Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2026

Thư Viện - Bảo Tàng Viện Việt Nam - Little Saigon Cultural Center

 


THƯ VIỆN - BẢO TÀNG VIỆN VIỆT NAM - LITTLE SAIGON CULTURAL CENTER
CO KHANH

VUI LÒNG VÀO WEBSITE CỦA THƯ VIỆN VIỆT NAM ĐỂ XEM TOÀN BỘ BẢN TIN:


THƯ VIỆN – BẢO TÀNG VIỆN VIỆT NAM - LITTLE SAIGON CULTURAL CENTER TRUNG TÂM VĂN HÓA LITTLE SAIGON

CO KHANH tổng hợp
10 tháng 10 năm 2026

Trong hơn 5 tháng qua, các Anh Chị trong nhóm sáng lập và thiện nguyện của Thơ Dziện Việt Nam đã vận động cho dự án hình thành Little Saigon Cultural Center: di dời tài sản văn hóa đồ sộ tích lũy gần 30 năm về Tòa nhà cộng đồng Mariam Warne Center của Thành phố Westmnster.

Một cách khác, nhóm anh em lãnh sứ mệnh vừa vận động, vừa truyền thông điệp:  "Chúng tôi đến đây không phải để nói về những gì VHV Foundation muốn nhận được. Chúng tôi đến đây để trình bày những gì Little Saigon Cultural Center có thể đóng góp cho cư dân Westminster."

Khi “xuất quân” anh Miên cùng các bạn thắp nhang và đốt 3 điếu thuốc trước di ảnh 3 Sáng lập viên là Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Nhà giáo Trần Lam Giang và Nhà văn Nguyễn Đức Lập. Anh Miên khấn nhỏ: “Một ngày nào đó Little Saigon Cultural Center chính thức mở cửa tại Miriam Warne Community Center, sẽ có những em học sinh, những người cao niên, những gia đình trẻ và cả những người không phải gốc Việt bước vào đó để tìm hiểu về lịch sử, văn hóa và hành trình của cộng đồng chúng ta. Đó mới là giá trị lâu dài nhất mà anh em chúng ta đã tâm nguyện khi bắt đầu dựng bảng Thư Viện Việt Nam, từ mùa thu năm 1999...”

Các anh Nguyễn Văn Anh (Andy Nguyễn) và Kiến trúc sư Đặng Nguyên Thành kể lại cho Co Khanh tôi có lần anh Miên nói với đại diện của Thành phố (trong quá trình thương thảo dự án): “Chúng tôi không chỉ xin Thành phố giúp VHV Foundation có một Cultural Center. Chúng tôi mong được cùng quý vị xây dựng một di sản của Westminster — để 20 hay 30 năm nữa, thế hệ con cháu có thể nói rằng chính Thành phố Westminster đã giúp bảo tồn lịch sử và văn hóa của Little Saigon.”

Các anh còn kể chị Ngọc Mai (tổng thư ký) trước đó đã truyền thông điệp rằng:

-  Đây không chỉ là dự án của VHV Foundation. Đây là một tài sản văn hóa dành cho Westminster và các thế hệ tương lai — nơi lưu giữ lịch sử 50 năm của cộng đồng người Việt tị nạn và Little Saigon.

-  VHV đến để hợp tác, không phải để đòi hỏi. Chúng tôi muốn làm việc với City staff, tuân thủ các quy định, minh bạch về vận hành và cùng Thành phố xây dựng một mô hình khả thi, lâu dài...

Co Khanh tui nhận trách nhiện tóm gọn và tổng hợp các tin tức liên quan.

Trong tường trình tổng hợp này có cả các video của các đài truyền hình, youtuber và hình ảnh của thân hữu và một số báo cũng như trang mạng xã hội. Cảm ơn các đài, báo và các bạn.


CO KHANH


Bầu Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc: Không Ứng Viên Nào Được Các Cường Quốc Nhất Trí Chọn

 

Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc António Guterres phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tại trụ sở ở New York, Mỹ, ngày 22/09/2026. © AP - Yuki Iwamura

BẦU TỔNG THƯ KÝ LIÊN HIỆP QUỐC: KHÔNG ỨNG VIÊN NÀO ĐƯỢC CÁC CƯỜNG QUỐC NHẤT TRÍ CHỌN
Anh Vũ RFI

Bầu tổng thư ký Liên Hiệp Quốc: Không ứng viên nào được các cường quốc nhất trí chọn

Có nhiều khả năng sẽ phải tìm thêm ứng viên mới cho chức tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, sau khi các cường quốc hôm qua, 16/10/2026, không nhất trí chọn được ai trong số những người muốn thay thế ông Antonio Guterres.

Đăng ngày: 17/10/2026 

image.png

Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc António Guterres phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tại trụ sở ở New York, Mỹ, ngày 22/09/2026. © AP - Yuki Iwamura

Bảy ứng viên, gồm bốn nữ và ba nam, đang tranh vị trí kế nhiệm ông Antonio Guterres, 77 tuổi, người Bồ Đào Nha, sẽ kết thúc nhiệm kỳ thứ hai vào ngày 31/12/2026.

Theo AFP, trong cuộc bỏ phiếu kín hôm thứ Sáu 16/10 tại Hội Đồng Bảo An, các nước thành viên ẩn danh chấm mỗi ứng viên một trong ba mức : “khuyến khích”, “không khuyến khích” hoặc “không ý kiến”. Lần đầu tiên, phiếu của năm nước thành viên thường trực được tách riêng bằng màu. Kết quả là cả bảy ứng viên đều nhận ít nhất một phiếu phản đối từ một trong năm cường quốc ở Hội Đồng Bảo An ( Anh, Pháp, Mỹ, Nga và Trung Quốc).

Dẫn đầu vẫn là bà Rebeca Grynspan, 70 tuổi, người Costa Rica, từng lãnh đạo Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển, với 9 phiếu "khuyến khích", 5 phiếu "không khuyến khích", trong đó có hai phiếu từ thành viên thường trực.

Xếp thứ hai là ông Rafael Grossi, 65 tuổi, người Achentina, tổng giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, với 8 phiếu ủng hộ và 6 phiếu không ủng hộ. Tiếp theo là bà Carolyn Rodrigues-Birkett, 53 tuổi, cựu ngoại trưởng Guyana. Cuối bảng là cựu tổng thống Senegal Macky Sall cùng hai ứng viên người Ecuador.

Cuộc đua vẫn có thể có thêm gương mặt mới bất cứ lúc nào. AFP nhắc lại, năm 1996, ông Kofi Annan cũng chỉ xuất hiện một ngày trước khi đắc cử. Một số tên đang được nhắc đến gồm ông Nikolay Mladenov của Bulgarie và bà Lana Nusseibeh của Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất.

Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc Mike Waltz cho biết Washington muốn cải tổ hoạt động gìn giữ hòa bình và ngân sách, cắt giảm bộ máy hành chính.

Liên Hiệp Quốc đang trải qua một trong những giai đoạn khó khăn nhất lịch sử, với chủ nghĩa đa phương bị suy yếu, xung đột gia tăng và khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Ông Guterres từng thừa nhận hồi tháng trước rằng “mỗi ngày mọi thứ lại tệ thêm một chút” và ông “không có quyền lực nào”.

Anh Vũ RFI


Hoài Niệm Về Quốc Học Nhân Kỷ Niệm 130 Năm Thành Lập (23-10-1896 --- 23-10-2026)

 

Lễ Kỷ niệm 100 năm (1896-1996) thành lập Trường Quốc Học tại San Jose, CA, Hoa Kỳ. Chủ tịch Trần Xuân Thời,(trái) CĐVN tại Hoa Kỳ, tặng hình cho Giáo sư Hiệu trưởng Hà Như Chi ( giữa) , Gs Nguyễn Châu (phải)

HOÀI NIỆM VỀ QUỐC HỌC NHÂN KỶ NIỆM 130 NĂM THÀNH LẬP (23-10-1896-23-10-2026)
Trần Xuân Thời

Các trường trung học thường mang tên một danh nhân như Taberd, Pellerin, Puginier, Pétrus Ký, Chu Văn An, Trưng Vương, Gia Long… nhưng đặc biệt một ngôi trường tọa lạc tại đất thần kinh, biểu tượng cho nền giáo dục quốc gia mệnh danh là Pháp Tự Quốc Học Đường. Trường Quốc Học sánh với danh xưng “Quốc Học Viện” vào đời nhà Trần.

Quốc học, trường trung học đầu tiên của Việt Nam, được thành lập ngày 23 tháng 10 năm 1896 năm Vua Thành Thái thứ 8. Tên trường “Quốc Học” cũng thăng trầm theo vận nước nổi trôi. Năm 1907, chính phủ bả hộ Pháp đã ép Vua Thành Thái thoái vị và phong Vua Duy Tân lên kế vị. Năm 1916 Vua Duy Tân bỏ kinh thành theo nghĩa quân kháng chiến chống Pháp. Người Pháp phong Vua Khải Định kế vị Vua Duy Tân. Vua Khải Định băng hà năm 1925. Vua Bảo Đại nối ngôi và muốn vinh danh tiên đế nên đổi tên trường Quốc học thành trường Khải Định. Sau năm 1954 trường được đổi tên là Trường Ngô Đình Diệm, nhưng đến năm 1956, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, châu lại về hiệp phố, danh xưng Quốc Học lại trở về với mái trường xưa.

Quốc Học đã đào tạo biết bao nhiêu nam thanh nữ tú phục vụ trong mọi ngành sinh hoạt của quốc gia. Năm nay, lễ kỷ niệm 130 năm (1896-2026) Quốc Học không những sẽ diễn ra tại miền sông Hương núi Ngự, chốn cố đô nghiêm mật mơ màng mà sẽ được cử hành khắp năm châu bốn bể vì ngày nay đâu đâu cũng in hình dấu vết của cựu học sinh Quốc Học.

Nếu quan niệm gặp nhau là một cơ duyên, vào chung trường, ngồi chung lớp là một sự tiến bộ và cùng tốt nghiệp ra trường là một sự thành công thì những cựu học sinh tốt nghiệp Quốc Học đều đã công thành danh toại.

Tôi còn nhớ vào năm 1958, khoảng cuối hè và đầu thu, tôi nạp đơn vào lớp Đệ Tam Quốc Học. Như truyền thống đã định tất cả ứng viên phải trải qua một kỳ thi nhập học. Tôi không nhớ đã thi những môn gì nhưng đây là một loại "contest/concours” đã loại một số học sinh không được nhận vào ngôi trường nổi tiếng nầy.

Năm Đệ Tam là năm học tà tà, dưỡng sức cho năm đệ nhị chuẩn bị xông pha trường thi trận bút. Năm Đệ nhị “tình hình chiến sự” có vẻ gây cấn hơn, chẳng những phải “gạo” bài cho đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt mà còn phải học kỳ cho kỳ thi Tú tài I cuối năm. Thường thường tôi dùng 2/3 thì giờ để học bài thầy giảng trong chương trình và 1/3 đọc thêm những gì không được giảng dạy nhưng có liên quan đến chương trình như thế sẽ khỏi bỡ ngỡ khi đề thi liên hệ đến kiến thức tổng quát. Cũng theo cách học nầy mà tôi trúng tuyển dễ dàng hai kỳ Tú tài I và II.

Đã khá lâu nên không nhớ rõ hết các đề thi, duy chỉ có hai đề thi có phần lý thú nên khó quên. Đó là đề thi Tú Tài I-1960 về văn chương VN “Con người do ba (3) yếu tố tạo thành: “Địa phương, giống tộc và thời đại, bạn hãy căn cứ vào văn chương thế kỷ thứ XIX để chứng minh câu nói trên”. Đề thi nầy phỏng theo đề thi “Dissertation littéraire “, kỳ thi BAC I tại Paris, thập niên 1950, về văn chương Pháp, thế kỷ thứ XIX mà tôi đã có dịp đọc qua luận văn bằng Pháp ngữ, chỉ khác là thay vì luận về văn chương Pháp thì luận về văn chương Việt Nam thế kỷ thứ XIX. Nền giáo dục Tậy phương có ưu điểm là thường in lại các đề thi và bài giải vế văn học, triết học cũng như toán học... khoa học của các kỳ thi trong quá khứ để giúp học sinh tự luyện thi. Nền giáo dục Viêt Nam thời bấy giờ chưa đạt đến trình độ đó.

Khi còn học lớp Đệ Tứ, tôi và vaì người bạn khác như thường mở các đề toán Géométrie và Algèbre trong sách hoc trò (Livre de L’Élève) ra làm thử. Bài nào không giải được thì mở sách của thầy (Livre du Maitre) ra xem bài giải. Cứ như thế mà giải hết các bài trong sách của Gs Bossé thì rất dễ dàng giải quyết các nan đề trong phòng thi.

Đề thi triết Tú tài 2-1961 cũng rất gọn gàng và dễ nhớ “Vai trò của trí tuệ trong tri giác ngoại giới”. Trong cả hai trường hợp, đọc qua đề thi thì hình như dàn bài đã có sẵn trong trí, tôi viết một mạch 3 giờ liền, đọc lại và nạp bài, ra khỏi phòng thi, thấy rất thoải mái vì chẳng những không “bí” mà còn viết thao thao bất tuyệt, tự biết thế nào cũng “dính”.

Tuy vậy, những lần đi nghe xướng danh cũng rất hồi hộp. Cái hồi hộp lý thú của tuổi học trò. Những năm học ở trung học thi cử liên miên khiến cho học sinh phải lo âu thường trực. Càng lo âu thì càng dễ trở nên thất vọng. Có người không chịu nổi cái “đệ nhất buồn là cái hỏng thi” nên phải quyên sinh. Học chế của mình kể ra cũng khắc khe. Cô, thầy thì nghiêm khắc vì “Giáo bất nghiêm thì sư chi đọa”. Bài vở phần lớn học thuộc lòng, vận dụng trí nhớ nhiều hơn suy luận. Chúng ta thường nghe nói: “gạo như gạo vạn vật…”

Bây giờ thì tất quả đều quá vãng, có còn lại chăng chỉ dư âm thôi!

“Thôi đã xa rồi vạn gót hương

Của người đẹp đến tự muôn phương

Xa rồi những bước không hò hẹn

Đã bước trùng nhau một nẻo đường”

Nẻo đường Quốc Học của thời niên thiếu vẫn luôn luôn chập chờn trong trí tưởng với hình ảnh của con sông xưa, thành phố cũ.

“Áo em lụa trắng sông Hương

Qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào”

Nỗi nhớ, niềm thương đó vẫn canh cánh bên lòng như bản nhạc vàng ru trọn đời mình. Dù vì quốc biến nên ”Có những người đi không về. Xa xôi rồi quên ước thề”!

Hoài niệm về trường xưa, bạn cũ không chỉ là hoài niệm đơn thuần tình cảm mà còn tiềm ẩn tinh túy của Quốc học là những gì lưu lại sau khi đã quên hết “La culture (de QH) c’est ce qui reste après on a tout oublié”. Xuất thân từ Quốc Học cũng như xuất thân từ cửa Khổng sân Trình. Con người hấp thụ được tinh hoa của cổ và tân học. Nếu con người do ba yếu tố tạo thành: Hoàn cảnh, Thời đại và Giống tộc thì Quốc học đã là hoàn cảnh, là môi trường tốt cho cựu học sinh triển nở, khiến cho nam thanh, nữ tú hàng hàng lớp lớp từ thế hệ này sang thế hệ khác xuất thân từ ngôi trường thân thương nầy và đã trở thành biết bao anh tài cho Tổ quốc. Cái tinh hoa của nền Quốc Học là ngoài khả năng, kiến thức tổng quát, cựu học sinh được bồi dưỡng tinh thần bằng niềm hãnh diện về trường xưa, bạn cũ và quan niệm về giáo dục qua phong cách giảng dạy, lối sống và triết lý giáo dục của nền quốc học Việt mà một vị Nho sĩ, Cụ cố Ngô Đình Khả, đã được bổ nhiệm nhậm chức Chưởng Giáo đầu tiên của Quốc Học.

Triết lý giáo dục nhân bản nhằm chủ đích không những làm cho con người giỏi giang hơn (trí dục) mà còn làm cho con người sống cao thượng hơn (đức dục). Ngày nay học tập để ngày mai giúp đời. Giúp đời chứ không chỉ biết vinh thân phì gia. Nguyễn Du Tiên sinh rất hữu lý khi nói lên triết lý hành động qua lời Từ Hải:

“Phong trần mài một lưỡi gươm.

Những loài giá áo túi cơm sá gì”.

Lưỡi gươm đây còn mang ý nghĩa là đem sở học và sự hiểu biết để phụng sự nhân quần xã hội, sửa trị những sự việc trong xã hội cho chính trực như tinh thần Nguyễn Công Trứ

“Trong lăng miếu ra tài lương đống.

Ngoài biên thùy rạch mũi can tương”.

Lợi ích của sự giáo dục là để phát triển kiến thức về luân thường đạo lý (đức dục) và kiến thức chuyên môn (trí dục). Nền quốc học chủ trương “Tiên học lễ hậu học văn” chú trọng đến sự phát triển con người toàn diện về cả ba khía cạnh đức dục, trí dục và thể dục, cốt đào tạo những người có đức hạnh, trí óc sáng suốt, có liêm sỉ, để cải taọ xã hội chính trị, hơn là chỉ chú trọng đào tạo những người có kiến thức chuyên môn như nền giáo dục Tây phương.

Nhận chân được khuyết điểm là có khoa học mà vô lương tâm chỉ đem lại phiền não, bại hoại tâm hồn. “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme”, ngày nay nhiều đại học ở Tây phương tìm cách nhân văn hóa các chương trình khoa học bằng cách đưa các môn triết học, nhân chủng, xã hội, đạo đức, tâm lý… vào khóa học để giúp sinh viên tốt nghiệp sẽ trở nên con người toàn diện, có thêm kiến thức tổng quát (general education) hiểu người, biết mình hơn chỉ là con người kỹ thuật, máy móc (robot).

Sự học tô điểm cuộc đời, giúp chúng ta khám phá những kỳ hoa dị thảo trong vườn hoa kiến thức của nhân loại. Càng hiểu biết con người càng trầm tĩnh, ít lo âu, ít hoảng hốt, tâm bớt động và nhờ đó thái độ được trầm tĩnh và tránh đuợc lầm lẫn hay sợ sệt:

(1) Ít lo âu vì nhận diện được vấn đề và biết cách ứng phó đúng với câu “Khi vui đến thì hãy vui mà chớ kiêu căng, tự phụ, khi tai họa đến thì phải suy nghĩ mà chớ buồn phiền” Chính nhờ sự suy nghĩ mới có thể mưu sinh thoát hiểm thay vì buồn phiền sẽ sinh ra nản chí và thất hại.

(2) Tránh được lầm lẫn là nhờ khả năng nhận biết phải trái, phân rõ trắng đen qua kinh nghiệm giải quyết sự việc của tiền nhân và của người đương thời. Ngày nay khoa quản trị học (management science) đào tạo những chuyên viên quản trị biết kỹ thuật tổ chức, điều hành và phương pháp giải quyết vấn đề. Tiêu chuẩn phán xét phải, trái, không hẳn do ý kiến của một cá nhân, vì ý kiến cá nhân có khi lầm lẫn. Do đó ý kiến đúng hay sai phải là ý kiến của đa số trong một hoàn cảnh và thời gian nào đó. Tiêu chuẩn đúng sai do đa số quyết định “What is right or wrong being determined by the will of the majority” (John Locke, Treatises on Civil Government – 1679). Ý kiến của đa số hay là ý chí chung có thể được tham khảo qua nhiều phương thức hoặc do phong tục tập quán lấy ý kiến chung ở chốn đình trung, hoặc do biểu quyết, hay trưng cầu dân ý qua lá phiếu.

(3) Ít sợ sệt vì hiểu được vấn đề, không lo ngại và chấp nhận dấn thân mà không e dè sợ sệt, hùng tâm dũng chí. Nho giáo giúp con người trưởng thành về trí tuệ bằng kiến thức xuyên thế hệ (transgenerational), kinh nghiệm cổ nhân lưu lại qua sử sách.

Với ba đặc điểm ít lo âu, tránh lầm lẫn, ít sợ sệt; người khôn ngoan thường nhận xét sự việc một cách khách quan, theo lẽ phải hơn là thiên kiến. Để đạt đến tính cách khách quan, sự nhận xét phải có tính cách vô ý, vô tất, vô cố và vô ngã:

(1) Vô ý: không khư khư theo ý riêng của mình mà phải chấp nhận bàn bạc để tìm ra lẽ phải và làm theo lẽ phải để tạo sự đồng thuận trước khi thi hành công tác. “Discussion is the anvil upon which the spark of the truth is struck”. Tiếp xúc cá nhân, chia sẻ và đối thoại là phương thức để tìm ra lẽ phải.

(2) Vô tất: Đừng vội quyết đoán là công việc làm được hay không làm được mà phải tạo cơ hội để thực hiện mới biết dễ hay khó. Không nên chủ quan bác bỏ ý kiến của người khác theo nhãn quan thiển cận của mình mà phải biết chấp nhận thử thách.

(3) Vô cố:Không nên cố chấp, nệ cổ mà phải biết chấp nhận sáng kiến.

(4) Vô ngã:Cái tôi là đáng ghét (le moi est haissable) đừng vì quyền lợi cá nhân hay phe phái mà sinh ra mù quáng, nhìn bạn thành thù, nhìn thù thành bạn, lộng chân thành giả, lộng giả thành chân.

Bốn phương cách xét định công việc nêu trên giúp chúng ta đạt được sự chánh ý trong vấn đề suy luận và phát biểu nhằm giảm sự xung khắc về tư tưởng và hành động. Dụng đích của sự học không những để gia tăng sự hiểu biết mà còn giúp phát triển các đức tính khác như Đức Khổng Tử đã giáng cho Tử Lộ sáu điều tai hại của sự thất học:

(1) Người ham điều nhân mà không học thì bị cái hại là ngu muội.

(2) Người ham đức trí mà không học bị cái hại là phóng đãng.

(3) Người trọng chữ tín mà không học thì có hại là dễ bị lừa gạt.

(4) Người thích sự ngay thẳng mà không học thì hóa ra nóng nảy.

(5) Người dũng cảm mà không học thì hoá ra phản loạn.

(6) Người cương quyết mà không học thì hóa ra cường bạo.

Giáo dục không chỉ là học từ chương trích cú để lãnh được mảnh bằng theo sách vở mà phải biết suy luận, áp dụng kiến thức vào những hoàn cảnh khác nhau vì mỗi hoàn cảnh đòi hỏi một phương cách riêng để giải quyết vấn đề. Do đó” tri và hành phải hợp nhất”. Học mà không biết đem sự hiểu biết áp dụng vào đời sống thì kiến thức đó hoàn toàn vô dụng, cho nên Luận Ngữ có câu:

“Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”.

Học mà đem ra áp dụng được thì chẳng phải vui lắm sao! Tham gia chiến trận khi quôc gia lâm nguy, thưc hiện các công tác sinh hoạt xã hội, chính trị, văn hoá, kinh tế, y tế, giáo dục khi thái bình….đều là những cơ hội học hỏi chứ không phải chỉ đến nhà trường mới gọi là học. Theo thầy Tử Lộ thì “Cai trị nhân dân, cúng tế thần đất đai, mùa màng, thì cũng là học, hà tất phải đọc sách rồi mới gọi là học”. Quan niệm này rất hữu lý và tiến bộ vì ngoài lối học sách vở, còn phương pháp huấn luyện OJT (On the job training) ngày nay rất thịnh hành tại các nước tân tiến.

Muốn học hỏi trước tiên phải:

(1) Khiêm nhường và phục thiện Những người kiêu căng, chỉ biết nói và không biết nghe thì không học hỏi gì được. Khiêm nhường tức là hỏi người dưới không lấy làm thẹn “Bất sỉ hạ vấn”.

(2) Có thiện chí tìm hiểu hỏi han. Đức Khổng Tử nói: “Người nào không hỏi phải làm sao? phải làm sao? thì ta cũng chẳng có cách nào chỉ bảo cho được. Kẻ nào không hăng hái muốn hiểu thì ta không thể giúp cho hiểu được, kẻ nào không tỏ ý kiến thì ta không thể giúp cho phát biểu ý kiến được. Ta vén lên cho một góc mà chẳng tự tìm được ba góc kia thì ta không giảng cho thêm nữa”.

Thế thì giáo huấn cũng còn tùy người, tùy tánh nết, tùy trí tuệ, tư cách của mỗi nguời, cũng như may áo, tùy kích thước của mỗi người." Cưỡng bách giáo dục tại một số quốc gia tân tiến thường đến lớp 9 (đệ tứ) hoặc lớp 12 (đệ nhất) phần học còn lại là do thiện chí muốn tiếp tục sự học. Phương pháp giáo huấn tùy người có từ trên 2000 năm về trước, ngày nay nhiều đại học đang áp dụng các chương trình giáo dục “University without wall” và các chương trình “Non-traditional” tức là cá nhân hóa chương trình cho phù hợp với sở trường thực dụng của mỗi cá nhân. Con nguời được thọ tạo như những viên ngọc quý. Nhưng ngọc bất trác thì bất thành khí, hay như những cây gỗ qúy, nhưng nếu không biết trau dồi học hỏi thì gỗ quý sẽ biến thành gỗ mục, mà “Gỗ mục thì không chạm khắc gì được, cũng như vách bằng đất bùn thì không tô vẽ gì lên được”.

Phương pháp học hỏi hữu hiệu là vận dụng tri giác (thu nhận kiến thức qua giác quan – perception) mà nghe và thấy là hai giác năng quan trọng nhất giúp con người thu nhận ngoại giới. Do đó, cổ nhân khuyên là “Nên nghe cho nhiều, điều gì còn nghi ngờ thì để đó, tìm hiểu thêm. Điều gì biết rõ ràng, chắc chắn thì nên nói, nhưng nên nói một cách ôn tồn.” và “Nên thấy cho nhiều, những gì chưa được rõ thì để đó đừng làm, còn những gì biết rõ thì cũng phải làm một cách cẩn thận như vậy sẽ ít phải ăn năn”.

Trong thiên hạ thường có 4 hạng người:

(1) Không ai dạy mà biết được đạo lý là hạng ưu tú – Sinh nhi tri chi giả, thượng dã – Đó là hạng người thông minh vốn sẵn tính trời, là hạng ưu việt.

(2) Học rồi mới biết là hạng trung – Học nhi tri chi giả, thứ dã – gồm đa số khoa bảng, chuyên viên.

(3) Dốt mà chịu học là bậc thấp – Khốn nhi học chi, hữu kỳ thứ dã – là những thành phần hiếu học để thăng tiến.

(4) Dốt mà không chịu học là hạng cuối cùng của xã hội – Khốn nhi bất học, dân tư vĩ hạ hỉ – Hạng thứ tư nầy đa số bất cần đời, sinh lộn kiếp. “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu?”

Tại Hoa Kỳ nguời ta cũng thường đề cập đến ba hạng chuyên viên:

(1)-Hạng chuyên viên ưu tú thường nêu ra sáng kiến, phát minh. “Professionals with great minds talk about ideas”

(2)- Hạng chuyên viên trung bình thường bàn về những chuyện đang xảy ra “Professionals with average minds talk about current events”; và

(3)- Hạng chuyên viên thường hay bàn chuyện người khác.” Professionals with small minds talk about people”.

Dù thuộc loại chuyên viên nào chăng nữa, trong một ngày mình nên xét ba điều:

(1) Mình giúp ai việc gì, có giúp hết lòng không?

(2) Mình giao du với bạn bè có giữ được chữ tín không?

(3) Mình có học hỏi thêm điều gì mới mẻ trong ngày không?

“Mỗi ngày biết thêm điều mình chưa biết, mỗi tháng không quên những điều mình đã biết như vậy là biết học rồi đó”. Nhưng cũng nên biết rằng ”Biết học không bằng ham học và ham học không bằng vui mà học”. “Nếu mình yêu thích công việc mình làm, thi xem như cả đời không làm gì hết “!

Diễn trình giáo dục là diễn trình thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo. Tuy vậy, đó chỉ mới là giai đoạn đầu hay nói khác đi là giai đoạn “cách vật chí tri”, hiểu biết sự việc ngoại giới mà chứng chỉ, bằng cấp là biểu tượng cho giai đoạn này. Nếu đến giai đoạn này rồi tự thõa mãn và ngưng học hỏi, tu thân, thì chỉ là hiểu biết vòng ngoài, nghĩa là mới thu nhận được kiến thức ngoại giới nhưng chưa đạt đến trình độ “Thành tâm, chánh ý, tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ”.

Kiến thức thu nhận được ở nhà trường từ tiểu học đến đại học chỉ là kiến thức căn bản ai cũng có thể học được miễn có thì giờ và phương tiện để trở thành chuyên viên. Đó là sự thực, vì nhìn vào xã hội chúng ta thấy sinh đồ càng ngày càng đông và trường học càng ngày càng nhiều.

Học để hiểu biết và hiểu biết hơn về một ngành chuyên môn để trở thành “chuyên viên” (professional) là điều tốt, nhưng nếu chỉ để “mong an nhàn, sống lâu giàu bền’, còn việc nước việc cộng đồng, xã hội, aí hữu, không thèm nghĩ đến thì chưa đạt đến trình độ “Trí thức”.

Để đào luyện (formation) trí thức, triết lý giáo dục nhân bản của nền Quốc Học không ngưng lại ở mức độ thu nhận kiến thức chỉ để trở thành chuyên viên mà còn tiến đến chủ đích làm cho con người trở nên cao thượng hơn:

“Thương vị đức, hạ vị dân”.

Phối hợp đạo lý làm người và kiến thức để giúp đời, là dấu chỉ của người trí thức, của kẻ sĩ. Cụ Nguyễn Công Trứ đã từng quan niệm:

“Kinh luân khởi tâm thượng,

Binh giáp tàng hung trung.

Vũ trụ chi giai ngô phận sự.

Nam nhi đáo thử thị hào hùng”.

Khi quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Kẻ sĩ không phải là hạng người ngồi khoanh tay khi sơn hà nguy biến!

Phải chăng Quốc Học là trường xây dựng nền tảng cho nền Việt học, phối trí giữa kiến thức và tâm đạo. Kiến thức có thể diễn tả qua tư tưởng, kỹ thuật, phương trình, công thức… còn tâm đạo được thể hiện qua tinh thần đạo đức, lương tâm chức nghiệp của quý Thầy, quý Cô.

“Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành”. Với lương tâm chính trực, tận tụy của quý Thầy, quý Cô, học sinh đương nhiên vì mến Thầy, thương Cô mà học không phải vì Thầy la, Cô mắng.

Một khi xuất thân từ Quốc Học, học sinh đều thành danh phụng sự xã hội với tinh thần Nhân, Trí, Dũng: Phối hợp được lòng nhân ái, tâm đạo, kiến thức và nghị lực, quả cảm để xây dựng cộng đồng xã hội, quốc gia dân tộc.

Dù tha hương, sống nơi góc bể chân trời, nhưng đến ngày kỷ niệm Quốc học năm thứ 130 (1896- 2026) chúng ta vẫn hướng về mái trường thân thương nơi con sông xưa thành phố cũ, ngâm khúc hoan ca:

“Trường xưa lưu mãi bóng hình.

Trăm năm Quốc Học hiển vinh muôn đời”.

Trần Xuân Thời


Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du - Bài 39, 40 Và 41

 


THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU - BÀI 39, 40 VÀ 41
Thầy Dương Anh Sơn

THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU - Tập 3 : BẮC HÀNH TẠP LỤC

Bài 39

TƯƠNG GIANG DẠ BẠC                                                       湘江夜泊

Nhất khứ lục thập lý,                                                                  ㇐去六十里,
Du du giang thuỷ trường.                                                           悠悠江水長。
Phù vân liên Ngũ Lĩnh,                                                              浮雲連五嶺,
Minh nguyệt hội Tam Tương.                                                    明月會三湘。
Biệt phố phân tân sắc,                                                                別浦分新色,
Dao không thất cố hương.                                                          遥空失故鄉。
Hạc lai nhân bất kiến,                                                                 鶴來人不見,
Vãn thụ uất thương thương.                                                       晚樹鬱滄滄。

Dịch nghĩa:

Một lần đi sáu mươi dặm, - Con sông xuôi chảy dài miên man. – Những đám mây trôi nổi nối liền với Ngũ Lĩnh, - Ánh trăng tỏa sáng họp nhau lại ở vùng Tam tương. (c.1-4)
Vẻ đẹp mới mẻ (của ánh trăng sáng) chia khắp các bến sông riêng biệt, - Quê hương khuất nẻo ở khoảng trời xa xăm. – Con chim hạc lại về nhưng không thấy người (cưỡi hạc), - Cây cối rậm rạp vào buổi chiều hôm xanh thẳm. (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

ĐÊM ĐỖ THUYỀN Ở SÔNG TƯƠNG

Sáu mươi dặm, một lần đi,
Sông dài dằng dặc xuôi về xa xôi!
Nối nhau Ngũ Lĩnh mây trôi,
Ánh trăng họp lại sáng ngời Tam Tương.
Chia riêng vẻ mới bến sông,
Khoảng trời khuất nẻo, quê hương xa vời!
Hạc về chẳng thấy đâu người!?
Rậm rì cây cối, xanh ngời chiều hôm.

Chú thích:

- Tương Giang 湘江: dòng sông Tương bên Trung Hoa có nguồn phát
sinh từ Quảng Tây chảy về đông bắc Hồ Nam nhập chung với dòng Ly Thủy, còn gọi là Ly Tương. Rồi gặp dòng Tiêu Thủy hay là Tiêu Tương và trở ngược lên phía bắc gặp dòng Chung Thủy còn gọi là Chung Tương. Vì thế nên Tương Giang được gọi là Tam Tương 三湘 dồn nước chảy vào hồ Động Đình.
- bạc 泊: ghé thuyền, đỗ thuyền hay dừng thuyền để nghỉ lại...
- du du 悠悠: xa thăm thẳm, xa xôi, miên man, liên tục, triền miên, lơ
lững, thong dong...
- Ngũ Lĩnh 五嶺: năm ngọn núi cao trải dài giáp hai tỉnh Hồ Nam và Quảng Tây bên Trung Hoa.
- biệt phố 別浦: bến sông, cửa sông hay ven sông nằm riêng biệt...
- tân sắc 新色: sắc thái mới mẻ, vẻ đẹp mới...
- dao không 遥空: khoảng trời xa xăm...
- Câu 7 và 8: Nguyễn Du mượn ý trong bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” nổi
tiếng trong thi ca Trung Hoa của Thôi Hạo còn gọi là Thôi Hiệu (704-
754) với câu 3 và 7 : “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 黃鶴㇐去不復返” và “Phương thảo thê thê Anh Vũ châu 芳草萋萋鸚鵡洲” (Con hạc vàng một lần đi không trở lại, Đám cỏ thơm tho tươi tốt ở bãi Anh Vũ).
Nhà thơ cũng lấy câu chuyện tương truyền từ xa xưa kể chuyện Phí Văn Huy cưỡi hạc vàng bay lên tiên cảnh từ lầu Hoàng Hạc (nằm ở tây nam huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc, kề bên Tương Giang) để thêm thi vị trong cảnh đêm đậu thuyền ở sông Tương)
- uất 鬱: um tùm, rậm rạp, sum suê...
- thương thương 滄滄: thương: màu xanh thẫm, xanh biếc, xanh rì của nước biển hay da trời. Đôi khi cũng để diễn tả vẻ lạnh lẽo, xa vắng...Còn “thương thương” là màu xanh đậm, màu xanh thẫm hay xanh um nhưng sắc độ đậm hơn lại phảng phất vẻ lạnh lẽo, u tịch...

Bài 40

TƯƠNG ĐÀM ĐIẾU                                                                湘潭弔
TAM LƯ ĐẠI PHU                                                                   三閭大夫
(KỲ NHẤT)                                                                               (其㇐)

Hiếu tu nhân khứ nhị thiên tải,                                                   好修人去二千載,
Thử địa do văn lan chỉ hương.                                                   此地猶聞蘭芷香。
Tông quốc tam niên bi phóng trục,                                            宗國三年悲放逐,
Sở Từ vạn cổ thiện văn chương.                                                楚詞萬古擅文章。
Ngư long giang thượng vô tàn cốt,                                            魚龍江上無殘骨,
Đỗ nhược châu biên hữu chúng phương.                                   杜若洲邊有眾芳。
Cực mục thương tâm hà xứ thị,                                                 極目傷心何處是,
Thu phong lạc mộc quá Nguyên Tương.                                   秋風落木過沅湘。

Dịch nghĩa:

Người thích sửa đổi, tu chỉnh đạo đức đã ra đi từ hai ngàn năm nay, - Vùng đất này vẫn còn ngửi được hương thơm của hoa lan, hoa chỉ. – Bị đi đày khỏi nơi tông miếu nước nhà suốt ba năm, - Muôn đời Sở Từ riêng chiếm trên đàn văn chương.(c.1-4)
Các loài cá rồng trên sông đã làm mất nắm xương tàn (của ông), - Đám hoa đỗ nhược bên cồn cát trên sông và nhiều cỏ thơm nữa.
– Ta xót xa dõi mắt tìm chốn nào đây (nơi ông trầm mình), - Cơn gió
thu đi qua sông Nguyên Tương làm rơi rụng những cây và lá.(c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

VIẾNG TAM LƯ ĐẠI PHU
Ở TƯƠNG ĐÀM (Bài một)

Người hiền đi mấy ngàn năm,
Vẫn nghe thơm ngát chỉ lan đất này.
Ba năm buồn nước đi đày,
“Sở Từ” riêng chiếm văn hay muôn đời.
Cá rồng xương chẳng còn rồi!
Bên cồn đỗ nhược thơm vời đám hoa.
Nơi nào ? Dõi mắt xót xa,
Nguyên Tương cơn gió đi qua lá lìa!

Chú thích:

- Tương Đàm 湘潭: còn gọi là vùng Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa.
- Tam Lư Đại phu 三閭大夫: chức quan Khuất Nguyên giữ trong triều nhà Sở thời Chiến Quốc bên Trung hoa đứng sau quan Lệnh Doãn (tương đương Tể tướng sau này). Khuất Nguyên đã đề ra “hiến lệnh 憲令” tức là những quy định của pháp lệnh trong công việc triều chính và cai trị. Sở Hoài vương lúc đầu chấp thuận cho thi hành nhưng không bao lâu bọn nịnh thần trong triều dèm pha nên vua Sở không còn tin dùng và đày ông đi Giang Nam. Trên đường đi đày, ông qua hồ Động Đình theo dòng sông Nguyên, sông Tương đến sông Mịch La là nhánh sông nhỏ chảy vào sông Tương. Khuất Nguyên buồn bã phẫn chí rồi tự trầm mình ở con sông này vào ngày mồng 5 tháng 5. Ngày nay, người Hoa thường tổ chức các lễ hội để kỷ niệm ngày mất của Khuất Nguyên gọi là Tết Đoan Ngọ. Nước ta, do ảnh hưởng hơn ngàn năm của sự xâm lăng từ Trung Hoa và do nhiều người Hoa nhập cư nước ta sau khi nhà Minh mất vào tay Mãn Thanh. Họ đã đem văn hóa và phong tục của họ truyền vào khiến nhiều người thiếu suy xét “ăn theo” những cúng kiến hay văn hóa bên Trung Hoa làm mất đi bản sắc dân tộc đáng ra nên để tôn vinh những anh hùng, danh nhân của đất nước mình!
- hiếu tu nhân 好修人: người thích sửa sang, tu tập để cho đức nhân luôn được nâng cao trở nên mẫu người hiền. Đây là chữ lấy trong Sở Từ của Khuất Nguyên.
- lan chỉ hương 蘭芷香: hương thơm của hoa lan và hoa bạch chỉ thường được Khuất Nguyên yêu thích và đề cập trong Sở Từ. Hai loại hoa này tượng trưng cho sự thanh cao...
- phóng trục 放逐 : bị buộc phải đi đày, bị duôi đi...
- Sở Từ 楚詞: “Từ’ là một loại thơ cổ có từ lâu bên Trung Hoa. Nhưng làm“từ” đạt đến mức gọi là kiệt tác chỉ có tác phẩm Sở Từ của Khuất Nguyên người nước Sở thời Chiến Quốc mà thôi! Nổi bật nhất của cuốn Sở Từ là thiên “Ly Tao” (Buồn rầu vì bị chia lìa) được xem là tiêu biểu nhất và nổi tiếng hơn cả của thể loại “từ”.
- thiện 擅: chuyên biệt, chiếm riêng, sở trường...
- đỗ nhược 杜: tên của một loại cây thân thảo sống lâu năm, thường mọc nơi ẩm ướt dưới tán lá rừng. Hoa nhỏ kết thành chùm, màu trắng hoặc tím nhạt. Quả mọng màu xanh lam thẫm khi chín. Cây thường tỏa hương thơm nhẹ nhàng. (Tên khoa học của hoa là Pollia japonica thuộc họ cây Thài Lài- Commelinaceae). Trong thi ca cổ điển bên Trung Hoa, hoa “đỗ nhược” thường được dùng như một biểutượng thanh cao.

Dương Anh Sơn
(Saigon, 2003)

(Lần đến: BẮC HÀNH TẠP LỤC của NGUYỄN DU – bài 41, 42 và 43)


Cúi Chào Máu Xương

 


CÚI CHÀO MÁU XƯƠNG 
Đỗ Công Luận 

Trân trọng 
NHHN 

Bắc Mỹ Vào Thu


BẮC MỸ VÀO THU 
Nhất Hùng 

Trân trọng 
NHHN 

 

Tổng Thống Trump Xác Nhận Bộ Tư Pháp Và Quốc Hội Điều Tra Tài Sản Tăng Vọt Của Dân Biểu Ilhan Omar

 


TỔNG THỐNG TRUMP XÁC NHẬN BỘ TƯ PHÁP VÀ QUỐC HỘI ĐIỀU TRA TÀI SẢN TĂNG VỌT CỦA DÂN BIỂU ILHAN OMAR
Phân tích và biên tập: Luan Vo

Tổng thống Trump xác nhận vào ngày Thứ Hai rằng Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ cùng Quốc Hội đang tiến hành điều tra giá trị tài sản gia tăng nhanh chóng của dân biểu Ilhan Omar, sau khi các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện cho biết sẽ xem xét kỹ lưỡng hồ sơ tài chánh của nữ dân biểu Minnesota và người chồng là một nhà đầu tư.

Tổng thống Trump đưa ra xác nhận này trong bối cảnh chính quyền liên bang cử đặc phái viên an ninh biên giới Tom Homan đến Minnesota nhằm hạ nhiệt căng thẳng liên quan đến vụ việc một y tá ICU tên Alex Pretti thiệt mạng do một nhân viên liên bang nổ súng. Tổng thống cho biết Minnesota vốn đã bị điều tra về các vụ gian lận phúc lợi, và nay cuộc điều tra sẽ mở rộng sang trường hợp của dân biểu Omar, người từng rời Somalia trong cảnh trắng tay nhưng hiện được ghi nhận sở hữu tài sản trị giá hàng chục triệu Mỹ kim.

Theo các bản khai tài chánh nộp cho Hạ Viện năm 2024, dân biểu Ilhan Omar và chồng là Tim Mynett báo cáo tổng tài sản liên quan đến các hoạt động kinh doanh dao động từ $6 Mỹ kim triệu đến $30 Mỹ kim triệu. Riêng công ty đầu tư Rose Lake Capital do ông Mynett điều hành từng chỉ có $42.44 Mỹ kim trong tài khoản ngân hàng vào năm 2022 theo hồ sơ tòa án, nhưng trong các khai báo gần đây lại được định giá lên đến $25 Mỹ kim triệu.

Chủ tịch Ủy Ban Giám Sát Hạ Viện James Comer cho biết ủy ban của ông đang cân nhắc việc ban hành trát đòi đối với dân biểu Omar và chồng bà nhằm làm rõ nguyên nhân của sự gia tăng tài sản bất thường. Ông Comer nhấn mạnh rằng hoặc ủy ban của ông, hoặc Ủy Ban Đạo Đức Quốc Hội, sẽ làm sáng tỏ vấn đề này.

Phía dân biểu Omar đã phản bác gay gắt trên mạng xã hội, cho rằng các cuộc điều tra chỉ là đòn chính trị và khẳng định những lần xem xét trước đây không phát hiện sai phạm. Tuy nhiên, các dân biểu Cộng Hòa cho rằng trách nhiệm giải trình là điều không thể né tránh, đặc biệt khi luật liên bang yêu cầu minh bạch đầy đủ về tài sản của vợ chồng các nghị sĩ.

Các hồ sơ bổ sung cho thấy ông Mynett từng tham gia nhiều dự án kinh doanh khác như nhà máy rượu và nông trại cần sa, trước khi rút lui. Dù đại diện Rose Lake Capital nói rằng lợi tức cá nhân của ông Mynett trong năm 2024 chưa đến $20,000 Mỹ kim, các bản khai tài chánh Quốc Hội vẫn liệt kê tổng giá trị tài sản của các doanh nghiệp ở mức rất cao.

Chính quyền Tổng thống Trump và Phó Tổng thống JD Vance nhấn mạnh rằng không một dân cử nào được đứng ngoài pháp trị. Việc điều tra nhằm bảo đảm tính liêm chính của Quốc Hội và củng cố niềm tin công chúng, nhất là trong bối cảnh cử tri ngày càng quan ngại về minh bạch tài chánh và trách nhiệm của giới lập pháp.

Nguồn: New York Post
Phân tích và biên tập: Luan Vo