Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

Làm Sao Anh Quên

 


LÀM SAO ANH QUÊN
Tony Phước

Kính chào anh Tony Phước, 

 "Làm Sao Anh Quên" Ca từ chân phương được ca sĩ có giọng hát rất tự nhiên, trong sáng, ngọt, ấm áp, nồng nàn... đã đưa nhạc phẩm "Làm Sao Anh Quên" Proshow: Tony Phước, nhẹ nhàng truyền cảm vào tâm hồn người thưởng thức! Nhạc phẩm "Làm Sao Anh Quên" bâng khuâng trầm lắng lòng tôi và lệ hoen mi! Cảm ơn anh Tony Phước, và chân thành cảm ơn tất cả... DTDB

Xin kính chúc tất cả quý anh chị hạnh phúc, bình an khỏe mạnh.
DTDB

Xin bấm vào hàng chữ màu xanh để xem video rõ nét


Làm Sao Anh Quên - Proshow: Tony Phước


Trân trọng 

NHHN


Kính mời quý vị thưởng thức 



Hoài Niệm Về Quốc Học

 


HOÀI NIỆM VỀ QUỐC HỌC
Trần Xuân Thời

Các trường trung học thường mang tên một danh nhân như Pellerin, Taberd, Puginier, Pétrus Ký, Chu Văn An, Trưng Vương, Gia Long... nhưng đặc biệt một ngôi trường tọa lạc tại đất thần kinh, biểu tượng cho nền giáo dục quốc gia mệnh danh là “Trường Quốc Học” (Collège National) sánh với danh xưng “Quốc Học Viện” vào đời nhà Trần...

Quốc học, trường trung học đầu tiên của Việt Nam, được thành lập năm 1896 năm Thành Thái thứ 8. Tên trường “Quốc Học” cũng thăng trầm theo vận nước nổi trôi. Năm 1907, chính phủ bảo hộ Pháp đã ép Vua Thành Thái thoái vị và phong Vua Duy Tân lên kế vị. Năm 1916 Vua Duy Tân bỏ kinh thành theo nghĩa quân kháng chiến chống Pháp. Người Pháp phong Vua Khải Định kế vị Vua Duy Tân. Vua Khải Định băng hà năm 1925. Vua Bảo Đại nối ngôi và muốn vinh danh tiên đế nên đổi tên trường Quốc học thành trường Khải Định. Sau năm 1954 trường được đổi tên là Trường Ngô Đình Diệm, nhưng đến năm 1956, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, châu lại về hiệp phố, danh xưng Quốc Học lại trở về với mái trường xưa.

Quốc Học đã đào tạo biết bao nhiêu nam thanh nữ tú phục vụ trong mọi ngành sinh hoạt của quốc gia. Năm nay, lễ kỷ niệm 130 năm (1896-2026) Quốc Học không những sẽ diễn ra tại miền sông Hương núi Ngự, chốn cố đô nghiêm mật mơ màng mà sẽ được cử hành khắp năm châu bốn bể vì ngày nay đâu đâu cũng in hình dấu vết của cựu học sinh Quốc Học.

Nếu quan niệm gặp nhau là một cơ duyên, vào chung trường, ngồi chung lớp là một sự tiến bộ và cùng tốt nghiệp ra trường là một sự thành công thì những cựu học sinh tốt nghiệp Quốc Học đều đã công thành danh toại.

Tôi còn nhớ vào năm 1958, khoảng cuối hè và đầu thu, tôi nạp đơn vào lớp Đệ Tam Quốc Học. Như truyền thống đã định tất cả ứng viên phải trải qua một kỳ thi nhập học. Tôi không nhớ đã thi những môn gì nhưng đây là một loại “contest” đã loại một số học sinh không được nhận vào ngôi trường nổi tiếng nầy.

Năm Đệ Tam là năm học tà tà, dưỡng sức cho năm đệ nhị chuẩn bị xông pha trường thi trận bút. Năm Đệ nhị “tình hình chiến sự” có vẻ gây cấn hơn, chẳng những phải “gạo” bài cho đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt mà còn phải học kỳ cho kỳ thi Tú tài I cuối năm. Thường thường tôi dùng 2/3 thì giờ để học bài thầy giảng trong chương trình và 1/3 đọc thêm những gì không được giảng dạy nhưng có liên quan đến chương trình như thế sẽ khỏi bỡ ngỡ khi đề thi liên hệ đến kiến thức tổng quát. Cũng theo cách học nầy mà tôi trúng tuyển dễ dàng hai kỳ Tú tài I và II.

Đã khá lâu nên không nhớ rõ hết các đề thi, duy chỉ có hai đề thi có phần lý thú nên khó quên. Đó là đề thi Tú Tài I-1960 về văn chương VN “Con người do 3 yếu tố tạo thành: Địa phương, giống tộc và thời đại, bạn hãy căn cứ vào văn chương thế kỷ thứ XIX để chứng minh câu nói trên”. Đề thi nầy phỏng theo đề thi “Dissertation litteraire “, kỳ thi BAC I tại Paris, thập niên 1950, về văn chương Pháp, thế kỷ thứ XIX mà tôi đã có dịp đọc qua luận văn bằng Pháp ngữ, chỉ khác là thay vì luận về văn chương Pháp thì luận về văn chương Việt Nam thế kỷ thứ XIX. Nền giáo dục Tậy phương có ưu điểm là thường in lại các đề thi và bài giải vế văn học, triết học cũng như toán học... khoa học của các kỳ thi trong quá khứ để giúp học sinh tự luyện thi. Nền giáo dục Viêt Nam thời bấy giờ chưa đạt đến trình độ đó.

Khi còn học lớp Đệ Tứ, tôi và vaì người bạn khác thường mở các đề toán Géométrie và Algèbre trong sách hoc trò (Livre de L’Élève) ra làm thử. Bài nào không giải được thì mở sách của thầy (Livre du Maitre) ra xem bài giải. Cứ như thế mà giải hết các bài trong sách của Gs Bossé thì rất dễ dàng giải quyết các nan đề trong phòng thi.

Đề thi triết Tú tài 2-1961 cũng rất gọn gàng và dễ nhớ “Vai trò của trí tuệ trong tri giác ngoại giới”. Trong cả hai trường hợp, đọc qua đề thi thì hình như dàn bài đã có sẵn trong trí, tôi viết một mạch 3 giờ liền, đọc lại và nạp bài, ra khỏi phòng thi, thấy rất thoải mái vì chẳng những không “bí” mà còn viết thao thao bất tuyệt, tự biết thế nào cũng “dính”.

Tuy vậy những lần đi nghe xướng danh cũng rất hồi hộp. Cái hồi hộp lý thú của tuổi học trò. Những năm học ở trung học thi cử liên miên khiến cho học sinh phải lo âu thường trực. Càng lo âu thì càng dễ trở nên thất vọng. Có người không chịu nổi cái “đệ nhất buồn là cái hỏng thi” nên phải quyên sinh. Học chế của mình kể ra cũng khắc khe. Cô, thầy thì nghiêm khắc vì “Giáo bất nghiêm thì sư chi đọa”. Bài vở phần lớn học thuộc lòng, vận dụng trí nhớ nhiều hơn suy luận.

Chúng ta thuờng nghe nói: “gạo như gạo vạn vật...”

Bây giờ thì tất quả đều quá vãng, có còn lại chăng chỉ dư âm thôi!

“Thôi đã xa rồi vạn gót hương
Của người đẹp đến tự muôn phương
Xa rồi những bước không hò hẹn
Đã bước trùng nhau một nẻo đường”

Nẻo đường Quốc Học của thời niên thiếu vẫn luôn luôn chập chờn trong trí tưởng với hình ảnh của con sông xưa, thành phố cũ.

“Áo em lụa trắng sông Hương
Qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào”

Nỗi nhớ, niềm thương đó vẫn canh cánh bên lòng như bản nhạc vàng ru trọn đời mình. Dù vì quốc biến nên ”Có những người đi không về. Xa xôi rồi quên ước thề”!

Hoài niệm về trường xưa, bạn cũ không chỉ là hoài niệm đơn thuần tình cảm mà còn tiềm ẩn tinh túy của Quốc học là những gì lưu lại sau khi đã quên hết “La culture (de QH) c’est ce qui reste après on a tout oublié”.

Xuất thân từ Quốc Học cũng như xuất thân từ cửa Khổng sân Trình. Con người hấp thụ được tinh hoa của cổ và tân học. Nếu con người do ba yếu tố tạo thành:

Hoàn cảnh, thời đại và giống tộc thì Quốc học đã là hoàn cảnh, là môi trường tốt cho cựu học sinh triển nở, khiến cho nam thanh nữ tú hàng hàng lớp lớp từ thế hệ này sang thế hệ khác xuất thân từ ngôi trường thân thương nầy và đã trở thành biết bao anh tài cho Tổ quốc.

Cái tinh hoa của nền Quốc Học là ngoài khả năng, kiến thức tổng quát, cựu học sinh được bồi dưỡng tinh thần bằng niềm hãnh diện về trường xưa, bạn cũ và quan niệm về giáo dục qua phong cách giảng dạy, lối sống và triết lý giáo dục của nền quốc học Việt mà một vị Nho sĩ, Cụ cố Ngô Đình Khả, đã được bổ nhiệm nhậm chức Chưởng Giáo của Quốc Học.

Triết lý giáo dục nhằm vào chủ đích không những làm cho con người giỏi giang hơn (trí dục) mà chính là làm cho con người sống cao thượng hơn (đức dục).

Ngày nay học tập để ngày mai giúp đời. Giúp đời chứ không chỉ biết vinh thân phì gia. Nguyễn Du Tiên sinh rất hữu lý khi nói lên triết lý hành động qua lời Từ Hải:

“Phong trần mài một lưỡi gươm.
Những loài giá áo túi cơm sá gì”.

Lưỡi gươm đây còn mang ý nghĩa là đem sở học và sự hiểu biết để phụng sự nhân quần xã hội, sửa trị những sự việc trong xã hội cho chính trực như tinh thần Nguyễn Công Trứ

“Trong lăng miếu ra tài lương đống.
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương”.

Lợi ích của sự giáo dục là để phát triển kiến thức về luân thường đạo lý (đức dục) và kiến thức chuyên môn (trí dục). Nền quốc học chủ trương “Tiên học lễ hậu học văn” chú trọng đến sự phát triển con người toàn diện về cả ba khía cạnh đức dục, trí dục và thể dục, cốt đào tạo những người có đức hạnh, trí óc sáng suốt, có liêm sỉ, để cải taọ xã hội chính trị, hơn là chỉ chú trọng đào tạo những người có kiến thức chuyên môn như nền giáo dục Tây phương.

Nhận chân được khuyết điểm là có khoa học mà vô lương tâm chỉ đem lại phiền não, bại hoại tâm hồn. “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme”, ngày nay nhiều đại học ở Tây phương tìm cách nhân văn hóa các chương trình khoa học bằng cách đưa các môn triết học, nhân chủng, xã hội, đạo đức, tâm lý... vào khóa học để giúp sinh viên tốt nghiệp sẽ trở nên con người toàn diện, hiểu người, biết mình hơn là con người kỹ thuật, máy móc (robot).

Sự học tô điểm cuộc đời, giúp chúng ta khám phá những kỳ hoa dị thảo trong vườn hoa kiến thức của nhân loại. Càng hiểu biết con người càng trầm tĩnh, ít lo âu, ít hoảng hốt, tâm bớt động và nhờ đó thái độ được trầm tĩnh và tránh đuợc lầm lẫn hay sợ sệt:

(1) Ít lo âu vì nhận diện được vấn đề và biết cách ứng phó đúng với câu “Khi vui đến thì hãy vui mà chớ kiêu căng, tự phụ, khi tai họa đến thì phải suy nghĩ mà chớ buồn phiền” Chính nhờ sự suy nghĩ mới có “thể mưu sinh thoát hiểm” thay vì buồn phiền sẽ sinh ra nản chí và thất hại.

(2)Tránh được lầm lẫn là nhờ khả năng nhận biết phải trái, phân rõ trắng đen qua kinh nghiệm giải quyết sự việc của tiền nhân và của người đương thời. Ngày nay khoa quản trị học (management science) đào tạo những chuyên viên quản trị biết kỹ thuật tổ chức, điều hành và phương pháp giải quyết vấn đề. Tiêu chuẩn phán xét phải, trái, không hẳn do ý kiến của một cá nhân, vì ý kiến cá nhân có khi lầm lẫn. Do đó ý kiến đúng hay sai phải là ý kiến của đa số trong một hoàn cảnh và thời gian nào đó. Tiêu chuẩn đúng sai do đa số quyết định “What is right or wrong being determined by the will of the majority” (John Locke, 1679).

Ý kiến của đa số hay là ý chí chung có thể được tham khảo qua nhiều phương thức hoặc do phong tục tập quán lấy ý kiến chung ở chốn đình trung, hoặc do biểu quyết, hay trưng cầu dân ý qua lá phiếu.

(3) Ít sợ sệt vì hiểu được vấn đề, không lo ngại và chấp nhận dấn thân mà không e dè sợ sệt, hùng tâm dũng chí.

Với ba đặc điểm ít lo âu, tránh lầm lẫn, ít sợ sệt; người khôn ngoan thường nhận xét sự việc một cách khách quan, theo lẽ phải hơn là thiên kiến. Để đạt đến tính cách khách quan, sự nhận xét phải có tính cách vô ý, vô tất, vô cố và vô ngã:

(1) Vô ý nghĩa là không khư khư theo ý riêng của mình mà phải chấp nhận bàn bạc để tìm ra lẽ phải và làm theo lẽ phải để tạo sự đồng thuận trước khi thi hành công tác. “Discussion is the anvil upon which the spark of the truth is struck”.

Tiếp xúc cá nhân, chia sẻ và đối thoại là phương thức để tìm ra lẽ phải.

(2) Vô tất: Đừng vội quyết đoán là công việc làm được hay không làm được mà phải tạo cơ hội để thực hiện mới biết dễ hay khó. Không nên chủ quan bác bỏ ý kiến của người khác theo nhãn quan thiển cận của mình mà phải biết chấp nhận thử thách.

(3) Vô cố: Không nên cố chấp, nệ cổ mà phải biết chấp nhận sáng kiến.

(4) Vô ngã: Cái tôi là đáng ghét (le moi est haissable) đừng vì quyền lợi cá nhân hay phe phái mà sinh ra mù quáng, nhìn bạn thành thù, nhìn thù thành bạn, lộng chân thành giả, lộng giả thành chân.

Bốn phương cách xét định công việc nêu trên giúp chúng ta đạt được sự chánh ý trong vấn đề suy luận và phát biểu nhằm giảm sự xung khắc về tư tưởng và hành động. Dụng đích của sự học không những để gia tăng sự hiểu biết mà còn giúp phát triển các đức tính khác như Đức Khổng Tử đã giáng cho Tử Lộ sáu điều tai hại của sự thất học:

(1) Người ham điều nhân mà không học thì bị cái hại là ngu muội.
(2) Người ham đức trí mà không học bị cái hại là phóng đãng.
(3) Người trọng chữ tín mà không học thì có hại là dễ bị lừa gạt.
(4) Người thích sự ngay thẳng mà không học thì hóa ra nóng nảy.
(5) Người dũng cảm mà không học thì hoá ra phản loạn.
(6) Người cương quyết mà không học thì hóa ra cường bạo.

Giáo dục không chỉ là học từ chương trích cú để lãnh được mảnh bằng theo sách vở mà phải biết suy luận (trí) và biết áp dụng kiến thức vào những hoàn cảnh khác nhau (thức), vì mỗi hoàn cảnh đòi hỏi một phương cách riêng để giải quyết vấn đề. Do đó” tri và hành phải hợp nhất”. Học mà không biết đem sự hiểu biết áp dụng vào đời sống thì kiến thức đó hoàn toàn vô dụng, cho nên Luận Ngữ có câu:

“Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”.

Học mà đem ra áp dụng được thì chẳng phải vui lắm sao! Tham gia chiến trận khi quôc gia lâm nguy, thưc hiện các công tác sinh hoạt xã hội, chính trị, văn hoá, kinh tế, y tế, giáo dục khi thái bình....đều là những cơ hội học hỏi chứ không phải chỉ đến nhà trường mới gọi là học.

Theo thầy Tử Lộ thì “Cai trị nhân dân, cúng tế thần đất đai, mùa màng, thì cũng là học, hà tất phải đọc sách rồi mới gọi là học”. Quan niệm này rất hữu lý và tiến bộ vì ngoài lối học sách vở, còn phương pháp huấn luyện OJT (On the job training) ngày nay rất thịnh hành tại các nước tân tiến.

Muốn học hỏi trước tiên phải:

(1) Khiêm nhường và phục thiện Những người kiêu căng, chỉ biết nói và không biết nghe thì không học hỏi gì được. Khiêm nhường tức là hỏi người dưới không lấy làm thẹn “Bất sỉ hạ vấn”.

(2) Có thiện chí tìm hiểu hỏi han. Đức Khổng Tử nói: “Người nào không hỏi phải làm sao? phải làm sao? thì ta cũng chẳng có cách nào chỉ bảo cho được. Kẻ nào không hăng hái muốn hiểu thì ta không thể giúp cho hiểu được, kẻ nào không tỏ ý kiến thì ta không thể giúp cho phát biểu ý kiến được. Ta vén lên cho một góc mà chẳng tự tìm được ba góc kia thì ta không giảng cho thêm nữa”.

Thế thì giáo huấn cũng còn tùy người, tùy tánh nết, tùy trí tuệ, tư cách của mỗi nguời, cũng như may áo, tùy kích thước của mỗi người. Cưỡng bách giáo dục tại một số quốc gia tân tiến thường đến lớp 9 (đệ tứ) hoặc lớp 12 (đệ nhất) phần học còn lại là do thiện chí muốn tiếp tục sự học. Phương pháp giáo huấn tùy người có từ trên 2000 năm về trước, ngày nay nhiều đại học đang áp dụng các chương trình giáo dục “University without wall” và các chương trình “Non traditional” tức là cá nhân hóa chương trình cho phù hợp với sở trường thực dụng của mỗi cá nhân.

Con nguời được thọ tạo như những viên ngọc quý. Nhưng ngọc bất trác thì bất thành khí, hay như những cây gỗ qúy, nhưng nếu không biết trau dồi học hỏi thì gỗ quý sẽ biến thành gỗ mục, mà “Gỗ mục thì không chạm khắc gì được, cũng như vách bằng đất bùn thì không tô vẽ gì lên được”.

Phương pháp học hỏi hữu hiệu là vận dụng tri giác (thu nhận kiến thức qua giác quan – perception) mà nghe và thấy là hai giác năng quan trọng nhất giúp con người thu nhận ngoại giới. Do đó, cổ nhân khuyên là “Nên nghe cho nhiều, điều gì còn nghi ngờ thì để đó, tìm hiểu thêm. Điều gì biết rõ ràng, chắc chắn thì nên nói, nhưng nên nói một cách ôn tồn.” và “Nên thấy cho nhiều, những gì chưa được rõ thì để đó đừng làm, còn những gì biết rõ thì cũng phải làm một cách cẩn
thận như vậy sẽ ít phải ăn năn”.

Trong thiên hạ thường có 4 hạng người:

(1) Không ai dạy mà biết được đạo lý là hạng ưu tú – Sinh nhi tri chi giả, thượng dã – Đó là hạng người thông minh vốn sẵn tính trời, là hạng ưu việt.

(2) Học rồi mới biết là hạng trung – Học nhi tri chi giả, thứ dã – gồm đa số khoa bảng, chuyên viên.

(3) Dốt mà chịu học là bậc thấp – Khốn nhi học chi, hữu kỳ thứ dã – là những thành phần hiếu học để thăng tiến.

(4) Dốt mà không chịu học là hạng cuối cùng của xã hội – Khốn nhi bất học, dân tư vĩ hạ hỉ – Hạng thứ tư nầy đa số bất cần đời, sinh lộn kiếp. “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu?”

Tại Hoa Kỳ nguời ta cũng thường đề cập đến ba hạng chuyên viên:

(1)-Hạng chuyên viên ưu tú thường nêu ra sáng kiến, phát minh. “Professionals with great minds talk about ideas”

(2)- Hạng chuyên viên trung bình thường bàn về những chuyện đang xảy ra “Professionals with average minds talk about current events”; và

(3)- Hạng chuyên viên thường hay bàn chuyện người khác.” Professionals with small minds talk about people”.

Dù thuộc loại chuyên viên nào chăng nữa, trong một ngày mình nên xét ba điều:

(1) Mình giúp ai việc gì, có giúp hết lòng không?
(2) Mình giao du với bạn bè có giữ được chữ tín không?
(3) Mình có học hỏi thêm điều gì mới mẻ trong ngày không?

“Mỗi ngày biết thêm điều mình chưa biết, mỗi tháng không quên những điều mình đã biết như vậy là biết học rồi đó”. Nhưng cũng nên biết rằng ”Biết học không bằng ham học và ham học không bằng vui mà học”. “Nếu mình yêu thích công việc mình làm, thi xem như cả đời không làm gì hết “!

Diễn trình giáo dục là diễn trình thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo. Tuy vậy, đó chỉ mới là giai đoạn đầu hay nói khác đi là giai đoạn “cách vật chí tri”, hiểu biết sự việc ngoại giới mà chứng chỉ, bằng cấp là biểu tượng cho giai đoạn này. Nếu đến giai đoạn này rồi tự thõa mãn và ngưng học hỏi, tu thân, thì chỉ là hiểu biết vòng ngoài, nghĩa là mới thu nhận được kiến thức ngoại giới nhưng chưa đạt đến trình độ “Thành tâm, chánh ý, tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ”.

Kiến thức thu nhận được ở nhà trường từ tiểu học đến đại học chỉ là kiến thức căn bản , tiên nhân lưu lại, ai cũng có thể học được miễn có thì giờ và phương tiện để trở thành chuyên viên. Đó là sự thực, vì nhìn vào xã hội chúng ta thấy sinh đồ càng ngày càng đông và trường học càng ngày càng nhiều.

Học để hiểu biết và hiểu biết hơn về một ngành chuyên môn để trở thành “chuyên viên” (professional) là điều tốt, nhưng nếu chỉ để “mong an nhàn, sống lâu giàu bền,, còn việc nước việc cộng đồng, xã hội, aí hữu, không thèm nghĩ đến thì chưa đạt đến trình độ “Trí thức”.

Để đào luyện (formation) trí thức, triết lý giáo dục nhân bản của nền Quốc Học không ngưng lại ở mức độ thu nhận kiến thức chỉ để trở thành chuyên viên mà còn tiến đến chủ đích làm cho con người trở nên cao thượng hơn:

“Thương vị đức, hạ vị dân”.

Phối hợp đạo lý làm người và kiến thức để giúp đời, là dấu chỉ của người trí thức, của kẻ sĩ. Cụ Nguyễn Công Trứ đã từng quan niệm:

“Kinh luân khởi tâm thượng,
Binh giáp tàng hung trung.
Vũ trụ chi giai ngô phận sự.
Nam nhi đáo thử thị hào hùng”.

Khi quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Kẻ sĩ không phải là hạng người ngồi khoanh tay khi sơn hà nguy biến!

Phải chăng Quốc Học là trường xây dựng nền tảng cho nền Việt học, phối trí giữa kiến thức và tâm đạo. Kiến thức có thể diễn tả qua tư tưởng, kỹ thuật phương trình, công thức... còn tâm đạo được thể hiện qua tinh thần đạo đức, lương tâm chức nghiệp của quý Thầy, quý Cô.
“Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành”. Với lương tâm chính trực, tận tụy của quý Thầy, quý Cô, học sinh đương nhiên vì mến Thầy, thương Cô mà học không phải vì Thầy la, Cô mắng.

Một khi xuất thân từ Quốc Học, học sinh đều thành danh, phụng sự xã hội với tinh thần Nhân, Trí, Dũng: Phối hợp được lòng nhân ái, tâm đạo, kiến thức và nghị lực, quả cảm để xây dựng cộng đồng xã hội, quốc gia dân tộc.

Dù tha hương, sống nơi góc bể chân trời, nhưng đến ngày kỷ niệm Quốc học năm thứ 130 (1896- 2026) và 65 năm gặp laị, chúng ta vẫn hướng về mái trường thân thương nơi con sông xưa thành phố cũ, ngâm khúc hoan ca:

“Trường xưa lưu mãi bóng hình
Trăm năm Quốc Học hiển vinh muôn đời”

Trần Xuân Thời
QH: 58-61



Việt Nam Đối Mặt Với Tình Trạng Khan Hiếm Xăng Dầu Do Chiến Tranh Iran

 

( Cảnh chờ đổ xăng ở Hà Nội)

VIỆT NAM ĐỐI MẶT VỚI TÌNH TRẠNG KHAN HIẾM XĂNG DẦU DO CHIẾN TRANH IRAN
Kq Le Van Hai

- Sản lượng dầu thô dự kiến sẽ giảm xuống còn 5,8 triệu đến 8 triệu tấn mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030, so với sản lượng trung bình hàng năm là 8,6 triệu tấn trong 5 năm qua. Sản lượng trong nước sụt giảm sẽ khiến Việt Nam càng phụ thuộc vào nhập khẩu, vốn đã tăng 5,3% lên 14,2 triệu tấn vào năm 2025, theo số liệu hải quan Việt Nam. Khoảng 80% lượng dầu thô mà Việt Nam nhập khẩu năm 2025 đến từ Kuwait và phải trung chuyển qua eo biển Hormuz, nơi đang bị Iran phong tỏa.


Việt Nam cũng nhập khẩu nhiên liệu tinh chế, trong khi hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn đáp ứng khoảng 70% nhu cầu của cả nước, sản xuất xăng, dầu diesel và các loại nhiên liệu khác chủ yếu từ dầu thô nhập khẩu. Có nhiều khả năng Việt Nam sẽ phải giảm số chuyến bay từ tháng 04 do thiếu nhiên liệu xăng máy bay. Trung Quốc và Thái Lan, hai nhà cung cấp đến 60% nhiên liệu máy bay cho Việt Nam, đã quyết định ngừng xuất khẩu nhiên liệu này từ đầu tháng 03 trong khi các nhà nhập khẩu lớn Petrolimex và Skypec của Việt Nam chỉ có thể đảm bảo nguồn cung nhiên liệu máy bay cho tháng 03.


Những dự báo mới về sản lượng dầu giảm sút được đưa ra trong bối cảnh Việt Nam hiện là trung tâm công nghiệp lớn trong khu vực của các tập đoàn đa quốc gia về điện tử và may mặc. Giá xăng tại Việt Nam đã tăng khoảng 30% và dầu diesel khoảng 40% kể từ khi chiến tranh Iran bắt đầu. Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp khuyến khích tiết kiệm xăng dầu : làm việc tại nhà, đi chung xe, sử dụng phương tiện giao thông công cộng…


Ngày 17/03, tại cuộc gặp với đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Ito Naoki, thủ tướng Phạm Minh Chính đã đề xuất Tokyo tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp cận với nguồn dầu xuất kho dự trữ của Nhật Bản. Theo trang VnExpress, Tokyo đang lên kế hoạch xả 80 triệu thùng dầu từ kho dự trữ nhằm giảm tác động từ xung đột ở Trung Đông.


Về lâu dài, Việt Nam dự trù tăng cường hoạt động thăm dò, trong đó có việc đưa ra các ưu đãi cho các công ty dầu khí quốc tế đầu tư vào các mỏ ngoài khơi. Mục tiêu là nâng cao trữ lượng có thể khai thác thêm 13 triệu đến 17 triệu tấn dầu thô mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030.


Kq Le Van Hai


Xếp Hạng 25 Thành Phố Hạnh Phúc Nhất Của Mỹ Năm 2026

 


XẾP HẠNG 25 THÀNH PHỐ HẠNH PHÚC NHẤT CỦA MỸ NĂM 2026
Bùi Phạm Thành

Chúng ta vẫn thường nghe nói: "Tiền bạc không mua được hạnh phúc", nhưng với một số tiền nào đó, có thể giúp chúng ta đủ khả năng sống trong một cộng đồng hạnh phúc.

Một nghiên cứu gần đây của WalletHub đã xếp hạng 182 thành phố lớn nhất tại Hoa Kỳ dựa trên mức độ hạnh phúc của cư dân, sử dụng một loạt các yếu tố, bao gồm cả thu nhập.

"Các nghiên cứu cho thấy việc sở hữu nhiều tiền hơn chỉ giúp gia tăng hạnh phúc cho đến khi bạn đạt mức thu nhập tối thiểu 75,000 đô la mỗi năm — bất kỳ khoản thu nhập nào vượt quá mức này có lẽ sẽ không còn tác động gì nữa," chuyên gia phân tích Chip Lupo của WalletHub đã viết trong nghiên cứu của họ.

Chính vì vậy, bản nghiên cứu này đã sử dụng mức thu nhập hàng năm là 75,000 đô la làm chuẩn mực cho sự hạnh phúc, đồng thời đo lường tỷ lệ các gia đình có thu nhập vượt quá mức này tại mỗi thành phố được khảo sát.

Tiền bạc có thể mua cho bạn thời gian và sự linh hoạt; những điều này có thể chuyển hóa thành các lựa chọn tốt hơn, và từ đó dẫn đến hạnh phúc,

Rachel Wu, Phó Giáo sư tâm lý học tại Đại học California, Riverside, đã viết câu trên, trong nghiên cứu này.

Bản nghiên cứu đã xem xét các yếu tố khác để đưa ra bảng xếp hạng tổng quát, qua việc so sánh các thành phố dựa trên ba tiêu chuẩn: 
  1. Sức khỏe thể chất và tinh thần, 
  2. Thu nhập và việc làm, 
  3. Môi trường và cộng đồng.

WalletHub đánh giá mức độ hạnh phúc và an sinh qua việc xem xét các yếu tố như mức độ hài lòng với cuộc sống, tỷ lệ trầm cảm và tự tử, mức độ tham gia các hoạt động thể thao, tuổi thọ trung bình và chất lượng của giấc ngủ.

Thứ hạng về thu nhập và việc làm được xác định dựa trên tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm, sự ổn định trong công việc, thời gian di chuyển đi làm, và số giờ làm việc trung bình.

Bảng xếp hạng dựa trên môi trường và cộng đồng, đã đưa vào các yếu tố như thời tiết, thời gian giải trí và hệ thống công viên tại mỗi thành phố, cũng như tỷ lệ ly hôn và các tội ác do thù ghét.

Bảng xếp hạng này sử dụng dữ liệu từ Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ, Cục Thống kê Lao động, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh, Cục Điều tra Liên bang (FBI), Glassdoor.com, Sharecare, Feeding America và The Trust for Public Land, cùng nhiều nguồn khác—bao gồm cả các nghiên cứu nội bộ của WalletHub.

Nơi đây, chúng ta hãy cùng tìm hiểu xem những thành phố hạnh phúc nhất tại Hoa Kỳ đã làm gì để giúp cư dân của thành phố luôn khỏe mạnh, có việc làm ổn định và cảm thấy hài lòng với cuộc sống.

25. Huntington Beach, California


Tụt xuống so với vị trí trong "top 10" của cuộc khảo sát năm ngoái, Huntington Beach (California) đã được xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ 25 của Hoa Kỳ.

Thành phố này, vốn thường được mệnh danh là "Surf City USA", nằm trong nhóm những địa phương đạt thứ hạng cao nhất về sự an sinh cả về mặt cảm xúc lẫn thể chất của cư dân.

24. Durham, North Carolina


Là nơi tọa lạc của Đại học Duke, Durham (North Carolina) là một trong những thành phố hạnh phúc nhất tại Hoa Kỳ.

Thành phố này lọt vào top 35 ở cả hai mục: về môi trường và cộng đồng, cũng như về sức khỏe tinh thần và thể chất.


23. Peoria, Arizona


Peoria, một vùng ngoại ô của Phoenix, đã được xếp hạng trong số 25 thành phố hạnh phúc nhất tại Hoa Kỳ vào năm 2026.

Cư dân Peoria được tận hưởng một thành phố xếp hạng thứ 7 tại Hoa Kỳ về chất lượng môi trường và cộng đồng. Bảng xếp hạng này xem xét các yếu tố như thời tiết, thời gian giải trí và tỷ lệ ly hôn.

22. Raleigh, North Carolina


Raleigh — thủ phủ của tiểu bang North Carolina, được xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ 22 tại Hoa Kỳ, với cư dân sở hữu sức khỏe thể chất và tinh thần tốt thứ 22 trong số các thành phố đuợc nghiên cứu.

21. San Diego, California


Thời tiết tuyệt đẹp và cơ hội việc làm dồi dào chỉ là một vài trong số những lý do khiến cư dân San Diego nằm trong nhóm những người hạnh phúc nhất tại Hoa Kỳ.

Thành phố này xếp hạng trong top 25 về sự an sinh cả về mặt cảm xúc lẫn thể chất của cư dân, cũng như các yếu tố liên quan đến thu nhập và việc làm.

20. Tempe, Arizona


Nằm ở phía đông Phoenix và là nơi tọa lạc của Đại học Tiểu Bang Arizona, Tempe đã được xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ 20 của Mỹ.

Ngôi trường đại học này mang lại sức sống cho thành phố, vốn được xếp hạng cao nhờ thu nhập của cư dân, cơ hội việc làm và sự tăng trưởng.

19. Portland, Maine


Thành phố ven biển Portland, thuộc tiểu bang Maine, được xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ 19 tại Hoa Kỳ.

Thành phố này xếp thứ ba trong bảng xếp hạng về thu nhập và việc làm, vốn đánh giá sự ổn định công việc, mức tăng trưởng thu nhập, cùng nhiều yếu tố khác.

18. Lincoln, Nebraska


Lincoln, thủ phủ của  tiểu bang Nebraska, được xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ 18 tại Hoa Kỳ, đạt thứ hạng cao nhất ở tiêu chuẩn cộng đồng và môi trường, vốn đánh giá mức độ quan tâm, thời gian thư giãn trong cộng đồng, cùng nhiều yếu tố khác.

17. San Francisco, California


Thủ phủ công nghệ này được xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ 17 tại Hoa Kỳ.

Thành phố này lọt vào nhóm 10 thành phố dẫn đầu trong bảng xếp hạng về sức khỏe tinh thần và thể chất của nghiên cứu, vốn xem xét các yếu tố như mức độ tham gia thể thao và tỷ lệ trầm cảm.

16. Plano, Texas


Plano, Texas, nằm ở phía bắc Dallas, được xếp hạng trong số 20 thành phố hạnh phúc nhất tại Hoa Kỳ.

Thành phố này xếp thứ 15 trong bảng xếp hạng về sức khỏe thể chất và tinh thần.

15. Seattle, Washington


Seattle là thành phố lớn, được xếp hạng cao nhất trong nghiên cứu này, đứng ở vị trí thứ 15, một phần nhờ vào chất lượng cuộc sống và sự ổn định việc làm của thành phố.

Thành phố này nằm trong nhóm dẫn đầu ở cả hai phương diện: sức khỏe tinh thần và thể chất, cũng như thu nhập và việc làm.

14. Chandler, Arizona


Nằm ngay ngoại ô Phoenix, Chandler (Arizona) được xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ 14.

Thành phố ấm áp này lọt vào top 10 về cộng đồng và môi trường.

13. Columbia, Maryland


Là thành phố lớn thứ hai tại Maryland, chỉ sau Baltimore, Columbia là một khu đô thị bao gồm các ngôi làng (villages) độc lập, tạo nên thành phố hạnh phúc thứ 13 tại Hoa Kỳ.

Thành phố này xếp hạng ba trong bảng xếp hạng của WalletHub về mức độ hạnh phúc cả về thể chất lẫn tinh thần của cư dân.

12. Madison, Wisconsin


Madison được xếp hạng cao trong bảng xếp hạng mức độ hạnh phúc về mặt cảm xúc và thể chất, bảng xếp hạng xem xét các yếu tố như mức độ hài lòng với cuộc sống, tỷ lệ trầm cảm và tự tử, cũng như giấc ngủ đầy đủ và sức khỏe thể chất.

11. Burlington, Vermont


Tại thành phố hạnh phúc thứ 11 của Hoa Kỳ, cư dân làm việc hết mình và nghỉ ngơi cũng hết mình.

Thành phố này xếp hạng nhì trong bảng xếp hạng về việc làm của nghiên cứu, một bảng xếp hạng xem xét các yếu tố như tốc độ tăng trưởng thu nhập, thời gian đi lại, số giờ làm việc trung bình, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm, sự ổn định công việc, cũng như mức độ hài lòng trong công việc, cùng nhiều yếu tố khác.

Cư dân tại đây cũng có số giờ làm việc trung bình thấp nhất và tỷ lệ ngủ đủ giấc cao thứ hai trong nghiên cứu, chỉ đứng sau thành phố South Burlington thuộc bang Vermont.

10. San Jose, California


San Jose, California, được xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ 10 tại Hoa Kỳ, giảm từ vị trí thứ 2 của năm ngoái.

Thành phố thuộc Thung lũng Silicon này có trung bình 300 ngày nắng mỗi năm, đồng thời sở hữu một trong những tỷ lệ ly hôn và ly thân thấp nhất trong cả nước.

9. Gilbert, Arizona


Gilbert, một vùng ngoại ô của Phoenix, đã được xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ 9 tại Hoa Kỳ.

Gilbert đứng thứ sáu trong bảng xếp hạng về cộng đồng và môi trường của nghiên cứu này; bảng xếp hạng này xem xét các yếu tố như thời tiết, không gian công viên, thời gian thư giãn, cùng nhiều hạng mục khác.

8. Irvine, California


Là nơi tọa lạc của Đại học UC Irvine và nằm cách Los Angeles một giờ di chuyển, thành phố Irvine (California) đã được xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ tám tại Hoa Kỳ.

Irvine, vốn xếp hạng ba chung cuộc trong nghiên cứu năm ngoái, đã đứng ở vị trí thứ tám trong bảng xếp hạng về sức khỏe thể chất và tinh thần của nghiên cứu này.

7. Charleston, South Carolina


Charleston, South Carolina, được xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ bảy tại Hoa Kỳ.

Thành phố miền Nam này xếp hạng thứ ba trong hạng mục cộng đồng và môi trường của nghiên cứu, vốn xem xét các yếu tố như diện tích công viên, tỷ lệ ly hôn và tỷ lệ tội phạm thù ghét.

6. Overland Park, Kansas


Là thành phố lớn thứ hai tại Kansas, chỉ sau Wichita, Overland Park đã được xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ sáu tại Hoa Kỳ; cư dân nơi đây cũng giúp thành phố này giành vị trí cao thứ hai trong bảng xếp hạng về sức khỏe thể chất và tinh thần của nghiên cứu.

5. Fargo, North Dakota


Fargo, North Dakota, là thành phố hạnh phúc thứ năm tại Hoa Kỳ, theo nghiên cứu của WalletHub.

Thành phố này xếp hạng thứ năm trong bảng xếp hạng về cộng đồng và môi trường của nghiên cứu, vốn xem xét các yếu tố như thời tiết và thời gian giải trí.

4. South Burlington, Vermont


South Burlington, một thành phố thuộc Burlington, Vermont, đã xếp hạng là thành phố hạnh phúc thứ tư tại Hoa Kỳ; thành tích này một phần nhờ vào thứ hạng cao của thành phố về sức khỏe thể chất và tinh thần, các yếu tố bao gồm mức độ hài lòng với cuộc sống, việc tham gia thể thao, tỷ lệ trầm cảm và tự tử, tình trạng sử dụng ma túy, cũng như tình trạng mất an ninh lương thực.

Tại South Burlington yên bình, cư dân ghi nhận tỷ lệ ngủ đủ giấc cao nhất. Tuy nhiên, trong những giờ thức, họ lại là những người tích cực tham gia các hoạt động thể thao nhất, với tỷ lệ tham gia cao nhất.

3. Scottsdale, Arizona


Đứng ở vị trí thứ ba là Scottsdale, Arizona, thành phố xếp hạng nhì trong bảng xếp hạng về cộng đồng và môi trường của nghiên cứu này, vốn đánh giá các yếu tố như thời tiết, thời gian giải trí, diện tích công viên và tỷ lệ ly hôn.

Theo nghiên cứu, phần lớn cư dân Scottsdale đều cho biết họ có sức khỏe tốt: 88% người trưởng thành tự đánh giá sức khỏe của mình ở mức "tốt" trở lên, và khoảng 65% có thu nhập trên 75,000 đô la mỗi năm.

2. Bismarck, North Dakota


Vị trí xếp hạng cao của Bismarck một phần là nhờ vào sức khỏe tốt và thời gian thư giãn của cư dân nơi đây.

Thành phố này xếp thứ bảy trên Chỉ số Hạnh phúc Cộng đồng Sharecare – chỉ số đo lường mức độ yêu thích, cảm giác an toàn cũng như niềm tự hào của cư dân đối với cộng đồng của mình.

Trung bình, cư dân Bismarck cũng có số phút dành cho thời gian thư giãn mỗi tháng nhiều nhất trong số tất cả các thành phố được khảo sát.

1. Fremont, California


Tọa lạc tại khu vực Vùng Vịnh (Bay Area), thành phố Fremont thuộc bang California đã được xếp hạng là thành phố hạnh phúc nhất tại Hoa Kỳ.

Thành phố này sở hữu tỷ lệ ly hôn và ly thân thấp nhất, chỉ ở mức 9.3%; tỷ lệ hài lòng với cuộc sống cao nhất; đồng thời có tỷ lệ cư dân đạt mức thu nhập trên 75,000 USD mỗi năm cao nhất – với gần 80% số gia đình đạt mức thu nhập này.

Theo nghiên cứu, trung bình mỗi tháng, cư dân Fremont cũng ghi nhận số ngày gặp vấn đề về sức khỏe tinh thần ít hơn so với các nơi khác.

Thành phố này – vốn cũng đã giữ vị trí dẫn đầu trong nghiên cứu năm ngoái – tiếp tục được xếp hạng là thành phố số 1 tại Hoa Kỳ về sự an lạc cả về thể chất lẫn tinh thần trong báo cáo của WalletHub, đồng thời xếp hạng thứ tư trong bảng xếp hạng về cộng đồng và môi trường.

Ý Kiến Cá Nhân Thay Lời Kết.

Qua bảng xếp hạng nêu trên của WalletHub, tiểu bang California có 6 "Thành Phố Hạnh Phúc", trong đó có thành phố Fremont đứng đầu bảng. Nếu quý vị không thấy tên thành phố mình đang ở được ghi trong danh sách trên, thì cũng không nên phiền lòng. Bởi vì 

Ở nơi đâu mà chính mình và gia đình được vui vẻ, hoà thuận thì nơi đó là nơi hạnh phúc. 

Ông bà ta cũng đã từng nói "Một túp lều tranh, hai trái tim vàng", cho thấy hạnh phúc đơn giản của gia đình.

Chúc quý vị đọc giả khắp nơi một ngày bình yên, an lành, hạnh phúc bên người thân yêu.

Bùi Phạm Thành