Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Ngẫm Chuyện Xưa Nay

 


NGẪM CHUYỆN XƯA NAY
Lê Đức Luận

Sau ngày 30-4-1975, nhiều người Việt Nam bỏ xứ ra đi, đa số đã xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị nạn chính trị. Trong khoảng mười, mười lăm năm đầu, người Việt khi gặp nhau thường nêu một câu hỏi mà người hỏi có hai ý, còn người được hỏi cảm thấy phân vân, rồi trả lời theo một trong hai ý.

Đó là câu: “Anh chị sang đây lâu chưa ?”

Nếu người hỏi có thái độ kẻ cả, hỏi để phân biệt đẳng cấp, thì câu trả lời sẽ hờ hững, qua loa. Nếu người hỏi tỏ ra thân thiện - có ý muốn giúp đỡ đồng hương đến sau, thì câu trả lời sẽ rất chân tình.

Những người Việt Nam có mặt tại nước Mỹ trong thời gian đầu — hoặc được di tản trong những ngày Sài Gòn hấp hối, trên những chuyến bay vội vã của chiến dịch “ Gió lốc - Operation Frequent Wind” — hoặc lặng lẽ xuống thuyền, rời khỏi Việt Nam, bất chấp hiểm nguy trên biển cả để tránh sự đàn áp, trả thù của chế độ mới. Rồi họ xin định cư ở Mỹ.

Người ta gán cho họ cái tên “Thuyền nhân” (Boat people).

Ai cũng hiểu: Những người Việt Nam đã phải lìa bỏ quê hương sau một biến cố lớn của lịch sử — mỗi bước chân ra đi, dù bằng đường nào, cũng in dấu một mất mát không gì bù đắp được.

Nhưng có số ít người tỏ vẻ “ta đây” — kẻ đến trước, coi thường người đến sau. Nôm na là “ma cũ coi thường ma mới” — mặc dù cùng chung cảnh ngộ.

Cái tật: ai hơn mình thì ghét, ai kém mình thì khinh. Ai nổi trội hơn thì tìm cách dèm pha, ai kém cỏi thì chê bai. Điều này thường xảy ra trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt. Cho nên, câu hỏi: “Anh chị sang đây lâu chưa?” đã làm chạnh lòng một số người.

Câu chuyện tiếu lâm sau đây làm ta suy ngẫm: “ Ngoài chợ bày bán hai giỏ cua - một giỏ có nắp đậy, giỏ kia thì không. Khách hỏi lý do.

Người bán cua giải thích: “Giống cua Việt Nam, con nào bò lên gần tới miệng giỏ thì bị con khác kéo xuống, chẳng có con nào bò ra khỏi giỏ được, nên không cần nắp đậy. Còn giống cua Mỹ khi bò đến miệng giỏ, không bị con khác kéo xuống, nó có thể bò ra ngoài, nên phải đậy nắp.”

Những chuyện khó quên về người tị nạn Việt Nam trong bước đầu trên đất khách: lo lắng, ngẩn ngơ - như khi lạc đường chưa biết bỏ 25 cent vào cái điện thoại công cộng để gọi người nhà ra đón, cũng chẳng nói được tiếng Anh để nhờ người ta chỉ đường, cứ lòng vòng cả buổi mới tìm ra lối về nhà.

Một câu chuyện khác - mới nghe tưởng đùa, mà có thật - được một người kể lại thế này: “Hồi mới đến Mỹ, tôi thấy cái gì cũng mới lạ - đồ sộ và văn minh quá, làm mình cảm thấy như anh nhà quê lần đầu ra tỉnh.

Một hôm, gặp lại chú đàn em, anh ta mừng rỡ, ôm tôi — hai bàn tay vỗ vỗ vào lưng — rồi thốt lên: “Niên trưởng! Niên trưởng!” Niên trưởng qua lâu chưa? Cử chỉ ấy làm tôi cảm động nhưng cũng khiến tôi có chút ngỡ ngàng. Bởi vì trước năm 1975, người miền Nam gặp nhau, dù thân tình, cũng chỉ tay bắt mặt mừng, ít khi “ôm nhau thắm thiết” như vậy.

Sau này, ở lâu mới quen cách biểu lộ tình cảm theo kiểu Mỹ là “ôm nhau thắm thiết” — tiếng Anh gọi là “hug”.

Anh ta kể tiếp: Sau ngày “đứt phim 30-4-1975”, người ta gọi tôi là “thằng ngụy”. Tiếng “niên trưởng” như rơi vào cõi âm, chỉ còn mơ hồ trong ký ức. Bây giờ, gặp nhau trên đất khách, chú đàn em chưa quên truyền thống Trường Mẹ — gọi tôi “niên trưởng” — làm tôi bồi hồi nhớ lại những ngày Chủ nhật dạo phố Đà Lạt: đàn em gặp đàn anh chào cái rụp, rồi chờ đàn anh mở lời, đàn em mới vui vẻ tiếp lời.

Truyền thống ấy làm cho chúng tôi tương kính nhau và giữ cho tình huynh đệ luôn tha thiết, chân tình. Mặc dù bây giờ chú ấy trông bảnh bao, hoạt bát, da dẻ hồng hào, bụng phệ… Anh ta mang dây treo quần (suspenders), trông rất sang. Hồi đó chưa có điện thoại di động (cell phone) , anh ta kẹp ở thắt lưng cái máy nhỏ bằng bộ bài tây, thỉnh thoảng phát ra tiếng bíp bíp… trông rất lạ. Tôi hỏi cái gì thế? Anh ta giải thích: Đây là cái beeper, còn gọi là pager, dùng để nhận tin nhắn. Rồi anh ta giải thích công dụng và cách dùng.

Chúng tôi đối với nhau rất chân tình - điều gì chưa biết, tôi hỏi; chú đàn em tận tình chỉ dẫn - không màu mè hay mặc cảm. Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, tôi đã quen với các thiết bị điện tử.

Chú cũng nói cho tôi biết cách giao tiếp với người bản xứ sao cho phải phép — trong đó có một chuyện nhớ đời — chuyện đàn bà. Chú bảo: “Người Mỹ ít khi hỏi tuổi nhau, kỵ nhất là với phụ nữ. Trong trường hợp phải nói về tuổi tác, nếu gặp bà bốn mươi, niên trưởng bảo:

trông cô khoảng ba mươi — cứ cho các bà trẻ hơn mươi tuổi là ăn tiền!

Tám năm cầm súng ở chiến trường, rồi tiếp theo bảy năm cầm cuốc trong các trại tập trung cải tạo của Việt Cộng; khi đến Mỹ, tôi còn trai tân (độc thân), gặp con gái cứ lúng túng như gà rù mắc tóc, nhưng nhờ “cái mánh” này, tôi cưới được vợ lớn hơn 8 tuổi - hạnh phúc như gặp được bà tiên…

Tôi nhớ ơn chú đàn em. Tôi cũng nhận ra rằng những người đến trước đã trải qua nhiều gian nan lúc ban đầu. Họ đã để lại những kinh nghiệm giúp kẻ đến sau bớt bỡ ngỡ.

Sau mười mấy năm, cuộc sống của đa số người Việt đã bước vào giai đoạn ổn định. Ngày nào, họ đến đây với hai bàn tay trắng, mang theo mấy đứa con thơ - bảy, tám tuổi. Bây giờ, có nhà cửa khang trang, con cái học hành thành đạt, các bậc cha mẹ vui mừng và có chút hãnh diện.

Câu hỏi “anh chị qua đây lâu chưa?” hầu như ít ai nhắc đến.

Nhưng rồi lại nảy sinh một câu hỏi khác cũng làm chạnh lòng người.

Một câu hỏi để khoe và nghe để tủi: “Con anh chị học ngành gì? Tốt

nghiệp chưa?”

Người Việt mình có truyền thống hiếu học nên rất coi trọng bằng cấp và những ngành nghề được xem là “danh giá” như bác sĩ, kỹ sư… Nếu con cái mình tốt nghiệp và làm bác sĩ, kỹ sư… thì có chút hãnh diện để khoe. Những ai có con cái học hành không ra gì, nghề nghiệp không vững vàng thì cảm thấy tủi cho phước nhà.

Từ đầu thập niên 2000, cộng đồng người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ bước vào giai đoạn năng động và phát triển mạnh mẽ. Sau nhiều năm vất vả, cần cù, lớp người tị nạn đến từ sau biến cố 1975 (tạm gọi là thế hệ thứ nhất) đã đứng vững trên vùng đất mới. Những khu phố người Việt như Little Saigon ở California hay Eden Center ở Falls Church, VA trở nên đông đúc, phồn thịnh. Báo chí, đài phát thanh, truyền hình phát triển mạnh, tạo nên đời sống văn hóa phong phú.

Đó là quãng thời gian nhiều người Việt nỗ lực xây dựng tương lai cho gia đình với nghị lực phi thường và hăng hái tham gia các hoạt động cộng đồng.

Ngày nào, những đứa trẻ năm, bảy tuổi theo cha mẹ đến miền “đất hứa” sau năm 1975, nay đã trưởng thành — học hành thành đạt và trở thành thế hệ thứ hai hội nhập vững vàng vào tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ.

Chúng tham gia sâu rộng vào đời sống Mỹ - hiện diện trong hầu hết mọi ngành nghề: bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, doanh nhân, viên chức chính quyền, quân đội, truyền thông và cả chính trường…Thế hệ thứ hai vừa giữ được nề nếp văn hóa Việt trong gia đình vừa thích nghi tự nhiên với xã hội Mỹ.

Đây cũng là giai đoạn thế hệ thứ nhất vừa bận rộn vừa bận tâm đến chuyện hôn nhân của con cái. Tuần nào cũng được mời đi dự đám cưới.

Có những đám cưới, người dẫn chương trình “kê khai” bằng cấp, chức danh của cô dâu, chú rể, như một cách đánh bóng cho gia đình. Và trong tiệc cưới, câu hỏi thường nghe là: “Con anh chị học ngành gì? Làm việc ở đâu? Lương bỗng bao nhiêu?” Nghe qua tưởng như câu hỏi thăm bình thường, nhưng lại có ẩn ý khoe khoang và cũng kín đáo dò tìm dâu hiền, rể thảo có học thức ngang với con mình.

Những người thuộc thế hệ thứ nhất hồi tưởng về lúc rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng — ra đi để tìm sự sống trong cái chết. Bây giờ cuộc sống trên quê hương thứ hai đã ổn định - con cái cũng yên bề gia thất; họ muốn về thăm cố hương - viếng mồ mả cha ông, thăm gặp bà con thân thích, bạn bè tri kỷ để tỏ lòng thủy chung với nguồn cội và tình yêu quê hương.

Là con người bình thường, ai cũng mong đời mình có được đôi lần sống trong sự huy hoàng như nhà thơ Xuân Diệu đã viết: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.” Và đây là dịp để một số “người Việt hải ngoại” biến ước mơ thành hiện thực. Họ muốn ngày trở về sao cho xôm tụ - được bà con đón tiếp long trọng, nên tổ chức tiệc tùng chiêu đãi tưng bừng. Tiếp theo, xây cất từ đường bề thế, rồi sửa sang mộ phần của cha ông.

Thực ra, đây là việc làm tốt, có ý nghĩa, nhưng một số người nhân cơ hội này để khoa trương, chơi trội quá lố nên đã biến thành trò cười cho thiên hạ.

Chuyện rằng: Một ông về trước sửa sang mồ mả cha ông; ông về sau cũng tu sửa mộ phần nhưng “hoành tráng” hơn — “tranh nhau lấy tiếng” nên đã xây rồi phá đi, xây lại, sao cho “hoành tráng” hơn. Và cứ thế tiếp tục tiến lên, khiến nhiều khu nghĩa trang xa trông như một khu phố thu nhỏ.

Ngoài những chuyện nêu trên, cộng thêm lối ăn mặc chảnh chọe, cách nhún vai làm dáng kiểu Mỹ và giả giọng lơ lớ như một người Mỹ mới học tiếng Việt, làm cho mấy người này không giống ai - Mỹ chả ra Mỹ. Việt chả ra Việt. Dân ta bèn đặt cho họ cái tên “áo gấm về làng”.

Một dạo “áo gấm về làng” trở thành một phong trào. Các ông, các bà về nước chơi sang - tiệc tùng xôm tụ, tiêu pha vung vít…

Nhưng không phải “người Việt hải ngoại” nào cũng muốn tạo cảnh “áo gấm về làng”. Có nhiều người tự trọng, tỉnh táo, nhận biết được chỗ đứng của mình trên đất khách đối với quê hương đang nghèo khó. Họ chắt chiu và âm thầm gởi tiền về cứu khổ bà con bên nhà với số tiền không ngờ: Năm 2000, lượng kiều hối gởi về Việt Nam được ước tính từ 1,3 đến 1,6 tỷ đô la và con số này tăng rất nhanh trong những năm sau đó: năm 2010 hơn 8 tỷ đô la, năm 2023 khoảng 14 tỷ đô la (1).

Mới ngày nào những con người trốn chui, trốn nhủi - rời bỏ quê hương với hai bàn tay trắng để tìm cuộc sống tự do và tương lai cho con cháu, bị mấy ông quan chức Việt Cộng tìm cách bắt bớ, giam cầm với những lời miệt thị: “Bọn phản quốc, bọn cặn bã xã hội, bọn ôm chân đế quốc …” Nhưng rồi đồng đô la đã làm cho quan chức Việt Cộng đổi giọng - gọi họ là “Việt kiều yêu nước”; một tiếng khác có vẻ bình dân nhưng tha thiết và rất mùi là: “khúc ruột ngàn dặm”- làm người ta cứ tưởng có đô la lận lưng là trở thành người yêu nước.

Nhưng sự đời như đóa phù dung - sớm nở tối tàn - “áo gấm” đã phai màu; “khúc ruột dư ngàn dặm” cũng không còn bốc mùi. Bởi vì từ ngày Mỹ dỡ bỏ cấm vận và chạy theo kinh tế thị trường (có thêm cái đuôi: “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”), mấy ông quan Việt Cộng ăn nên làm ra nhờ những đồng tiền hối lộ và tham nhũng… thì những bữa tiệc chiêu đãi hay vòi vĩnh vài ba trăm đô la bồi dưỡng cán bộ còn có ra chi - coi như chuyện nhỏ. Các ông bà “Việt kiều” không còn được trọng vọng, xênh xang áo gấm về làng như trước. Dân ta kháo nhau: Bây giờ “Việt cộng ngon hơn Việt kiều” (chỗ này phải giải thích cho rõ: Việt cộng là những đảng viên cộng sản có quyền thế và giàu sụ. Còn dân ta là những người không phải Việt cộng, cũng chẳng phải Việt kiều, nên bàng quan đưa ra nhận xét như thế) làm mấy ông bà “Việt kiều” cảm thấy mất hứng, mất oai…

Sự đời lắm nỗi oái oăm. Chuyện vui buồn trong cuộc đời tị nạn kể hoài không dứt. Khi “Áo gấm về làng”, “ruột dư ngàn dặm” trở thành chuyện đời xưa, thì xuất hiện những ông già “Việt kiều” nham nhở — dân ta gọi là “già dịch”. Ngôn ngữ Việt có thêm một tiếng mới.

Ngày xưa, dân Bắc Kỳ có tiếng “già chơi trống bỏi” để cười cợt, châm biếm những ông già thích ăn diện, đua đòi, tán tỉnh, yêu đương nhăn nhít, ham vui như thanh niên. “Già chơi trống bỏi” gần giống nghĩa của chữ “già dịch” bây giờ. Nhưng tiếng “già dịch” còn ẩn chứa sự miệt thị đối với những ông già “Việt kiều” vô liêm sỉ về nước ăn chơi đàn đúm trên nỗi khổ đau của những đứa trẻ đáng tuổi con cháu mình - những đứa trẻ đã chịu đựng biết bao tủi nhục vì miếng cơm manh áo dưới một chế độ không nhìn thấy tương lai.

Qua rồi những chuyện buồn vui trong đời tị nạn. Những người Việt Nam thuộc thế hệ thứ nhất đến Hoa Kỳ sau năm 1975, bây giờ đang bước vào tuổi bảy mươi, tám mươi. Khi gặp nhau, họ đặt những câu hỏi rất thực tế, chân tình. Hỏi để biết, biết để áp dụng hay đề phòng, không còn ẩn ý khoe khoang nữa.

Qua rồi những ngày tháng trần ai, tủi nhục dưới chế độ cộng sản; qua rồi những ngày tháng làm việc cần cù và chắt chiu tiền bạc để nuôi con ăn học. Bây giờ họ sống ung dung và hạnh phúc khi nhìn thấy tương lai tươi sáng đang rộng mở cho thế hệ con cháu của mình trên đất nước Hoa Kỳ.

Dù vậy, những người tị nạn thuộc thế hệ đầu tiên vẫn còn canh cánh bên lòng với quê hương Việt Nam ở bên kia bờ Thái Bình Dương. Một cụ tám mươi tâm sự: Tôi đã chọn nước Mỹ làm quê hương thứ hai, nhưng lòng tôi vẫn cứ cho là đất khách. Tôi mang quốc tịch Mỹ, nhưng cảm thấy chỉ là “Mỹ giấy”

Ôi! Quê hương Việt Nam vẫn còn đau đáu trong lòng người viễn xứ.

LÊ ĐỨC LUẬN

(Tháng 6-2026)

(1) Nguồn: World Bank và Statista.


San jose: Cộng Đồng Việt Nam Không Vui!

 


SAN JOSE: CỘNG ÐỒNG VIỆT NAM KHÔNG VUI!
Trần Long

Sau 50 năm sinh sống tại Hoa Kỳ, cộng đồng người Việt Tị Nạn Cộng Sản đã lớn mạnh và thành công trên nhiều lĩnh vực: khoa học, giáo dục, xã hội, nghề nghiệp, thương mại, chính trị... Trong lĩnh vực chính trị-xã hội đã đến lúc người Việt phải ra ứng cử những chức vụ dân cử ở cấp địa phương, Tiểu bang, Liên bang.

Trên thực tế, khó có một sự phối hợp nào mang lại lợi ích cho Cộng đồng người Việt Tị Nạn Cộng Sản bằng sự phối hợp giữa người dân, bầu cho Ứng cử viên gốc Việt, và sau đó các dân cử gốc Việt quay lại phục vụ cộng đồng người Việt.

Tuy nhiên đời không như là mơ, nên không phải lúc nào chúng ta cũng có những lợi thế như vậy. Kinh nghiệm sinh hoạt ở San Jose, California, người Mỹ gốc Việt đã nhiều lần gặp trở ngại với chính những vị dân cử gốc Việt của mình.

Vào những năm 2008-2012 Cộng đồng San Jose được Thành phố vinh danh muốn đặt tên Việt nam cho một khu vực nhiều người Việt sinh sống trên đường Story Road.

Lúc đó, đa số đồng hương  muốn cái tên Little Saigon, vì cái tên đó nhắc nhở đến thủ đô Sài Gòn thân thương của Việt Nam Cộng Hòa. Một điểm quan trọng hơn nữa là vài năm trước đó, tên Little Saigon ở Nam Cali đã được hình thành và thành phố có ra một nghị quyết các phái đoàn Cộng sản Việt Nam muốn vào khu Little Saigon phải  xin phép trước 2 tuần lễ.

Sự thành công ở Nam Cali đã làm nức lòng nhiều người và gợi hứng thú cho cộng đồng người Việt Tị Nạn Cộng Sản ở khắp mọi nơi; nơi đâu cũng muốn có tên Litle Saigon và cũng có những nghị quyết, đạo luật để cấm những Phái đoàn Cộng sản không được tự tiện đi vào thành phố.

Vì thế hàng ngàn người đã đến tòa Thị chính của Thành phố San Jose đòi hỏi được đặt tên Little Saigon. Người Việt tị nạn cộng sản muốn nhân tên này ra khắp nơi trên nước Mỹ nếu có thể được.

Tuy nhiên, ước muốn này bị cản trở dữ dội, không phải bởi những Nghị viên người Mỹ, mà bởi một Nghị viên gốc Việt.  Nghị viên luôn luôn tìm những lý do này nọ để đặt vào những cái tên khác như "VietNam Town" hay "VietNam Business District"...

Thông thường ở những thành phố không có Nghị viên gốc Việt, Hội đồng Thành phố có khuynh hướng hỏi ý kiến Cộng đồng Việt Nam và cái tên Little Saigon được chấp thuận rất nhanh. Nhưng vì cộng đồng San Jose đã bầu Nghị viên gốc Việt đại diện, thành ra người ta không muốn hỏi ý kiến Cộng đồng nữa. Người ta chỉ hỏi người Nghị viên đại diện cho tiện lợi.

Nghị viên gốc Việt lúc đó là cô Madison Nguyễn và cô cứ lèo lái để tránh cái tên Little Saigon. Cuối cùng sau nhiều năm phải biểu tình, tuyệt thực, tranh đấu, tuần hành Thứ Ba đen trước Tòa Thị chính... cái tên Little Sài Gòn cũng được Thành phố San Jose chấp thuận.

Sau đó Thành phố San Jose biểu quyết cho lập một cái bia ngoài đường Story Road cũng như treo nhiều lá phướn có tên Little Saigon và các biểu tượng văn hóa như Cờ vàng, chợ Bến Thành, Trống đồng...

Cuối cùng cô Nghị viên đó cũng thú nhận là cái tên Little Saigon có âm hưởng chống cộng. Ôi mèn ơi, cộng đồng người Việt Tị Nạn Cộng Sản  mà muốn tránh cái tên có âm hưởng chống cộng, nghĩa là sao ?

Giờ đây 15 năm sau, cũng lại trong một thời kỳ của Nghị viên gốc Việt khác, những lá phướn cũ được lấy xuống, những lá phướn mới được treo lên mà cộng đồng người Mỹ gốc Việt không được hỏi ý kiến. Cũng còn cái tên Little Saigon nhưng hình ảnh của lá cờ Việt Nam Cộng Hòa thân thương cũng như hình ảnh chợ Bến Thành, Trống đồng giờ đây không còn nữa khiến nhiều người ngỡ ngàng.

Khi được hỏi thì Nghị viên này giải thích nào là tôi không phải là người design lá phướn này, luật thành phố bây giờ không còn cho treo cờ của quốc gia khác nữa... Tuy nhiên có vẽ không có lời giải thích nào đứng vững vì những dấu hiệu văn hóa của cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã được bỏ đi và thay thế bằng một lá cờ của một đội banh lên đó.

Mặt khác nói là lá cờ vàng cũng không đúng vì đó chỉ là một hình ảnh cờ vàng đã được nhân viên city hướng dẫn làm biến dạng đi để chỉ còn là một biểu tượng thiêng liêng và thân thương của người Việt mà thôi. Trên lá phướn mới có hình ảnh lá cờ của 1 đội banh, có thể vì lý do kinh tế: đội banh hỗ trợ chi phí.

Nếu muốn, người ta vẫn có thể kết hợp hài hòa giữa hình ảnh văn hóa Việt và hình ảnh kinh tế của đội banh.

Người ta tự hỏi tại sao mỗi khi Nghị viên gốc Việt được bầu lên là cộng đồng rất hồi hộp vì thường có những sự việc không hợp lý xảy ra, dù họ thường xưng là gia đình họ là gia đình lính VNCH. Lý do tiềm ẩn phía sau là gì ? bị mua chuộc, tiền, chính trị, thù hận ?  Cộng đồng có thể đoán lý do nầy nọ nhưng vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng.

Tình hình của người Mỹ gốc Việt tại khu vực Bắc Cali hiện không được vui. Không lẽ phải mang cờ, biểu ngữ bước vào một cuộc đấu tranh mới với những cuộc biểu tình, với những cuộc tuần hành thứ Ba đen trước Văn Phòng Thành Phố San Jose như 15 năm trước ?

Trân trọng,
Trần Long.



Bộ Nội An Hoa Kỳ Chấp Thuận Kế Hoạch Kiểm Tra Quốc Tịch Cử Tri Và Theo Dõi Phiếu Bầu Qua Thư

 


BỘ NỘI AN HOA KỲ CHẤP THUẬN KẾ HOẠCH KIỂM TRA QUỐC TỊCH CỬ TRI VÀ THEO DÕI PHIẾU BẦU QUA THƯ
Fox News

Bộ Nội an Hoa Kỳ đã chấp thuận một kế hoạch mới nhằm hỗ trợ các tiểu bang xác minh quốc tịch của cử tri ghi danh bầu cử, đồng thời theo dõi lưu lượng phiếu bầu qua thư để phát hiện các dấu hiệu bất thường có thể liên quan đến gian lận bầu cử.

Theo hồ sơ nộp lên tòa án ngày thứ Sáu, kế hoạch này đã được Bộ Nội an phê chuẩn hôm thứ Năm và dự kiến sẽ được khai triển trước cuối tháng 6.

Theo đề án, các tiểu bang sẽ được phép đệ trình toàn bộ danh sách cử tri ghi danh của mình vào một cơ sở dữ liệu di trú liên bang để kiểm tra tình trạng quốc tịch và tư cách hội đủ điều kiện bầu cử.

Các viên chức phụ trách bầu cử tại tiểu bang cũng sẽ được cấp quyền truy cập an toàn vào các dữ kiện quốc tịch do các cơ quan liên bang quản trị.

Những cơ quan này bao gồm Cơ quan An sinh Xã hội và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Bộ Nội an cũng dự định phối hợp với Bưu điện Hoa Kỳ để theo dõi lưu lượng phiếu bầu khiếm diện và phiếu bầu qua thư.

Theo hồ sơ pháp lý, mục tiêu của chương trình là nhận diện các mô thức bất thường, phát hiện các dấu hiệu có thể liên quan đến gian lận bầu cử và tạo ra các đầu mối điều tra hợp pháp.

Kế hoạch này được thực hiện sau sắc lệnh hành pháp do Tổng thống Trump ký ngày 31 tháng 3 với tựa đề "Bảo đảm Xác minh Quốc tịch và Tính Toàn vẹn trong Bầu cử Liên bang".

Sắc lệnh yêu cầu thiết lập các danh sách quốc tịch tại tiểu bang và giao cho Bộ Nội an xác định những công dân Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên để chia sẻ dữ kiện với giới chức bầu cử tiểu bang.

Sắc lệnh cũng quy định rằng Bưu điện Hoa Kỳ không được phát phiếu bầu qua thư cho bất kỳ ai không có tên trong danh sách tham gia bỏ phiếu qua thư và bỏ phiếu khiếm diện do tiểu bang cung cấp.

Theo quy định được đề nghị, mọi phong bì phiếu bầu qua thư gửi ra ngoài phải mang dấu hiệu "Official Election Mail" cùng một mã số theo dõi riêng biệt.

Mục tiêu là xác nhận rằng chỉ có công dân hội đủ điều kiện mới tham gia bỏ phiếu.

Theo hồ sơ ngày 5 tháng 6, các tiểu bang sẽ được phép sử dụng toàn bộ danh sách cử tri để đối chiếu với hệ thống SAVE, tức chương trình Xác minh Có Hệ thống dành cho các Quyền lợi Liên bang.

Hệ thống này sẽ so sánh dữ kiện cử tri với các hồ sơ di trú và quốc tịch của chính phủ liên bang, bao gồm cả dữ kiện từ Cơ quan An sinh Xã hội.

Kế hoạch cũng bao gồm việc thiết lập một hệ thống trực tuyến an toàn cho phép viên chức bầu cử tiểu bang kiểm tra trực tiếp tình trạng quốc tịch thông qua các cơ quan liên bang.

Các cơ quan tham gia gồm Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ, Cơ quan An sinh Xã hội và Bộ Ngoại giao.

Theo kế hoạch, dữ kiện sẽ vẫn được lưu giữ bên trong hệ thống của từng cơ quan liên bang.

Các viên chức tiểu bang sẽ thực hiện việc kiểm tra thông qua cổng truy cập an toàn mà không cần chuyển giao toàn bộ dữ kiện ra ngoài hệ thống.

Nguồn: Fox News
Tin Hoa Kỳ by VLKT News


Tin Tức Cộng Đồng: Dân Biểu Trí Tạ District 70 - Chương Trình Dịch Vụ Hỗ Trợ Tại Gia (IHSS) Giúp Người Cao Tuổi Và Người Khuyết Tật

 


Tin Tức Cộng Đồng: DÂN BIỂU TRÍ TẠ DISTRICT 70 - CHƯƠNG TRÌNH DỊCH VỤ HỖ TRỢ TẠI GIA (IHSS) GIÚP NGƯỜI CAO TUỔI VÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
batkhuat nguyen

TIN TỨC CỘNG ĐỒNG: DÂN BIỂU TRÍ TẠ DISTRICT 70 - Chương trình Dịch vụ Hỗ trợ Tại gia (IHSS) G iúp người cao tuổi và người khuyết tật

Hôm nay, tôi đã cùng Dân biểu Jeff Gonzalez kêu gọi Thống đốc và ban lãnh đạo cơ quan lập pháp hủy bỏ đề xuất cắt giảm 367,7 triệu đô la ngân sách dành cho chương trình Dịch vụ Hỗ trợ Tại gia (IHSS). IHSS giúp người cao tuổi và người khuyết tật có thể tiếp tục sinh sống an toàn tại nhà; việc cắt giảm ngân sách này sẽ đe dọa khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc thiết yếu của những cư dân dễ bị tổn thương nhất tại California.

Today, I joined Assemblyman Jeff Gonzalez in calling on the Governor and legislative leadership to reverse the proposed $367.7 million cut to In-Home Supportive Services. IHSS helps seniors and individuals with disabilities remain safely in their homes, and these cuts would put essential care at risk for some of California’s most vulnerable residents.


Tin Mới 8/6: Đảng Dân Chủ Bị Đánh Bại Thảm Hại Tại California! Cộng Hòa Giành Chiến Thắng Vang Dội

 


TIN  MỚI 8/6: ĐẢNG DÂN CHỦ BỊ ĐÁNH BẠI THẢM HẠI TẠI CALIFORNIA! CỘNG HÒA GIÀNH CHIẾN THẮNG VANG DỘI
BTV EPOCH NEWS


Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 



Phóng Viên Phỏng Vấn, Khủng Bố Ép Cung Hay Quan Tòa Buộc Tội?

 

 (hình ảnh từ internet)

PHÓNG VIÊN PHỎNG VẤN, KHỦNG BỐ ÉP CUNG HAY QUAN TÒA BUỘC TỘI?
Triều Giang

Phóng viên phỏng vấn, Khủng bố ép cung hay Quan tòa buộc tội?

Bài học nghề nghiệp từ cuộc đối thoại căng thẳng giữa Kristen Welker (NBC) và Tổng thống Donald Trump tại Wisconsin

Tôi bước vào nghề báo từ đầu thập niên 1970. Trong hơn nửa thế kỷ cầm bút, tôi đã có cơ hội phỏng vấn hàng ngàn người thuộc mọi tầng lớp xã hội, từ những người dân bình thường đến các chính khách, lãnh đạo tôn giáo, doanh nhân và các nguyên thủ quốc gia. Qua từng ấy năm làm nghề, tôi học được một điều giản dị nhưng vô cùng quan trọng: nhà báo có thể đặt những câu hỏi khó nhất, sắc bén nhất, nhưng không được tự biến mình thành quan tòa.

IMG_7030 (1).jpg

Cuộc phỏng vấn trong nhà kho lợp tôn dưới cơn tại Wiscousin cuối tuần qua


Chính vì vậy, khi theo dõi cuộc phỏng vấn kéo dài gần một giờ giữa ký giả Kristen Welker của chương trình Meet The Press thuộc đài NBC và Tổng thống Donald Trump trong một căn nhà kho lợp tôn giữa cơn mưa tại Wisconsin, tôi vừa tiếc nuối vừa thấy đây là một bài học nghề nghiệp đáng giá cho những người làm truyền thông.

Trước hết, cần ghi nhận rằng Kristen Welker đã được trao một cơ hội hiếm có. Không phải ký giả nào cũng được một đương kim Tổng thống Hoa Kỳ dành cho gần một giờ đồng hồ để trao đổi về những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và thế giới.

Trong phần lớn thời gian của cuộc phỏng vấn, hai bên đã thảo luận về chiến tranh Trung Đông, tình hình kinh tế Hoa Kỳ, giá xăng dầu, lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, chính sách thương mại, việc bổ nhiệm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (FED) và nhiều vấn đề thời sự khác. Đó là những nội dung mà công chúng thực sự quan tâm và đáng lẽ có thể đem lại nhiều thông tin giá trị.

Thế nhưng cuộc phỏng vấn bắt đầu chuyển hướng khi hai bên đề cập đến cuộc bầu cử tổng thống năm 2020.

Ông Trump tiếp tục khẳng định quan điểm quen thuộc của mình rằng cuộc bầu cử năm 2020 có những dấu hiệu bất thường và bị đánh cắp. Ông cũng viện dẫn việc kiểm phiếu kéo dài nhiều ngày tại California như một lý do khiến ông nghi ngờ tính minh bạch của hệ thống bầu cử.

Người đọc có thể hoàn toàn không đồng ý với những tuyên bố đó. Tôi cũng không bàn ở đây đúng hay sai của các cáo buộc liên quan đến cuộc bầu cử năm 2020. Điều tôi muốn đề cập là phương pháp tác nghiệp của người phỏng vấn. Trong nghề báo, cách đặt câu hỏi đôi khi quan trọng không kém nội dung câu trả lời.

Trong đoạn đối thoại được công bố, Kristen Welker liên tục ngắt lời ông Trump bằng những câu như:

"There’s no evidence of that, sir."

"But sir, there’s no evidence of that."

"That’s not evidence."

"You’ve never presented evidence."

Chỉ trong vài phút, cụm từ "không có bằng chứng" được lặp đi lặp lại nhiều lần.

Ở đây cần phân biệt rõ một nguyên tắc căn bản của nghề báo.

Nhà báo có quyền chất vấn người được phỏng vấn về bằng chứng. Đó là trách nhiệm nghề nghiệp. Nhưng nhà báo không phải là điều tra viên, không phải công tố viên và càng không phải là quan tòa.

Một câu hỏi mang tính báo chí có thể được đặt như sau:

"Thưa Tổng thống, nhiều chuyên gia bầu cử và nhiều tòa án cho rằng những lập luận ông đưa ra chưa đủ để chứng minh có gian lận quy mô lớn. Ông phản hồi thế nào trước nhận định đó?"

Đó là cách đặt vấn đề mở, cho phép người được phỏng vấn trình bày lập luận của mình, đồng thời giúp công chúng nghe được cả hai phía.

Ngược lại, khi người phỏng vấn liên tục khẳng định:

"Ông không có bằng chứng."

thì vai trò của người đặt câu hỏi bắt đầu chuyển thành vai trò của người đưa ra phán quyết.

image.png

Thái độ và biểu cảm của PV Kristen Welker vào phần cuối của cuộc phỏng vấn


Theo cảm nhận của tôi, đây là thời điểm Kristen Welker bắt đầu đi quá vai trò của một ký giả.

Một nhà báo trung thực và công bằng có thể dẫn lại ý kiến phản biện của các chuyên gia, của tòa án hoặc của một bộ phận dư luận. Nhưng việc liên tục tự mình đưa ra kết luận rằng người đối diện "không có bằng chứng" khiến cuộc đối thoại không còn là quá trình tìm kiếm sự thật mà trở thành một cuộc tranh luận giữa hai quan điểm đối nghịch.

Điều đáng tiếc là chính cách tiếp cận này đã làm cho cuộc phỏng vấn trở nên đối đầu thay vì khai mở thông tin.

Nếu ông Trump sai, hãy để ông trình bày đầy đủ lập luận của mình rồi dùng dữ kiện để phản biện.

Nếu ông Trump đúng, công chúng cũng có quyền được nghe.

Trong cả hai trường hợp, người hưởng lợi phải là khán giả chứ không phải cái tôi của người phỏng vấn.

Càng về cuối cuộc trao đổi, bầu không khí càng trở nên căng thẳng. Những vấn đề chính sách dần bị thay thế bằng các lời công kích cá nhân. Ông Trump bắt đầu chỉ trích NBC, Meet The Press và chính Kristen Welker.

Đó thường là dấu hiệu cho thấy cuộc phỏng vấn đã thất bại trong việc duy trì vai trò truyền thông và chuyển thành một cuộc đối đầu cá nhân.

Khoảnh khắc đáng chú ý nhất là khi ông Trump tuyên bố:

"Let's call it quits because I've had enough."

Ông đứng dậy chấm dứt cuộc phỏng vấn.

Sau đó Kristen Welker nói:

"Mr. President, we traveled all the way to Wisconsin for this interview."

Đối với tôi, đó không phải là câu nói mạnh mẽ mà ngược lại là một phản ứng khá vụng về.

Việc phóng viên phải đi đến Wisconsin để thực hiện cuộc phỏng vấn là trách nhiệm nghề nghiệp của chính phóng viên và cơ quan truyền thông. Điều đó không tạo ra nghĩa vụ buộc người được phỏng vấn phải tiếp tục cuộc trò chuyện khi họ cho rằng cuộc đối thoại không còn mang tính xây dựng.

Theo kinh nghiệm của tôi, một cuộc phỏng vấn thành công không phải là cuộc phỏng vấn mà người phỏng vấn áp đảo được người đối diện.

Một cuộc phỏng vấn thành công là cuộc phỏng vấn khiến người được phỏng vấn tự bộc lộ suy nghĩ, lập luận, điểm mạnh và cả những điểm yếu của mình trước công chúng.

Muốn vậy, người làm báo phải biết đặt câu hỏi đúng cách.

Tôi từng phỏng vấn hàng ngàn người trong hơn 50 năm làm nghề. Chưa bao giờ tôi nghĩ rằng muốn có câu trả lời mình cần thì phải lớn tiếng hơn, hung hăng hơn hay cố ép người đối diện phải chấp nhận nhận định của mình.

Ngược lại, càng là những nhân vật khó phỏng vấn, người làm báo càng phải kiên nhẫn, bình tĩnh và khéo léo.

Nghề báo vốn là nghề của sự tìm hiểu và khai mở.

Nhà báo không phải cảnh sát lấy khẩu cung.

Nhà báo không phải công tố viên truy tố.

Nhà báo cũng không phải quan tòa kết án.

Ngay cả trong một phiên tòa, trước khi đưa ra phán quyết, bị cáo vẫn được quyền trình bày chứng cứ, gọi nhân chứng và tự bào chữa cho mình.

Thế nhưng trong cuộc phỏng vấn này, theo cảm nhận của tôi, Kristen Welker đã vô tình đảm nhận cả ba vai trò cùng một lúc: người điều tra, người buộc tội và người phán xét.

Kết quả là cuộc phỏng vấn kết thúc trong căng thẳng, không đem lại thêm nhiều thông tin mới cho công chúng và cuối cùng trở thành câu chuyện về người phỏng vấn nhiều hơn là những vấn đề quốc gia đáng lẽ phải được thảo luận.

Tôi không xem đây là thất bại của riêng Kristen Welker. Tôi xem đây là một bài học nghề nghiệp quý giá cho tất cả những người làm truyền thông.

Trong thời đại mạng xã hội, nhiều nhà báo bị cuốn vào áp lực phải tạo ra những khoảnh khắc gây sốc, những cuộc đối đầu kịch tính hoặc những đoạn video lan truyền mạnh mẽ. Nhưng nhiệm vụ cốt lõi của báo chí vẫn không thay đổi: tìm kiếm sự thật, lắng nghe nhiều phía và giúp công chúng hiểu vấn đề sâu sắc hơn.

Một nhà báo giỏi không phải là người chiến thắng trong cuộc tranh luận với người được phỏng vấn.

Một nhà báo giỏi là người giúp công chúng tìm thấy sự thật thông qua cuộc đối thoại đó.

Nhà báo không phải cảnh sát lấy cung. Nhà báo không phải công tố viên truy tố. Nhà báo cũng không phải quan tòa kết án. Nhà báo là người mở cánh cửa đối thoại để công chúng tự mình nhìn thấy sự thật.

Khi người làm báo quên điều đó, cuộc phỏng vấn không còn là truyền thông nữa mà trở thành một cuộc đấu khẩu.

Và trong những cuộc đấu khẩu như vậy, người thua cuộc cuối cùng thường không phải là người được phỏng vấn mà chính là công chúng.

Link của bài chuyển ngữ cuộc phỏng vấn: https://www.nbcnews.com/politics/donald-trump/read-transcript-president-donald-trump-interviewed-nbc-news-meet-press-rcna348508

TG

(06/2026)

English version

Reporter, Interrogator, or Judge?

A Lesson for Journalists from the Exchange Between Kristen Welker and President Donald Trump

By Trieu Giang (images from the Internet)

I entered the profession of journalism in the early 1970s. Over more than half a century with pen in hand, I have had the opportunity to interview thousands of people from all walks of life, from ordinary citizens to politicians, religious leaders, business executives, and heads of state. Through all those years in the profession, I learned one simple but profoundly important lesson: a journalist may ask the toughest and most probing questions, but must never transform himself or herself into a judge.

For that reason, as I watched the nearly hour-long interview between Kristen Welker of NBC's Meet the Press and President Donald Trump in a corrugated-metal shed during a rainstorm in Wisconsin, I felt both disappointment and a sense that this interview offered a valuable lesson for members of the media.

First, it must be acknowledged that Kristen Welker was given a rare opportunity. Not every journalist is granted nearly an hour with a President of the United States to discuss some of the most important issues facing the nation and the world.

For much of the interview, the two discussed the Middle East conflict, the U.S. economy, gasoline prices, inflation, unemployment, trade policy, the appointment of a new Chair of the Federal Reserve, and many other pressing issues. These are subjects that genuinely matter to the public and could have provided valuable insights.

However, the interview began to take a different turn when the discussion shifted to the 2020 presidential election.

President Trump repeated his long-held position that the 2020 election showed signs of irregularities and had been stolen. He also cited California's prolonged vote-counting process as one reason for his skepticism about the integrity of the electoral system.

Readers may completely disagree with those claims. I am not writing here to determine whether the allegations concerning the 2020 election are true or false. What interests me is the interviewing method itself. In journalism, the way a question is asked can sometimes be just as important as the answer.

During the published exchange, Kristen Welker repeatedly interrupted President Trump with statements such as:

"There's no evidence of that, sir."

"But sir, there's no evidence of that."

"That's not evidence."

"You've never presented evidence."

Within only a few minutes, the phrase "no evidence" was repeated over and over again.

Here, it is important to distinguish a fundamental principle of journalism.

A journalist has every right—and indeed a professional obligation—to ask an interviewee for evidence. But a journalist is not an investigator, not a prosecutor, and certainly not a judge.

A journalistic question could have been framed this way:

"Mr. President, many election experts and courts have concluded that the arguments you've presented do not establish evidence of widespread election fraud. How do you respond to those assessments?"

That is an open-ended question. It allows the interviewee to present his reasoning while also informing the audience of opposing viewpoints.

By contrast, when the interviewer repeatedly declares:

"You have no evidence,"

the role of the questioner begins to shift into the role of someone delivering a verdict.

In my view, this is the moment when Kristen Welker began moving beyond the traditional role of a journalist.

An honest and fair journalist may cite experts, court decisions, or public opinion. But when the journalist repeatedly presents her own conclusion that the interviewee "has no evidence," the conversation ceases to be a search for truth and becomes a debate between two opposing positions.

Unfortunately, that approach transformed the interview into a confrontation rather than an opportunity for public understanding.

If President Trump is wrong, allow him to fully present his arguments and then challenge them with facts.

If he is right, the public has a right to hear that as well.

In either case, the beneficiary should be the audience, not the ego of the interviewer.

As the interview progressed, the atmosphere became increasingly tense. Policy discussions gradually gave way to personal attacks. President Trump began criticizing NBC, Meet the Press, and Kristen Welker herself.

That is often a sign that an interview has failed to maintain its journalistic purpose and has devolved into a personal confrontation.

The most notable moment came when President Trump declared:

"Let's call it quits because I've had enough."

He stood up and ended the interview.

Kristen Welker then responded:

"Mr. President, we traveled all the way to Wisconsin for this interview."

To me, that was not a powerful statement. On the contrary, it seemed rather awkward.

Traveling to Wisconsin to conduct the interview was part of the journalist's professional responsibility and the network's decision. It does not create an obligation on the part of the interviewee to continue a conversation he believes is no longer constructive.

In my experience, a successful interview is not one in which the interviewer dominates the other person.

A successful interview is one in which the interviewee reveals his thinking, his arguments, his strengths, and even his weaknesses before the public.

To achieve that, a journalist must know how to ask the right questions.

I have interviewed thousands of people during more than fifty years in journalism. Never once did I believe that obtaining the answers I sought required me to become louder, more aggressive, or more determined to force the interviewee to accept my conclusions.

On the contrary, the more difficult the subject, the more patience, composure, and skill the journalist must demonstrate.

Journalism is fundamentally a profession of inquiry and discovery.

A journalist is not a police officer conducting an interrogation.

A journalist is not a prosecutor seeking a conviction.

A journalist is not a judge handing down a sentence.

Even in a courtroom, before a verdict is reached, the accused is given an opportunity to present evidence, call witnesses, and defend himself.

Yet in this interview, it seemed to me that Kristen Welker inadvertently assumed all three roles at once: investigator, prosecutor, and judge.

The result was an interview that ended in tension, produced little new information for the public, and ultimately became more of a story about the interviewer than about the important national issues that should have been discussed.

I do not view this as Kristen Welker's failure alone. Rather, I see it as a valuable lesson for all media professionals.

In the age of social media, many journalists are drawn into the pressure of creating viral moments, dramatic confrontations, and attention-grabbing exchanges. But the core mission of journalism has not changed: to seek truth, listen to multiple perspectives, and help the public understand issues more deeply.

A great journalist is not the person who wins an argument with an interview subject.

A great journalist is the person who helps the public discover the truth through that conversation.

A journalist is not a police interrogator. A journalist is not a prosecutor. A journalist is not a judge. A journalist is someone who opens the door to dialogue so that the public can see the truth for themselves.

When journalists forget that mission, an interview ceases to be journalm and becomes merely an argument.

And in such arguments, the ultimate loser is often not the interview subject—but the public itself.

Link to the interview transcript:

TG
(June 2026)


Khai Dụng Chế Tài Mậu Dịch Để Thúc Đẩy Nhân Quyền Và Dân Chủ

 

Hình 1 – Tại buổi tiếp xúc TNS James Lankford (Cộng Hòa, Oklahoma) để bàn cách trừng phạt mậu dịch vì đàn áp tôn giáo

KHAI DỤNG CHẾ TÀI MẬU DỊCH ĐỂ THÚC ĐẨY NHÂN QUYỀN VÀ DÂN CHỦ
Mạch Sống 

Khai dụng chế tài mậu dịch để thúc đẩy nhân quyền và dân chủ

2026-06-09

  • Cú hích nhẹ đáng giá nhiều tỉ Mỹ kim thuế quan

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Ngày 9 tháng 6, 2026

https://machsongmedia.org

Tại buổi họp Bàn Tròn Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế gần đây ở Quốc Hội Hoa Kỳ, tôi chia sẻ cách BPSOS khai dụng chính sách mậu dịch Hoa Kỳ để thúc đẩy tự do tôn giáo ở Việt Nam. Tôi đề nghị là cùng nhau dồn sức vận động áp thuế quan lên 2 quốc gia mỗi năm. Dĩ nhiên Việt Nam sẽ là một trong 2 quốc gia cho năm nay. Đại diện các tổ chức có mặt, đều là các đối tác và thân hữu từ nhiều năm, tỏ ra hời hợt. Tôi gửi email đến họ sau đó để nhắc nhở nhưng không được phản hồi. Tôi không ngạc nhiên vì biết rằng họ cần thời gian suy ngẫm và cân nhắc cách làm mới mẻ này, và định bụng BPSOS dấn thân đi trước và kết quả sẽ thu hút sự chú ý của họ theo sau.

Và kết quả đầu tiên là chính phủ Hoa Kỳ vừa công bố Việt Nam phải đối mặt 12.5% thuế quan phụ trội vì dung dưỡng lao động cưỡng bức. Nếu áp dụng lên mọi mặt hàng từ Việt Nam thì sẽ là 25 tỉ Mỹ kim. Dù chỉ áp dụng lên một số mặt hàng cũng là vài tỉ Mỹ kim.

Đây mới chỉ là đợt đầu. Một cú hích nhẹ. Tôi chờ thêm quyết định của Hoa Kỳ trong 2 đợt điều tra Việt Nam kế tiếp, với những cú hích mạnh hơn, trước khi nhắc lại với các tổ chức thân hữu kế hoạch đã trình bày nhưng không ai để ý.

Hình 1 – Tại buổi tiếp xúc TNS James Lankford (Cộng Hòa, Oklahoma) để bàn cách trừng phạt mậu dịch vì đàn áp tôn giáo

Phương pháp lồng khung lại

Cách nào để nối kết các lĩnh vực nhân quyền với mậu dịch?

Trong khoá đào tạo 12 tháng do BPSOS thực hiện từ năm 2015 đến giờ, tôi giảng về một kỹ năng vô cùng quan trọng: reframing (lồng khung lại). Theo đó, gói ghém nội dung cũ vào bối cảnh mới. Đó chính là phương pháp để nối kết các vấn đề nhân quyền, như tự do tôn giáo, tự do báo chí, quyền người lao động, quyền người bản địa và nhiều nữa, cũng như thể chế pháp quyền với mậu dịch. Hãy lấy một ví dụ.

Luật Đầu Tư của Việt Nam ưu đãi các công ty hoạt động trong đặc khu kinh tế: giảm mức thuế thu nhập có thể xuống còn 10%, miễn thuế trong 4 năm đầu và giảm 50% thuế cho 9 năm kế tiếp, miễn thuế nhập cảng thiết bị và nguyên liệu, miễn tiền thuê đất 15 năm…

Năm 2009, chính quyền Lâm Đồng và Đắk Nông thu hồi 128,500 mẫu đất của người Thượng bản địa để giao cho 2 nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ khai thác bauxite trong dự án hợp doanh giữa công ty Việt nam VINACOMIN và công ty quốc doanh China là CHALCO.

Việc thu hồi đất ảnh hưởng 1600 hộ gia đình người Thượng bản địa. Các cuộc biểu tình của họ bị đàn áp dã man. Nhiều người đấu tranh nhân quyền, nhà báo, blogger và lãnh đạo tinh thần lên tiếng cho họ đã bị bắt và bỏ tù. Nổi bật, Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ đứng đơn kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và bị kết án tù 7 năm.

Từ bauxite, 2 nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ hiện sản xuất 1.3 triệu tấn nhôm, vượt xa nhu cầu tiêu thụ nội địa. Phần thặng dư được bán tháo vào Hoa Kỳ với giá rẻ, gây thiệt hại cho các công ty Hoa Kỳ, ảnh hưởng việc làm của công nhân Hoa Kỳ, và gây thất thoát cho nền kinh tế Hoa Kỳ. Việc lấy đất của người Thượng bản địa không bồi thường thỏa đáng tạo nên sự bất quân bình trong mậu dịch  cho Hoa Kỳ. BPSOS đề nghị USTR tăng mức thuế quan, hiện là 50%, lên các mặt hàng nhôm mà Việt Nam xuất cảng sang Hoa Kỳ.

Phản ứng của nhà nước Việt Nam

Khi chính phủ Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt vì vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo, Bộ Ngoại Giao Việt Nam luôn luôn phản bác, cáo buộc rằng đó là quyết định sai lầm do dựa vào thông tin không trung thực của thành phần có ác ý – họ ám chỉ BPSOS.

Tuy nhiên, ngày 2 tháng 6 vừa qua, khi Văn Phòng Đại Diện Mậu Dịch Hoa Kỳ liệt kê Việt Nam vào Hạng 2 do vi phạm nghiêm trọng về lao động cưỡng bức và đề nghị áp thuế quan phụ trội là 12.5%, nhà nước Việt Nam chỉ than vãn rằng Hoa Kỳ chưa để ý thích đáng đến các nỗ lực của Việt Nam trong thời gian qua và hứa sẽ hợp tác với Hoa Kỳ. Tại sao lại mềm mỏng đến thế? Đấy là vì phát biểu linh tinh có thể sẽ gây thiệt hại thêm vài tỉ Mỹ kim.

Bản tin của BPSOS, bình thường nếu bất lợi cho nhà nước Việt Nam, đều bị tràn ngập với nhiều trăm lời bình luận nhảm nhí của các dư luận viên. Còn bản tin về công bố vừa qua của USTR thì chỉ có đúng 4 ý kiến của dư luận viên, mang tính cách thở than. Tại sao? Vì Việt Nam đang nằm trong 2 đợt điều tra nữa của USTR. BPSOS đang vận động đợt điểu tra thứ 4, rộng hơn, bao quát hơn và sâu hơn. Các phát biểu vô ý tứ của dư luận viên không chừng gây thiệt hại thêm hàng tỉ Mỹ kim cho nhà nước.

Cách nào để vận dụng biện pháp chế tài mậu dịch

Nối kết quyền người bản địa và tình trạng “dân oan” với mậu dịch chỉ là một ví dụ. Chúng tôi đã cung cấp nhiều trường hợp khác nữa cho USTR, sẽ được tuần tự phân tích trong các bài viết trên trang Mạch Sống Media.

Qua đó nhiều ví dụ, người Việt ở hải ngoại sẽ am tường hơn về cách thức lồng khung lại các vấn đề nhân quyền, pháp quyền, dân chủ cho Việt nam trong bối cảnh mậu dịch. Khi ấy, nhà nước Việt Nam sẽ phải cân nhắc nguy cơ hứng chịu hàng tỉ hoặc hàng chục tỉ Mỹ kim thiệt hại.

Bài liên quan:

Việt Nam gian lận trong mậu dịch: Có thể bị Hoa Kỳ đánh thuế quan phụ trội 12.5%

Vì tương lai quốc dân, hãy cùng nhau lên đường

The post Khai dụng chế tài mậu dịch để thúc đẩy nhân quyền và dân chủ appeared first on Mach Song Media - Nhà.

Mạch Sống