Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

Tiếng Sét Ái Tình

 


TIẾNG SÉT ÁI TÌNH 


Nhạc: Thanh Ngọc
Thơ: Như Nguyệt
Trình bầy: Giada Nguyễn

https://www.youtube.com/watch?v=7UVxwWHS5vo

Tiếng sét ái tình

Nhớ lần đầu mình gặp
Anh rụng rời tay chân
Nhìn em quên trời đất

Chăm chăm nhìn mê mẫn
Tim đập mạnh thình thình!

Tiếng sét, sét ái tình
Đánh vào tim thình lình
Làm ngất ngư, choáng váng

Anh muốn ngã loạng choạng

Ngất ngư không kịp đỡ...

Yêu em tình mênh mang

Ôi, tiếng sét ái tình

Anh nghe thiên hạ tả
Họ bị đánh nghiêng ngã
Nhưng chẳng bao giờ tin
Không ngờ đến phiên mình!

Bèn đầu hàng, chịu thua
Dâng đời cho công chúa
Yêu em vô điều kiện
Không cần biết ác, thiện
Tình nguyện yêu mù quáng

Anh không hề muốn thoát
Khỏi vòng tay em yêu


Như Nguyệt


Tiếng Sét Ái Tình 2

Nhớ lần đầu mình gặp
Anh như bị hớp hồn

Nhìn em không chớp mắt

Em xinh ơi là xinh!

Tim anh đập thình thình
Ôi tiếng sét ái tình
Đánh vào tim thình lình
Làm chới với, chơi vơi!

“Coup de foudre”, “lightning strike”
Anh yêu em “love at first sight”
Anh nghe thiên hạ tả
Họ bị đánh nghiêng ngã
Nhưng chẳng bao giờ tin
Không ngờ đến phiên mình!

Bèn đầu hàng, chịu thua
Dâng đời cho công chúa
Yêu em vô điều kiện
Không cần biết ác, thiện

Yêu em, tình muôn niên

Tiếng sét ái tình, anh nhớ em triền miên
Tiếng sét ái tình, ôi mê say đảo điên
Từ phút đầu gặp gỡ yêu đến cuối cuộc đời!
Tình nguyện yêu mù quáng, anh yêu em đầy vơi! 


Như Nguyệt

Chớm Thu

 


CHỚM THU 
Nhất Hùng 

Trân trọng 
NHHN 

Ký Ức VNCH

 

(Hình một em thiện nguyện ở Úc đang bưng Phở cho các ACE trong Cộng Đồng) 

KÝ ỨC VNCH
TQĐ

Mỗi đầu tháng thì trụ sở… gì gì đó mà cái tên dài thòng, tui cứ gọi tắt là Cộng Đồng cho tiện. 

Mấy anh chị thiện nguyện nấu đồ ăn, bán giá rẻ. Hỏng biết có lời hay huề vốn không. Nhưng chủ yếu là có cớ cho đồng hương người Việt tụ họp. Người Việt ở đây là VNCH cũ. 

Chớ người Việt không ưa lá cờ vàng bây giờ là đa số. Họ không đến.

Tui cũng nghĩ những người đến đây thuộc thế hệ của tui, cũng là bảy tám bó. Nhưng không phải. Người trẻ nhiều. Hỏi một em sao tháng nào cũng có mặt vậy? Em nói khoái mấy ông bà già ở đây. Lớn tuổi nhưng không già. Thân thiện, vui vẻ, thần thái… Chính điều này làm các cháu giảm stress. Mấy chục năm họ tụ họp ở đây, không giúp nhau về tiền bạc. Mà giúp nhau về tinh thần.

Tui xuống nhà bếp nhìn mấy chị nấu nướng. Bữa nay có món phở. Tháng trước tui nhớ là món hủ tíu Nam Vang. Nấu cho Cộng Đồng, mấy chị biết ý, cái gì cũng phải… mềm. Tái nạm gầu gân bò viên lá sách gì cũng … khỏi nhai hết thì mới đúng gu. Dĩ nhiên một số chị vẫn thích phở tái giá trụng. Gọi là… tái giá. Tui thì : cho một tô “tả pí lù”.

Có một sân khấu nhỏ, nghe nói cũng anh hay chị nào đó mê văn nghệ mà không được… lên sân khấu. Nên bỏ tiền túi ra dựng một sân khấu với đủ đồ chơi. Mà đồ “xịn” chớ không phải đồ rẻ tiền. Ý là hát … trung bình thì phải có đồ tốt… nâng lên đó mà (sorry, nói đùa nghe). 

Dĩ nhiên âm thanh phải đi kèm ánh sáng cộng TV vài chiếc để phục vụ các dành ca, ý quên không có dấu. 

Làm cho đã, chợt nhìn lại, sân khấu đối diện với bàn thờ Tổ Quốc, nghiêm trang và nhang khói. Không được rồi. Ca sĩ thì phải nhún nhảy chút chớ. Lỡ rồi biết làm sao. May mà có sáng kiến, một tấm màn nhung dày kéo che khi con cháu vui chơi. Mà phải công nhận dân mình mê hát, già cũng như trẻ. Có một nhóm chuyên hát cải lương cũng thường tập dượt ở đây. Vài nhóm múa mượn hội trường…

Để có một nơi riêng tư cho cộng đồng như vậy, các người đi trước cũng bỏ công sức khá nhiều. Ngoài xin funds chính phủ, người làm thiện nguyện góp sức. Theo kiểu có tiền tới đâu làm tới đó. Nên bước vô là biết liền. Thông cảm. 

Để giữ được lá cờ trên cột cờ cao vút một cách đàng hoàng, ta phải công nhận tâm huyết của bao nhiêu người.

Tui giờ về hưu nên có dịp ghé đây thường xuyên hơn. Gặp người VNCH cũ như thấy lại cái thời mình đã sống. Người già cần tinh thần minh mẫn và sảng khoái thì mới sống được lâu. 

Sở thích của tui là nghe người ta kể chuyện đời rồi ghi chép lại. Tui định viết với chủ đề “Ký Ức VNCH”. 

Mỗi tuần một bài. Anh chị nào sống thời đó, hẹn FaceTime tám chuyện với tui nhé. 

Còn có hình ảnh cũ thì chia sẻ. Có một cháu nói trên mạng bây giờ có một vài bạn nói về các nhạc phẩm xưa, những địa danh cũ mà giờ đã đổi tên…, các cháu thích lắm. 

Nhu cầu tìm hiểu lịch sử là chính đáng nhưng phải là chuyện thật kể lại. Gọi là bằng chứng. Còn đôi khi trong trường học, ít nhiều vẫn bị ảnh hưởng chính trị. 

Nhất là khi nhà trường dạy học trò phải biết căm thù. Cờ vàng phải gọi “ba que”, hoặc “thằng này thằng nọ”. Nhìn đâu cũng đều thấy sự xấu xa cần phải “quét sạch”… 

Việc nhiều cháu tìm hiểu “tại sao” là nhu cầu của người học hỏi và chúng ta còn sống, ghi lại những điều trải qua thật cần thiết. Đã có nhiều người viết từ mấy chục năm qua. Giờ thêm người nữa. Mong được sự ủng hộ. 

Tui đăng riêng trong trang mạng của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu để lưu giữ nên bà con bấm vào đây để xem bài và comments nhé. 

Chia sẻ bằng comment cũng là một cách đưa ta đến bạn đọc khác. 

Xin cám ơn

Thân mến 
TQĐ

Ngôn Ngữ Sài Gòn Xưa...

 


NGÔN NGỮ SÀI GÒN XƯA…
Nguyễn Ngọc Chính

Có thể nói, bất kỳ một ngôn ngữ trên trái đất này cũng đều trải qua hình thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng về văn hóa là một trong những tác động chính trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, chính trị và xã hội trong việc hình thành ngôn ngữ vay mượn.

Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vốn là một “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với các nền văn hóa khác từ tiếng Tàu, tiếng Pháp và cuối cùng là tiếng Anh.

Ở đây, xin được bàn về ảnh hưởng của Trung Hoa mà ta thường gọi nôm na là Tàu cùng những biến thể như Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc. Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích:

“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v… Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”

“…Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”

“…Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc…”

Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa.

Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì vậy mới có câu:

“Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu!”

Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu.

Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi: phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba.

Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa.

Đạo luật 53 cấm ngoại kiều (nhắm vào Hoa kiều) tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng 2.000 người giữ lại Hoa tịch.

Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc ba lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập cảng. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai: “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật sá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang.

Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese) chứ không nói tiếng Quan Thoại (Mandarin) mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới sử dụng.

Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (người Hẹ).

Trong lĩnh vực ẩm thực của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét.

Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn – Chợ Lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường.

Theo nhà văn Bình-nguyên Lộc, thời tiền chiến trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” (bingo), dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông:

– Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít, sữa nhiều!
– Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.
– Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ.
– Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to.

Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như:

– Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc.
– Bà hai mập, ba đồng sáu cắc.
– Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về.

Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel, Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu…

Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu (nước tương đen) pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi.

Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương (hình như ở số nhà 61) chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi.

Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là các thức ăn dư thừa được chế biến lại.

Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo (bánh bao). Bạn không tin ư? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng (sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút). Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn.

Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn.

Các tiệm “cà phê hủ tíu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tíu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc.

Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại… Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế (cà phê đen lớn). Sang hơn thì gọi phé nại (cà phê sữa) hoặc bạt xỉu (nhiều sữa nhưng ít cà phê) với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hoặc Con Chim. Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền.

Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Tại các tiệm “cà phê hủ tíu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà (uống trà) trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu (tính tiền). (Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước). Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese”: “Hầm bà làng kỵ tố?” (Hết thảy bao nhiêu tiền?).

Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã sử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú (cảnh sát) để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ.

Lạp xưởng (người Bắc gọi là Lạp xường) là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường: ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi…

Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu.

Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ.

Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay.

Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối…

Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay (không nhân) nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp: “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng!

Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi”. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu (phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu) là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hột xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là xóc đĩa.

Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa.

Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám (13 cây) có những thuật ngữ như mậu binh (không cần binh cũng thắng), cù lủ (full house) là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín + 2 con K (lớn nhất là cù lủ ách (ace), nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai, thùng (flush) là 5 con cùng nước (suit) mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh (straight) là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi (3 con cùng loại – three of a kind), thú (two) hay thú phé (two separate pairs) là hai cặp và một con bất kỳ nào khác. “Thứ nhất tứ quý (4 con bài cùng số) thứ nhì đồng hoa (cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích)” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám.

Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát.

Chú Hỏa (1845-1901), người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”.

Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hằng ngày của người lao động trong xóm. Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bông Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ biết điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do.

Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”.

Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn: hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông…

Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có trong tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói: “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có miếng”.

Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem đánh răng Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình.

Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa gọi là vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng (một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).

Bên cạnh đó lại có Lại Kim Dung là “nữ hoàng gạo”. Giá gạo tại miền Nam là do công ty của bà ấn định, chính phủ đã có lúc phải hợp tác với “nữ hoàng gạo” để ổn định giá gạo trên thị trường. Tạ Vinh là một trường hợp xì thẩu đặc biệt. Năm 1964, Tạ Vinh bị Ủy Ban Hành Pháp Trung ương của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành vì tội “gian thương, đầu cơ tích trữ gạo, gây xáo trộn thị trường”. Dân chúng và báo chí gọi Tạ Vinh là “hạm gạo”./.


Quyết Định Quan Trọng Của Elon Musk

 


QUYẾT ĐỊNH QUAN TRỌNG CỦA ELON MUSK
(Jackie Huong)

Elon Musk vừa đưa ra một quyết định khiến bất kỳ người Mỹ nào còn tin rằng đất nước này có thể được cứu vãn phải rùng mình, bởi vì ông đang đặt chính khối tài sản của mình vào cuộc chơi trong kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ.

Một báo cáo quan trọng mới đây đã xác nhận rằng chiến dịch chính trị của ông đang được thực hiện mạnh mẽ:

USA Today: Ủy ban Hành Động Chính Trị (PAC) của Elon Musk đẩy mạnh chi tiêu cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.

Chúng tôi cầu mong mọi người yêu nước đều hiểu được ý nghĩa của điều này trước khi quá muộn, bởi vì Elon Musk từng nói với nước Mỹ một điều mà ngày nay càng trở nên thấm thía hơn bao giờ hết:

ELON MUSK: “Bạn thể hiện điều gì là quan trọng qua hành động, chứ không phải lời nói.”

Hãy hiểu rõ chúng ta đang nói về ai, người đàn ông không cần đến cuộc chiến này, một người có thể quay lưng với Washington ngay ngày mai, không bao giờ ngoảnh lại và dành phần đời còn lại để chế tạo tên lửa, trí tuệ nhân tạo, robot cùng những công nghệ sẽ định hình lại tương lai của nhân loại. Elon hoàn toàn có thể tận hưởng tất cả những điều đó mà không phải hứng chịu bất kỳ mũi tên công kích nào từ cuộc chiến này.

Thay vào đó, sau tất cả những gì đã chứng kiến, Elon lại tự bỏ tiền túi và dấn thân thẳng vào "lửa đạn" và mỗi người trong chúng ta nên tự hỏi tại sao.

ELON MUSK: "Tôi nghĩ rằng cuộc bầu cử này sẽ định đoạt vận mệnh của nước Mỹ, và cùng với đó là vận mệnh của nền văn minh phương Tây."

Chúng ta đang ở vào thời khắc quyết định (phút chót) trong khi phe Cánh tả cực đoan đã được tổ chức chặt chẽ, có nguồn tài chính dồi dào và đã sẵn sàng cho một cuộc tổng tấn công. Con số đáng lẽ phải khiến mọi người ái quốc trên đất nước này bừng tỉnh lúc 3 giờ sáng không nằm ẩn giấu trong các cuộc thăm dò dư luận, nó đã được ghi dấu rõ ràng trong lịch sử: Trong một bầu cử giữa nhiệm kỳ thông thường, đảng của Tổng thống thường mất đi 30 ghế tại Hạ viện và 3 hay 5 ghế tại Thượng viện.

Elon Musk hiểu rõ những hậu quả khủng khiếp có thể ập đến chỉ sau một đêm tồi tệ vào tháng 11, 2026.

Nếu phe Cánh tả cực đoan giành lại được Hạ viện, họ sẽ VÙI DẬP Tổng thống Trump bằng hàng loạt cuộc điều tra, trát đòi hầu tòa, các hành động cản trở và thêm một nỗ lực LUẬN TỘI nữa. Nếu họ chiếm được Thượng viện, họ sẽ chặn đứng các đề cử nhân sự và phá bỏ chương trình nghị sự của TT Trump chỉ vì một lý do duy nhất: Để bóp nghẹt phong trào này ngay từ trong trứng nước. Mọi thành quả mà hàng triệu người Mỹ đã đổ máu và cầu nguyện để giành lại có thể bị tước đoạt khỏi tay chúng ta chỉ trong một đêm. Đây không phải là kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ bình thường và Elon Musk nhìn nhận điều này rõ ràng hơn hầu hết mọi người. Đó là lý do tại sao một người có thể làm bất cứ điều gì mình thích lại chọn dấn thân vào cuộc chiến này, chấp nhận rủi ro về tài chính, danh tiếng và một lần nữa tự đặt mình vào tầm ngắm của sự công kích.

Tại sao vậy? Ông ấy đã đưa ra câu trả lời cho chúng ta:

ELON MUSK: "Khi một điều gì đó đủ quan trọng, bạn vẫn sẽ thực hiện nó, ngay cả khi cơ hội thành công không đứng về phía bạn."

250 năm trước, những người dân Mỹ bình thường hiểu rất rõ ý nghĩa của những lời nói đó. Không ai hứa hẹn với họ về chiến thắng. Họ đối mặt với viễn cảnh mất đi tất cả những gì mình đang có, nhưng vẫn quyết định rằng đất nước này xứng đáng để họ hành động và họ đã làm điều đó.

Tổng thống Trump đã đưa ra lựa chọn đó. Elon Musk cũng đang đưa ra lựa chọn tương tự ngay lúc này. Và giờ đây, quyết định nằm trong tay chúng ta.

Phe Cánh tả cực đoan đang nắm lợi thế lịch sử và họ trông chờ vào việc những người yêu nước theo tinh thần "Nước Mỹ trên hết" sẽ trở nên mềm yếu và im lặng. Nhưng Elon đang cho chúng ta thấy thông qua hành động chứ không phải lời nói và điều gì mà ông tin là xứng đáng để đánh đổi tất cả.

Fred Van Liew

Lựa chọn là của chúng ta. Thời khắc quyết định đã đến. Liệu bạn có đáp lại lời kêu gọi này không?

MỖI LÁ PHIẾU CỦA CHÚNG TA ĐỀU ĐƯỢC TRÂN TRỌNG TRONG NGÀY BẦU CỮ 3/11/2026.

Xin hãy truyền tải lời cảnh tỉnh tâm huyết này của Elon Musk đến những người dân yêu thương và bảo vệ nước Mỹ.

(Jackie Huong )



Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

Nỗi Buồn Lặng Lẽ Của Việt Nam Hôm Nay

 


NỖI BUỒN LẶNG LẼ CỦA VIỆT NAM HÔM NAY
Thế Hệ Nối Tiếp 

Nỗi Buồn Lặng Lẽ của Việt Nam Hôm Nay


https://thehenoitiep.substack.com/p/noi-buon-lang-le-cua-viet-nam-hom

Bi kịch của Việt Nam không ồn ào. Nó không bùng nổ trên các tiêu đề báo chí hay những báo cáo chính thức. Nó sống trong những khoảnh khắc nhỏ bé, bình thường mà người ta nhìn thấy mỗi ngày — như một người thợ cắt tóc ngồi trước cổng bệnh viện, treo tấm bảng “cắt tóc 0 đồng” cho những bệnh nhân đã tiêu hết những gì họ có chỉ để được tiếp tục sống. Những hành động khiêm nhường và lặng lẽ ấy phơi bày một sự thật mà nhiều người đã cảm nhận: đất nước tồn tại được là nhờ người dân tự giúp nhau, chứ không phải nhờ Bác và Đảng bảo vệ họ.

Bệnh viện là nơi sự mong manh của quốc gia hiện lên rõ nhất. Gia đình phải bán đất, vay mượn họ hàng, hoặc rơi vào cảnh nợ nần chỉ để có tiền chữa trị. An sinh xã hội tồn tại trên giấy, nhưng trong thực tế thì mỏng manh, thiếu nhất quán và thường vận hành theo các mạng lưới quan hệ địa phương, nơi quyền lợi nhiều khi phụ thuộc vào sự quen biết với những người nắm quyền trong đảng. Nhiều chương trình hỗ trợ đòi hỏi phải vượt qua những tầng nấc “thủ tục” mà người nghèo nhất — những người không có quan hệ hay đường dây gắn liền với đảng cộng sản Việt Nam — hoàn toàn không thể tiếp cận. Vì vậy, người dân quay sang nương tựa lẫn nhau — hàng xóm, tình nguyện viên, người xa lạ — bởi đó là tấm lưới an toàn duy nhất thực sự hoạt động.

Đó là lý do hình ảnh một mái tóc miễn phí lại có ý nghĩa. Nó không chỉ là từ thiện; nó là một lời nhắc nhở thầm lặng. Khi một người dân phải đứng ra trao lại phẩm giá cho người bệnh, điều đó phơi bày khoảng cách giữa những lời tuyên truyền chính thức và thực tế đời sống. Chi tiêu xã hội của Việt Nam vẫn thấp hơn mức trung bình trong khu vực, và các hoạt động thiện nguyện độc lập thường đến với người dân nhanh hơn, hiệu quả hơn so với các chương trình gắn với đảng. Những hành động nhỏ của lòng trắc ẩn cho thấy những gì đảng cộng sản Việt Nam đã không làm được.

Thế nhưng, bất chấp khó khăn, xã hội Việt Nam vẫn kiên cường. Tinh thần tương trợ luôn là xương sống thật sự của đất nước. Từ những làng quê đến các vỉa hè thành phố, người dân chia sẻ thức ăn, kỹ năng, thời gian và sự nâng đỡ tinh thần. Họ giúp nhau mà không đòi hỏi sự trung thành, lập trường chính trị hay sự ghi nhận. Sự đoàn kết ấy là một giá trị văn hóa sâu sắc — một dạng nhân tính có từ lâu trước mọi thiết chế hiện đại.

Nhưng nỗi buồn nằm ở sự đối lập: một quốc gia giàu lòng nhân ái, nhưng nghèo sự bảo vệ mang tính hệ thống theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Người dân gánh những trách nhiệm lẽ ra không thuộc về họ. Họ vá lại những lỗ hổng của một xã hội chủ nghĩa lẽ ra phải được xây dựng để che chở họ. Họ cho đi những gì ít ỏi mình có vì họ hiểu nỗi khổ tận cùng, và vì chờ đợi sự giúp đỡ từ chế độ theo định hướng xã hội chủ nghĩa thường đồng nghĩa với chờ đợi vô thời hạn.

Người thợ cắt tóc trước cổng bệnh viện không chỉ đang cắt tóc. Anh đang trả lại phẩm giá cho những con người đã mất gần như tất cả. Anh đang làm điều mà đảng cộng sản Việt Nam lẽ ra phải làm — trao sự chăm sóc không điều kiện. Sự hiện diện của anh là lời nhắc rằng sức mạnh của Việt Nam đến từ chính người dân, chứ không phải từ một đảng cộng sản Việt Nam tự hào là lực lượng giải phóng và thống nhất đất nước một cách thắng lợi trước chủ nghĩa đế quốc Mỹ.



Suy Ngẫm: Hạnh Phúc Tuyệt Vời Chỉ Là Sự Bình Thường

 


Suy Ngẫm: HẠNH PHÚC TUYỆT VỜI CHỈ LÀ SỰ BÌNH THƯỜNG
Đào Văn Bình 

Một ngày như mọi ngày, không có gì thay đổi, giống hệt như ngày hôm qua, không có gì vui, không có gì mới, là nỗi kinh hoàng của con người. Căn bệnh buồn nản, chán đời (depressed) mà trong nước gọi là trầm cảm đã được ông nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khóc than trong bản nhạc “Một ngày như mọi ngày” như sau:

Một ngày như mọi ngày, em trả lại đời tôi
Một ngày như mọi ngày, ta nhận lời tình cuối
Một ngày như mọi ngày, đời nhẹ như mây khói
Một ngày như mọi ngày, mang nặng hồn tả tơi
Một ngày như mọi ngày, nhớ mặt trời
Một ngày như mọi ngày, đau nặng từng lời nói
Một ngày như mọi ngày, từng mạch đời trăn trối
Một ngày như mọi ngày, đi về một mình tôi
Một ngày như mọi ngày, từng chiều lên hấp hối
Một ngày như mọi ngày, bóng đổ một mình tôi...

Theo thống kê, tại Hoa Kỳ, năm 2014 có 42,773 người tự sát. Năm 2016 có 44,965 người tự vẫn. Còn tại Việt Nam, theo Vietnamnet “mỗi năm có khoảng 40,000 người tự tử do trầm cảm”. Trang tin Sputnik News ngày 7/4/2019 đã trích dẫn tin của báo Pháp Luật của Việt Nam, “Hiện tượng người trẻ tự tử đang diễn ra ngày càng nhiều ở Việt Nam.” Theo Liên Hiệp Quốc, mỗi năm trên thế giới có 800,000 người tự vẫn.

Có nhiều nguyên do khiến con người tự tử như …khốn quẫn về tiền bạc, đổ vỡ gia đình, tình yêu, hoặc mù quáng tin theo lời tiên tri về ngày tận thế. Nhưng nguyên do đáng sợ nhất là căn bệnh buồn nản, chán đời.

Trào lưu tự tử không có nhiều trong lớp người nghèo khổ mà ở lớp trẻ, các tài tử, ca sĩ, người mẫu…tài sản lên tới cả chục triệu đô-la nhưng đã kết liễu đời mình chỉ vì thấy cuộc đời này vô vị. Đối với những người này, thật không có gì kinh hoàng cho bằng khi:

- Sáng thức dậy, mặt trời vẫn mọc ở phương đông.
-Trái đất này vẫn thế.
- Một ngày như mọi ngày.
- Rồi lại đánh răng súc miệng, rồi lại ăn sáng, ăn trưa như ngày hôm qua.
- Rồi một ngày như mọi ngày.
- Rồi thời gian thừa thãi không biết phải làm gì.
- Rồi mặt trời lại lặn ở phương tây như ngày hôm qua.
- Rồi lại ăn tối, rồi lại đi ngủ.
- Và em vẫn nói với tôi những lời yêu như ngày hôm qua.
- Khiến tôi đau nặng từng lời nói! (lời bản nhạc)
- Khiến linh hồn tôi tả tơi (lời bản nhạc)
- Từng buổi chiều, từng chiều lên hấp hối! (lời bản nhạc)
- Rồi màn đêm lại buông xuống.
- Rồi lại đi ngủ.
- Nhưng rồi dằn vặt, mất ngủ.
- Rồi gục đầu vào xì-ke ma túy.
- Rồi khóc than qua những bản nhạc Bolero ủy mị.
- Rồi uống thuốc an thần.
- Nhưng càng uống thuốc an thần càng mất ngủ.
- Rồi tuyệt vọng, không lối thoát.
- Rồi nói lời trăn trối. (lời bản nhạc)
- Rồi kết liễu đời mình.

Đối với những người mang bệnh buồn nản chán đời thì họ chỉ mong:

- Trái đất này phải đổi thay.
- Mọi người phải chạy ra đường la hét.
- Thiên nhiên phải nổ tung, chứ không thể cứ giống như ngày hôm qua.
- Không thể cứ sống ù lì mãi thế.
- Những mất mát phải được đền bù.
- Những khát vọng phải thành đạt.
- Người đã bỏ ta đi phải quay trở lại.
- Để dòng sông không phải là “dòng sông vĩnh biệt”.
- Nếu không họ tuyệt vọng, chán đời và than van:
- Mặt trời ơi! Sao mi vẫn mọc ở phương đông?
- Sao hoa kia vẫn nở?
- Cả loài chim kia, sao mi vẫn cứ hót?
- Cả con suối kia sao mi vẫn cứ chảy rì rào?
- Những làn gió nhẹ kia sao mi vẫn cứ thổi?
- Cả những vạt nắng lung linh đang nhảy múa trong vườn kia cũng chỉ là giả tạo.
- Và ngàn năm mây trắng sao giờ vẫn còn bay?
-Tất cả đều vô nghĩa và chỉ là một màn kịch của tạo hóa. 

Tóm lại, không có bất cứ cái gì có ý nghĩa đối với họ trên cõi đời này. Họ cảm thấy cô đơn tột cùng theo như lời bản nhạc, “Một ngày như mọi ngày, bóng đổ một mình tôi.” Và họ đi tìm cái chết như một cứu cánh giải thoát.

Thế nhưng này bạn ơi. Bạn thử suy nghĩ xem:

- Sáng thức dậy, người chồng vui mừng khi thấy gia đình bình yên. Rồi người vợ pha cho chồng một ly cà-phê, nói lời chào hỏi như ngày hôm qua. Rồi hai vợ chồng ăn sáng như mọi ngày trong yên lặng. Rồi con cái lễ phép chào cha mẹ, cắp sách đến trường như ngày hôm qua. Thì đây là những giây phút hạnh phúc tuyệt vời của gia đình.  Bạn còn mong ước gì hơn?

- Rồi khi ra đường, xe cộ vẫn bình thường như mọi ngày. Không tai nạn, không tắc nghẽn.

- Rồi sở khí tượng thông báo không giông bão, lụt lội, sóng thần, không động đất. Mọi việc cũng yên bình như ngày hôm qua. Vậy bạn còn mơ ước gì hơn?

- Rồi khi vào công sở. Mọi việc diễn tiến bình thường, không có gì mới lạ. Không bị ông/bà chủ la rầy, không bị cấp trên khiển trách. Bạn còn mong ước gì hơn?

- Rồi khi về nhà, người chồng thấy vợ và con cái bình yên. Rồi lại cơm tối như mọi ngày.

- Rồi người chồng đọc báo hay xem truyền hình.

- Thế giới vẫn bình yên như ngày hôm qua. Không biến động, không chiến tranh, không cấm vận, lật đổ.

- Thị trường chứng khoán không leo thang mà cũng không tụt dốc. Giá vàng, giá săng ổn định. Đây là hạnh phúc là mong cầu của thế giới. Vậy bạn còn mơ ước gì hơn?

- Rồi ở phía xa xa…

- Ở chùa, sư cụ sáng thức dậy thấy cửa nẻo đều yên. Thùng phước sương không bị kẻ trộm lấy đi. Chư tăng ni vân tập, trang nghiêm hành lễ như mọi ngày. Vẫn kinh đó, chuông đó, mõ đó và lời nguyện cầu đó…giống hệt như ngày hôm qua. Rồi chư tăng/ni lại ăn sáng như mọi ngày. Rồi Phật tử kéo tới lễ chùa hay công quả như mọi ngày. Đó là “trú dạ lục thời an lành”, đó là phước báu. Sư cụ còn mong cầu gì nữa?

Này bạn ơi,

- Cái gọi là “Một ngày như mọi ngày” là nỗi kinh hoàng của những kẻ chán đời.
- Nhưng nó lại là sự yên lành, là nguồn hạnh phúc của những người nhìn thấy rõ thế nào là hạnh phúc.
- Hạnh phúc là sự bình yên, là sự không đổi thay, “hằng mà chuyển” trong thế giới của Hoa Nghiêm.
- Niết Bàn là sự sáng soi, tịch mịch, hằng trụ mà không lay chuyển, không có cũ-mới, không có trước sau, không có ngày hôm qua hoặc ngày mai.
- Chúng sinh chạy ngược chạy xuôi suốt đời để tìm hạnh phúc.
- Nhưng họ chỉ tìm thấy khổ đau hay hạnh phúc giả tạo.
- Trong khi đó bao bậc đạo sư, cuộc sống 100 năm nào có gì khác?
- Ngày hôm nay cũng giống ngày hôm qua.
- Vẫn tụng kinh niệm Phật, vẫn hành thiền, sáng chiều không có gì thay đổi.
- Cuộc sống phẳng lặng như dòng sông chảy lặng lờ. Mà sao họ vẫn cứ yên vui?
- Vậy khi tâm trí bạn lắng yên.
- Thì  “Một ngày như mọi ngày” chính là hạnh phúc tuyệt vời.
- Như lời dạy của Hương Hải Thiền Sư “Bình thường tâm thị đạo”.

Thế nhưng bạn ơi,

- Muốn đạt được điều đó.
- Bạn phải dùng trí tuệ. Bởi vì:
- Sống với cảm xúc, bạn chỉ thấy khổ đau.
- Sống với trí tuệ, bạn sẽ mở tung cánh cửa để tiến vào khu vườn hạnh phúc.
- Thế nhưng tôi không biết những lời quê mùa, mộc mạc này có giúp gì cho căn bệnh chán đời của bạn hay không?

Bạn ơi,

Thường xuyên nghe nhạc buồn, nhạc ủy mị, nhạc thất tình, nhạc Bolero khóc than, coi phim bộ ướt át của Hongkong, Đại Hàn (ở Mỹ gọi là Soap

Opera) là dấu hiệu của mất nghị lực, mất phương hướng, buồn nản chán đời rồi đi đến tuyệt vọng và tự sát. Vào năm 1941, bản nhạc “Chủ Nhật Buồn” (Gloomy Sunday, Sombre Dimanche) của nhạc sĩ Rezso Seress người Hung Gia Lợi đã được xem như “Bản Thánh Ca Của Những Người Tự Tử” đã dấy lên một phong trào tự sát trong giới thanh niên tới nỗi chính phủ Anh phải ra lệnh cấm hát bản nhạc này.


Bạn ơi,

Cô Kiều nghe chuyện Đạm Tiên, cảm động khóc than sướt mướt khiến chính đời mình thê thảm, 15 năm ở lầu xanh làm gái bán dâm, cuối cùng nhảy xuống Sông Tiền Đường tự vẫn, may mà được bà vãi Giác Duyên cứu cho.

Do đó, nhạc buồn, nhạc ủy mị, nhạc than, nhạc khóc, phim truyện tình cảm ướt át… đều rất nguy hiểm cho đời sống của thanh thiếu niên.

Bạn ơi,

Ở tuổi này,
Sau bao năm rong ruổi cuộc đời.
Tôi sợ những bản nhạc buồn.
Sợ những phim ảnh đầy bạo lực, săn lùng, bắn giết.
Mà chỉ muốn nghe những lời êm dịu.
Những hình ảnh cứu giúp người đời.
Những lời kinh ru làm tỉnh thức lòng người.
Và những giây phút êm đềm. 
Hôm nay cũng như ngày hôm qua.
Một ngày như mọi ngày.

Đào Văn Bình

California ngày 9 Tháng 4, 2019

Hạnh phúc tuyệt vời chỉ là sự bình thường - Cuộc Sống - THƯ VIỆN HOA SEN