ỨC TRAI THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI - BÀI 88, 89 VÀ 90
Thầy Dương Anh Sơn
ỨC TRAI THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI
Bài 88
ĐỀ BÃO PHÚC NHAM 題抱腹岩
Bình minh các trạo thướng nham đầu, 平明擱棹上岩頭,
Thừa hứng liêu vi Ngọc Cục du. 乘興聊為玉局遊。
Cửu chuyển đơn thành cô hạc khứ, 九轉丹成孤鶴去,
Tam thần cổ đoạn nhất ngao phù. 三神股斷㇐鰲浮。
Thạch lan ảnh phụ thương giang nguyệt, 石欄影附滄江月,
Tiên động yên hàm bích thụ thu. 仙洞煙含碧樹秋。
Thị xứ chân kham dung ngã ẩn, 是處真堪容我隱,
Sơn trung hoàn hữu cựu du phầu. 山中還有舊遊不。
Dịch nghĩa:
Lúc sáng sớm, gác mái chèo đi lên đỉnh núi, - Nhân hứng, hãy tạmlàm cuộc đi chơi Ngọc Cục. – Thuốc luyện chín lần đã thành, con hạc lẻ loi đã ra đi, - Ba vị thần đùi bị gãy, một con ba ba lớn nổi lên. (c.1-4)
Lan can bằng đá gá vào ánh trăng tỏa bóng trên sông xanh, - Độngtiên ngậm vào khói biếc của cây cối mùa thu. – Chốn này thực xứng đáng để ta có thể dung thân ở ẩn được! – Trong núi có còn cuộc chơi thời xưa không ?
Tạm chuyển lục bát:
ĐỀ VÀO NÚI BÃO PHÚC.
Gác chèo lên đỉnh sớm trời,
Tạm cùng Ngọc Cục dạo chơi hứng tràn.
Hạc đi, thuốc luyện chín lần,
Ba thần đùi cắt, nổi dần ba ba.
Trăng sông chiếu đá tỏa ra,
Cây thu, tiên động khói đà biếc dâng.
Chốn này ta đáng ẩn thân,
Cuộc chơi trong núi xưa còn đó không?
Chú thích:
** Tương truyền, nhà thơ Phạm Sư Mạnh từng có bài thơ “Đề Hiệp Sơn Bão Phúc Nham 題合山抱福岩” được khắc vào một động ở Bão Phúc. Phạm Sư Mạnh đã dùng chữ “抱福”. Nguyễn Trãi lại dùng chữ “phúc 腹” khác. Vua Trần Hiến Tông năm 1329 đã cho khắc đại tự trong hang động chính của núi Bão Phúc là “抱福岩”. (Chữ “phúc 腹”của Nguyễn Trãi dùng có nghĩa là bụng, trong lòng, bên trong hay trung tâm. Còn chữ “phúc 福” của Phạm Sư Mạnh và đại tự ghi ở động Bão Phúc thời vua Trần Hiến Tông cho khắc có nghĩa là hạnh phúc, may mắn, phúc lành. Không rõ chữ “phúc” nào đích thực đã được dùng trong di cảo của Nguyễn Trãi được sưu tập khi bị án “tru di tam tộc” ở Lệ Chi Viên, (Côn Sơn Bắc Ninh) bởi cái chết của vua Lê Thái Tông (1442), vị vua thứ hai sau Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã làm thất thoát nhiều thơ văn của Nguyễn Trãi nên cần có những nghiên cứu chính xác để hiệu đính...)
- Bão Phúc nha 抱腹岩: gồm nhiều ngọn núi ở vùng Đông Triều (Quảng Ninh ,bắc Việt Nam), nơi có nhiều động ăn thông trong lòng núi.
- các trạo 擱棹: gác hay đăt (các) mái chèo (trạo) xuống thuyền...
- thượng nham đầu 上岩頭: đi lên trên đỉnh hay đầu ngọn núi.
- liêu 聊: hãy tạm, tạm thời, hãy, cũng, nhờ vào, hoảng sợ, ù tai....
- vi 為: làm ra, làm, hướng về, cùng với, là, cho...
- Ngọc Cục 玉局: bàn cờ ngọc. Tương truyền Lão Tử xưa kia bên Trung Hoa đến Nam Đẩu chơi cờ với Trương Đạo Lăng và giảng kinh “Nam Đẩu”, một bàn đá ngọc kẻ ô cờ (cục) từ dưới đất nhô lên. Khi hai người chơi cờ xong ra đi, bàn cờ lại thụt xuống mất dạng trong lòng đất hóa thành hang động.
Nguyễn Trãi đã cho rằng cảnh vật vùng núi Bão Phúc ở Đông Triều cũng mang vẻ “tiên phong đạo cốt” của chốn thần tiên không kém gì
- Câu 3: theo đạo giáo thiên về chuyện dùng thuốc tôi luyện chín lần trở thành thuốc trường sinh bất tử để có thể cưỡi hạc bay về chốn Bồng Lai tiên cảnh một mình...
- tam thần cổ đoạn 三神股斷: ba vị thần có đùi vế bị cắt lìa.Chỉ ba hòn đảo cách rời ra ở vùng Đông Triều .Thỉnh thoảng có đảo hình con ba ba (ngao) nổi lên giữa vịnh.... Nguyễn Trãi đã mượn hình ảnh Tam Đảo với ba hòn núi của chư thần tiên sống ở vùng biển Bột Hải 渤海 của truyền thuyết Trung Hoa gồm Bồng Lai 蓬萊, Phương Trượng 方丈 và Doanh Châu 方丈. Ba ngọn núi này cứ trôi nổi, đùi chân bị cắt lìa nên không bám vào đất biển nên Ngọc Hoàng Thượng đế sai ngao thần (thần ba ba biển) lấy đầu đội lên nên các ngọn núi mới đứng vững (ngao phù 鰲浮)...
- thạch lan 石欄: lan can bằng đá...
- ảnh phụ 影附: bóng (ảnh) nương theo hay bám vào (phụ)...
- yên hàm bích 煙含碧: ngậm vào hay chất chứa (hàm) khói (yên) màu xanh biếc (bích)...
- chân kham dung ngã ẩn 真堪容我隱: đích thực, xứng đáng là nơi dung chứa ta được để có thể ở ẩn...
- hoàn 還: vẫn còn, trở về, trở lại, trả lại...
- phầu 不: cũng nghĩa với chữ “phu” hay “bất” với nghĩa là không thể, chẳng, không như thế, không có.... Bản của Hoàng Khôi do PQVKĐTVH, Saigon,1972 và bản in lại của NXB Văn Học, 1993, tr138 ghi là: ”Sơn trung hoàn hữu cựu du phu 山中還有舊遊不”. Có bản khác lại ghi là “.... cựu sa phu .... 舊砂不“ với nghĩa chữ “sa” là cát hay sỏi vụn đặt trong câu thơ này không có ý nghĩa mạch lạc và rõ ràng so với nhóm chữ “... cựu du phu (phầu)” với nghĩa chữ”du” là cuộc chơi xưa trước của những kẻ ẩn dật hay các vị thần tiên lánhđời, sống thong dong đầy thi vị chăng?
Bài 89
TỨC HỨNG 即興
Lãm Thuý đình đông trúc mãn lâm, 攬翠亭東竹滿林,
Sài môn trú tảo tịnh âm âm. 柴門晝掃凈陰陰。
Vũ dư sơn sắc thanh thi nhãn, 雨餘山色清詩眼,
Lạo thoái giang quang tịnh tục tâm. 潦退江光凈俗心。
Hộ ngoại điểu đề tri khách chí, 戶外鳥啼知客至,
Đình biên mộc lạc thức thu thâm. 庭邊木落識秋深。
Ngọ song thuỵ tỉnh hồn vô mị, 午窗睡醒渾無寐,
Ẩn kỷ phần hương lý ngọc cầm. 隱几焚香理玉琴。
Dịch nghĩa:
Về phía đông đình Lãm Thúy, trúc mọc khắp cánh rừng, - Cửa cổng rào làm bằng tre hay củi đan nhau được quét sạch sẽ, ban ngày tối mờ mờ. - Sau cơn mưa, màu núi non nhìn thấy xanh biếc, xinh đẹp và thơ mộng. – Khi hết lụt lội, dòng sông thông thoáng sáng sủa làm cho lòng trần tục trong lắng, yên ổn. (c.1-4)
Tiếng chim kêu ngoài cửa, biết là sẽ có khách đến, - Ven sân, cây cối trút lá, biết là đã cuối mùa thu. – Bên cửa sổ, giấc trưa tỉnh táo, không ngủ được! – Dựa vào ghế, đốt hương thơm và dạo cây đàn ngọc, ôn lại bài đàn. (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
HỨNG KHỞI TỨC THỜI.
Phía đông dình Lãm trúc đầy,
Cổng sài quét sạch, ban ngày âm u.
Sau mưa, núi biếc nên thơ,
Lụt xong, sông thoáng tẩy dơ lòng trần.
Cửa ngoài khách đến chim ngân,
Báo thu, cây trút bên sân muộn rồi .
Song trưa, giấc tỉnh chẳng ngơi,
Đốt hương tựa ghế dạo chơi ngọc cầm.
Chú thích:
- Lãm Thúy đình 攬翠亭: nhà nhỏ làm ngoài vườn hoặc trên hồ có hình lục giác để ngắm cảnh hay đàm đạo uống trà...v.v... Đình thường có cái nhìn thu hết màu xanh của cảnh sắc trong tầm mắt nên gọi là “Lãm Thúy”...
- sài môn 柴門: cửa cổng làm bằng tre đan hay củi dựng với nhau. Đây chỉ nơi có cuộc sống giản dị của người ẩn dật ...
- trú tảo 晝掃: ban ngày (trú) được quét dọn sạch sẽ (tảo)....
- tịnh 凈: trong sạch, sạch sẽ, thanh tịnh...
- âm âm 陰陰: u ám, tăm tối, tối mờ không thấy rõ...
- sơn sắc thanh 山色清: màu núi xanh tươi [Bản của Hoàng Ngọc Khôi do Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc trách Văn hóa X.B năm 1972 tại Saigon (bản in lại 1993, NXB Văn Học, tr.131) ghi là chữ 青 (xanh tươi, xanh thẳm, xanh biếc của núi non.), còn bản của Đào Duy Anh hiệu đính dùng chữ 清 với bộ thủy (trong trẻo,lắng đọng)]
- thi nhãn 詩眼: cái nhìn về cảnh vật trông thơ mộng đầy xúc cảm....
- giang quang 江光: dòng sông thông thoáng, sáng rỡ...
- thức thu thâm 識秋深: biết là mùa thu đã cách xa, đã muộn màng...
- thụy tỉnh 睡醒: tỉnh giấc ngủ..
- hồn vô mị 渾無寐: bần thần, (hồn) không ngủ được (vô mị)...
- lý ngọc cầm 理玉琴: sửa soạn, ôn lại (lý) cùng cây đàn khảm ngọc...
Bài 90
VÃN HỨNG 晚興
Cùng hạng u cư khổ tịch liêu, 窮巷幽居苦寂寥,
Ô cân trúc trượng vãn tiêu diêu. 烏巾竹杖晚逍遙。
Hoang thôn nhật lạc, hà thê thụ. 荒村日落霞棲樹,
Dã kính nhân hy, thuỷ một kiều. 野徑人稀水沒橋。
Kim cổ vô cùng giang mạc mạc, 今古無窮江漠漠,
Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu. 英雄有恨葉蕭蕭。
Quy lai độc bẵng lan can toạ, 歸來獨憑欄杆坐,
Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu. ㇐片冰蟾掛碧霄。
Dịch nghĩa:
Nơi xóm nghèo cùng khổ vắng vẻ,quạnh hiu, - Lúc xế chiều thong dong với khăn đen và chiếc gậy trúc. – Thôn xóm hoang vắng, ngày tàn với ráng trời còn đậu lại nơi đám cây, - Đường quê người thưa thớt, nước làm ngập cầu. (c.1-4)
Khoảng mênh mông không cùng từ xưa đến nay cùng với dòng sông mờ mịt vắng lặng, bao la, - Những kẻ anh hùng mang mối hận, gió rít vù vù qua kẻ lá. – Quay về ngồi một mình dựa vào lan can, - Một mảnh trăng lạnh treo lên trong đêm xanh biếc. (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
CẢM HỨNG LÚC CHIỀU.
(bản dịch mới này xin thân tặng nhà văn Trần Bảo Định)
Xóm nghèo ở ẩn quạnh hiu,
Khăn đen ,gậy trúc xế chiều thảnh thơi .
Ngày tàn ,cây đậu ráng trời,
Đường quê cầu ngập, thưa người thôn hoang.
Xưa nay sông vắng mênh mang,
Vi vu cây lá ,hận tràn hùng anh!
Lan can về tựa một mình,
Mảnh trăng đêm lạnh biếc xanh treo trời.
Chú thích:
- cùng hạng 窮巷: đường đi trong làng quê với những ngõ cùng. Chữ “cùng hạng” cũng có nghĩa chỉ chốn nghèo khổ....
- u cư 幽居: nơi ở vắng vẻ, tăm tối cũng chỉ nơi ở của người ẩn dật, xa lánh đời...
- tịch liêu 寂寥: vắng vẻ, quạnh hiu...
- tiêu diêu (dao) 逍遙: thảnh thơi, thong dong, ung dung, thong thả...
- hoang thôn 荒村: thôn xóm vắng vẻ, quạnh quẻ, làng quê hoang phế, tàn tạ...
- hà thê thụ 霞棲樹: ráng trời (hà) đậu lại (thê) trên những đám cây....[Bản dịch của Hoàng Khôi [s.đ.d. của PQVKĐTVH, Saigon, 1972, bản in lại 1993 NXB Văn Học, tr.132) ghi là “hà anh thụ 霞櫻樹” có nghĩa là ráng trời vướng đậu trên cây anh đào 櫻桃,樱桃]
- dã kính 野徑: đường mòn, đường tắt hay đường nhỏ hẹp ở cánh đồng hay đường thôn quê...
- một 沒: chìm khuất, chìm ngập, mất đi, hết
- vô cùng 無窮: mênh mông, bát ngát, rộng lớn không cùng....
- mạc mạc 漠漠: vắng lặng, không tiếng động, mênh mang, bát ngát, quảng khoát, đầy dẫy, bày bố la liệt, um tùm ngào ngạt, bủa vây mù mịt... Nguyễn Du trong bài thơ “Ký hữu 1 寄友”... (Thanh Hiên Tiền Hậu tập) có câu: “Mạc mạc trần ai mã thái không 漠漠塵埃滿太空 “ nghĩa là bụi bặm mịt mù bay khắp bầu trời rộng lớn...
- anh hùng 英雄: chỉ những anh tài, kẻ hào kiệt đảm đương việc lớn cho đất nước không ngại xả thân, hy sinh....
- tiêu tiêu 蕭蕭: gió rít, gió thổi vù vù....
- bằng (bẵng) 憑: theo từ điển Từ Hải của Trung Hoa và của Thiều Chửu phiên âm chữ này là “bằng” hay “bẵng” và cụ Thiều Chửu đã giảng nghĩa là: tựa vào ghế hay một vật nào đó, nương tựa, dựa vào, bằng cấp, bằng chứng......
- băng thiềm 冰蟾: chỉ mặt trăng lạnh giá. Theo truyền thuyết Trung Hoa xưa, vợ của Hậu Nghệ (người có tài bắn cung) là Hằng Nga đánh cắp thuốc tiên của chồng uống vào và bay lên cung trăng, về sau biến thành con cóc hay là con thiềm thừ...
- tiêu 霄: đêm tối, mây mù, tiêu tán....
Dương Anh Sơn
(Lần đến : ỨC TRAI THI TẬP của NGUYỄN TRÃI – Bài 91, 92 và 93)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét