Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

Thơ Của Lý Bạch - Bài 134, 135 Và 136

 


THƠ CỦA LÝ BẠCH - BÀI 134, 135 và 136
Thầy Dương Anh Sơn

THƠ CỦA LÝ BẠCH

Bài 134

DẠ BẠC                                                                                     夜泊
NGƯU CHỬ HOÀI CỔ                                                             牛渚懷古.

Ngưu Chử Tây giang dạ,                                                            牛渚西江夜,
Thanh thiên vô phiến vân.                                                          青天無片雲。
Đăng chu vọng thu nguyệt,                                                        登舟望秋月,
Không ức Tạ tướng quân.                                                          空憶謝將軍。
Dư diệc năng cao vịnh,                                                              余亦能高詠,
Tư nhân bất khả văn.                                                                  斯人不可聞。
Minh triêu quải phàm khứ,                                                         明朝挂帆去,
Phong diệp lạc phân phân.                                                         楓葉落紛紛。

Dịch nghĩa:

Đêm ở Ngưu Chử, phía tây Trường Giang, - Bầu trời xanh, không có gợn mây nào! – Lên thuyền, ngắm vầng trăng thu, - Luống nghĩ đến tướng quân họ Tạ. (c.1-4)
Ta cũng có thể cao giọng ngâm thơ! – Nhưng người ấy không thể nghe được! – Sớm mai trời sáng, giương buồm lên ra đi – Lá phong rơi rụng lả tả.

Tạm chuyển lục bát:

ĐÊM ĐẬU THUYỀN NGƯU CHỬ
NHỚ CHUYỆN XƯA.

Bến đêm Ngưu Chử Tây Giang,
Trời xanh chẳng đám mây giăng gợn nào!
Lên thuyền thu ngắm trăng cao,
Tướng quân họ Tạ tiếc sao nhớ người.
Ta ngâm có thể cao vời!
Nhưng rồi người ấy đời nào nghe không?!
Sớm mai thuyền đã buồm dong!
Tơi bời rơi rụng lá phong loạn ào!

Chú thích:

- Ngưu Chử 牛渚: tên một bến sông nổi tiếng xưa kia ở tỉnh An Huy, nằm ở khúc quanh của nhánh sông phía tây chảy vào Trường Giang bên Trung Hoa là nơi có nhiều cảnh sắc đẹp được gọi là Tây Giang 西江. Nhà thơ Lý Bạch chọn khung cảnh của đêm trăng có bầu trời trong xanh hoàn toàn và nhớ đến tướng quân họ Tạ....
- vọng 望: nhìn xa xa hoặc nhìn lên cao, nhìn hướng về một sự vật nào đó, bái phỏng, tiếp cận, mong mỏi, tiếng tăm (danh vọng), ngày rằm trăng sáng cũng gọi là ngày vọng....
- không ức 空憶: chữ “không” có nhiều nghĩa như: trống rỗng, trống vắng, suông, hão, rộng lớn, uổng phí, uổng công, tiếc rẻ... v.v... Ở đây chữ dùng là “không ức” tạm dịch là “uổng cho, tiếc cho việc nhớ nghĩ “ (đến tướng quân họTạ)... Trong văn học xưa, chữ “luống nghĩ”, ”luống nhớ”, luống công”...v.v... là một phó từ có nghĩa là vô ích, hoài công, mong ngóng vô tân nhưng vô ích nhằm diễn tả nỗi buồn thương, mong ngóng vô vọng, không được hồi đáp...
- Tạ tướng quân 謝將軍: địa danh Ngưu Chử gắn liền với điển tích Tạ Thượng là tướng quân trấn giữ vùng này. Xuất thân từ dòng họ Tạ có tiếng ở vùng Giang Nam, là một danh sĩ thời Đông Tấn bên Trung Hoa, ông vừa là một võ tướng vừa là một con người am tường văn thơ. Một đêm trăng sáng, Tạ Thượng đang ngắm cảnh trăng thì nghe tiếng ngâm thơ từ một con thuyền nhỏ gần đó của một hàn sĩ bèn cho mời lên thuyền hàn huyên và nhận ra đây là một người có tài đang ẩn dật tên là Viên Hoành.Hai người đã kết bạn cùng nhau.
Gặp được người “tri âm, tri kỷ”, Tạ Thượng đã giúp đỡ cho Viên Hoành về sau trở thành người có tiếng tăm!....
- Câu 5: Dư diệc năng cao vịnh 余亦能高詠: tâm sự sâu kín của Lý Bạch rất tự tin về tài năng của mình khi viết câu thơ này: “Ta cũng có thể cao giọng ngâm thơ“. Ngâm thơ cao giọng cho thấy chí khí, tài năng của một con người như Tạ Thượng xưa kia hiểu được tâm tình ,nhân cách và chí khí của Viên Hoành vậy. Đây vẫn là phong cách rất thường của “thi tiên” Lý Bạch...
- Câu 6: Tư nhân bất khả văn 斯人不可聞: người ấy không thể nghe được! Lý Bạch tiếc cho mình không gặp được người “tri âm” như Tạ Thượng để có thể trọng dụng tài năng của mình ! Nhưng thực tế, đương thời và mãi ngàn sau, tài năng thơ ca của Lý Bạch luôn được ca ngợi là “thi tiên” và ông là một trong những nhà thơ hàng đầu trong văn học Trung Hoa....
- tư nhân 斯人 người ấy, người này, người đó...
- quải phàm 挂帆: treo buồm lên, giăng buồm, dong buồm... để thuyền đón gió rời đi...
- lạc phân phân 落紛紛: rơi rụng (lạc) hỗn loạn, tơi tả, tơi bời, lả tả, nhiều... (phân phân)

Bài 135

ĐỀ ĐÔNG KHÊ CÔNG                                                            題東谿公
U CƯ.                                                                                         幽居.

Đỗ Lăng hiền nhân thanh thả liêm,                                            杜陵賢人清且廉,
Đông Khê bốc trúc tuế tương yêm.                                            東溪卜築歲將淹。
Trạch cận thanh sơn đồng Tạ Diễu,                                           宅近青山同謝朓,
Môn thuỳ bích liễu tự Đào Tiềm.                                               門垂碧柳似陶潛。
Hảo điểu nghênh xuân ca hậu viện,                                           好鳥迎春歌後院,
Phi hoa tống tửu vũ tiền thiềm.                                                  飛花送酒舞前簷。
Khách đáo đãn tri lưu nhất tuý,                                                  客到但知留㇐醉,
Bàn trung chỉ hữu thuỷ tinh diêm.                                             盤中衹有水晶鹽。

Dịch nghĩa:

Người hiền đất Đỗ Lăng sống trong sạch lại ngay thẳng , - Chọn chỗ dựng nhà ở Đông Khê ở cả năm lâu dài. – Nhà ở gần bên ngọn núi xanh cùng với Tạ Diễu, - Cửa cổng có cây liễu buông rủ như (nhà) của Đào Tiềm. (c.1-4)
Có con chim xinh đẹp hót ca đón xuân ở vườn phía sau, - Có hoa bay múa lượn mời rượu trước hiên nhà. – Khách đến chỉ cần biết nhau là giữ lại mời một chầu rượu, - Trong mâm chỉ có muối trong suốt (như thủy tinh). (c5-8)

Tạm chuyển lục bát:

ĐỀ NƠI Ở ẨN
CỦA ÔNG ĐÔNG KHÊ.

Người hiền trong sạch Đỗ Lăng,
Đông Khê nhà dựng tháng năm lâu dài.
Non xanh,Tạ Diễu kề ngay!
Cửa buông liễu biếc giống thay họ Đào.
Ca xuân chim đẹp vườn sau,
Rượu mời hiên trước hoa nhào lượn bay!
Khách quen, giữ một bữa say,
Trong mâm chỉ có muối bày trong veo!

Chú thích:

- Đỗ Lăng: trong câu đầu tiên của bài thơ,Lý Bạch đã dùng hình ảnh tiêu biểu và nổi tiếng của đất Đỗ Lăng (đông nam Trường An) là nhà thơ Đỗ Phủ,gắn liền với địa danh này với cái tên “Đỗ Lăng tẩu” hay “Đỗ Lăng dã lão”. Lý Bạch mượn hình ảnh và nhân cách thanh liêm, ngay thẳng của Đỗ Phủ để tôn vinh ẩn sĩ không nêu tên,không nổi tiếng trong sử sách đương thời hay về sau ở Đông Khê được Lý Bạch xem trọng không kém với Tạ Diễu,Đào Tiềm hay Đỗ Phủ khi gọi vị này là “Hiền nhân thanh thả liêm 賢人清且廉” (người hiền trong sạch lại ngay thẳng)
- Đông Khê công 東谿公: vùng Đông Khê còn gọi là Uyển Khê (thuộc huyện Tuyên Thành, An Huy, Trung Hoa). Ông (công) Đông Khê không có tiểu sử hay tiếng tăm rõ ràng. Tiếng “công 公” là cách gọi kính trọng đối với người tuổi cao, bậc trưởng giả có đạo đức hay bậc ẩn sĩ đáng kính . Đây là con người có thực và có tài nhưng không cầu danh lợi, thích ẩn dật, không phô bày cái danh hay tên tuổi và được miêu tả là con người vừa hiền,vừa trong trắng thanh cao lại vừa ngay thẳng 賢人清且廉....
- u cư 幽居: ở nơi sâu xa, ở nơi tối tăm, ở ẩn....
- thả 且: lại vừa, mà lại, hạy thế, hạy thử, sắp.... Đây là chữ dùng chuyển câu.
- bốc trúc卜築: chọn lựa (bốc) nơi để dựng nền nhà, dựng nhà cửa (trúc)...
- tuế tương yêm 歲將淹: năm tháng (tuế) trôi theo (tương) lâu dài (yêm)... Một vài dị bản lại chép là “tuế thì yêm 歲時淹” có lẽ không phù hợp và trùng ý với chữ “tuế” cũng chỉ về thời gian...
- Tạ Diễu 謝朓: một nhà thơ tiêu biểu thời Lục Triều (464–499) nổi tiếng với thơ ngũ ngôn có phong cách thơ thanh nhã, trong sáng, sở trường đề tài sơn thủy, ý tưởng trong thơ sâu sắc và súc tích. Ông có quê quán ở Dương Hạ (nay là vùng Hà Nam,Trung Hoa) thuộc dòng dõi họ Tạ danh tiếng thời Đông Tấn như Tạ An. Ông làm quan văn triều Nam Tề. Do tình hình chính trị rối ren, ông bị cuốn vào những tranh chấp quyền lực trong triều rồi bị nghi kỵ, buộc phải tự vẫn lúc mới 36 tuổi. Tạ Diễu là một trong những đại biểu của thể thơ Vĩnh Minh thể (永明體) chú trọng thanh luật, âm điệu hài hòa (tiền thân của luật thi Đường). Thơ ông nổi bật ở ngôn từ trong trẻo, tinh tế, cảnh sắc thanh tú, nhẹ nhàng. Tâm hồn ông qua văn thơ thể hiện tinh thần thoát tục, gần gũi với thiên nhiên. Các thi nhân thường viết về sơn thủy đời Đường sau này chịu nhiều ảnh hưởng lớn từ Tạ Diễu như Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên... v.v... Ông được xem là cầu nối giữa thơ cổ phong và thơ luật Đường. Và thơ của ông thường mang các yếu tố thanh cao, u tĩnh, gợi một không gian “thoát tục”, gần với lý tưởng ẩn cư...
- Đào Tiềm 陶潛:còn gọi là “Đào Lệnh” hay “Ngũ Liễu tiên sinh”. Ông sinh năm 365 tại vùng Tầm Dương (nay thuộc Cửu Giang, Giang Tây, Trung Hoa). Dòng dõi của Đào Tiềm có những người nổi tiếng như tằng tổ Đào Khản làm Bát Châu đô đốc, tước Trường Sa quận công, tổ phụ là Đào Mậu làm Thái thú Vũ Xương, cha là Đào Dật làm Thái thú An Thành. Thuở nhỏ nhà nghèo, chăm học. Đến năm 29 tuổi làm Tế tửu Giang Châu và làm quan nhỏ trong nhiều giai đoạn ngắn ngủi liên tiếp 13 năm ròng! Năm 40 tuổi, vì nhà nghèo và con đông, ông chịu ra làm quan huyện lệnh Bành Trạch được 80 ngày nên về sau vẫn gọi ông là “Đào lệnh”. Cuối năm đó, có quan đốc bưu đến, nha lại khuyên ông nên áo mũ tử tế đón viên quan nhỏ này. Ông buồn phiền viết bài “Quy khứ lai từ” rồi treo ấn từ quan trở về quê nhà.Trước nhà ông có trồng năm cây liễu buông rủ nên đời sau gọi ông là “Ngũ Liễu tiên sinh” Gia đình ông phải sống thiếu thốn dù có được mời ra làm quan lúc 53 tuổi nhưng ông từ khước, sống trong cảnh khốn cùng. Ông mất năm 62 tuổi (năm 427- thời Nam Bắc triều,Trung Hoa) để lại tập thơ “Đào Uyên Minh thi tập” với 120 bài thơ. Người đời sau khen ông là “Tĩnh Tiết tiên sinh 靖節先生”(tiên sinh có khí tiết trong sạch)....
- hảo điểu 好鳥: con chim đẹp lại hót hay...
- tống tửu 送酒: mời rươu, chuốc rượu...
- đãn tri 但知: chỉ cần có quen biết (đãn; chỉ, hễ, phàm, nếu, chỉ cần; chữ chuyển câu)...
- chỉ hữu thủy tinh diêm 衹有水晶鹽: chỉ có muối trong vắt như thủy tinh, như gương trong... v.v... để nêu bật đức tính trong sạch, thanh cao của vị “Đông Khê tiên sinh” không rõ danh tính được Lý Bạch đề cao.

Bài 136

TƯ BIÊN                                                                                    思邊

Khứ niên hà thời quân biệt thiếp,                                               去年何時君別妾,
Nam viên lục thảo phi hồ điệp.                                                  南園綠草飛蝴蝶。
Kim tuế hà thời thiếp ức quân,                                                   今歲何時妾憶君,
Tây sơn bạch tuyết ám Tần vân.                                                西山白雪暗秦雲。
Ngọc Quan khứ thử tam thiên lý,                                               玉關去此三千里,
Dục ký âm thư na khả văn?                                                        欲寄音書那可聞。

Dịch nghĩa:

Năm ngoái, lúc nào chàng đã rời xa thiếp? – Vườn phía nam cỏ xanh
biếc,bướm bay lượn. – Năm nay, lúc nào là thiếp nhớ chàng? – Núi phía tây tuyết trắng phủ mờ mịt che khuất đám mây Tần! – Cửa Ngọc Quan cách đây ba ngàn dặm, - Muốn gửi tin thư,làm sao để (chàng) có thể nghe thấy đây?! (c.1-6)

Tạm chuyển lục bát:

NHỚ BIÊN ẢI.

Lúc nào năm ngoái chàng xa?!
Vườn nam cỏ biếc, bướm đà lượn bay.
Lúc nào nhớ thiếp năm nay?
Mịt mờ tuyết phủ núi Tây mây Tần.
Ba ngàn dặm đến Ngọc Quan!
Tin thư muốn gửi nghe chăng được nào!

Chú thích:

** Bài thơ “Tư biên” của Lý Bạch mang hình ảnh của những “chinh phu”, những chàng trai phải từ giã vợ con, gia đình, bè bạn... v.v... để đi ra ngoài quan ải ở vùng biên giới xa xăm làm người lính thú giữ đồn ải cho đất nước! Và người vợ ở quê nhà hay những nàng “chinh phụ”, qua chất thơ CỔ PHONG của Lý Bạch, thể hiện tràn đầy tình cảm da diết của nỗi nhớ nhung mà người vợ luôn dõi theo hình bóng của người chồng chốn biên tái! Đó là một nỗi nhớ sâu đậm, nỗi chia ly xa cách kéo dài theo tháng năm mòn mỏi trông chờ. Cách nói về nỗi nhớ của người ở lại khi tự hỏi “Hà thời?” (lúc nào?) là câu hỏi tu từ làm cho mốc thời gian trở nên mơ hồ, mênh mông kéo dài vô tận, kéo dài đằng đẵng đầy những xót xa, đau đớn... v.v.... Cảnh mùa xuân tươi đẹp nơi quê nhà với đàn bướm bay lượn đối chọi với cảnh “Núi phía tây tuyết phủ khắp nơi che khuất đám mây Tần (tượng trưng cho nỗi nhớ nhung) cùng khoảng cách “tam thiên lý” (ba ngàn dặm) đã làm rõ nỗi chia ly cách trở đó!
Bài “Tư biên” làm theo lối “cổ thể” mà người Trung Hoa vẫn gọi là thơ “Cổ phong” thường không bị ràng buộc và nghiêm ngặt, chặt chẽ như thơ Đường luật với những thể loại như thất ngôn bát cú, thơ tứ tuyệt hay ngũ ngôn bát cú cùng niêm luật của nó. Thơ “cổ phong” như bài này có 6 câu và chúng ta đã thấy trong nhiều bài thơ cổ phong của Lý Bạch, số câu có thể lên đến hơn 30 câu với cách gieo vần và hình ảnh đối ngẫu luôn đi theo những thi tứ, cảm xúc dạt dào phóng khoáng và tự nhiên của đậm chất lãng mạn theo cách riêng của nhà thơ tài hoa này...
- Tần vân 秦雲: mây ở đất Tần (vùng Quan Trung, Trường An kinh đô nhà Đường, Trung Hoa). Đây là biểu tượng của hình ảnh quê hương cách trở đi cùng với nỗi thương nhớ vì không thể trông thấy nhau lại bị tuyết trắng của rặng núi phía tây che khuất! Nhà thơ Hàn Dũ cũng từng dùng hình ảnh mây Tần: “Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại? (Mây chắn ngang núi Tần, nhà ở nơi đâu – trong bài: Tả thiên Lam Quan thị điệt tôn Trương).
Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh cũng có câu: “Đoái trông muôn dặm tử phần, Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa” (c.2235, 2236) cũng cùng ý tưởng nhớ nhung xa cách quê nhà theo cách của văn học Trung Hoa ! Trong “Tấn Thư” của Trung Hoa còn dùng để chỉ cô gái đẹp: “Tần vân như mỹ nhân 秦雲如美人”....
- Ngọc Quan 玉關: hay gọi đầy đủ là “Ngọc Môn Quan 玉門關” là một cửa ải nổi tiếng nằm ở vùng Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc phía tây bắc Trung Hoa, vùng hành lang phía tây của Hà Tây gần sa mạc Gobi của Mông Cổ. Đây là một cửa ngõ sang Tây Vực rất quan yếu nhằm ngăn chặn các bộ tộc từ phía tây tấn công vào vùng trung nguyên Trung Hoa cũng như kiểm soát người và hàng hóa từ Tây Vực vào Trung nguyên và ngược lại.
Quan ải này được xây dựng từ thời nhà Tần và hoàn thiện ở thời nhà Đường...Riêng chữ “Ngọc môn 玉門” cho thấy đây cũng là cửa ngõ giao thương các loại ngọc quý như ngọc bích từ Tây Vực sang Trung Hoa....
- na 那: câu hỏi như nào, gì..., an nhàn, vậy thì, nhiều... Na khả văn 那可聞: có thể nghe không nào?....

(Lần đến: THƠ CỦA LÝ BẠCH – Bài 137, 138 và 139)

Dương Anh Sơn 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét