NGÀY RA TRẠI
Huy Văn
(Trường Sơn Bỏ Lại Sau Lưng)
Rồi cũng qua hai ngày nôn nao, pha lẫn hồi hộp. Một ngày viết bản tường trình cá nhân buổi sáng, họp lần cuối với quản giáo và ban quản trại buổi chiều. Ngày thứ nhì nhận quần áo, lương thực, lộ phí đi đường, giấy "Phóng Thích" và nghe "giảng" lần cuối. Sáng nay, 20-03-1976, 100 tù tàn binh được tập họp để cán bộ kiểm tra hành lý, mục đích là tìm xem có thư từ của bạn đồng cảnh nhờ mang về hay không. Cũng may là họ chỉ xét hành trang, không xét người, nên mấy lá thư tay viết vội của một anh bạn đồng cảnh ở Đà Nẵng và vài bạn gốc Sài Gòn, vẫn bình yên nằm dưới bàn chân.
Vừa ra khỏi cổng là không ai hẹn ai, tất cả đều quay lại nhìn nơi mình vừa rời bỏ. Vài nụ cười kèm tiếng thở phào...nhẹ nhõm! Không có lời xì xào hay câu trao đổi. Im lặng! Nhưng không phải là sự im lặng của lo lắng, sợ sệt, hay của lòng cam chịu như khi lần đầu bị lùa vào trại lao động khổ sai mang mỹ từ "cải tạo"; mà là thứ im lặng để tận hưởng tự do, cho dù chỉ là thứ tự do tạm bợ, vì trong tờ giấy phóng thích có ghi câu "...địa phương chịu trách nhiệm quản lý và giáo dục...". Nhưng đó là chuyện của tương lai. Hiện nay chúng tôi đã ở bên ngoài vòng rào của doanh trại có bộ đội ôm súng trên chòi gác.
Toàn cảnh của Trại 4, Tổng Trại 1, thuộc Quân Khu 5 CS, nằm im lìm tắm nắng. Hôm nay là một ngày tuyệt đẹp và cũng là một ngày hăm hở, nôn nao, pha lẫn thoáng bùi ngùi của 100 tù tàn binh được nhà nước "khoan hồng" cho về đoàn tụ với gia đình. Cả năm gắn bó với nhau suốt từ các trại tù Hội An, Hòa Cầm rồi lên đến miền núi Hiệp Đức này; đủ làm chúng tôi quyến luyến, nao nao, khi chia tay với bạn bè đồng cảnh.
Mặc dù những gì cần nói đã nói hết từ hôm qua, nhưng giờ đây tôi lại có cảm giác mình chưa nói được tất cả những gì còn chất chứa trong lòng. Họ - những người còn phải trả nợ đời trong trại tù khổ sai - chắc chắn cũng bồi hồi và nôn nao không kém; vì rốt cuộc cũng đã có tia hy vọng ở cuối đường hầm khi hôm nay, đã có người được thả về đoàn tụ với gia đình. Hy vọng lại bùng lên, vì đây là đợt thứ nhì của tổng trại 1 sau lần thả tù đầu tiên vào dịp Tết, chỉ mới hơn một tháng trước mà thôi.
Từ khi bị lâm vào cảnh đọa đày, ai cũng mong có được như hôm nay, nhưng nguyên ngày hôm qua, tôi cứ mong thời gian trôi chậm lại để còn bịn rịn với anh em đựơc thêm chút nào, hay chút đó. Mới hôm nào mọi người bị lùa lên xe từ Đà Nẵng rồi gom vào các trại chuyển tiếp ở Hội An, Hòa Cầm để sau đó phải lầm lũi lội sình, đội mưa, theo lối mòn Trường Sơn mà bước vào chốn đọa đày dưới họng súng gườm gườm của những kẻ thắng cuộc.
Ngày đó, khu rừng và đồi núi chung quanh xã Bình Hòa, thuộc quận Hiệp Đức này còn dày đặc cỏ tranh, ngút ngàn cây lá; cùng với muỗi mòng, rắn rít và lũ vắt tanh tưởi lúc nhúc trên khắp lối đi. Còn hôm nay, con đường lầy lội của mùa mưa năm trước đã quang đãng, khô ráo và thênh thang hơn nhiều so với một năm hoang dã trước đây.
Con người tới đâu, núi rừng lui tới đó. Vùng đồi núi hoang phế, loang lỡ chung quanh khu lán trại của 500 tù tàn binh và doanh trại bộ đội; bây giờ là phần đất của những luống rau lang xanh thắm, hay những khoảng đất basalt màu mỡ đã được khai quang, cào cuốc. Đây vốn là công sức lao động, là mồ hôi pha máu hồng của những kẻ sa cơ, một thời mang màu áo lính cộng hòa của miền Nam tự do.
Giã từ đồng cảnh! Chia tay hôm nay mai này có thể sẽ không có cơ hội gặp lại nhau. Bất giác, lòng tôi bồi hồi dấy lên một niềm thương cảm rất nghẹn ngào. Dù sao, nơi đây cũng đã từng chứng kiến những nhục nhằn, gian lao, khổ ải mà tù tàn binh đã trải qua. Làm sao quên được những ngày phá rừng, cuốc rẫy dưới ánh nắng nung người, hay cơn mưa tầm tã?! Đói lạnh run mà vẫn phải "lao động tốt", để khỏi nghe những lời sỉ vả, hăm he của mấy tên bộ đội nhóc con kè súng chĩa ngang hông.
Lệ thương thân khóc đời cùng tận, hay mồ hôi pha hạt mưa nhòa, mà mắt bỗng cay xè thả vị mặn xuống môi?! Là con người hay nô lệ?! Là ngoại chủng hay đồng bào mà những dằn vặt, dày xéo, tra tấn tinh thần lẫn thể xác; cứ ngày đêm phủ chụp lên những tàn binh, giờ đã thành tù lao động khổ sai?! ..."Nhà nước khoan hồng, nhân dân rộng lượng..." mà sao rừng ngay kế bên không cho mót củi, đốn cây mà lại bắt tù phải lội vào hang sâu, núi thẳm - nơi đã từng là bản doanh của sư đoàn 711 CSBV, bị xóa tên bởi Sư Đoàn 2BB và Biệt Động Quân mấy năm trước - để phá hầm, dở xà, nhổ cột, gỡ kèo rồi còng lưng vác về trại dựng nhà, hay để dành chụm bếp?!
Nếu đường đất lầy lội làm tù tàn binh té lên, té xuống chưa đủ làm cho kẻ coi tù thích chí, hả hê, thì màn lên núi cột mấy thớt gỗ - rồi từng hai người một, kẻ đẩy, người kéo ngay từ thượng nguồn của dòng suối để chuyển về tận trại - đúng là một hình ảnh nô lệ bị ngược đãi như thời kim tự tháp Ai Cập 5000 năm về trước. Trời vào đông, nước lạnh bầm da, tái thịt mà tù tàn binh thì tất cả đều lưng trần, xà lỏn; chân không, đạp đá sỏi mà đi, còn đôi dép thì được xỏ dây cẩn thận, đeo trên vai để lội nước cho dễ.
Nước uống đã có suối, còn hai nắm cơm mang theo; đi chưa tới chỗ đã không còn một hột. Hành trình bao xa không rõ, nhưng sáng tù rời trại khi mặt trời tháng 12 chưa kịp ấm, chiều về đến nơi thì cũng vừa tắt nắng. Giao gỗ cho quản trại xong, ai nấy đều lo xuống nhà bếp ngồi sưởi cho ấm, rồi bỏ cả ăn để ngủ cho đã vì quá mệt sau một ngày làm bạn với...hà bá.
Nhắc đến cái ăn, mới thấy thấm thía nỗi cơ cầu của người dân miền bắc, lúc nạn đói Ất Dậu xảy ra. Tuy không đến nỗi chết người như vào thời đó, nhưng cái đói hành hạ tù tàn binh ngày nay, còn tàn độc hơn cả roi đòn, hay bất cứ hành vi thô bạo nào khác. Cơn đói làm cho người tù lả người vì kiệt lực, nhưng đồng thời nó cũng làm tinh thần suy sụp và lụn bại đến tận cùng bằng số. Mỗi ngày ăn 3 bữa. Mỗi bữa 1 chén cơm chan nước muối, hoặc mắm cá lấy nguyên xi từ thùng thiếc chiết ra.
Đói quá nên con gì nhúc nhích là ăn! Rắn rết, cóc nhái, chuột núi là cao lương mỹ vị. Dế, thoạt đầu là mồi bắt chim khướu, sau trở thành nguồn đạm đỡ lòng. Vào rừng sâu rút mây, đốn gỗ mà gặp được tổ ong thì chẳng khác nào như tìm được đống vàng. Nhấm nháp chúp mật trên miếng sáp cũng đủ "phê", nói chi đến chuyện bỏ nguyên chú ong con vào miệng; để thấy chất đạm pha với mật ngọt tuyệt vời đến mức không thể tả thành lời, nhứt là với những người tù bệnh tật, ốm đói.
Họ, những kẻ say sưa trên ( cái là gọi là ) chiến thắng lịch sử, cứ ngày đêm đòi dạy cho kẻ thất thế những bài học lịch sử và lao động. Nhưng lịch sử chỉ quanh quẩn ba mớ giáo điều hoặc tuyên truyền phóng đại, còn lao động là chỉ sau vài tháng phá rừng, cuốc đất, đốn cây; thì trại tù trở thành một công viên với đủ loại hoa tìm được trong rừng mang về trồng trước "nhà", hay treo, máng bên trong.
Cùng lúc đó thì lồng chim để nhốt khướu, trở thành loại "trang sức" mà hầu như từ nhà 1 đến 20, nhà nào cũng có một, hai lồng treo ngay trước cửa, để nghe chim hót thật sướng tai. Dần dà, cán bộ trại cũng lân la xin chúng tôi vài cái mang qua doanh trại bộ đội bên kia hàng rào, để nghe chim hót cả ngày cho thỏa thích. Cũng vậy, điếu cày - loại làm bằng ống tre - vốn là vật bất ly thân của bộ đội miền bắc, đã trở thành sản phẩm thời thượng; được quản giáo và bộ đội đặt hàng dài dài.
Lý do là vì điếu cày do người tù bỏ công chăm chút "nổ" lớn hơn, trông kiểu cách hơn. Thậm chí có người còn khắc, chạm những hình ảnh khá đẹp mắt khiến cho đám nón cối và quản giáo đặt hàng không ngớt. Ngay lúc đó "kẻ chiến thắng" đã mở mắt, nhưng vẫn không muốn ( hay không dám ) nhìn nhận tù tàn binh miền Nam rõ ràng là hơn hẳn họ về mọi mặt!
Cũng may là rừng núi còn thương người khốn cùng nên đọt dương xỉ, lá tàu bay, lá giang và nhứt là rau má thì hầu như nơi nào cũng có. May mắn cho chúng tôi là vì muốn hành xác những người từng là kẻ thù của mình; nên chúng cứ bắt chúng tôi hết leo núi, lên rừng rút mây tới gánh gạo, gánh gỗ tận trong vùng Phước Sơn hẻo lánh, nên mọi người mới có dịp "cải thiện". Hễ thấy bụi rau má ven đường là bất kể lời hối thúc, hăm dọa hay nạt nộ của cảnh vệ, mọi người bỏ gánh để nhào ngay xuống quơ, bứt cho đã tay rồi mới tiếp tục lên đường.
Những luống rau lang trồng ngay bên ngoài khu trại cũng được chiếu cố rất tận tình, lén lút hoặc công khai ( nhờ toán lao động nhẹ, ngắt đọt mang về chia nhau ăn ) kể cả khoai mì và cà chua trồng ngay sau "nhà" cũng không kịp ra củ hay trái, để giúp tù có thêm chất rau tươi ăn qua ngày. Cứ vậy mà mọi người nén lòng, cam phận, chấp nhận hoàn cảnh và chịu đựng khổ hình, để gượng sống và hy vọng vào một ngày như hôm nay...
Mải mê đắm mình trong suy tưởng mà chúng tôi đã ra tới bến xe quận Hiệp Đức từ lúc nào không biết. Nói là bến cho thuận miệng, chứ thật ra đó chỉ là một bãi đậu xe trơ màu đất đỏ, với duy nhứt hai gian nhà. Căn có nóc là nơi bán vé, còn gian nhà kế bên là khu chờ đợi, với lưa thưa vài băng ghế đóng tạm rất sơ sài. Chỉ không đầy nửa giờ là 3 chiếc xe đò Renault của thời Pháp - loại xe chạy liên tỉnh thường được gọi là xe đò lỡ ( Đa số là loại Renault camionnette từ thời 1950's,1960's ), phía sau có một tấm bửng để thêm người đeo, vịn - rề rà tách bến để đưa đợt tù sau cùng ra khỏi quận.
Xe cỗ lỗ xỉ, người đông, chật chội đến ngộp thở nên một số trong chúng tôi leo lên mui ngồi cho thoáng mát. Lại thêm một thoáng bùi ngùi, khi nhìn lại phía sau lưng và trải lòng với chập chùng nhấp nhô của rừng xanh, núi thẳm. Hôm chúng tôi "nhập trại" là một chiều hè trời mưa như trút nước. Xe chở tù đóng bạt kín mít, còn cai tù thì lăm lăm khẩu AK trên tay, sẵn sàng nhả đạn suốt đoạn đường từ Hòa Cầm đến bãi đất trống bây giờ đã là bến xe. Sau đó là hơn 4km đường rừng để vào trại tù. Ngày vần vũ gió mưa của năm trước, nay đã thay bằng trời mây quang đảng, như muốn chào mừng những người vừa hưởng chút không khí "tự do"; thứ tự do tạm bợ, bởi thân phận đích thực của chúng tôi chỉ là một "phó thường dân" không hơn, không kém.
Tỉnh lộ 534 nối các quận miền núi Quế Sơn, Hiệp Đức với đồng bằng và quận Thăng Bình tại vùng biển phía đông, đã hoang phế từ lâu, nên lồi lõm đất đá và loang lỡ hết mức. Xe chạy như rùa bò, dằn xóc liên tục nhưng hình như không ai sốt ruột. Chúng tôi im lặng nhìn quanh như muốn thu hết cảnh vật sau những tháng ngày chỉ biết có núi và rừng. Thỉnh thoảng, chúng tôi trao đổi bâng quơ với nhau cho có chuyện để nói. Hầu như ai cũng mang một vẻ đăm chiêu, tư lự rất xa xăm.
Có lẽ ai cũng chung một tâm sự như nhau. Đó là niềm vui sắp được sum họp với gia đình. Hạnh phúc này đang dần dà nhường chỗ cho nỗi lo lắng về một tương lai nhiều bóng tối hơn ánh sáng, khi biết rằng mình vừa ra khỏi nhà tù nhỏ, để bước vào một loại tù ngục bao la hơn và u tối hơn nhiều. Thì thôi cũng đành! Cuộc đời đã bị đóng khung từ khi Nước mất, Nhà tan nên làm gì cũng phải ngậm hờn qua ải. Đã qua được thử thách ban đầu, nên từ hôm nay trở đi cuộc sống có cơ cầu cách mấy; cũng còn có gia đình để nương tựa, có bè bạn và đồng cảnh để ủi an và biết đâu "...không lẽ ta cứ mãi thế này?!"
Rồi cũng ra đến ngả ba Thăng Bình! Quận miền biển nhưng sinh hoạt thị tứ thì lại nằm ngay trên quốc lộ 1. Thăng Bình, quận cực bắc của Quảng Tín ngày xưa vốn nhộn nhịp, sầm uất; nay cũng còn nét rộn ràng của một khu kinh tế hàng đầu của vùng Quảng Nam, mặc dù hoạt cảnh có phần thu gọn vào trong các hàng quán dành cho bộ hành và xe cộ trên các hành trình xuôi nam, ngược bắc.
Xe vừa vào bến là chúng tôi lũ lượt leo xuống và đa số đều ghé vào các quán ăn bình dân ngoài quốc lộ. Bữa cơm đích thực đầu tiên sau một năm cuốc rẫy, phá rừng sao mà ngon hết biết! Ly cà phê và điếu thuốc có đầu lọc hiệu President "phê" không kém gì "tép" thuốc lào đầu tiên trong đời. Không hẹn mà nên! Ai cũng muốn tận hưởng chút hạnh phúc đơn giản mà nồng nàn này đến mức tối đa.
Đến bây giờ mới có tiếng rì rào bên câu chuyện trao đổi về việc ai xuôi Nam, ai ngược Bắc. Hiếm hoi lắm mới có người trong Nam kẹt lại như Trần Ngọc Dũng và tôi, nên đa số đều hẹn gặp tại Đà Nẵng, hay Huế và Quảng Trị. Riêng trong 4 người chúng tôi, anh bạn "Trâu Điên" Trần Ngọc Dũng nhứt định "... Càng về gần Sài Gòn bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu!..." nên sau bữa ăn là Dũng hăm hở bắt tay từ giã, rồi vọt nhanh ra ngã ba để bắt kịp một chiếc xe đò từ Huế về Bình Định vừa thả người và lấy khách dọc đường.
Chia tay với Dũng mà trong lòng cũng thấy buồn buồn. Lẽ ra chúng tôi nên đi chung với nhau về Sài Gòn cho có bạn. Nhưng tôi đã gắn bó với đơn vị tại hậu cứ Liên Đoàn 12 BĐQ ở Phú Lộc - Hòa Khánh hơn 15 tháng. Thôn Phú Lộc chỉ cách Đà Nẵng 6km, nên lần nào Tiểu Đoàn 37 BĐQ về dưỡng quân, nhóm "Con bà phước" gốc Sài Gòn chúng tôi đều lê la, xuôi ngược khắp phố phường Đà Nẵng. Kỷ niệm đẹp, nên lưu luyến đã thật sâu lắng trong lòng!
Tình cảm cả ngày hôm nay thật khó diễn đạt cho đúng với tâm trạng còn nhiều bỡ ngỡ với hiện thực. Tôi đã có ý định nhờ Tài và Bôn đem thư tay của anh bạn đồng cảnh ghé lại nhà đưa cho vợ anh ấy. Đây cũng là chị của một người bạn quen khá thân tại Đà Nẵng. Hai anh em gốc Huế cũng đã vui vẻ nhận lời khi tôi ngỏ ý. Nhưng Sài Gòn thì trước sau gì cũng sẽ là chốn nương thân dài hạn, còn Đà Nẵng vốn chỉ cách vài chục cây số! Không trở lại thăm chốn xưa thì mai này biết bao giờ mới có dịp nhìn lại khung trời kỷ niệm và để nhớ một thời giày saut, áo trận?! Vì lẽ đó, nên tôi quyết định cùng với hai anh em Nguyễn Văn Bốn và Nguyễn Văn Tài đón xe ngược bắc.
Đêm nay có thể là đêm cuối dành cho sông Hàn, Hùng Vương, Độc Lập, Chợ Cồn.... Sẽ là đêm thức trắng, gom hết hình ảnh của phố xá và con người, để mai này trở thành khúc phim chiếu chậm của ký ức. Đà Nẵng ơi, ta lại về đây! Phố phường ơi, hãy cùng bước chân lãng tử nối lại quá khứ vàng son của thời giày trận, áo hoa; để mãi mãi Đà Nẵng sẽ là tiếng đồng vọng dễ thương và ấm lòng, cho dù ở bất cứ phương trời nào!
HUY VĂN

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét