Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

Thư Mời Tham Dự Lễ Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30 Tháng 04, 2026 Và Chạy Xe Vòng Quanh Thành Phố San Jose

 


THƯ MỜI THAM DỰ LỄ TƯỞNG NIỆM NGÀY QUỐC HẬN 30 THÁNG 01, 2026 VÀ CHẠY XE VÒNG QUANH THÀNH PHỐ SAN JOSE
Ban Tổ Chức 

Thư mời tham dự Lễ tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30 tháng 04, 2026 và chạy xe vòng quanh thành phố San Jose

Kính mời quý đồng hương đến dự lễ tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30 tháng 04 năm 2026, tại tiền đình Quận Hạt Santa Clara, số 70 W Heđing St, San Jose, CA95110 và chạy xe vòng quanh thành phố San Jose.







"NÓNG: Bộ Tư Pháp Mỹ Truy Tố "Đại Ca" Khét Tiếng Của Phe Cực Tả!"

 


BỘ TƯ PHÁP MỸ TRUY TỐ "ĐẠI CA" KHÉT TIẾNG CỦA PHE CỰC TẢ!
Tran MaicoUSA

"NÓNG: Bộ Tư pháp Mỹ truy tố "đại ca" khét tiếng của phe cực tả!"


Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi 



Bài 435: Truyền Thông Mỹ Trong Đại Họa Mất Nước

 


BÀI 435: TRYỀN THÔNG MỸ TRONG ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC
Vũ Linh

    Tết Mậu Thân 1968: trong sách lược tìm cái sống trong cái chết, liều thí mạng cùi, VC tung ra cái chúng gọi là 'Tổng Công Kích Mậu Thân', dốc toàn lực lượng đánh một lúc cả trăm thị xã, đồn bót, căn cứ QLVNCH, thậm chí liều mạng đánh cảm tử ngay cả các trung tâm quyền lực lớn của VNCH như Dinh TT, bộ Tổng Tham Mưu, đài phát thanh,... rồi luôn cả tòa đại sứ Mỹ. VC tìm cái sống trong cái chết. Để rồi chết ngắc thật.

    Kết quả, sau khi khiến cả ngàn dân chết, cả vạn dân mất nhà, cả trăm thị xã tan hoang,... VC đã thảm bại như chưa từng thấy. Toàn bộ cái bình phong Mặt Trận Giải Phóng bị phỏng dế, cháy rụi, tiêu tan, biến vào thùng rác lịch sử. CSBV rơi mặt nạ, đành công khai tung các sư đoàn chính quy với đầy đủ xe tăng, đại bác tối tân nhất vào chiếm miền Nam, chỉ vì cái bình phong Mặt Trận đánh Mỹ bằng dép râu, mũ tai bèo, cung nỏ đã tiêu tan thành tro vụn.

    Thế đấy, nhưng dân Mỹ coi tivi Mỹ, đọc báo Mỹ,... lại thấy một diễn biến trái ngược hoàn toàn dựa trên tuyên truyền xuyên tạc của VC qua cả khối CS quốc tế và truyền thông cấp tiến thân cộng: đó là chiến thắng vĩ đại, lớn nhất của VC, chứng tỏ nước Mỹ đã thất bại, đã ủng hộ một chế độ tồi tệ, đánh đâu thua đó vì dám chống lại 'lực lượng du kích quân được hậu thuẫn của toàn dân Việt'.

    Tại sao có hiện tượng quái gở đó, hậu quả là gì?

    Muốn tóm gọn lại thì hiển nhiên, đó là hình thức xuyên tạc thô bạo nhất của đám truyền thông Mỹ, cố biến củ ấu thành hòn bi. Mà hậu quả phải nói là... kinh thiên động địa, di hại vĩnh viễn không thể mô tả nổi cho nước và dân Việt ta. VNCH chết tiêu, biến mất từ hơn nửa thế kỷ qua và chưa ai thấy triển vọng sống lại, trong khi cả triệu người bỏ mồ mả ông bà trốn chạy quê hương, khiến cả trăm ngàn nếu chưa phải là cả triệu người chết trên biển sâu, rừng rậm.

    Nếu truyền thông không xuyên tạc thì dân Mỹ đã không chuyển hướng quay qua chống việc Mỹ giúp Nam VN. Nếu dân Mỹ không chuyển hướng thì đám nghị sĩ, dân biểu mỵ dân Mỹ đã không chống việc Mỹ giúp Nam VN và đã không trói tay các TT Johnson và Nixon. Nếu các TT Johnson và Nixon không bị trói tay thì kết quả cuộc chiến tại Nam VN đã khác rất xa những gì đã xẩy ra.

    Đáng tiếc thay, những cái 'nếu' quái ác này thật ra đã viết nên lịch sử thực tế của nhân loại.

    Vấn đề ta cần xét cho kỹ là vai trò của truyền thông Mỹ trong việc ta mất nước vào tay VC và CS quốc tế.

    Bài này sẽ tìm hiểu trước hết là thái độ thực sự của truyền thông Mỹ trong cuộc chiến sống còn của chúng ta. Sau đó sẽ thử trả lời câu hỏi 'tại sao' truyền thông Mỹ có ác cảm với miền Nam chúng ta, trong khi lại hậu thuẫn cái mà chúng gọi là những 'dân quân yêu nước, dép râu nón lá' VC. 

Truyền thông Mỹ và VN

    Trước hết, phải nói ngay vai trò của truyền thông Mỹ trong việc ta mất nước, đại đa số dân Việt tị nạn hay cả dân Việt trong nước không biết rõ lắm. Ngay tại Mỹ sau này, kẻ này đã đọc được nhiều bài của dân Việt tị nạn ca tụng truyền thông Mỹ lên chín tầng mây, cho đó là kinh điển mẫu mực của truyền thông trung thực và công tâm, chuyên nghiệp với lương tâm nhà báo cao nhất lịch sử nhân loại.

    Tại sao lại có hiện tượng sai lầm như vậy? Chỉ vì một phần những tung hô truyền thông đến từ đám vẹt cuống chống Trump, thấy Trump đánh truyền thông là nhẩy nhổm biện bạch ca tụng truyền thông, bất cần biết gì khác. Tuy nhiên, với tuyệt đại đa số dân Việt sống trong nước trong thời chiến tranh, họ đã không đọc được những bài báo, không nghe được những bản tin, bài bình luận của truyền thông Mỹ miệt thị, hạ nhục miền Nam ta như thế nào, khi VNCH từ thời TT Diệm tới thời TT Thiệu đã kiểm duyệt không cho báo chí Mỹ tới tay người dân Miền Nam. Đưa đến tình trạng dân miền Nam ta hầu hết không hề hay biết gì về thái độ của truyền thông Mỹ. May ra thì nghe léng phéng truyền thông Mỹ chống Mỹ tham chiến tại Nam VN. Thậm chí còn hiểu sai hoàn toàn, khi tờ báo tiếng Anh duy nhất của Miền Nam lại chỉ là báo The Times of Vietnam của ông cố vấn Ngô Đình Nhu, nghĩa là cái loa của chính quyền Diệm! Trong tình trạng đó, dân ta hiểu là cuộc chiến VN rất tốt đẹp, vẫn được truyền thông Mỹ và dân Mỹ ủng hộ hết lòng.

    Sự thật đáng buồn là chưa bao giờ trong lịch sử truyền thông thế giới, lại có một quốc gia bị bôi bác thậm tệ như truyền thông Mỹ bôi bác miền Nam ta.

* Dân Việt trong miền Nam toàn là ma cô, đĩ điếm, bán bar, ăn mày, lừa đảo, trộm cắp vặt;

Tôn giáo miền Nam băng hoại hoàn toàn khi các cha, các sư đều lo đánh nhau về chính trị, dành quyền thế. Công giáo thì có cha Ngô Đình Thục, Phật giáo thì có thượng tọa Thích Trí Quang;

Tướng lãnh thì lo tranh dành quyền, không còn nhìn thấy đe dọa của một tên VC nào;

Lính tráng thì lo bám chân trực thăng trốn chạy;

Công chức, quan lại đủ cấp từ làng xã tới thủ đô thì chỉ lo hiếp đáp dân, ăn hội lộ, bán gạo, thuốc và vũ khí cho VC.

    Trước hình ảnh đó, dân Mỹ mới đầu ủng hộ cuộc chiến của miền Nam ta cho tự do dân chủ chống xâm lăng CSBV, đã dần dần chuyển hướng, thắc mắc tại sao họ phải yểm trợ một chế độ thối tha tệ hại như vậy, tại sao họ phải đóng thuế để nuôi đám quan chức tham ô Nam Việt, tại sao thanh niên Mỹ phải chết thế cho mấy tên lính Nam VN chết nhát,...

    Công bằng mà nói, những tệ hại truyền thông Mỹ tung ra không phải không có. vâng, tham nhũng và tệ đoan xã hội đầy rẫy, nhưng vấn đề là có một xé ra mười, với mục đích hiển nhiên là bôi bác, muốn chuyển hướng dư luận Mỹ để Mỹ rút ra khỏi VN, để chế độ 'nhân bản, ái quốc' CSBV thống nhất cả nước, chấm dứt thảm họa chiến tranh triền miên.

Nhà báo Mỹ thế hệ mới

    Tại sai truyền thông Mỹ lại có thái độ như vậy?

    Ở đây, phải nói là trong thời kỳ Mỹ mới bắt đầu can dự vào VN, đến VN để thay thế thực dân Pháp, thì dân Mỹ nói chung và truyền thông, rất có cảm tình với miền Nam ta. TT Ngô Đình Diệm được truyền thông Mỹ nức nở tung hô như một cứu tinh dân tộc hiếm thấy, một Churchill của VN,...

    Nhưng rồi khi Mỹ can dự sâu đậm hơn, truyền thông Mỹ gửi cả lô nhà báo, ký giả trẻ, đầy lý tưởng viễn vông hoang tưởng, tràn ngập chiến trường và chính trường VN làm phóng sự. Những gì đám nhà báo trẻ nhìn thấy đã khiến họ vỡ mộng. Không có một cuộc chiến tranh nào sạch sẽ đẹp đẽ hết, nếu có, chỉ có trong đầu đám nhà báo ngớ ngẩn. Họ qua VN nhìn thấy tận mắt, nghe tận tai những cái gọi là 'coi dzậy mà hổng phải dzậy', vỡ mộng, lại sẵn tiêm nhiễm tư tưởng thiên tả, cấp tiến, được các trường học cài vào đầu óc từ nhỏ, nên gãi đầu gãi tai không hiểu tại sao nước Mỹ, thành đồng của tự do, dân chủ, tiến bộ, nhân ái,... lại có thể dính liú vào một cuộc chiến dơ bẩn, một chính quyền thối nát như vậy.

    Chẳng những vậy, đám nhà báo trẻ lý tưởng mơ hồ viễn vông đó lại trực diện với nhiều cái mà họ cho là thiếu thành thật -hay tệ hơn- lừa đảo dân của các bộ máy tuyên truyền quân sự cũng như chính trị của VNCH và cả Mỹ. Họ chứng kiện một trận chiến mà họ cho rằng phe Mỹ và VNCH 'đại bại' như trận Ấp Bắc, mà lại thấy cả VNCH lẫn Mỹ hô hoán ầm ĩ là chiến thắng. 

    Vâng, dưới mắt đám nhà báo trẻ ngu ngơ, khi phe mình rớt vài cái trực thăng, lính VNCH chết và bị thương ngổn ngang trên chiến trường, trong khi chỉ thấy lèo tèo vài xác VC -bất kể VC đã khôn ngoan kéo xác đồng đội đi giấu- thì họ cho đó là đại bại chứ không phải chiến thắng như Mỹ và VNCH quảng bá.

    Từ những 'khám phá' đó, đám nhà báo trẻ mất tin tưởng ở chính phủ Mỹ cũng như VNCH, cho rằng tất cả những bản tin họ nhận được một cách chính thức đều là phịa, trái với sự thật. Kinh hoàng nhất là trận Mậu Thân. Đám nhà báo ngồi nhâm nhi whisky tại khách sạn Caravelle phải tháo chạy trốn xuống hầm khi thấy cảm tử VC vào tới tận sân Tòa Đại Sứ Mỹ thì tất nhiên họ thấy tận thế trước mắt rồi, làm gì còn hy vọng chiến thắng nữa? Lính Mỹ, và tiền Mỹ đang bị vứt xuống mương.

    Ngay cả nhà báo lão thành đầy uy tín như Walter Cronkite, sau khi đi VN sau Tết Mậu Thân, đã trở về Mỹ, lên tivi công khai nói "Mỹ vô vọng thắng", khiến TT Johnson phải nói "Tôi mất Cronkite là mất cả nước Mỹ rồi', rồi ông đau đớn rút lui, không ra tái tranh cử TT năm 1968.

    Tệ hơn nữa, trong khi tướng tư lệnh chiến trường Westmoreland suốt ngày thổi phồng tin chiến thắng, tiên đoán sắp đại thắng thì đám nhà báo lại thấy VC đánh cả trăm thị xã, căn cứ quân sự, cả Tòa Đại Sứ Mỹ lẫn Dinh Độc Lập. Hiển nhiên có cái gì 'không ổn' trong các bản tin chính thức của Mỹ và VNCH.

Yếu tố nhạy cảm

    Dù vậy, đó vẫn là... chuyện nhỏ. Cái kinh hồn rúng động tâm lý quần chúng Mỹ là những hình ảnh lính Mỹ chết ngổn ngang, máu đỏ bê bết trên các chương trình tin tức của truyền hình trong những bữa ăn gia đình buổi tối, hình ảnh tướng Loan bắn vào đầu tên VC, hình ảnh cô bé trần truồng trốn chạy bom napalm,... Truyền thông sống bằng hung tin, bằng hình ảnh gây sốc. 

    Do đó, truyền thông Mỹ tràn ngập ngày này qua ngày khác những tin đánh nhau khốc liệt, những hình ảnh máu me bê bết, những bản tin về tham nhũng, hối lộ, đàn áp tôn giáo, tướng tá dành quyền đánh nhau túi bụi, học sinh, sinh viên, ông già, bà lão biểu tình, sư tự thiêu, cha đánh tham nhũng, nhà báo xuống đường,... Công bằng mà nói, làm sao không rung chuyển dư luận quần chúng Mỹ ở cách xa VN tới cả nửa trái đất được?

    Ngược lại, đám nhà báo đó không nhìn thấy những cái gian, cái ác của VC, xác của cả vạn công chức bị VC giết trong khắp các làng xã, các trường tiểu học lãnh bom đạn VC, mà lại được nhồi vào đầu những hình ảnh 'thơ mộng' quá đáng phục của những 'chiến sĩ' vô danh mặc đồ bà ba đen, chân đi dép cao su, đầu đội nón lá, bắn B-52 bằng cung nỏ, châu chấu nhà quê Việt đá voi Mỹ trong cái chết chắc chỉ vì 'yêu nước', sẵn sàng hy sinh mạng sống chống ngoại bang chiếm nước.

    Thể chế chính trị Mỹ là thể chế tất cả do người dân quyết định. Họ quyết định gián tiếp qua việc bầu những người nắm quyền chính trị cả nước, từ cấp địa phương thấp nhất tới cấp cao nhất là tổng thống liên bang. Khi người dân còn chấp nhận, còn ủng hộ cuộc chiến thì họ bầu cho những người muốn giúp VNCH chống xâm lăng. Khi dư luận quần chúng thắc mắc, tinh thần bị lay chuyển bởi đám nhà báo thiên vị một chiều, thì họ từ từ chuyển sang không ủng hộ trước khi tới bước qua mức chống việc Mỹ tham chiến, tốn tiền, tốn sinh mạng cho một cuộc chiến không chính danh và không đáng. Và họ bắt đầu bỏ phiếu cho các chính khách thính mũi, mỵ dân, ngửi thấy mùi chống tham chiến của dân. Đó là bước khởi đầu của một chính khách thính mũi mà u mê tên là... Joe Biden.

    Các cụ ta dạy trước khi trách người, nên soi gương xem mình như thế nào. Công bằng mà nói, trước các chiến dịch quy mô bôi bác cuộc chiến, miệt thị miền nam, từ dân đến quân đến chính quyền của cả khối CS quốc tế, bắt tay với đám truyền thông thiên tả Mỹ, thì chính quyền miền Nam ta đã không làm bất cứ gì -hay làm lèo tèo cho có mà hoàn toàn vô hiệu- để chống đỡ, phản bác, tranh thủ dư luận quần chúng Mỹ lại. Khiến kẻ này, cho tới bây giờ, vẫn thắc mắc không hiểu mấy ông đại sứ tài giỏi, tên tuổi của ta như Bùi Diễm, Trần Kim Phượng, đã làm trò trống gì khi ngồi tại Washington DC. Ngáp chăng? Nhưng chẳng lẽ ngáp cả ngày từ ngày này qua ngày khác? Ngáp gì nhiều thế? Còn mấy ông siêu cố vấn, tốt nghiệp đại học Mỹ và hiểu rõ chính trị Mỹ như Hoàng Đức Nhã, Nguyễn Tiến Hưng,... mấy ông này cố vấn cái gì cho TT Thiệu, mà bây giờ xỉa tay đổ lỗi lung tung; hay khai thác sự ấm ức của dân tị nạn để viết sách bôi bác Mỹ, tự bào chữa, kiếm bạc cắc?

    Cái thể chế dân làm chủ của Mỹ đó tuy cho tổng thống rất nhiều quyền, nhưng cũng cho phép quốc hội trói tay tồng thống rất dễ dàng.

Trách nhiệm mất nước

    Lúc sau này, không ít dân Việt tị nạn ồn ào sỉ vả TT Nixon bán đứng miền Nam VN, với Kissinger đi đêm với Chu Ân Lai để mua đi bán lại VNCH. Điều cần ghi nhận: đó chính là lập luận chạy tội của đám DC sau khi mất miền Nam, đổ lỗi cho đảng CH và Nixon. Đám chính khách, bất kể DC hay CH, đều là những chuyên gia chuyên nghiệp có tài uốn lưỡi, có máu 'đổ thừa' trong người, không bao giờ dám nhận lỗi, mà rất giỏi tìm cách bán cái, đổ thừa. Cả vạn tài liệu lịch sử còn đó để bất cứ ai muốn đều có thể tham khảo dễ dàng, để thấy Nixon và Kissinger, cho dù có ba đầu sáu tay của Khổng Minh, cũng không có cách nào cứu miền Nam VN được khi quốc hội Mỹ, tràn ngập những Joe Biden, đã liên tục, không ngừng, biểu quyết cả trăm lần không cho Nixon tiền, không cho Nixon đánh bom VC trên miền Bắc VN hay trên đường mòn bên Lào, không cho Nixon viện trợ súng đạn, dầu xăng cho quân đội VNCH. Nixon chỉ biết loay hoay tìm cách cứu gì hay nấy, không phải vì dân vì nước VN, mà thật ra vì không muốn đi vào lịch sử như tổng thống đầu tiên đã thua trận, để mất Nam VN.

    Trong tình trạng đó, sao lại có thể đổ lỗi cho Nixon? Sao có thể nói Nixon thông đồng bán Nam VN cho TC? Kẻ này chưa bao giờ ủng hộ Nixon, nhưng sự thật lịch sử không thể viết lại để chạy tội dễ dàng như vậy. Nixon là một chính trị gia lươn lẹo bị ám ảnh bởi tham vọng cá nhân, chưa bao giờ để ý tới quyền lợi của nam VN, nhưng chính vì tham vọng cá nhân, đã tìm đủ cách để tránh đi vào lịch sử như TT đã để mất Nam VN. Cái lỗi để mất miền Nam VN vào tay CSBV là thứ nhất từ truyền thông cấp tiến thiên tả Mỹ đã khuynh đảo dư luận quần chúng Mỹ, thứ nhì từ những Joe Biden cắt mọi quân viện, không cho Nam VN chiến đấu. Đó chính là sự thật lịch sử không ai có thể viết khác lại được. Nixon và Kissinger chỉ là những con dê tế thần của đám DC như truyền thông loa phường và Biden, muốn chạy tội, không hơn không kém. Muốn sỉ vả Nixon tới đâu cũng được vì dĩ nhiên Nixon có phần trách nhiệm không nhỏ, nhưng quên vai trò của truyền thông và tính tráo trở của đảng DC và Biden, là viết lại lịch sử thô bạo nhất.

Diễn Đàn Trái Chiều

Vẻ Vang Dân Việt

 

Cựu Đại Tá Hùng Cao 

VẺ VANG DÂN VIỆT
Nhất Hùng

Ngày 22/4/2026, chính trường Hoa Kỳ vừa có một sự kiện lớn - liên quan đến Người Mỹ Gốc Việt - ông Hùng Cao, cựu Hải Quân Đại Tá, một người Mỹ gốc Việt vừa được bổ nhiệm vào chức vụ Quyền Bộ Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ - đây là Người Mỹ Gốc Việt giữ chức vụ cao nhất trong Quân Đội Hoa Kỳ tính đến hiện tại - Ông chỉ huy nhiều Đô Đốc - Tướng Lĩnh Hoa Kỳ - kiểm soát tuyệt đối Hải quân và Thủy quân Lục chiến - nắm giữ chìa khóa của các hạm đội hạt nhân, sức mạnh viễn chinh toàn cầu - điều hành ngân sách 250 tỷ USD và đạo quân gần 1 triệu người.

Một số thông tin về ông:

- Sinh năm 1971 tại Sài Gòn, ông cùng gia đình đến Mỹ tị nạn năm 1975. Ông phục vụ trong Hải quân Mỹ từ năm 1989 đến 2021, giải ngũ với cấp bậc Đại tá (Captain). Ông là chuyên gia về tháo dỡ vật liệu nổ (EOD) và lặn sâu, từng tham gia các chiến dịch tại Iraq, Afghanistan và Somalia.

- Ông Tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ (Naval Academy) và có bằng Thạc sĩ Vật lý ứng dụng từ Trường Cao học Hải quân.

- Ông là thành viên đảng Cộng hòa. Trước khi vào Chính phủ, ông từng tranh cử vào Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ tại tiểu bang Virginia nhưng không thành công.

- Tháng 10/2025: Ông được Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn giữ chức Thứ trưởng Bộ Hải quân.

Dưới góc độ phân tích chính trị và quân sự, chúng tôi nêu vài lý do giải thích ông Hùng Cao bất ngờ được bổ nhiệm vào chức vụ này:

- Chính phủ Hoa Kỳ cần một "Cú hích" Quản trị và Kỹ thuật, việc thay thế đột ngột thường ám chỉ một sự thay đổi trong ưu tiên chiến lược.

- Mỹ cần một người có kinh nghiệm thực chiến: Ông Hùng Cao từng là chiến binh - cựu Hải Quân Đại tá, chuyên gia tháo dỡ vật liệu nổ - có tư duy sắc bén về công nghệ. Trong bối cảnh Hải quân Mỹ đang đối mặt với những thách thức lớn về đóng tàu, bảo trì hạm đội và sự trỗi dậy của các đối thủ trên biển, việc đưa một người có kinh nghiệm thực chiến vào vị trí quyền lực cao nhất có thể là cách để cắt giảm các thủ tục hành chính rườm rà.

- Cựu Bộ Trưởng Hải Quân John Phenan có thể đã hoàn thành vai trò của mình trong một giai đoạn nhất định, nhưng Chính phủ có thể cảm thấy cần một luồng sinh khí mới để đối phó với cuộc chiến Drone và AI - Hải quân cần tích hợp công nghệ mới với tốc độ nhanh hơn mức bình thường.

- Ông Hùng Cao, một nhân vật có câu chuyện cá nhân truyền nhiều cảm hứng, có thể giúp cải thiện hình ảnh của lực lượng trong mắt giới trẻ.

- Tuy nhiên sự ra đi của Ông John Phenan được thông báo với cụm từ “có hiệu lực ngay lập tức” thường rơi vào hoàn cảnh: có sự bất đồng quan điểm chiến lược, có thể đã có một sự rạn nứt sâu sắc giữa Bộ trưởng và các cấp lãnh đạo cao hơn (như Bộ trưởng Quốc phòng hoặc Tổng thống) về ngân sách hoặc hướng đi của hạm đội.

Trong thực tế, các quyết định bổ nhiệm này luôn đi kèm với những tính toán kỹ lưỡng về cả mặt quân sự lẫn chính trị đối nội để đảm bảo tính liên tục của bộ máy quốc phòng.

Là NGƯỜI VIỆT, chúng tôi rất tự hào với sự thăng tiến của Ông Hùng Cao - một Người Mỹ Gốc Việt - Chúc Mừng Quyền Bộ Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ.

Nhất Hùng

Con Mừng Và Cuộc Đổi Đời ???

 


CON MỪNG VÀ CUỘC ĐỔI ĐỞI???
Thanh Vân

Lời phi lộ :

Đậy là bài viết về Tháng Tư "đen" của Lady Thanh Vân hiện ở Paris 

Mời các ACE bốn phương trời đọc để Nhớ Về 

TQĐ

- Vào bài:

Buổi trưa vắng khách, hai cô thợ cắt tóc làm việc chung đi ăn cơm, nên Mừng ở lại giữ tiệm một mình. Ngồi tránh phía sau tiệm để nghỉ ngơi, nhìn lơ đãng lên tường, Mừng giật mình thấy tấm lịch ghi 28 avril. Mừng chắt lưỡi…

- Trời, sao nhanh quá, vậy là sắp đến ngày «đổi đời» rồi!

Bỗng dưng, hình ảnh của những ngày cuối của VNCH hiện về ầm ập trong trí nhớ. Lúc đó, Mừng chỉ mới 14 tuổi, còn đi làm giúp việc nhà, hay nói đúng hơn là «đi ở đợ» cho một gia đình khá giả ở Vĩnh Long. Đó là gia đình thứ hai mà Mừng đến làm việc. Má Mừng cũng giúp việc nhà, chuyên nấu ăn và giữ em cho chủ. 

Bà sinh ra Mừng không cha, rồi khi Mừng biết đi biết nói, bà xin ông bà chủ đem con đến ở chung. Ông bà chủ cũng nhân đức nên nuôi Mừng trong nhà, và tuy là con người làm, lúc nhỏ Mừng vẫn chơi đùa với đám con chủ. Không được cưng chiều như họ, nhưng Mừng nhờ đó cũng biết thế nào là cách sống của dân nhà giàu. 

Nhiều lúc Mừng cũng tủi thân vì thấy con ông bà chủ được mặc quần áo đẹp, ăn uống tươm tất dọn trên bàn với chén kiểu và đũa bạc. Các cô thì có xe Vélo Solex, các cậu chạy Vespa. Mừng tuy theo chơi đùa với các cô các cậu nhưng biết phận là «con ở» nên phải nép mình nhẫn nhịn phục vụ. Dù ông bà chủ có tốt, Mừng cũng chỉ là «người giúp việc» thôi. May mắn là Mừng được cho đi học và  quần áo cũ của các cô bỏ ra, Mừng lấy mặc. Đồ cũ nhưng đẹp chán vì toàn là hàng hiệu mua ở Sài Gòn.

Theo sau lưng các cô cậu đến trường, Mừng lủi thủi ôm cặp đi học từ lớp năm đến lớp nhất và vì thi rớt vô đệ thất trường công  nên ông bà cho Mừng vào học trường bán công, phải trả học phí, nên Mừng chỉ học có đệ thất và đệ lục. Nhưng cái ơn ông bà chủ cho Mừng đi học lớn biết mấy, Má Mừng hay nói:

Ông bà có đức biết tạo phúc cho con!

Lớn lên 12 tuổi, Má Mừng muốn cho con đi làm cho gia đình khác để có thêm một đầu lương vì ông bà chủ chỉ cho Mừng tiền túi và nhà đã có 2 người giúp việc. Phần khác là vì Má Mừng sinh thêm một đứa con khác, cũng không cha, đặt tên là Vui. Chắc bà muốn cuộc đời tốt đẹp hơn nên chọn cho con những cái tên rất phấn khởi, trong khi thực tế thì Má Mừng lo lắng không biết phải giải quyết ra sao. Cha con Vui cũng không biết là ai, nhưng hai chị em hoàn toàn không giống nhau về sắc diện, nhìn vô ai cũng biết là chị em «cùng mẹ khác cha».

Đến bây giờ Mừng cũng không biết cha mình là ai, vì Má Mừng giấu kín lắm, không bao giờ khai ra. Vả lại, lúc lớn lên Mừng cũng ít khi gặp mẹ vì tối  ngủ lại nhà chủ, hai mẹ con mỗi người làm việc cho hai nơi khác nhau, nên ngày qua ngày, Mừng không có dịp đặt câu hỏi này. Nhưng có lẽ «Ba mình» cũng có học hành, cũng «bảnh » lắm, nên Mừng khá thông minh, học ít hiểu nhiều. Nhờ có học đến đệ lục nên khi rảnh rỗi, Mừng hay tìm đọc sách báo của nhà chủ, nên cũng không đến nỗi dốt.

Từ ngày 27,28 tháng tư  năm đó, Vĩnh Long đã rộn rip khác thường, những chiếc xe Jeep của căn cứ Mỹ chạy ra chạy vào náo nhiệt. Rồi người Mỹ lên trực thăng «chạy » đi đâu không biết mà nhà cửa thuê ở Vĩnh Long bỏ hoang, mạnh ai nấy đến để khiêng vác tủ lạnh, bếp ga, quạt máy, ghế bành về nhà. Rầm rập khắp đường phố.

Mừng ngạc nhiên lắm vì «có chuyện gì vậy», cô con gái 14 tuổi nghĩ thầm. Ở nhà ông bà chủ cũng bàn tán lung tung, nhưng ông chủ là thầy giáo dạy học nên nói với vợ con:

- Ai chạy đi đâu thì chạy, mình dạy học, có gì đâu mà sợ. Bỏ xứ sở đi đâu bây giờ?

Mừng nhớ như in cái ngày thứ tư 30 tháng tư năm 1975, sáng đó như thường lệ, Mừng quét dọn nhà cửa xong và bà giáo đi chợ về, đang lúi húi nấu ăn thì ông giáo để radio, nghe ông tướng Minh ra lệnh:

- Đầu hàng, ai ở đâu ở đó!

Ông bà giáo chưng hửng:

- Trời, sao đầu hàng kỳ cục vậy! Ở miền Tây này «êm ru bà rù», có đánh giặc súng nổ gì đâu mà đầu hàng!


Mặt mày ai cũng tái nhợt, nét hốt hoảng hiện ra. Ông bà giáo vội vàng lục soạn hồ sơ, vì có một người con trai là sĩ quan Đà Lạt, nên bao nhiêu  hình ảnh con mặc quân phục đều đem đốt. Bà giáo chặc lưỡi:

- Tiếc quá, nhưng thôi, sợ «họ» vô xét nhà mà thấy mấy tấm hình này không tốt.

Ngoài đường phố Vĩnh Long vắng hoe, mọi người đều rút vô nhà như lo sợ điều gì sắp xảy ra. Radio chỉ loan đi loan lại lời kêu gọi của Tướng Minh:

-  Quân sĩ phải buông súng, không ai được di chuyển đi đâu!

Trong trạng thái lo lắng đó, hai ngày sau, 2 tháng 5, con ông bà giáo ở Cần Thơ chạy về để xum họp với gia đình và báo tin là hai ông Tướng ở Cần Thơ tự sát, Tướng Khoa và Tướng Hưng. Trong nhà bàng hoàng chấn động. Ông giáo chép miệng:

- Tội nghiệp quá! Sao không đánh tiếp mà đầu hàng, còn bao nhiêu viên đạn phải đánh tới cùng chớ.


Bà  giáo «nạt» ngang chồng:

-  Thôi ông ơi, nói tầm xàm, người ta nghe được ông «chết dịch» đó.

Thời gian trôi qua, vài tháng sau không còn tiền, ông bà giáo cho Mừng thôi việc. Thấy họ sống chật vật Mừng cũng chảy nước mắt, sao mà đau đớn quá chừng vậy! 

Hai người con trai của ông bà đi trình diện rồi bị đem đi đâu mất... 

Lâu lâu Mừng ghé thăm, thấy nhà vắng hoe, trống trải, vì đồ đạc và ngay cả bàn ghế khảm xa cừ đều đem ra bán để mua gạo. Mừng thương chủ, nước mắt lưng tròng, nhưng thân Mừng và Má cũng không hơn. Má Mừng vào vườn mua rau cải rồi đem ra chợ bán, Mừng giúp Má đấp đổi qua ngày. À quên, con Vui mới 5 tuổi bị bịnh sốt thương hàn chết mấy tháng trước. Má Mừng khóc nhiều, bà lẩm bấm:

- Số phần nó ngắn ngủi có bao nhiêu đó thôi!

Một ngày, có nguời quen nói với Mừng:

- Đi Rạch Giá mua cá khô, mắm… đem về Vĩnh Long bán lại. Cái mối đó có lời lắm.

Thế là Mừng theo người quen đi qua đi lại Rạch Giá – Vĩnh Long lấy hàng. Đó là năm 1979, Mừng được 18 tuổi. Ở Rạch Giá Mừng lấy hàng với ông bà  Năm, có thuyền ra khơi đánh cá. Qua lại lâu ngày, ông bà Năm thấy Mừng tuy nghèo nhưng buôn bán chân chất, không xảo quyệt, nói đâu có đó, nên dần dần cũng thân thiện, nhiều khi họ giữ Mừng ở lại nhà, ăn cơm và ngủ đêm, khi lỡ chiều mà Mừng chưa về Vĩnh Long được.

Lần đó, Mừng cũng từ Vĩnh Long đến mua hàng như thường lệ, nhưng thấy nhà ông bà Năm rộn rip khác thường và tối đó lần lượt hơn 10 người kín đáo đến nhà. Họ thì thầm… Ông bà Năm bỗng kéo Mừng ra một góc, nói nhỏ:

- Cô không hẹn mà tới ngay ngày này, tụi tui sắp đi vượt biên, khuya nầy ra khơi. Cô muốn đi không, tui cho đi, không lấy tiền bạc gì đâu.

Mừng bất ngờ nên lấp bấp:

- Còn Má tui, bà ở Vĩnh Long, chờ tui về.

Ông Năm nhăn nhó:

- Bây giờ ai đi thoát được là đi, cô có cơ hội này. Sẵn gia đình tui đi, cô đi theo để «đổi đời», chớ sống ở đây càng lúc càng lụn bại.

Rồi ông còn «giáng» thêm một câu:

- Tùy cô, tui chỉ đề nghị. Ngày mai, tụi tui đi rồi, cô làm thinh đem hàng, cá  mắm về Vĩnh Long như thường lệ, đừng «hó hé» gì hết nhen.

Đầu óc hoang mang, hai chữ «đổi đời» của ông Năm vọng vào đầu. Gần đây  Mừng cũng thường nghe nhiều người ra đi và đến định cư  ở Mỹ, Pháp viết thư về cho gia đình. «Không lẽ cơ hội đến như vậy mà mình không đi». Suy nghĩ vài phút, Mừng gật đầu với ông bà Năm.

Tuy không có mảnh giấy tuỳ thân và tiền bạc trong người nhưng Mừng liều mạng. «Cũng liều nhắm mắt đưa chân. Mà xem con Tạo xoay vần  đến đâu». Mừng nhớ đã đọc 2 câu thơ này trong cuốn sách của ông giáo.

Khuya đó, trời tối đen như mực, nhưng ông bà Năm đã quen đường, đưa mọi người xuống thuyền đánh cá và ra khơi êm thắm. Trên thuyền có 52 người đều là họ hàng quen biết của ông bà Năm. Dạo đó chiếc tàu «Île de Lumière» của Pháp rảo  trên biển để vớt thuyền tỵ nạn VN, may làm sao, thuyền đánh cá của ông Năm ra khơi có 2 ngày là gặp được tàu của Pháp. Mọi người reo hò, mừng rỡ và tất cả được kéo lên boong. 

Đến đảo Pulau Bidong, tàu Pháp cho mọi người xuống. Sau một thời gian chờ  đợi, có nguời xin đi Mỹ, người xin đi Canada nhưng  Mừng chấp nhận đến Pháp, vì lúc học đệ thất, đệ lục Mừng có học sinh ngữ Pháp nên nhớ loe họe vài danh từ và nhớ cả cách chia động từ Être, Avoir. Hơn nữa,  tàu Pháp cứu, thì đi Pháp, trong đầu Mừng nghĩ.

Ngày đến Paris, Mừng được đưa đến trạm đón tiếp ở Herblay, ngoại ô Paris. Ở đây, chỉ là trạm tạm thời, sau đó mọi người được phân phối đi khắp nơi trên đất Pháp. Mừng được ở lại Paris, đi học tiếng Pháp và sau đó học nghề làm tóc. Ông bà Năm được đưa xuống Troyes và bây giờ có tiệm ăn và nhà cửa, sống khá thoải mái. Cơ may đưa đẩy, 20 năm sau, Mừng có một cửa tiệm uốn tóc nhỏ ở quận 13.

Ở Pháp phải sống hoà nhập với người bản xứ,  Mừng cố học nên bây giờ cũng nói tàm tạm tiếng Pháp để tiếp khách và trò chuyện khi làm tóc cho khách hàng. Khoảng năm 2000, đang  lui húi phía sau tiệm, cô thợ trẻ gọi với vào:

- Chị ơi, có nguời muốn gặp chị

Mừng chạy ra, thấy một thiếu phụ khoảng 40 tuổi, dáng dấp thanh lịch, cầm trên tay một hồ sợ và nói :

-          Nếu bà chủ cần người thì tôi để lại hồ sơ, tôi có bằng BP Coiffure ! (Brevet professionnel, một bằng  cấp cho phép hành nghề và mở tiệm làm tóc).

Mừng nhìn trân cô gái và bỗng òa lên:

- Trời ơi cô Dung, phải không?

Cô gái sững sờ, nhìn lại Mừng, chưa kịp nói gì, thì Mừng hớn hở  tiếp:

- Cô Dung ơi, tui là Mừng đây nè!

Dung là  con của ông bà chủ trước mà lúc nhỏ Mừng vẫn theo lẽo đẽo sau lưng. Tuy gần bằng tuổi nhau nhưng Mừng đã gọi Dung là cô cho phân biệt chủ tớ.

Dung bối rối, nhìn ra Mừng và ngượng ngùng buông ra vài tiếng :

- Ô, Mừng đó hả!

Tính tính chân thật, Mừng tíu tít:

- Trời ơi, thiệt là vui, gặp lại Cô ở đây. Ông bà và các cô cậu ra sao rồi cô Dung ?

Dung dè dặt đáp: 

- Ba má không chịu đi, tui qua cũng lâu rồi, còn mấy anh chị ở  Canada.

Mừng đỡ lấy hồ sơ xin việc trên tay Dung, vồn vã  nói:

- Cô Dung đến làm việc ở đây với Mừng nhe. Mừng đâu quên ơn Ông Bà cho Mừng đi học…

Dung giật lại hồ sơ, ấp úng nói:

-  Được rồi Mừng! Ngày mai tui sẽ trở lại làm việc ở đây.

Rồi vài câu thăm hỏi, Dung bước đi vội vã.

Mừng không bao giờ thấy cô Dung trở lại. Những đêm sau đó Mừng trằn trọc suy nghĩ, có lẽ cô Dung bàng hoàng vì bây giờ phải đi xin việc với «người ở đợ» ngày xưa, nhưng dù muốn giúp cô Dung, Mừng biết cô ở đâu mà tìm. Sự ngỡ ngàng  của Dung cũng  dễ hiểu, ôi có lẽ  đây là cuộc đổi đời khiến con người khó nhìn lại nhau! Tuy điều Mừng lo ngại, là cô Dung không có việc làm, nhưng suy đi nghĩ lại,  Mừng nhớ là ngày còn nhỏ cô Dung có thầy đến nhà dạy kèm Pháp Văn, mùa hè cô lên Sài Gòn luyện thêm sinh ngữ ở trường tây mà bây giờ Mừng biết là Centre Culturel français. Như vậy dù sao cô Dung cũng không đến nỗi nào. Nghĩ vậy Mừng an lòng, ngủ thiếp.

Cánh cửa tiệm được đẩy ra, cái chuông reo leng keng, Mừng chạy vội ra nhanh nhẩu đón khách :

- Bonjour Madame!

Bà khách đầm quen, cười tươi tắn:

- Bonjour Mylène. Vous pouvez vous occuper de moi, tout de suite? Une coupe et un brushing, comme d’habitude. (Chào Mylène. Cô có thế lo cho tôi ngay bây giờ không? Cắt và chảy tóc, như thường lệ)

Mừng cười vui vẽ, lấy áo choàng của khách treo vào tủ, mặc vào cho bà cái áo khoác màu hồng nhạt  của tiệm và hướng dẫn bà Đầm đến bồn gội đầu. Cái tên Mừng khó gọi, nên khi đi học, Mừng đã đổi lại là Mylène. Còn tên Mừng chỉ dành cho những ai quen biết từ trước, như ông bà Năm mà thỉnh thoảng Mừng vẫn gặp và mối liên hệ gần như là gia đình. Mừng nhớ khi vừa bước lên đảo, chờ làm giấy tờ, có cô cháu ông bà Năm ở Sài Gòn cũng đi vượt biên chung thuyền, cô lanh lợi chỉ «mánh»:

- Trời ơi, tên Mừng, nghe không đẹp, «bồ» khai tên khác đi, thay vi Huỳnh thị Mừng, đổi là Huỳnh Thúy Minh chẳng hạn, nghe hay hơn.

Thấy Mừng nhìn «trân trân», cô này vội vàng sửa sai:

-  Hay tên Huỳnh Ngọc Mừng, có chữ Ngọc vô nghe đẹp hơn, hén!

Trời, cô này đặt tên hay thật, nhưng Mừng lắc đầu lia lịa:

- Thôi, tên Má tui đặt sao, tui giữ vậy, dù gì cũng là tên cúng cơm. Cám ơn bồ nhiều.

Cái tên Mừng với nhiều kỷ niệm mà bảo đổi thành Thúy Minh hay Ngọc Mừng, không bao giờ ! Nhưng sang Pháp, ở lớp học, Mừng, được phát âm là «Mun gờ» giống như mangue (trái xoài) nên Mừng chấp nhận đổi tên.

Từ bồn gội đầu của tiêm uốn tóc Coiffure Mylène, Mừng nhìn ra cửa. Nắng Paris vào mùa xuân, ấm áp, chiếu rọi trên cánh cửa kính trong vắt, lấp lánh như đang vui đùa. Ngoài vỉa hè, tiếng cười nói của đám trẻ mang cặp trên lưng, trở lại trường học sau bữa ăn trưa, ồn ào náo nhiệt, nhưng Mừng nghe vui như những tiếng  chim kêu chíu chít gọi đàn. 

Kỷ niệm của những ngày thơ ấu ở Vĩnh Long  lảng vảng trong trí nhớ. 

Vừa gội đầu cho khách, Mừng vừa nói thầm:

- Ngày mai, phải đi gởi 200€ về VN cho Má và viết thơ nói bà nhớ mua quà đến tặng hai bên ông bà chủ.


Thanh Vân.

Paris, ngày 20 tháng 4 năm 2016.

Đính kèm là hình của Lady Thanh Vân ở Paris:



Thân mến 
TQĐ



Hãy Còn Nợ Vay

 


HÃY CÒN NỢ VAY 
Đỗ Công Luận 

Trân trọng 
NHHN 

Tháng Tư Đen: Tưởng Niệm Những Người Không Sợ Thần Chết

 


THÁNG TƯ ĐEN: TƯỞNG NIỆM NHỮNG NGƯỜI KHÔNG SỢ THẦN CHẾT

LÃO MÓC


Những ngày này, 49 năm về trước, trước khi ông Tổng Thống thời cơ Dương Văn Minh hèn nhát kêu gọi QLVNCH đầu hàng để giao trọn miền Nam cho VC thì, trong giờ phút Miền Nam lâm tử, đã có những vị Tướng lãnh miền Nam – NHỮNG KẺ ĐÃ KHÔNG SỢ THẦN CHẾT – bằng chính mạng sống của mình đã được THẦN CHẾT kính cẩn nghiêng mình mở CỔNG CHÍNH và mời các vị này bước vào lịch sử!


Bài viết này xin được tỏ lòng tri ân các vị anh hùng bất tử của QLVNCH; bởi vì như ai đó đã nói: Chết vì nước là sống mãi với thiên thu!


*

Thần Chết, tức Tử Thần xưa nay vẫn là nỗi ám ảnh, lo sợ của đại đa số con người. Đông và Tây thuở giờ mang hai nền văn hóa khác biệt. Ai đó đã từng nói: “Đông là Đông và Tây là Tây”. Nhưng theo tôi, Đông Tây vẫn có những cái thống nhất với nhau. Một trong những cái thống nhất đó là hình tượng Thần Chết. Tử Thần vẫn được Đông và Tây tượng trưng bằng một bộ xương khô, tay cầm lưỡi liềm. Quả là một hình tượng làm trẻ già lớn bé khắp nơi, tự cổ chí kim đều sợ hãi. Tôi cũng vậy, tôi cũng ớn cái lão ấy lắm. Cái lưỡi liềm ghê rợn trên tay lão lúc nào cũng như múa lên, chực chờ mà cắt phăng đi sinh mạng người ta! Sợ quá đi chớ! Cái lão Thần Chết đáng sợ ẩn ẩn hiện hiện khắp mọi nơi, mọi lúc. Tuổi già ư? Lão chẳng tha ai cả. Lão từ tốn ra tay, chậm chạp nhưng chắc chắn, từng người một.


Tai nạn ư? Lão đột ngột vung lưỡi liềm, số nạn nhân của lão vô chừng, khi nhiều, khi ít.


Bệnh tật ư? Lão hành hạ người ta chán chê rồi mới xuống tay. Chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai ư? Lão đắc ý vung tay lấy mạng người ta hàng loạt...


Người ta ít ai ưa lão, mà cũng ít ai không sợ lão. Lão tung hoành ngang dọc, coi thường mọi sự; kể cả những tiến bộ khoa học của đời nay. Những thứ đó thì cùng lắm chỉ ngăn cản bớt mức tàn khốc của cái lưỡi liềm trên tay lão mà thôi. Lâu ngày chầy tháng rồi thì cuối cùng lão vẫn thắng. Có lẽ lão lấy làm đắc ý với sức mạnh vạn năng của lão. Ai mà chẳng sợ? Lão nghĩ thế! Mà kể lão cũng đáng sợ thật. Nhưng lẽ đời mà, có cái gì tuyệt đối đâu. Đại đa số người ta sợ lão, nhưng không phải là tất cả. Có những người không hề sợ lão.


Ngày 21 tháng Chạp năm Giáp Thân (1248), 50 vạn quân Mông Cổ dưới quyền thống suất của Thái tử Thoát Hoan và hai danh tướng Ô Mã Nhi, Toa Đô ào ạt kéo sang xâm lăng Đại Việt. Hội quân trên đất Hồ Quảng phía Nam Trung Hoa: Lục quân do Thoát Hoan điều động tiến vào Lạng Sơn. Thủy quân từ Quảng Châu theo Toa Đô vượt biển vào Chiêm Thành; tự phía Nam tiến lên Bố Chánh (Quảng Bình) rồi thẳng ra Nghệ An. Quân Đại Việt bị kẹp giữa hai gọng kềm. Ngày 27 tháng Chạp, giặc chiếm Nội Bàng, Hưng Đạo Vương lui về Bái Tân (thượng lưu sông Lục Nam). Ngày 6 tháng Giêng, giặc đến Bình Than. Ngày 12 tháng Giêng, giặc chiếm Kinh Bắc (Bắc Ninh), Hưng Đạo Vương chuyển quân về Thiên Trường. Giặc cậy mạnh đuổi theo rất gấp. Ngài giao Trần Bình Trọng giữ Thiên Trường, còn mình bảo vệ vua Nhân Tông và Thượng Hoàng Thánh Tông lui về Hải Dương.


Ngày 21 tháng Giêng, Trần Bình Trọng chận đánh giặc tại Bãi Thiên Mạc (bên sông Cái, thuộc tỉnh Hưng Yên). Quân ít, thế cô, ông bị giặc vây bắt được. Thoát Hoan biết ông là một tướng tài, muốn trọng dụng nên hết sức vỗ về để dụ hàng. Ông khẳng khái từ chối.


Thoát Hoan hỏi ông:


“Có muốn làm Vương đất Bắc không?”

Trần Bình Trọng quắc mắt đáp:

“Ta chỉ bị bắt thì chỉ có chết mà thôi, đừng nhiều lời vô ích”.


Thoát Hoan biết không thể lung lạc được ông, đành ra lệnh chém..Lưỡi gươm Mông Cổ vung lên, cái lưỡi liềm của Tử Thần hạ xuống. Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng giây phút đó chợt trở thành cái tên thiên thu bất tử. Thần Chết ngỡ ngàng. Lão núp sau lưỡi gươm Thoát Hoan. Lão nghĩ rằng bại tướng kia sẽ kiêng oai lão. Đứng trước cái oai Thần Chết cùng với miếng mồi ngon là tước Vương đất Bắc, lão nghĩ người bại tướng nước Nam kia sẽ khó lòng cưỡng lại. Lão mỉm cười chờ đợi lời quy phục...


“Ninh vi Nam quỷ, bất vi Bắc vương...”


Câu trả lời ngạo nghễ kia đã tạt vào mặt lão một gáo nước lạnh, làm cho lão nhớ ra rằng trên đời này vẫn có những con người không hề sợ oai Thần Chết! Lão cay đắng nhận ra mình mới là người chiến bại.


Tới gần đây, nhân đọc một bài thơ, tôi mới biết thêm rằng, chẳng những con dân Đại Việt có rất nhiều người coi thường Thần Chết; mà hơn thế nữa, có những người còn làm cho Thần Chết sợ họ nữa kia!


Ngày 24-1-1930, tại hội nghị Võng La, Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng Nguyễn Thái Học tuyên bố: “Chúng ta nhất định phải phát động cuộc Tổng khởi nghĩa. Không thành công thì thành nhân”. Ngày 10-2-1930, cuộc Võ trang khởi nghĩa do Việt Nam Quốc Dân Đảng lãnh đạo nổ ra. Cách mạng quân tấn công Yên Báy, Hưng Hoá, Lâm Thao, Sơn Tây, Đáp Cầu, Phả Lại, Phủ Đức, Vĩnh Bảo và nhiều nơi trong nội thành Hà Nội. Một số lãnh tụ của Đảng hy sinh hoặc bị bắt.

Ngày 28-3-1930, Hội đồng Đề hình của thực dân Pháp đã mở phiên xử tại Yên Báy với kết quả:


-100 án khổ sai chung thân;

-50 án tử hình.


Đó là chưa kể đến hàng hàng lớp lớp chiến sĩ ái quốc đã bị tù đày và bắn giết ngay sau ngày khởi nghĩa. 5 giờ sáng ngày 17-6-1930, Đảng trưởng Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí lần lượt bước lên máy chém, và cũng là đài vinh quang đưa tên tuổi họ vào lịch sử.


Đó là các liệt sĩ:


1- Bùi Tư Đoàn, 37 tuổi, nông dân,

2- Bùi Văn Chuẩn, 35 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy.

3- Nguyễn An, 31 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,

4- Hồ Văn Lạo, 35 tuổi, thợ hồ,

5- Đào Văn Nhít, 32 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,

6- Ngô Văn Du, 29 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,

7- Nguyễn Đức Thịnh, 30 tuổi, thuộc Binh đoàn yên Báy,

8- Nguyễn Văn Tiềm, 28 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,

9- Đỗ Văn Sứ, 27 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,

10- Bùi Văn Cửu, 30 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,

11- Nguyễn Như Liên, 27 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,

12- Phó Đức Chính, 32 tuổi, công chức,

13- Nguyễn Thái Học, 29 tuổi, Đảng trưởng.


Muời ba lần, lưỡi gươm máy chém nặng nề rơi xuống. Mười ba tiếng hô “Việt Nam vạn tuế” dõng dạc vang lên...


Trong buổi sáng sớm của ngày Quốc tang đó, Thần Chết không còn dám núp mình trong cái khí cụ giết người là cái máy chém kia nữa. Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên! Lão Thần Chết lần này không còn cái dáng vẻ đáng sợ như mọi ngày. Thần Chết giờ đây đang kính cẩn đứng khắc từng cái tên anh hùng vào bia tuẫn quốc! Tôi có lỗi quá! Không nhớ hết bài thơ, tôi cũng không nhớ được tên tác giả. Tôi chỉ có được một nén hương lòng. Bằng hữu xa gần, ai nhớ, xin làm ơn nhắc dùm tôi! Cũng vào những ngày này, 49 năm trước; cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do đã kết thúc một cách bất hạnh. Quân đội miền Nam đã chiến đấu anh dũng nhưng lực bất tòng tâm, vả lại sinh mạng miền Nam tự do chỉ là một con cờ trên bàn cờ quốc tế, mà người có quyền quyết định kết quả đó không phải là những người Việt yêu tự do ở miền Nam. Và cũng trong những ngày bi thảm đó, Thần Chết đã phải thêm một lần kính cẩn đón tiếp những con người Việt Nam bất khuất; những con người mà đứng trước giờ lâm tử của Tổ quốc họ đã quay ra coi thường Thần Chết. Trái với lệ thường, những con người kia đã bình tĩnh ra lệnh cho Thần Chết đến trình diện họ. Và lão đã kính cẩn tuân lệnh.


-Tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó Quân đoàn IV & Quân khu IV, nói với sĩ quan và binh sĩ thuộc quyền: “Tôi chấp nhận chết. Một người Tướng không giữ được nước thì phải chết vì nước, không thể bỏ dân, bỏ xứ để cầu an cho bản thân, Vĩnh biệt anh em...” Một tiếng súng nổ, 8 giờ tối ngày 30-4-1975.


- Tướng Nguyễn Khoa Nam:“... Chúng tôi là Tướng chỉ huy, nếu chúng tôi không bảo vệ được đất nước thì chúng tôi phải chết theo đất nước”. Một tiếng súng nổ, 6 giờ sáng ngày 1-5-1975.


- Tướng Trần Văn Hai, Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ Binh: “... Chúng ta đã làm tất cả những gì có thể làm được... Chúng ta đã chiến đấu hết sức mình, nhưng trong giờ phút này chúng ta đành phải bó tay... Xin cám ơn và vĩnh biệt các anh em”. Một tiếng súng nổ, sáng ngày 1-5-1975.


- Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh: “... Tôi nghĩ thân làm Tướng là đã hưởng vinh dự và ân huệ của Quốc gia hơn các anh em, nên tôi đã nghĩ đến một lối đi riêng cho tôi”. Và lối đi đó đã mở ra bằng một phát súng, trưa ngày 30-4-1975.


- Tướng Phạm Văn Phú: “... Tôi không thể bỏ ra đi khi đất nước của tôi trong tình trạng như thế này. Tôi sẽ ở lại đây để chết chớ không đời nào chịu đầu hàng Cộng sản”. Tướng Phú đã trả lời tướng Smith ngày 27-4-1975 như vậy khi ông này ngỏ ý mời tướng Phú và gia đình di tản. 32 viên Chloroquine uống vào lúc khoảng 2 giờ trưa ngày 29-4-1975.


Cái danh sách mà Thần Chết được lệnh phải đi đón trong những ngày đó còn dài. Những sĩ quan cấp Tá, cấp Úy, những hạ sĩ quan, binh sĩ, cảnh sát, công chức, cán bộ... Cái danh sách đó đang được lão Thần Chết trân trọng giữ gìn, chờ một ngày để trao lại cho những nhà viết sử,


Từ lâu rồi, lão đã học được một điều, là khi người ta lấy Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm làm trọng, thì người ta sẽ không còn sợ lão. Rồi theo lẽ tự nhiên, lão đâm ra sợ ngược lại những con người kia. Khi họ gọi lão đến, lão cung kính đến trình diện và mẫn cán làm cái nhiệm vụ mà Danh Dự và Trách Nhiệm của những người kia giao cho lão. Lão kính cẩn khắc tên họ vào bia tuẫn quốc. Như vậy thì xét ra cái lão Thần Chết này cũng không đáng sợ và đáng ghét cho lắm. Lão là người đôi khi cũng biết điều. Lão hay dọa dẫm người ta. Nhưng nếu gặp người, gặp lúc lão cũng biết cách cư xử. Lão cũng làm được nhiều việc đáng làm. Lão rất rạch ròi phân minh. Lão đã kính cẩn khắc những cái tên Trần Bình Trọng, Nguyễn Thái Học... vào lịch sử. Lão đã đặt tên ai vào chỗ nào là không bao giờ sai chạy. Đâu ra đó. Không bao giờ lão lầm lẫn để cái tên Nguyễn Hữu Hạnh lẫn lộn với những cái tên Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ...Không bao giờ!  Bao nhiêu tiền bạc, bao nhiêu sách vở, tài liệu ngụy tạo dấu diếm đều không qua được mắt lão. Không bao giờ! Trần Bình Trọng, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú... cùng những con người khác nữa; đứng trước cổng lịch sử, họ dõng dạc lên tiếng gọi lão. Lão đã kính cẩn mở cái cổng ấy ra, CỔNG CHÁNH, và kính cẩn, lão rước họ vào!


LÃO MÓC