Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026
5 Năm Sau Cuộc Biểu Tình Lịch Sử, Cuba Gia Tăng Đàn Áp Trong Bối Cảnh Khủng Hoảng Kinh Tế Và Xã Hội Nghiệm Trọng
Việt Nam Cộng Hòa Đã Chết?
VIỆT NAM CỘNG HÒA ÐÃ CHẾT ?
- Trang 532 có tóm lược Kết Ước Quốc tế về Thi hành Hiệp định Hòa Bình Paris (KƯQT) năm 1973 do Việt Nam Cộng Hòa ký kết với 10 quốc gia khác và Mặt trận giải phóng miền Nam ngày 2 tháng 3 năm 1973 (hình 2).
Vì file pdf này quá dài, chúng tôi chỉ tìm thấy được ở hai trang trên. Nếu quý vị còn thấy chỗ nào có nhắc đến Việt Nam Cộng hòa xin vui lòng cho chúng tôi cùng đồng bào được biết.
Ai cũng biết Hiệp Định Hòa Bình Paris (HÐHBPR) được ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Paris gồm có bốn bên : Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng miền Nam. Hiệp Định này có 9 chương và 23 điều quy định bốn bên đồng ý ngưng bắn tại chỗ, Hoa Kỳ rút quân sau 60 ngày và miền Nam Việt Nam sẽ được tổ chức bầu cử theo thể thức dân chủ, có quốc tế giám sát để người dân miền Nam quyết định số phận của mình
Sau Hiệp định Hòa Bình Paris 1 tháng có một Kết ước Quốc tế Bảo đảm Thi hành Hiệp định Hòa bình Paris, cũng được ký kết giữa 11 quốc gia và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tất cả cam kết Tôn trọng và Thi hành Hiệp định Hòa Bình Paris và tôn trọng chủ quyền, độc lập lãnh thổ của đất nước Việt Nam. 12 thành phần ký tên là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Canada, Anh, Pháp Indonesia, cùng với các nước Cộng Sản là Liên Xô, Trung cộng, Hungary, Ba Lan, Cộng Sản Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng Miền Nam.
Tuy nhiên chờ đợi cho Hoa Kỳ rút quân về nước theo tinh thần HÐPR thì cộng sản Bắc Việt đã tiếp tục tấn công và cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa vào tháng 4, năm 1975
Cả 2 Hiệp định Hòa Bình Paris và Kết Ước Quốc tế 1973 đều không có ngày hết hạn nên tự nhiên chúng cũng còn giá trị về mặt pháp lý.
Trong KƯQT này tất cả 12 thành phần ký tên đều công nhận HÐHBPR và công nhận chủ quyền độc lập lãnh thổ của đất nước Việt Nam. Như vậy hành động chiếm đóng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung cộng là hoàn toàn bất hợp pháp.
Tuy nhiên chúng ta phải biết rằng những cái Kết ước Quốc tế mặc dù nó có giá trị pháp lý nhưng không phải lúc nào cũng được tự động đem ra thi hành. Rất nhiều khi phải đòi hỏi, đấu tranh hay rranh thủ sự nhìn nhận của quốc tế
Thí dụ như Hiến chương Liên Hiệp Quốc cấm các nước xâm lăng nước khác, theo điều 2.4. Tuy nhiên nước Nga là một trong các nước của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc công khai xâm lăng Ukraine, nhưng họ bào chữa rằng chúng tôi không xâm lăng Ukraine, chúng tôi chỉ hành động trong một Chiến dịch quân sự đặc biệt (!).
Mặt khác Trung cộng công khai xâm lăng Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam nhưng họ không bao giờ nói rằng họ xâm lăng. Họ chỉ nói rằng chúng tôi hành xử trong chủ quyền lãnh thổ biển đảo của chúng tôi.
Một thí dụ khác là khi Philippines thưa Tàu cộng ra tòa án quốc tế năm 2016 về vấn đề biển đảo của họ. Trọng tài quốc tế đã phán quyết là Trung cộng sai, không có cơ sở pháp lý nào để cho thấy khu vực biển Đông là lãnh thổ của Trung cộng, thì Trung cộng tuyên bố là phán quyết của Trọng tài quốc tế không có hiệu lực
Như vậy là sau một phán quyết của Trọng tài Quốc tế vẫn cần phải có những sự tranh đấu, những biện pháp để được thi hành, chứ không phải kẻ bị phán xét là Trung cộng lại ngoan ngoãn thực hiện.
Một số chính trị gia nông cạn dựa vào đó nói rằng: Thấy chưa, cho dù phán quyết của Trọng tài Quốc tế cũng không có giá trị !
Người khôn ngoan phải hiểu rằng trong tương lai khi thời cơ chín muồi, Việt Nam hay Philippines phải biết dựa vào phán quyết của Tòa án quốc tế làm căn bản pháp lý để đánh đuổi Trung cộng ra khỏi biển đảo của mình.
Ngay cả khi Mỹ muốn bước vào biển Đông cũng phải dựa vào Kết Ước Quốc tế đã ký kết với Trung cộng và Phán Quyết tòa Trọng tài Quốc tế nói trên.
Tóm lại sự hiện diện của Việt Nam Cộng hòa trong danh sách những Hiệp ước còn hiệu lực của đất nước Hoa kỳ năm 2016 là một thế mạnh pháp lý cho chúng ta. Chúng ta phải biết lợi dụng những ưu thế này để chiến đấu cho một nước Việt Nam Cộng hòa tự do, dân chủ.
Còn nếu chúng ta không chịu tìm hiểu cứ khẳng định rằng Việt Nam Cộng hòa đã chết, Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973 đã chết, Kết ước Quốc tế 1973 đã chết thì đó là cái may mắn cho bọn Cộng sản cướp nước. Nếu mọi người Việt Nam đều đồng thanh nói như thế thì chính chúng ta đã cùng nhau bức tử đất nước của mình.
Trân trọng,
Trần Long
Thiệp Mời Tham Dự Buổi Lễ Tôn Vinh Cờ Vàng Của Liên Hội Người Việt Canada
Những Chiếc Ghế Không Chịu Nguội
Khi Quốc hội Mỹ trở thành viện dưỡng lão quyền lực
Tháng Bảy năm 2023, trước ống kính truyền hình toàn quốc, Lãnh tụ khối thiểu số Thượng viện Mitch McConnell đang trả lời báo chí thì đột nhiên đứng bất động. Miệng ông há hé, ánh mắt trống rỗng, 19 giây trôi qua như 19 năm. Các phụ tá vội dìu ông vào trong.
Một tháng sau, cảnh tượng ấy lặp lại ở Kentucky, lần này trước câu hỏi đơn giản: ông có tranh cử nữa không. Ông không trả lời được. Nhưng ông vẫn ngồi đó, nhiệm kỳ thứ bảy, nắm trong tay bộ máy quyền lực Thượng viện đã gần bốn thập niên.
Người phụ nữ từng là thị trưởng San Francisco đầy bản lĩnh, từng chủ trì Ủy ban Tình báo Thượng viện, giờ đây không còn nhớ nổi mình đang biểu quyết điều gì. Bà qua đời ngay trong nhiệm kỳ, trên chiếc ghế mà bà đã giữ suốt 31 năm.
Và ai đã sống qua thập niên trước còn nhớ Strom Thurmond, người ăn mừng sinh nhật thứ 100 ngay tại Thượng viện, khi các trợ lý phải nhắc ông biểu quyết gì, đi hướng nào, đứng chỗ nào.
Robert Byrd giữ ghế 51 năm cho đến hơi thở cuối cùng.
Chuck Grassley của Iowa hiện đang ở nhiệm kỳ thứ tám — ông vào Thượng viện từ thời Ronald Reagan mới nhậm chức, và nếu trọn nhiệm kỳ, ông sẽ rời ghế ở tuổi 95.
Người Mỹ hay quên rằng ý tưởng giới hạn nhiệm kỳ không phải sản phẩm của cơn giận dữ dân túy hiện đại. Nó nằm ngay trong văn kiện lập quốc đầu tiên.
Các Điều khoản Hợp bang năm 1781 quy định rõ: không đại biểu nào được phục vụ quá 3 năm trong mỗi 6 năm. Thế hệ lập quốc gọi đó là “rotation in office” — sự luân chuyển chức vụ — và coi nó là đức hạnh cộng hòa căn bản, tấm khiên chống lại việc quyền lực đóng cặn trong tay một nhóm người.
Đến Hội nghị Lập hiến 1787, điều khoản ấy biến mất. Đây là điều đáng suy ngẫm: các Quốc phụ bỏ nó đi chẳng phải vì họ đổi ý về nguyên tắc, mà vì họ tin sự luân chuyển sẽ tự nhiên diễn ra. Thời ấy, làm dân biểu là một gánh nặng — lương thấp, đường sá lầy lội, xa gia đình và trang trại hàng tháng trời. Người ta phục vụ vài nhiệm kỳ rồi về quê, theo gương Cincinnatus của La Mã: cầm gươm khi tổ quốc cần, trả gươm khi việc xong, trở lại với luống cày.
George Washington đã sống đúng tinh thần ấy khi từ chối nhiệm kỳ tổng thống thứ ba, tạo ra tiền lệ bất thành văn kéo dài một thế kỷ rưỡi — cho đến khi Franklin Roosevelt phá vỡ nó, và nước Mỹ phải khắc tiền lệ ấy thành đá bằng Tu chính án 22 năm 1951.
Các Quốc phụ đã tiên liệu bạo chúa. Họ đã tiên liệu phe phái. Điều họ không tiên liệu là Washington D.C. sẽ trở thành nơi dễ chịu đến thế: quyền lực, danh vọng, đội ngũ nhân viên phục dịch, những buổi gây quỹ triệu đô, và một hệ thống thâm niên biến chiếc ghế Quốc hội thành tài sản sinh lời theo năm tháng. Chiếc gươm của Cincinnatus, hóa ra, cầm mãi cũng quen tay.
Con số nói thay mọi lời hùng biện. Tỷ lệ dân biểu đương nhiệm tái đắc cử ở Hạ viện thường xuyên trên 95% — trong khi mức tín nhiệm dành cho Quốc hội có những năm rơi xuống dưới 20%. Cử tri khinh miệt định chế nhưng bất lực trước từng thành viên của nó. Nghịch lý ấy có tên: lợi thế đương nhiệm.
Tiền gây quỹ đổ về kẻ đang nắm ghế. Bản đồ bầu cử được vẽ để bảo vệ kẻ đang nắm ghế. Truyền thông địa phương xoay quanh kẻ đang nắm ghế. Một cuộc bầu cử trên danh nghĩa là cạnh tranh, trên thực tế là nghi lễ gia hạn hợp đồng.
Rồi đến hệ thống thâm niên — thứ luật bất thành văn độc hại nhất của Điện Capitol. Muốn làm chủ tịch ủy ban, muốn quyết định ngân sách, muốn có tiếng nói thật sự, anh phải ngồi đủ lâu. Hệ quả là cả một cấu trúc khuyến khích người ta bám ghế đến chết, theo nghĩa đen. Một tiểu bang gửi người mới lên là tự nguyện chịu thiệt so với tiểu bang gửi ông lão tám mươi đã ngồi 40 năm. Toàn bộ hệ thống trừng phạt sự đổi mới và tưởng thưởng sự hóa thạch.
Và khi quyền lực ở lại quá lâu trong một bàn tay, nó không còn phục vụ ai ngoài chính nó. Người ta bám ghế vì ghế nuôi cả một hệ sinh thái: gia đình, phụ tá, nhà tài trợ, những danh mục đầu tư chứng khoán sinh lời đáng ngờ của các nghị sĩ vốn nắm thông tin trước thị trường. Đảng phái trở thành phương tiện, quốc gia trở thành phông nền. Cả hai đảng đều thế — trong số những người sẽ bị quét khỏi Hạ viện nếu áp dụng giới hạn ba nhiệm kỳ, Cộng hòa và Dân chủ chia đều gần như tuyệt đối. Gerontocracy, chế độ lão trị, không có màu đỏ hay xanh. Nó chỉ có một màu: màu của chiếc ghế.
Có người sẽ bảo: thì đấy, hệ thống tự điều chỉnh được mà, nhìn Nancy Pelosi xem. Tháng Mười Một 2025, ở tuổi 85, bà tuyên bố không tái tranh cử. Báo chí ca ngợi một sự ra đi thanh thản.
Xin đừng để màn dàn dựng ấy đánh lừa. Không có sự thức tỉnh lương tâm nào ở đây cả. Cái đẩy Pelosi và Jerry Nadler ra khỏi sân khấu là nỗi hoảng loạn của chính Đảng Dân chủ sau thảm bại 2024 — khi cả nước chứng kiến một tổng thống suy kiệt được bộ máy đảng che chắn đến phút sụp đổ, và cử tri trừng phạt cả đảng vì tội đồng lõa.
Từ khoảnh khắc ấy, khối cử tri nền tảng của Dân chủ nổi loạn công khai chống lại giới lãnh đạo lão hóa: các cuộc thách thức sơ bộ mọc lên khắp nơi nhắm vào những dân biểu cao niên, tiền quyên góp đổ về các gương mặt trẻ, và thông điệp từ cơ sở rõ như ban ngày — đảng không thể ra trận năm 2026 với một hàng ngũ tướng lĩnh mà cử tri nhìn vào chỉ thấy hình bóng Biden.
Pelosi đọc được chữ viết trên tường, vì đọc tình thế chính trị là nghề của bà. Nhưng hãy đọc kỹ bản lý lịch trước khi tin vào sự “tự giác”: vào Hạ viện từ 1987, khi Reagan còn ngồi Tòa Bạch Ốc; gần 40 năm giữ ghế; 20 năm liên tục cầm đầu khối Dân chủ Hạ viện — chuỗi lãnh đạo dài nhất của cả hai đảng kể từ thời Sam Rayburn chết ngay trên ghế năm 1961.
Chính nội bộ Dân chủ gọi triều đại ấy bằng một chữ chua chát: nút nghẽn. Hai thập niên, cả một thế hệ dân biểu trẻ bị chặn đứng dưới cái trần do một người dựng nên, và mỗi lần có kẻ dám thách thức, bà nghiền nát không thương tiếc. Ngay cả việc bà rời ghế lãnh đạo năm 2022 cũng chẳng phải tự nguyện — đó là kết quả của sức ép nội bộ đã dồn nén đến mức không thể đàn áp thêm.
Người đàn bà ấy chưa từng nhường một tấc quyền lực nào mà không bị buộc phải nhường.
Đó là chưa nói đến khối tài sản. Trong những năm ngồi ghế, tài sản của gia đình Pelosi tăng hơn 20 lần, và các thương vụ chứng khoán của chồng bà — trùng khớp kỳ lạ với những đạo luật đang nằm trên bàn Quốc hội — trở thành đề tài đàm tiếu đến mức dân đầu tư nhỏ lẻ lập hẳn công cụ theo dõi “danh mục Pelosi” để mua theo. Bà phủ nhận mọi cáo buộc giao dịch nội gián, dĩ nhiên. Nhưng một nền cộng hòa lành mạnh không nên cần đến lời phủ nhận ấy, bởi nó không nên để một dân biểu ngồi đủ lâu để tích lũy cả đế chế thông tin lẫn đế chế tài chính ngay giữa lòng cơ quan lập pháp.
Và cả sự ra đi cũng đầy toan tính. Bà công bố quyết định chỉ hai ngày sau khi dồn hàng chục triệu đô la vận động thành công Proposition 50 — vẽ lại bản đồ bầu cử California có lợi cho đảng mình. Một cuộc rút lui thật sự vì lương tâm không cần màn pháo hoa gerrymandering làm quà chia tay. Đây là cuộc rút lui của một chính khách biết mình sắp bị đào thải, nên chọn ra đi trên thảm đỏ thay vì bị khiêng ra bằng lá phiếu sơ bộ. Người ta không rời sân khấu; người ta chỉ rời khi hậu trường đã bắt đầu kéo màn.
Jerry Nadler cũng cùng một kịch bản, chỉ vụng về hơn trong khâu che đậy. 34 năm ở Hạ viện, từng nắm chiếc ghế Chủ tịch Ủy ban Tư pháp đầy quyền lực, những năm cuối ông trở thành hình ảnh quen thuộc của các buổi điều trần: gục xuống, mắt nhắm nghiền giữa phiên họp, được nhân viên lay dậy.
Cuối năm 2024, ông bị chính đồng viện trẻ hơn thách thức chiếc ghế lãnh đạo Dân chủ tại Ủy ban Tư pháp và phải buông — dấu hiệu đầu tiên cho thấy hậu thuẫn nội bộ đã cạn. Chưa đầy một năm sau, ông tuyên bố không tranh cử nhiệm kỳ thứ 18, viện dẫn bài học Biden và nhu cầu “chuyển giao thế hệ.” Ngôn từ thì cao thượng, nhưng trình tự sự kiện tự nó kể một câu chuyện khác: mất ghế lãnh đạo trước, mất hậu thuẫn cơ sở sau, rồi mới “tự giác” ra đi. Con người ta hiếm khi giác ngộ đúng vào lúc hết đường lùi.
Và đây mới là điểm cốt tử cho lập luận của chúng ta: nếu phải cần đến một thảm họa bầu cử cấp quốc gia, một cuộc nổi loạn của cử tri nền tảng, và những cuộc thách thức sơ bộ dí sát gáy thì mới bẩy nổi hai chiếc ghế sau 63 năm cộng lại — thì đó chính là bản án dành cho luận điểm “lá phiếu đã là term limit rồi.” Lá phiếu bình thường chưa từng chạm được vào họ suốt bốn thập niên. Chỉ có địa chấn mới làm được.
Một hệ thống mà sự luân chuyển quyền lực phải trông chờ vào địa chấn là một hệ thống hỏng. Với luật 6–12, cả Pelosi lẫn Nadler đã trả ghế cho cử tri từ thế kỷ trước — không cần thảm họa nào, không cần ai dí gáy, và khi còn đủ minh mẫn để về mà không cần ai dìu.
Công thức Tổng thống Trump đưa ra từ thời “Drain the Swamp” và nay tái khởi động qua Nghị quyết chung H.J.Res. 12 của Dân biểu Ralph Norman rất đơn giản: tối đa 3 nhiệm kỳ Hạ viện, tức 6 năm, và 2 nhiệm kỳ Thượng viện, tức 12 năm. Áp con số ấy vào Quốc hội hiện tại, gần ba phần tư số nghị sĩ — có thống kê mới còn đưa ra con số cao hơn ở Hạ viện — sẽ phải khăn gói ra về.
Chính con số ấy là lời buộc tội đanh thép nhất. Một cơ quan dân cử mà 7 trên 10 thành viên đã vượt quá ngưỡng phục vụ hợp lý thì đó đâu còn là “citizen legislature” — nghị viện của công dân — như các Quốc phụ hình dung. Đó là một giai cấp. Một tầng lớp quý tộc không vương miện, cha truyền con nối không phải bằng huyết thống mà bằng bộ máy gây quỹ và bản đồ bầu cử.
6 năm cho Hạ viện có ngắn quá không? Có thể tranh luận. — 6, 8 hay 12 năm— quan trọng ít hơn nhiều so với nguyên tắc: quyền lực lập pháp phải có ngày hết hạn. Người Mỹ đã chấp nhận nguyên tắc ấy cho tổng thống từ 1951 và chưa từng một lần nghiêm túc đòi bỏ nó. Nếu giới hạn nhiệm kỳ là khôn ngoan cho người nắm quyền hành pháp với cả quân đội trong tay, thì thật khó biện minh vì sao nó lại nguy hiểm cho một dân biểu.
Công bằng mà nói, phe phản đối có lý lẽ không thể phẩy tay. Thứ mạnh nhất: giới hạn nhiệm kỳ không xóa quyền lực, nó chỉ dời quyền lực. Nghị sĩ non kinh nghiệm sẽ lệ thuộc vào ai? Vào đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp không do dân bầu, và vào các lobbyist ngồi ở K Street từ thập niên này sang thập niên khác, không nhiệm kỳ nào giới hạn họ cả. Kinh nghiệm từ các tiểu bang đã áp dụng giới hạn nhiệm kỳ cho nghị viện bang, như California hay Michigan, cho thấy hiện tượng này có thật. Phe phản đối còn thêm: cử tri vốn đã có công cụ giới hạn nhiệm kỳ hoàn hảo, gọi là lá phiếu.
Nhưng lập luận lá phiếu sụp đổ trước chính thực tế nó viện dẫn. Khi tỷ lệ tái đắc cử vượt 95% phần trăm nhờ gerrymandering và tiền đương nhiệm, lá phiếu không còn là công cụ giới hạn — nó là con dấu cao su. Còn nỗi lo về lobbyist, xin hỏi ngược: McConnell 40 năm, Grassley 45 năm, có làm K Street yếu đi chút nào chăng? Hay chính sự trường tồn của các nghị sĩ mới tạo ra những mối quan hệ cộng sinh bền chặt nhất giữa quyền lực và tiền bạc? Kẻ ngồi lâu không miễn nhiễm với lobbyist; kẻ ngồi lâu là khách hàng thân thiết nhất của lobbyist.
Và đây là chỗ bi kịch của câu chuyện. Năm 1995, trong vụ U.S. Term Limits v. Thornton, Tối cao Pháp viện phán quyết với tỷ lệ sít sao 5–4 rằng các tiểu bang không được tự đặt giới hạn nhiệm kỳ cho nghị sĩ liên bang của mình — 23 tiểu bang đã làm thế đều bị vô hiệu hóa. Cánh cửa duy nhất còn lại là tu chính hiến pháp theo Điều V: hai phần ba lưỡng viện thông qua, ba phần tư tiểu bang phê chuẩn.
Nghĩa là phải nhờ chính những người sẽ mất ghế bỏ phiếu tước ghế của mình. Người Anh có câu: gà tây không bao giờ bỏ phiếu cho lễ Tạ Ơn. Năm 1994, Đảng Cộng hòa đưa giới hạn nhiệm kỳ vào Contract with America, thắng lớn, rồi để dự luật chết ngay tại Hạ viện do chính mình kiểm soát. 30 năm sau, hơn 140 nghị sĩ đã ký cam kết ủng hộ H.J.Res. 12 — con số nghe ấn tượng cho đến khi ta nhớ rằng cam kết thì miễn phí, còn biểu quyết thì chưa từng được đưa ra sàn.
Còn một lối khác mà Điều V để ngỏ: hội nghị tu chính do hai phần ba số tiểu bang triệu tập, đi vòng qua Quốc hội hoàn toàn. Con đường ấy chưa ai đi trọn trong lịch sử Mỹ, và nó mang những rủi ro riêng. Nhưng sự tồn tại của nó nhắc ta một điều: các Quốc phụ đã dự phòng cả kịch bản Quốc hội trở thành chướng ngại vật cho chính nền cộng hòa.
Vấn đề ở đây không nằm ở chỗ nước Mỹ thiếu người tài để thay thế các ông lão bà lão đang ngủ gật trong phòng ủy ban. 330 triệu dân, thiếu gì. Vấn đề nằm ở một hệ thống đã biến chức vụ công thành sản nghiệp tư, biến người công bộc thành chủ nhân ông, và biến cuộc bầu cử — nghi thức thiêng liêng nhất của nền dân chủ — thành thủ tục gia hạn cho những người đã ngồi từ thời Chiến tranh Lạnh.
Feinstein xứng đáng được về hưu trong danh dự thay vì bị đẩy xe lăn đi biểu quyết những điều bà không còn hiểu. Thurmond xứng đáng mừng sinh nhật thứ 100 bên con cháu thay vì giữa các trợ lý nhắc tuồng. Và nước Mỹ xứng đáng có một Quốc hội biết rằng quyền lực là thứ vay mượn của nhân dân, có kỳ hạn, phải hoàn trả.
Cincinnatus vĩ đại không phải vì ông cầm gươm giỏi. Ông vĩ đại vì ông biết buông gươm. Một nền cộng hòa quên mất bài học ấy thì dù hiến pháp có tinh vi đến đâu, sớm muộn cũng nuôi trong lòng mình một tầng lớp không bao giờ chịu buông — và lịch sử chưa từng nương tay với nền cộng hòa nào như thế.
Vô Danh
Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026
USTR: Cần Gấp Thông Tin Về Cưỡng Bức Lao Động Ở Việt Nam
|
Quyền Sống Và Lời Cảnh Tỉnh Từ Tổng Thống Donal Trump; Nhìn Lại Thân Phận Con Người Dưới Ách Cộng Sản
Trong những năm tháng gần đây, hình ảnh của Tổng Thống Mỹ Donald Trump đã tạo nên một tác động sâu đậm trong khối người Việt trong và ngoài nước. Dù đúng hay sai, Tổng Thống Trump đại diện cho một phong cách lãnh đạo quyết đoán, một tiếng nói bộc trực, dám vạch trần những sự thật tàn khốc mà thế giới tự do đôi khi vì nhu nhược đã cố tình che đậy. Một trong những tuyên cáo đanh thép và chấn động nhất của ông nhân ngày Lễ Độc Lập thứ 250 của Hoa Kỳ chính là lời kết án: "Chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn trái ngược với Quyền sống, Quyền tự do, và Mưu cầu Hạnh phúc – nó là cái chết, sự chuyên chế và mưu cầu sự tàn ác". Lời phán quyết ấy không đơn thuần là một khẩu hiệu vãng lai trên chính trường, mà chính là sự đúc kết từ lịch sử đẫm máu của nhân loại. Đối với quốc dân Việt Nam, đó là một lăng kính để chúng ta tự soi rọi lại thân phận của chính mình và đồng bào mình.
Lời cảnh tỉnh về "cái chết" của vị Tổng Thống Mỹ đã được chứng minh qua những trang sử đầy máu và nước mắt của dân tộc. Khởi đi từ chiến dịch Cải cách Ruộng đất kinh hoàng, kéo theo đó là thảm kịch Mậu Thân 1968 khi năm ngàn đồng bào vô tội tại cố đô Huế bị vùi lấp tức tưởi dưới những hố chôn người tập thể. Nỗi đau chưa dừng lại ở đó, sau biến cố Tháng Tư Đen, gần hai trăm ngàn quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã bị bức tử nơi chốn rừng thiêng nước độc đằng sau lớp vỏ bọc mang danh nghĩa trại "cải tạo". Và tận cùng của tấn bi kịch là nửa triệu sinh linh đã vùi thây dưới lòng biển thẳm hay chốn rừng sâu khi liều mình vượt biên chạy trốn ách gông cùm cộng sản.
Cho đến tận hôm nay, hàng triệu cái chết oan khuất ấy và hàng triệu sinh mạng khác đã mất trong một cuộc chiến do CSVN chủ trương để phục vụ chủ nghĩa cộng sản thế giới, chẳng những chưa từng nhận được một lời tạ lỗi từ những người cầm quyền, mà vong linh của họ còn tiếp tục bị chà đạp và phỉ báng. Một thể chế khước từ sự sám hối và ngang nhiên xem thường linh hồn của những người đã khuất, thì làm sao có thể trông mong họ biết tôn trọng Quyền sống của những con người đang hiện hữu?
Có những ngụy biện cho rằng thời kỳ khói lửa đã qua, và chế độ nay đã thay da đổi thịt. Thế nhưng, "cái chết" và "sự chuyên chế" trong thời bình lại khoác lên mình những chiếc áo tinh vi và tàn độc không kém. Quyền sống không chỉ đơn thuần là việc giữ cho một thể xác còn thoi thóp thở. Đó phải là quyền được làm người một cách trọn vẹn: được hít thở bầu không khí trong lành, được hưởng thụ sự công bằng của xã hội, và trên hết là quyền bất khả xâm phạm về tài sản và tự do tư tưởng.
Dưới ách cai trị độc tôn, nơi quyền lực không hề bị kiểm soát, hậu quả tất yếu luôn giáng xuống đầu những người dân thấp cổ bé miệng. Từ những đại án bòn rút tài nguyên quốc gia, sự tham nhũng trong hệ thống y tế giữa những cơn bĩ cực của dịch bệnh, cho đến tiếng khóc than của những dân oan mất đất vì lòng tham vô đáy của giới cường quyền. Hơn thế nữa, một xã hội mà quốc dân không dám cất lên tiếng nói phản biện, nơi nhà tù luôn rộng mở để đón nhận những bậc trí thức yêu nước can đảm – đó chính là một xã hội đang hấp hối về mặt tâm linh. Sự chuyên chế ấy tước đoạt đi tự do, biến con người thành những bầy tôi câm lặng, tồn tại qua ngày chứ không phải là đang sống một cuộc đời có ý nghĩa.
Sự ngưỡng mộ mà người Việt dành cho những giá trị tự do cốt lõi của nước Mỹ là một dấu hiệu của niềm khao khát về một sự lãnh đạo minh bạch, vinh danh những quyền làm người do Tạo hóa ban cho. Chừng nào bạo quyền vẫn còn bám víu vào đặc quyền thống trị, chừng đó "Quyền sống, Quyền tự do và Mưu cầu hạnh phúc" đối với dân tộc Việt Nam vẫn chỉ là những ảo ảnh. Đã đến lúc mỗi người dân Việt cần can đảm nhìn thẳng vào sự thật, mượn lời cảnh tỉnh của lịch sử để rũ bỏ sự sợ hãi. Chỉ khi quốc dân đồng lòng đòi lại một thể chế dân chủ hiến định, nơi nhân quyền và dân quyền được tôn trọng tuyệt đối, thì khi ấy, dân tộc Việt Nam mới thực sự hồi sinh và bước ra khỏi bóng tối của sự tàn ác.
[NUOCVIET-TUDO]











