975 là “Tháng Tư Đen.” Nhưng ít ai nhớ rằng đúng 20 năm trước đó, Tháng Tư, 1955 cũng từng là một tháng tư đen tối, suýt nữa đã chôn vùi tương lai miền Nam. Chỉ khác ở kết cục: Lần ấy, miền Nam thoát hiểm.

Tại sao? Tháng Ba, 1955, các lực lượng đối lập liên kết thành Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia, đòi ông Diệm cải tổ chính phủ và chia sẻ quyền hành. Cuộc tranh chấp với Bình Xuyên về quyền kiểm soát cảnh sát ngày càng căng thẳng.

Ông Diệm cương quyết đòi lại quyền ấy cho chính phủ.

Cuối Tháng Ba, súng nổ ở Sài Gòn, Tướng Ély áp đặt lệnh ngừng bắn, nhưng khủng hoảng vẫn âm ỉ.

Ngày 9 Tháng Tư, 1955, Đặc Sứ Collins gửi về Washington DC một điện văn đề nghị kế hoạch nhằm thay thế ông Diệm: Giải quyết vấn đề cảnh sát, thuyết phục ông Diệm từ chức, chọn người thay thế, và thương lượng với các giáo phái. Ngày 19 Tháng Tư, ông Collins lại khẳng định không còn giải pháp nào khác ngoài việc thay thế ông Diệm.

Rồi ông Collins bay thẳng về Washington DC, trực tiếp vận động với Tổng Thống Eisenhower, Ngoại Trưởng John Foster Dulles cùng các giới chức quốc phòng và tình báo. Ông Dulles vốn có cảm tình với ông Diệm, nhưng ông Collins là người ông Eisenhower đặc biệt tin cậy, cho nên đã thành công.

Ngày 27 Tháng Tư, 1955, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gửi đi một mật điện cho phép tiến hành thay thế Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Mật điện ngày 27 Tháng Tư, 1955

Xin trích bản dịch trong cuốn sách ‘Khi Đồng Minh Nhảy Vào’ (KĐMNV) của tác giả:

BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ – Ngày 27 Tháng Tư, 1955

“Tướng Collins và Tướng Ely phải thông báo cho Thủ Tướng Diệm biết rằng vì lý do ông không thành lập được một chính phủ liên hiệp có cơ sở rộng rãi và ông bị người Việt chống đối, chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ Pháp không còn đủ tư thế để ngăn ngừa việc ông phải từ chức. Những đức tính yêu nước của ông vẫn có giá trị tiềm năng lớn đối với Việt Nam, và chúng ta hy vọng rằng ông sẽ hợp tác với bất kỳ chính phủ mới nào được chỉ định…

“Chúng tôi tạm đề nghị một tân chính phủ như sau:

1-Nội các: Quyền hành pháp đầy đủ trao cho [Trần Văn] Đỗ hoặc [Phan Huy] Quát làm thủ tướng và phó thủ tướng…

2-Một Hội Đồng Tư Vấn khoảng từ 25 đến 35 đại diện các phe nhóm, gồm cả các giáo phái… và

3-Một Quốc Hội Lâm Thời: Một cơ chế gần như một Quốc Hội Lập Pháp, gồm những người đã trù liệu được bầu ra hay chỉ định theo lịch trình…”

Dulles

Washington đã vẽ sẵn cả thành phần lẫn cơ cấu của chính phủ kế nhiệm. Đó là một trong những nghịch lý lớn nhất của lịch sử Việt Nam Cộng Hòa: Chỉ sáu tháng trước ngày nền cộng hòa ra đời, chính đồng minh Hoa Kỳ đã sẵn sàng gạt bỏ người sẽ trở thành vị tổng thống đầu tiên của nó.

Những ngày đổi chiều lịch sử

Nhưng lịch sử không đi theo kịch bản của Washington.

Ngày 28 Tháng Tư, 1955, chiến sự bùng nổ dữ dội giữa quân đội Quốc gia và Bình Xuyên ngay giữa lòng thủ đô. Khói lửa trùm lên thành phố. Đó là một canh bạc sinh tử của ông Diệm: Chỉ cần quân đội trở cờ, hoặc Bình Xuyên thắng thế, chính phủ có thể sụp đổ trong vài ngày.

Nhưng quân đội đã đứng về phía chính phủ. Bình Xuyên bị đánh bật khỏi những vị trí then chốt. Cảnh sát và an ninh thủ đô trở về tay chính quyền trung ương.

Tin chiến thắng bay về Washington DC. Lập trường của Mỹ xoay chuyển chỉ trong một vài giờ. Ngoại Trưởng Dulles coi trận đánh là một phép thử: Ông Diệm có dám hành động không, và quân đội có trung thành với ông không? Bây giờ thì câu trả lời đã rõ. Washington đình chỉ kế hoạch thay thế ông Diệm.

Ngày 30 Tháng 4, 1955, có một tình tiết đáng nhớ xảy ra. Tướng Ely tìm gặp ông Randolph Kidder để bàn chuyện cùng nhau loại bỏ ông Diệm. Ông Kidder là người tạm thay mặt ông Collins (trong lúc ông đi Washington DC) để điều hành tòa đại sứ Mỹ.

Cái may cho ông Diệm là ông Kidder thẳng thừng từ chối: Hoa Kỳ sẽ không hợp tác với Pháp để lật đổ chính phủ ông Diệm. Như vậy, nếu như ông Collins không đi Washington DC thì ông Ely đã có thể thành công.

Sau cùng, Tháng Tư, 1955 đã khép lại theo một cách không ai có thể dự đoán. Từ một thủ tướng bị coi là sắp ngã ngựa, ông Diệm trở thành người nắm thế thượng phong tại miền Nam. Sử gia Joseph Buttinger nhận xét rằng trong suốt cuộc đấu tranh giành và giữ quyền lực, ông Diệm đã trải qua nhiều giai đoạn gian nan, nhưng khó có giai đoạn nào cay đắng và hiểm nghèo hơn Tháng Tư, 1955.

Nếu ông thất bại trong những ngày ấy, lịch sử miền Nam đã rẽ sang một ngả hoàn toàn khác.

Vĩnh biệt đoàn quân viễn chinh Pháp

Một trong những công lao lớn nhất của ông Diệm là chấm dứt sự hiện diện quân sự của Pháp tại miền Nam.

Hiệp Định Geneva chỉ quy định đình chiến và tập kết hai miền. Quân Liên Hiệp Pháp rút về phía Nam vĩ tuyến 17 và vẫn đóng ở đó với lực lượng đáng kể.

Với ông Diệm, độc lập thật sự không thể tồn tại khi quân đội quốc gia còn lệ thuộc vào bộ chỉ huy của một cựu cường quốc thực dân.

Chiến thắng Bình Xuyên đã trao cho ông thế mạnh để đòi hỏi. Ngày 20 Tháng Năm, 1955, quân đội Pháp rút khỏi khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn. Những tháng sau đó, lực lượng Pháp giảm nhanh. Đến ngày 28 Tháng Tư, 1956, những đơn vị Pháp cuối cùng hoàn tất việc rút khỏi miền Nam.

Sau gần một thế kỷ, tiếng giày đinh của quân đội viễn chinh không còn vang trên đất miền Nam.

Ngày 26 Tháng Mười, 1955: Nền cộng hòa khai sinh

Củng cố được quyền lực trung ương, ông Diệm tiến thêm một bước quyết định. Đó là thay đổi thể chế quốc gia.

Ngày 23 Tháng Mười, 1955, cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức để chọn giữa Quốc Trưởng Bảo Đại và Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Kết quả công bố cho thấy ông Diệm thắng áp đảo. Cách tổ chức và kiểm phiếu của cuộc trưng cầu này về sau vẫn còn bị giới nghiên cứu tranh luận, nhưng về mặt lịch sử thể chế, nó đã khép lại chế độ quốc gia Việt Nam của ông Bảo Đại.

Ngày 26 Tháng Mười, 1955, ông Diệm tuyên bố thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa và trở thành vị tổng thống đầu tiên.

Ngày 4 Tháng Ba, 1956, cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến được tổ chức. Ngày 26 Tháng Mười, 1956, đúng một năm sau ngày khai sinh nền cộng hòa, Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa được ban hành, thiết lập ba ngành hành pháp, lập pháp, và tư pháp.

Dựng nên một chính quyền trung ương, một quốc hội, một bản hiến pháp, và một nền hành chính, giữa một đất nước vừa qua chiến tranh, chia cắt và nội loạn, là một công trình vô cùng gian khổ. Chính những nền móng ấy đã giúp Việt Nam Cộng Hòa đứng vững trong hai thập niên kế tiếp.

Từ bị nghi ngờ đến được đón tiếp như một anh hùng

Chỉ hai năm sau cơn khủng hoảng Tháng Tư, vị thế của ông Diệm đổi khác hoàn toàn.

Trưa ngày 8 Tháng Năm, 1957, chiếc Columbine III, chuyên cơ của tổng thống Hoa Kỳ, đáp xuống phi trường National ở Washington DC (nay là phi trường Ronald Reagan Washington National Airport Reagan). Đứng đón ở chân cầu thang là chính Tổng Thống Dwight Eisenhower, bên cạnh Ngoại Trưởng Dulles và Tướng Nathan Twining (tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ). Đây là lần thứ hai trong suốt nhiệm kỳ, ông Eisenhower đích thân ra phi trường đón một nguyên thủ ngoại quốc.

Trong lời chào mừng, ông Eisenhower ca ngợi ông Diệm là hiện thân của lòng ái quốc ở mức cao nhất, đã mang đến cho công cuộc dựng nước lòng can đảm lớn lao và tài kinh bang tế thế. Hai mươi mốt phát đại bác vang lên. Hơn 50,000 người đứng dọc đường đón đoàn xe.

Hôm sau, ngày 9 Tháng Năm, ông Diệm đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ. Ông nói về khát vọng độc lập, tự do của nhân dân miền Nam, so sánh cuộc di cư của gần 1 triệu đồng bào miền Bắc với hành trình tìm tự do của những người Mỹ hành hương trên con tàu Mayflower. Các nhà lập pháp đứng dậy vỗ tay không dứt.

Phản ứng tại Quốc Hội Mỹ hết sức thuận lợi. Các thượng nghị sĩ, dân biểu thay nhau khen ngợi. Thượng Nghị Sĩ Jacob Javits (Cộng Hòa-New York) tuyên bố: “Ông là một trong những anh hùng của thế giới tự do.” Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield (Dân Chủ-Montana) ca ngợi ông Diệm là con người có quyết tâm, can đảm, trong sạch, và chính trực, “một người đã chứng tỏ khả năng rất cao trước những khó khăn thật là to lớn.”

Nhưng cao điểm của chuyến đi là New York. Ngày 13 Tháng Năm, 1957, thành phố này tổ chức cuộc diễn hành rải giấy (ticker-tape parade) chào đón ông Diệm, từ khu Battery dọc đại lộ Broadway đến tòa thị chính. Khoảng 250,000 người đổ ra đường. Từ những cao ốc hai bên, hàng triệu mảnh giấy trắng tung bay như tuyết rơi giữa Tháng Năm.

Tại tòa thị chính, Thị Trưởng Robert F. Wagner gọi miền Nam Việt Nam là một “phép lạ chính trị,” và nói rằng thành công này thuộc về Tổng Thống Ngô Đình Diệm, người mà lịch sử có thể sẽ xếp vào hàng những nhân vật vĩ đại của thế kỷ 20. Ông Diệm được trao Huy Chương Danh Dự của thành phố.

Ba năm sau, năm 1960, ông Eisenhower lại viết thư cho ông Diệm:

“Chúng tôi đã chứng kiến sự can đảm và táo bạo mà ngài và nhân dân Việt Nam đã biểu dương để đạt tới độc lập trong một tình huống nguy hiểm đến mức nhiều người đã coi như là vô vọng.

Chúng tôi còn ngưỡng mộ khi tình trạng hỗn loạn ở miền Nam đã nhường chỗ cho trật tự, và tiến bộ đã thay thế cho tuyệt vọng, tất cả với một tốc độ thật nhanh chóng.”

Những lời ấy đến từ chính vị tổng thống mà năm năm trước, chính quyền của ông đã soạn sẵn một mật điện để thay thế ông Diệm (như đề cập trên).

Thành tựu và một kết thúc bi thương

Công lao của ông Diệm không dừng lại ở năm 1955. Chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa đã định cư gần 1 triệu đồng bào di cư, cấp đất, tạo công ăn việc làm. Trường học mọc lên khắp nơi. Nền hành chính được thống nhất từ trung ương đến xã ấp. Cải cách điền địa, phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ được xúc tiến. Miền Nam có được “Năm Vàng Son 1955-1960: Vừa Phát Triển Vừa Hòa Bình” (sách Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 13).

Dĩ nhiên, chính phủ Diệm cũng có những giới hạn và sai sót. Một tài liệu đầy tranh cãi gọi là “Tuyên Ngôn Caravelle Tháng Tư, 1960” của một nhóm thân hào, nhân sĩ đã nêu lên một số khuyết điểm như quyền lực tập trung vào một nhóm nhỏ, tình trạng tham nhũng, sinh hoạt đối lập bị thu hẹp (KĐMNV, Chương 14). Thêm vào đó là những mưu toan của nhóm chống ông Diệm tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ do ông Roger Hilsman lãnh đạo. Lý do là vì ông Diệm, tuy rất cần viện trợ của Hoa Kỳ, không bao giờ cúi đầu trước mọi đòi hỏi của đồng minh, một phẩm chất làm nên sự nghiệp của ông, nhưng cũng là mầm mống của việc Mỹ nhúng tay vào việc lật đổ ông.

Ngày 1 Tháng Mười Một, 1963, cuộc đảo chính xảy ra. Hôm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị sát hại.

Một kết thúc bi thảm cho người đã dựng nên nền cộng hòa.

“Magnificat anima mea Dominum”

Mỗi năm, khi ngày 26 Tháng Mười đến, tôi lại nhớ đến buổi sáng năm xưa dưới mái vòm nhà thờ Đức Bà. Chúng tôi, những chàng trai vừa từ Bắc vào Nam, đã hát bằng tất cả niềm tin và hy vọng. Khi ấy, chúng tôi chưa hiểu hết những gian truân mà vị thủ tướng trầm lặng kia đang gánh chịu.

Bây giờ, sau hơn 70 năm nhìn lại, tôi càng nhận thức rõ hơn rằng sự ra đời của Việt Nam Cộng Hòa không phải là một kết quả tất nhiên của lịch sử. Đó là thành quả của những cuộc đấu tranh chính trị, ngoại giao, và quân sự vô cùng gay go, trong đó ông Diệm đóng một vai trò quyết định. Ông không chỉ là người luôn được Mỹ ủng hộ. Ngược lại, trong những ngày hiểm nghèo nhất vào Tháng Tư, 1955, chính Washington đã chuẩn bị thay thế ông.

Bởi vậy, khi đánh giá một nhân vật lịch sử, những sai lầm trong quá trình cầm quyền không thể xóa đi công lao của người đã khai quốc.

Ông Diệm không chỉ là người đã cứu được miền Nam trên bờ vực thẳm năm 1954, ông còn là người cương quyết chấm dứt sự lệ thuộc vào Pháp, và đẩy toàn bộ quân đội Pháp ra khỏi Việt Nam năm 1956.

Lịch sử có thể tiếp tục tranh luận về những thành công và sai lầm của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Nhưng khi nhớ đến ngày Quốc Khánh 26 Tháng Mười, chúng ta không thể quên công lao của người đã đặt nền móng cho nền cộng hòa Việt Nam. [đ.d.]

Tiến Sĩ Nguyễn tiến Hưng



Thứ Năm, 29 tháng 10, 2026

Chương 11: Con Số 80% Sự Thực Hay Là Huyền Thoại

 


CHƯƠNG 11: CON SỐ 80% SỰ THỰC HAY LÀ HUYỀN THOẠI
Tru Le trule9@gmail.com

Chương 11: Con số 80% sự thực hay là huyền thoại

Cha François trong cuộc gặp gỡ Đức Khâm sứ cũng không được thoả mãn lắm. Đức Khâm sứ tỏ ra thiếu thiện cảm với chính quyền Ngô Đình Diệm và ngài bị ảnh hưởng sâu xa bởi những dư luận dồn đại về đời sống của bà Nhu cũng như quyền bính của ông Nhu và đức cha Ngô Đình Thục. Khi Cha François sắp cáo từ ra về thì một giáo sư đại học và một Linh mục trẻ cũng vừa đến xin thăm Đức Khâm sứ. Ngài bảo Cha François: “Cha có thể ngồi lại đây… nếu Cha muốn biết rõ tình hình Việt Nam như thế nào thì hai ông khách này có thể giúp Cha nhiều tài liệu xác thực”.

Lúc đầu hai vị khách còn dè dặt nhưng sau hai ông bắt đầu nổ máy, công kích chính quyền hết sức mãnh liệt. Cha hỏi: “Tôi vẫn nghĩ rằng chính quyền này có thực thi dân chủ và thực hiện nhiều công việc lớn lao cho Chính phủ”.

Vị Linh mục trẻ: “Thưa cha chúng tôi chưa thấy dân chủ ở đâu cả, Quốc hội là Quốc hội bù nhìn, toàn thứ nghị gật do được chỉ định. Quyền hành đều nằm gọn trong tay Tổng thống hay đúng ra là ở trong tay ông bà Nhu”.

Vị giáo sư đại học: “Thưa Đức Khâm sứ và Cha, tình hình đến lúc nghiêm trọng lắm rồi. Thiết tưởng Giáo hội không thể đứng ngoài vòng Giáo hội phải lên tiếng”. Đức Khâm sứ mỉm cười: “Ông bảo Giáo hội phải lên tiếng như thế nào? Giáo hội không đứng ngoài vòng thì Giáo hội phải làm sao bây giờ?”.

Nếu không có vụ tranh chấp năm 1963 và nói một cách chung thì Phật giáo chưa có một xích mích nào đáng kể đối với chính quyền Ngô Đình Diệm. (Ngoại trừ những xích mích có tính cách địa phương xảy ra tại Bình Định, vào những năm 1960-1961). Trước năm 1963 Phật giáo Việt Nam chỉ là một tập thể bao gồm những cục bộ riêng rẽ. Mà những cục bộ này cũng không được tổ chức chu đáo. Tuy vậy Phật giáo Nam Việt cũng bị ảnh hưởng sâu xa bởi sắc thái địa phương, bối cảnh dịa dư và nhân sự. Do đó, Phật giáo đã thể hiện rõ rệt qua ba “sắc thái sinh hoạt”: Phật giáo miền Nam, Phật giáo miền Trung và Phật giáo di cư. Phật giáo miền Nam gồm hội Phật học Nam Việt (Cư sĩ Mai Thọ Truyền và chùa Xá Lợi), Giáo hội tăng gia Việt Nam (Thượng toạ Thích Thiện Hoa chùa Ấn Quang), Phật giáo nguyên thuỷ (nhóm Tiểu thừa chùa Kỳ Viên) và một số hội đoàn lẻ tẻ khác. Phật giáo Campuchia di cư ước độ 200.000 người nhưng không tạo thành một cộng đồng. Phật tử di cư với tư cách cá nhân và bằng phương tiện cá nhân, trong số 200.000 người có khoảng 50.000 người sống rải rác ở các trại định cư. Khoảng 50.000 người sinh sống ở các thị xã. Còn lại 100.000 tín đồ quy tụ tại Sài Gòn. Phật giáo di cư tại Đô thành có thể chia thành hai nhóm, nhóm thuộc chùa Phổ Quang và Nghĩa trang Bắc Việt (Thượng toạ Thích Trí Dũng). Nhóm đa số thuộc chùa Từ Quang (Thượng toạ Thích Tâm Châu).

Riêng Phật giáo miền Trung được coi là một cộng đồng có tổ chức và sinh hoạt từ cấp khuôn hội cho đến trung ương (từ chùa Từ Đàm). Theo thống kê trước năm 1963 Phật giáo (miền Trung )có vào khoảng 400.000 người với một tổ chức thanh niên và hướng đạo Phật tử đáng kể. Sau 1963 cũng theo thống kê thì số Phật giáo miền Trung lên tới 800.000 người.

Tổng Hội Phật giáo Việt Nam do Hoà thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ. Trên thực tế, Phật giáo miền Trung mới là chủ lực của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam. Hoà thượng Thích Tịnh Khiết là một bậc cao tăng nổi tiếng về đức độ của con người xuất thế tu đạo. Nhưng tước vị Hội chủ chỉ là một danh nghĩa tiêu biểu cho tinh thần thống nhất cao. Quyền hành của Tổng hội Phật giáo Việt Nam vẫn do các Vị Thượng toạ Trí Quang và Thiện Minh, xa hơn nữa là các thượng toạ Trí Thủ và Đôn Hậu cùng một số thượng toạ, Đại đức thuộc khuynh hướng dấn thân tích cực.

Phật giáo miền Nam trước, sau năm 1963 luôn giữ thái độ xuất thế không thân chính quyền Ngô Đình Diệm mà cũng không chống và cũng không hề biểu lộ một thái độ nào có màu sắc chính trị và thời thế.

Cư sĩ Chánh trí Mai Thọ Truyền không có một quan hệ nào đối với chính quyền Ngô Đình Diệm nhưng giữa ông và Phó Tổng thống Thơ lại có nhiều mối tương thân giao hữu.

Ngược lại, Tổng hội Phật giáo miền Trung lại được coi như thân thiện và có những tương giao tốt đẹp với chính quyền Ngô Đình Diệm qua ông Ngô Đình Cẩn, chính ông Cẩn vẫn tự hào và lớn tiếng kể công với các anh là ông đã nắm được Phật giáo miền Trung.

Ông Cẩn thường coi thành tích này như một điều để “bắt bí” mấy ông anh. Bất cứ một hội nghị Phật giáo nào tại ngoại quốc, các Thượng toạ miền Trung phải được ưu tiên. Do đó cũng làm cho giới chức tại Sài Gòn gặp nhiều cảnh “tréo cẳng ngỗng”. Theo Lương Khải Minh, vào khoảng năm 1960…Tổng thống Diệm đã chấp thuận một danh sách gồm mấy Thượng toạ và Cư sĩ đi tham dự Hội nghị Phật giáo thế giới. Các vị này đã được thông báo để sửa soạn làm giấy thông hành, bỗng nhiên ông Cẩn cho người đem vào Sài Gòn một danh sách mới và đòi cho bằng được phải để cho mấy vị Thượng toạ miền Trung tham dự và nắm chức trưởng phái đoàn.

Ông Cẩn lấy cớ rằng: “Tổng hội Phật giáo Việt Nam do Hoà thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ và trụ sở đặt tại Huế thì Huế mới là trung ương Tổng hội”. Do đó, một Thượng toạ ở Huế phải làm trưởng phái đoàn.

Sự việc này quả khó giải quyết cho nên lại phải trình bày lên ông Diệm. Ông Tổng thống đáp: “Ai đi cũng vậy. Tôi nghe nói mấy ông Thượng toạ này tốt lắm. Chắc là ông cậu ngoại nớ đã biết họ rõ”. Có lẽ bắt nguồn từ những việc này nên Phật giáo Sài Gòn vẫn rì rầm là chính quyền không hiểu sao đã ưu đãi các thầy ở Huế. Nhiều kẻ đa nghi lại rỉ tai nhau: “Thày ấy…là người thân của ông Cẩn mà”.

Đại uý Bằng, sĩ quan hầu cận của Tổng thống Diệm cũng xác nhận rằng: “Không hiểu một lý do gì mà ông Cẩn lại quá ư ưu đãi và trọng vọng mấy vị Thượng toạ ở chùa Từ Đàm”. Đại uý Bằng nhớ lại: “Cũng vào khoảng năm 1960 khi tháp tùng Tổng thống Diệm về Phú Cam, ông Cẩn đã gọi Bằng lại dặn dò rất kỹ: Mi về Sài Gòn gặp ngay anh Tuyến hỏi xem tuần trước các thầy có mang thơ giới thiệu của tao đến gặp anh ấy không? Mi bảo anh Tuyến lo ngay cái vụ hồ sơ đi xuất ngoại của thầy Trí Quang. ” – Một lát sau ông Cẩn nhắc lại lần nữa và bảo Bằng tin ra Huế ngay để ông biết rõ vụ giấy tờ xuất ngoại của mấy thầy đã đi đến đâu.

Khi về Sài Gòn, đại uý Bằng đến tìm bác sĩ Tuyến và nói như vậy. Bác sĩ Tuyến cho biết là hồ sơ đã đưa qua phòng ông Hải rồi: “Có thư của ông Cậu ai mà dám chậm trễ”.

Ông Ngô Đình Cẩn tỏ ra rất tự hào về những tương quan thân hữu của ông và Tổng hội Phật giáo tại miền Trung. Do đó, khi nhận được bức công điện cấm treo cờ tôn giáo, ông Cẩn tỏ ra tức giận không ít.

Bức công điện mang số 9195 đề ngày 6-6-1963 cho đến chiều ngày 6, bức công điện mới đến toà đại biểu và tỉnh đường Thừa-Thiên. Văn Phòng Cố vấn chỉ đạo của ông Cẩn vẫn không hay biết một chút nào. Mãi đến sáng ngày 7, người vú già của đại uý Minh đi chợ về, thuật lại: “Ngoài chợ đang xôn xao về việc gì đó. Đồng bào nói rằng Chính phủ cấm không cho Phật giáo treo cờ”. Lúc đó Văn phòng Cố vấn chỉ đạo mới rõ và tìm gặp ông Cẩn để trình bày tự sự ông mới hay.

Ông Nguyễn Văn Đẳng, Tỉnh trưởng Thừa-Thiên vào trình bức công điện kể trên. Với sự hiện diện của đại uý Minh, ông Cẩn băn khoăn…

“Sao lại có chuyện lạ như thế”

Đại uý Minh cũng ngần ngại:

– Đồng bào các nơi đã treo cờ hết cả rồi. Bây giờ làm thế nào được.

Ông Đẳng lo ngại:

Thưa nếu thì hành bức công điện này, con thấy lôi thôi lắm.

Ông Cẩn bảo đại uý Minh hỏi Toà đại biểu xem thế nào và yêu cầu xác thực xem bức công điện có phải đúng như thế không? Cầm bức công điện trên tay ông Cẩn vẫn chưa tin là thực. Ông Cẩn nhắc đi nhắc lại “Quyết định cái gì mà lạ lùng vậy”.

Trong thời gian này, ông Ngô Đình Cẩn đang bị thất sủng. Tổng thống Diệm không còn tín nhiệm vào ông em nữa. Trên thực tế, kể từ ngày Đức cha Ngô Đình Thục trở về Huế thì uy tín của ông Cẩn bắt đầu xuống dốc dần…Tổng thống Diệm đã quyết định bãi bỏ Văn phòng cố vấn chỉ đạo từ đầu năm 1963 (cho đến tháng 10-1963 ông Diệm mới dứt khoát bãi bỏ Văn phòng Cố vấn chỉ đạo có nghĩa là ông Cẩn bị loại khỏi chính trường miền Trung).

Bức công điện trên đây ông Cẩn chỉ được biết khi ông Đẳng mang vào. Ông Cẩn bảo Tỉnh trưởng Thừa Thiên:

“Đồng bào người ta treo cờ rồi thì cứ để nguyên như vậy đừng có ra lệnh hạ gì cả”. Ông Cẩn lại bảo ông Hồ Đắc Thương, đại biểu Chính phủ Trung Nguyên Trung Phần, đánh điện vào Trung ương xin hoãn thi hành bức công điện “kỳ quái” này.

Một số viên chức có mặt tại nhà ông Cẩn lúc ấy đều đồng ý phải hoãn thi hành lệnh trên và cứ để đồng bào Phật tử treo cờ như mọi năm. Đại uý Minh bàn luận với một số viên chức: “Tại sao không ra lệnh từ trước, mãi đến bây giờ mới ra lệnh. Vụ này kẹt cho tụi mình lắm. Các anh tính sao? ”

Ông Cẩn thắc mắc hỏi ông Đẳng và Hoàng Trọng Bá: “Các thày dưới Từ Đàm đã biết chưa?”. Thực ra, các thày cũng như một số đông phật tử biết tin từ tối hôm trước.

Tất nhiên là phải có một viên chức nào ở toà tỉnh đã tiết lộ bức công điện trước khi thông báo cho ông Cấn.

Sau một hồi thảo luận, cân nhắc ông Cẩn bảo Tỉnh trưởng Thừa Thiên “Chú cho mấy xe thông tin nó đi. thông báo gấp cho đồng bào hay là không có gì thay đổi. Đồng bào cứ treo cờ như mọi năm”.

Ông Cẩn đồng thời căn đặn đại uý Minh cũng như Hồ Đắc Thương, Hoàng Trọng Bá phải thận trọng hết sức và làm thế nào để tránh những chuyện đáng tiếc có thể xảy ra. Mặt khác Văn phòng ông Cẩn cũng chỉ thị cho giới chức cảnh sát thành phố Huế không được hạ cờ của đồng bào.

Nói về ông Ngô Đình Cẩn và Phật giáo, Thượng toạ Mật Nguyệt (thuộc phái Ấn Quang) cho rằng, trong chín năm chế độ Ngô Đình Diệm, không hiểu trong lòng như thế nào nhưng ngoài mặt, ông Cẩn tỏ ra rất thân thiết và tin cậy các thày trong Tổng hội Phật giáo miền Nam tại Huế). Qua bức công điện cấm treo cờ, thái độ của ông Cẩn ngay từ phút đầu là sửng sốt, tức giận. Ông Cẩn than thở với mấy thuộc viên thân cận: “Làm như rứa tao còn mặt mũi nào nói chuyện với người ta” (tức các thầy tại chùa Từ Đàm).

Buổi trưa ngày 7, ông Cẩn trầm ngâm một cách khó hiểu, ông uống một hơi hết ly rượu lễ và cho gọi ông Minh vào để tìm hiểu tình hình và được biết Huế cho đến giờ phút này vẫn không hề xao động.

Cả một thành phố như rừng cờ. Số lượng cờ phật giáo như càng tăng thêm. Vào buổi chiều ông Cẩn nhận được báo cáo cho biết khoảng 8g30 sáng (khi Nguyễn Văn Đẳng vào trình bức công điện) thì lại có mấy cảnh sát viên trong thành nội kéo nhau đi hạ cờ tại mấy nhà đồng bào và đã có sự giằng co xô xát. Sau đó được thu xếp êm ngay. Huế nơi nơi như bừng sống như đang vươn cao trong hương hoa ngào ngạt. Không khí như ngày hội hoa đăng và như tất cả dành riêng cho ngày Phật giáng thế.

Ông Nguyễn Hữu Cang, một trong những nhân chứng trong vụ Phật giáo Huế năm 1963 đã kể với chúng tôi: “Sáng ngày 7 trong giờ đồng bào và các khuôn hội đã xôn xao lắm. Nhất là chúng tôi lại được tin cho biết chính Đức Cha Ngô Đình Thục đã về tận Sài Gòn thúc đẩy ông Ngô Đình Nhu ra lệnh “triệt hạ” Phật giáo. Do đó lại càng khiến mọi giới Phật tử xôn động bất mãn” Nguyễn Hữu Cang cho biết thêm: “Trưa ngày 7, khi được tin chính quyền cho cảnh sát đi hạ cờ và xé cờ Phật tại mấy khuôn hội thì dư luận lại càng thêm sôi nổi phẫn uất. Nhất là giới bạn hàng chợ ĐôngBa. Có thể nói giới bạn hàng này mới là thànhphần đi tiên phong trong vụ tranh đấu kể từ ngày 7 chứ không phải chỉ riềng ngày 8″.

Nguyễn Hữu Cang cũng công nhận rằng: Anh có nghe thấy xe thông tin đi loan báo là đồng bào cứ treo cờ như thường lệ. Tuy nhiên lúc bấy giờ bao nhiêu dồn nén trong quần chúng được khởi dậy và chỉ chờ đợi giây phút nổ tung.

Các hội đoàn và quân đội đều nhận được mật lệnh sửa soạn để tranh đấu đòi bình đẳng tôn giáo, đối tượng cho sự đấu tranh như vậy quả là hấp dẫn và dễ dàng lôi được mọi giới Phật tử.

Khoảng 6 giờ chiều, một số công chức tòng sự tại Toà đại biểu không đến Toà hành chính Thừa Thiên và ở đây cũng có một số công chức thuộc tỉnh đường tụ tập bàn tán xôn xao về bức công điện cấm treo cờ, đồng thời cũng có vào khoảng một ngàn đồng bào với một số Thượng toạ, Đại đức kéo đến Toà hành chính để tỏ thái độ trong đó có Thượng toạ Đôn Hậu, Trí Quang.

Không khí lúc ấy đã nhuốm màu tranh đấu. Nguyễn Hữu Cang cũng có mặt trong ngày đó. Ngày nay tuy đã quên nhiều chi tiết nhưng ông vẫn giữ nguyên giây phút ngọn lửa hồng cháy rực. Ông nói: “Khi nghe tin cờ Phật giáo bị xé tôi có cảm tưởng như chính tổ tiên mình bị chính quyền chà đạp. Lúc ấy dù có phải chết cho đạo pháp tôi cũng bằng lòng”.

Cang cho biết trong một không khí sôi động như vậy Thượng toạ Trí Quang xuất hiện cùng với mấy Thượng toạ khác như Thượng toạ Trí Thủ, Thượng toạ Thiện Minh. Về phía chính quyền thì có ông Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng, ông Phó Tỉnh trưởng Hành chính, ông Phong Trưởng ty cảnh sát thành phố Huế… Lát sau, Thiếu tá Đặng Sỹ Phó Tỉnh trưởng Hội An lái xe đến. Ông này mới đi hành quân về chiều ngày 6. Khi được cấp báo đồng bào Phật tử đang biểu tình ở tỉnh đường, Thiếu tá Sỹ vội vã lái xe đến.

Lúc ấy Thượng toạ Trí Quang với một vẻ xúc động mạnh, lên tiếng gay gắt phản đối bức công điện cấm treo cờ tôn giáo. Ông Đẳng cho các Thượng toạ biết là chính quyền đã hoãn thi hành bức công điện này và xin các Thượng toạ cứ an tâm. Mọi sự đều như mọi năm không có gì thay đổi.

Tuy vậy, Thượng toạ Trí Quang vẫn giữ vẻ tức giận và lên tiếng phản đối chính quyền Thừa Thiên tại sao sáng ngày 7 đã cho cảnh sát hạ cờ Phật giáo và tại một vài nơi Cảnh sát đã xé cờ.

Ông Đẳng quay sang hỏi ông Phong Trưởng ty Cảnh sát xem sự thể hư thực như thế nào. Ông Phong lên tiếng: “Tôi quả quyết không có chuyện đó”. Ông Phong lại nhấn mạnh thêm: “Tôi quả quyết với các thày là không có chuyện xé cờ”. Thiếu tá Sỹ lên tiếng: “Nếu có chuyện xảy ra như vậy xin thày cho biết rõ nơi nào cảnh sát đã xé cờ, tôi sẽ cho điều tra và trừng trị ngay”.

Ông Phong lại nói một lần nữa quả quyết là không có chuyện như vậy. Ông Phong xin Thượng toạ Trí Quang nêu lên một vài chứng cớ. Thượng toạ Trí Quang đáp: “Tôi nghe đồng bào Phật tử nói như vậy”.

Ông Phong lại thỉnh cầu: “Xin Thày cho biết rõ nơi xảy ra chuyện xé cờ thuộc về khuôn hội nào, khu phố nào để chúng tôi mở cuộc điều tra ngay”.

Thượng toạ Trí Quang lắc đầu không tiết lộ và nói đại ý: “Tôi không thể cho các ông biết rõ được. Tôi cho các ông biết rõ để rồi cảnh sát đến làm phiền đồng bào Phật tử rồi tính sao đây?”.

Cuối cùng Thượng toạ Trí Quang tỏ vẻ lo ngại: “Hiện nay chúng tôi rất hoang mang không hiểu chính quyền đàn áp chúng tôi đến khi nào?”.

Ông Nguyễn Văn Đẳng vẫn “xuống nước” thỉnh cầu các thượng toạ yên tâm trở về chùa và ngày mai mọi sự sẽ tiến hành tốt đẹp như mọi năm. Thượng toạ Trí Quang vẫn lo ngại: “Mai này đồng bào Phật tử sẽ tổ chúc rước kiệu, chúng tôi đã sửa soạn đâu đấy cả rồi chúng tôi rất hoang mang”.

Hai bên chính quyền và các Thượng toạ cứ vòng vo bàn cãi, cuối cùng chính quyền Thừa Thiên phải nhượng bộ bằng cách gọi điện thoại ngay cho ông Trừ Trưởng ty Thông tin cho ba xe có máy phóng thanh đến toà tỉnh. Ông Nguyễn Văn Đẳng đề nghị các Thượng toạ cho các cán bộ Phật tử của mình đi theo xe và chính các cán bộ này sẽ chia nhau đi khắp các khu phố để loan báo cho đồng bào rõ ngày 8-5 sẽ không có gì thay đổi, đồng bào cứ đi hành lễ như chương trình của Giáo hội đã ấn định. Kết quả các thượng toạ cũng bằng lòng như vậy. Khoảng 9 giờ đêm đám đông mới giải tán và mọi chuyện tưởng chừng đã được giải quyết tạm thời êm đẹp. Ba xe thông tin chia nhau đi vào các khu phố để làm phận sự như chính quyền và các thượng toạ đã thoả thuận.

Theo Nguyễn Hữu Cang đêm mùng 7 là một đêm không ngủ. Cang cũng như một số Phật tử khác thừa hành lệnh trên đi kẻ biểu ngữ và quay ronêo những bản văn đòi chính quyền thực thi quyền bình đẳng tôn giáo.

Giới an ninh quân đội Khu XI Chiến thuật đã “cảm thấy” những hiện tượng đáng lo ngại. Có lẽ vì vậy đêm mùng 7, đại tá Đỗ Cao Trí ra lệnh cấm trại.

Không một ai ngờ được rằng chỉ một ngày sau Huế nổ tung mở đầu cho một biến chuyển lịch sử.

Sau cuộc thoả thuận với các Thượng toạ tại toà Hành chính Thừa Thiên ông Cẩn không còn gì băn khoăn, ông dặn dò mấy người thân cận: “Các Thày đòi hỏi như thế cũng là phải. Ngày lễ của người ta. Nếu có gì quá đáng thì bọn bay tìm ông Nghiêm, không có gì thì cho gọi Lê Trọng Quát hoặc tìm Hà Thúc Luyện”. Ngay đêm đó, ông Cẩn đã nhận được báo cáo là mọi chuyện đã được giải quyết êm đẹp. Ông Cẩn tin tưởng sẽ không còn chuyện gì xảy ra nữa vì ông vẫn tin cẩn là được các thày chùa Từ Đàm trọng nể và tin ông. Hơn nữa, những người ruột của ông Cẩn lại là những Phật tử có nhiều tương quan mật thiết với các thày như Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, có họ hàng gần với Hoà thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết, ông Lê Trọng Quát lại là một Phật tử quy y nơi Thượng toạ Đôn Hậu, ông Hà Thúc Luyện vốn từ xưa đóng vai trò giao liên giữa ông Cẩn và mấy thày. Đó là sự tự hào và tin tưởng chủ quan của ông Cẩn. Trong khi đó bức công điện cấm treo cờ trở nên một đối tượng khích động quần chúng. Nguồn tin cảnh sát xé cờ lại là những yếu tố ngoại quan đập mạnh vào lòng hiếu động của quần chúng.

Tru Le trule9@gmail.com

 


Nguồn Gốc Công Giáo Của Lễ Hội Halloween

 


NGUỒN GỐC CÔNG GIÁO CỦA LỄ HALLOWEEN
From: Tuan Le <vtuan93@gmail.com>

Halloween viết tắt của từ All Hallows' Eve trong tiếng Anh cổ, có nghĩa là buổi tối vọng Lễ Các Thánh (diễn ra vào ngày 31 tháng 10 hàng năm, trước Ngày Lễ Các Thánh vào ngày 1 tháng 11). [1, 2, 3]

 

Ý nghĩa và nguồn gốc


  • Từ nguyên: "Hallow" trong tiếng Anh cổ nghĩa là "thánh" hoặc "thánh thiện". "Eve" (hay even) là đêm hoặc buổi tối trước một ngày lễ lớn. [1, 2, 3, 4]
  • Gốc Kitô giáo: Ngày 31 tháng 10 là thời gian chuẩn bị và tưởng niệm các vị thánh, các vị tử đạo trong Lễ Các Thánh (1/11), tiếp theo sau đó là Lễ Cầu Cho Các Linh Hồn vào ngày 2 tháng 11. [1, 2, 3]
  • Sự kết hợp văn hóa: Lễ hội này cũng kết hợp từ phong tục cổ xưa của người Celt (Samhain) để đánh dấu kết thúc vụ mùa và tưởng nhớ người thân đã khuất. [1, 2]

Allhallowtide: chuỗi Tam Nhật (triduum)

 

Allhallowtide là chuỗi Tam Nhật (triduum) kéo dài 3 ngày trong Kitô giáo, diễn ra từ ngày 31 tháng 10 đến ngày 2 tháng 11 hàng năm nhằm tưởng nhớ các thánh, các vị tử đạo và các tín hữu đã qua đời. [1, 2]

 

Ba ngày cụ thể trong lễ hội Allhallowtide bao gồm:

 

  • Ngày 31 tháng 10 – Đêm Vọng Lễ Các Thánh (All Hallows' Eve / Halloween): Ngày canh thức trước lễ trọng, thời điểm hướng về các thánh và chuẩn bị bước vào chuỗi ngày tưởng niệm. [1, 2]
  • Ngày 1 tháng 11 – Lễ Các Thánh (All Saints' Day / Hallowmas): Đại lễ buộc trong Kitô giáo để tôn vinh tất cả các vị thánh trên thiên đàng. [1, 2]
  • Ngày 2 tháng 11 – Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời (All Souls' Day): Ngày dâng lời cầu nguyện và tưởng nhớ các linh hồn đang trong quá trình thanh luyện. [1, 2]

 

 

ENGLISH:

 

Halloween is the evening vigil celebration that directly precedes All Saints' Day (All Hallows' Day) on November 1st. [1, 2]

 

The Meaning of the Name

  • Hallow: An old English word meaning "holy" or a "saint" (as seen in the Lord’s Prayer: "Hallowed be thy name").
  • E'en: A short form of "evening" or "eve".
  • Halloween: Literally translates to All Hallows' Eve—the night before All Saints' Day. [1, 2, 3]

 

Part of Allhallowtide

Halloween is the starting point of a three-day seasonal observance known as Allhallowtide: [1, 2]

  • October 31: All Hallows' Eve (Halloween), a time of vigil and preparation.
  • November 1: All Saints' Day, honoring all known and unknown saints in heaven (the Church Triumphant).
  • November 2: All Souls' Day, remembering and praying for the faithful departed still in purgatory (the Church Suffering). [1, 2, 3, 4, 5]

From: Tuan Le <vtuan93@gmail.com>