Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - GS NGUYỄN ĐỨC GIANG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn - GS NGUYỄN ĐỨC GIANG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2020

Nhân Kiệt Đất Phú - Nguyễn Huệ Phú Yên

GIỚI THIỆU
Kính thưa quý Thầy Cô, quý Đồng Môn và Thân Hữu 
Diễn đàn NHHN mới nhận được email của thầy hiệu trưởng Nguyễn Đức Giang. Nội dung như sau:
... Từ nay trở đi sức khỏe không cho phép thầy đi xa.
Thầy sẽ tuần tự gởi cho các em Nguyễn Huệ mấy bài viết có liên hệ trường mình và nơi quê hương một thời không phải là người gốc Phú Yên.
Chúc đại gia đình Nguyễn Huệ khắp mọi nơi an bình.
Thân mến, 
thầy NĐGiang 
Trân trọng
NHHN



NHÂN KIỆT ĐẤT PHÚ - NGUYỄN HUỆ PHÚ YÊN
Thầy Nguyễn Đức Giang                                   

*Yết kiến ông Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục.

Bác tùy phái trong phòng đi ra để cánh cửa mở hờ, nói với tôi: ông Tổng chờ thầy. Tôi bước vào phòng, chưa hết ngạc nhiên đã nghe tiếng chào thân thiện: chào anh Giang! Thưa thầy, tôi đáp. Ngạc nhiên, vì vị Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục mà tôi phải trình diện theo công điện yêu cầu gởi về trường Cường Đễ, nơi tôi đang phục vụ là giáo sư Nguyễn Văn Trường, nguyên Giám Đốc Học Vụ Khoa Học của Đại Học Sư Phạm (ĐHSP) Huế. Tội không biết mấy về thầy Trường, biết nhiều hơn về thầy Lê Tuyên, Giám Đốc Học Vụ Văn Khoa, vì trong năm thứ ba chúng tôi có học bổ túc văn chương VN với thầy Lê Tuyên, luật đại cương với thầy Phan Văn Thiết, bà Tăng Thị Thành Trai, địa chất với thầy Âu Ngọc Hồ, tâm lý với sư huynh Ferdinand… ngoài những môn chuyên ngành Sử Địa. Những môn học bổ túc không thi lên lớp hay ra trường

Sau lần chào hỏi, vấn an gia đình, thầy Trường cho biết mới rời ĐHSP Huế về Sài Gòn nhận nhiệm vụ mới sau ngày 1-11-1963. Rồi thầy đi thẳng vào vấn đề một cách rất Nam Kỳ: Moa nhận thấy có nhiều trường trung học đệ nhị cấp do các vị cao niên ngạch giáo sư trung học đệ nhất cấp đảm nhiệm chức vụ hiệu trưởng. Bây giờ các trường ĐHSP đã đào tạo giáo sư đệ nhị cấp. Moa sẽ thay thế hiệu trưởng khi có cơ hội thuận tiện. Hiện nay có hai trường khuyết hiệu trưởng, Nguyễn Huệ ở Tuy Hòa, Phú Yên và Trần Quốc Tuấn ở Quảng Ngải, toa chọn một. Tôi đắn đo một lúc, cả hai nơi đều đã đi qua nhưng không rõ mấy tình hình địa phương. Danh xưng của nhân vật trường được vinh dự mang tên, anh hùng áo vải Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, địa chưa biết có linh hay không nhưng là đất vừa Phú vừa Yên. Tôi chọn trường Nguyễn Huệ, Tuy Hòa tỉnh Phú Yên.

Tôi về Qui Nhơn tường trình tự sự với ông hiệu trưởng Cường Để Tôn Thất Ngạc để trường sắp xếp việc điều hành khi có một giáo sư thuyên chuyển bất ngờ. Khoảng một tuần sau, tôi nhận được sự vụ lệnh bổ nhiệm hiệu trưởng trường Nguyễn Huệ, Tuy Hòa. Trung tuần tháng 12-1963 tôi vào Nguyễn Huệ nhậm chức, thay thế giáo sư Nguyễn Đăng Ngọc nhận nhiệm vụ mới ở Huế. Sau lễ bàn giao, tôi yêu cầu giáo chức ở lại để có đôi lời ra mắt. Rất mừng, tuyệt đại đa số đồng nghiệp đều cùng trang lứa, trong đó có nhiều người gốc Huế. Kể từ đó vừa học vừa làm. Học những thủ tục, nguyên tắc hành hánh, kế toán, nhân viên, học vụ qua những người cộng sự của mình.

Trung Học Nguyễn Huệ có hai cơ sở, Nguyễn Huệ cũ dành cho các lớp đệ nhất cấp, Nguyễn Huệ mới các lớp đệ nhị cấp. Trường nằm trong một tỉnh lị nhỏ, nhưng lại là một trường lớn, tính theo số lớp và tổng số học sinh. Nam nữ học chung. Không như những thị xã khác, có trường nam, trường nữ trung học. Nguyễn Huệ đã lên tới 60 lớp, học sinh trên 3.000. Theo chỉ tiêu Bộ Giáo Dục ấn định, trường trung học nhận tối đa 62% học sinh các lớp năm của những trường tiểu học công lập trong vùng. Nhưng địa phương của Nguyễn Huệ không chỉ Tuy Hòa mà bao gồm cả Tuy An và có thể một phần Hiếu Xương. Quận Tuy An không có trường trung học. Vì thiếu phòng ốc nên Nguyễn Huệ khó đạt được 62% học sinh thi vào đệ thất. Trong tình hình chiến tranh, ngân sách quốc gia dành cho Giáo Dục chỉ 7% nên hoạt động của ngành giáo dục bị hạn chế.

Bấy giờ có một trung đoàn Đại Hàn đóng gần sân bay. Thiếu tá Lee phụ trách dân sự vụ thỉnh thoảng đến thăm trường. Tôi và giáo sư Anh văn Tôn Thất Quế có lần sang đáp lễ. Sự giao hảo đôi bên đã dẫn đến một trận đấu bóng tròn giao hữu giữa Nguyễn Huệ và trung đoàn Đại Hàn. Đại tá trung đoàn trưởng hỏi tôi khi trà nước sau trận đấu giao hữu, rằng trường cần giúp gì như một kỷ niệm lâu dài của đơn vị lưu lại tại Việt Nam.

Tôi đắn do trước khi trả lời, nghĩ đến trường đang thiếu phòng ốc. Một dãy lầu dự tính xây hai tầng, mỗi tầng 4 phòng học, mới chỉ xây được 4 phòng  tầng trệt. Tôi ngỏ ý đề nghị trung đoàn giúp xây tiếp tầng trên. Không nhất thiết xây 4 phòng, được chừng nào hay chừng đó. Đại tá trung đoàn trưởng cho biết sẽ trả lời sau khi hội ý với thiếu tướng tư lệnh sư đoàn Bạch Mã đóng quân tại miền Bắc Khánh Hòa. Tin vui đến nhanh. Thiếu tướng tư lệnh đồng ý cho một toán công binh đến giúp trường. Không những giúp công mà còn cung cấp vật liệu xây dựng. Tôi giao họa đồ thiết kế đã được duyệt cho viên sĩ quan chỉ huy nhóm công binh.

Khởi sự khoảng vào đầu tháng 3-1967, một nhóm binh sĩ mươi lăm người đến trường đúc gạch taplo, họ mang theo cả nước giải khát. Đôi ba ngày trường tặng mỗi người một bao thuốc, nhờ thiếu tá Lee mua rất rẻ ớ câu lạc bộ trung đoàn. Sân trường Nguyễn Huệ phía bện trái biến thành một công trường xây dựng, ngổn ngang nào cát sạn, xi măng, sắt gỗ...

*Chuyến du hành quan sát Chương Trình Tổng Hợp.

Năm 1967 Bộ Giáo Dục có dự hướng cải tổ giáo dục trung học theo chương trình tổng hợp của Hoa Kỳ (comprehensive program). Một phái đoàn giáo chức được cử đi Mỹ 14 tuần quan sát chương trình tổng hợp, 2 tuần tại Đài Loan, từ Đài Bắc đến Cao Hủng. USAID tài trợ cho chuyến du hành này, và viện đại học Ohio hơp đồng với USAID lo việc sắp xếp chương trình.

Thành phần phái đoàn:
- Trưởng phái đoàn ông Đàm Xuân Thiều, giám đốc Nha Trung Học
- Phó, ông Vũ Đức Chang, giám đốc Nha Tư Thục
- Văn Đình Hy, chủ sự phòng Học Vu tại Bộ
- Trần Công Thiện, chủ sự phòng Du Học
- Đặng Văn Thường, chủ sự phòng Khảo Thi, Nha Khảo Thí.
- 10 hiệu trưởng thuộc 4 quân khu và quân khu thủ đô của những trường được chọn làm thí điển chương trình Tổng Hợp:
- Quân Khu 1: Vĩnh Quyền hiệu trưởng trường Gia Hội, Huế, Nguyễn Khoa Phước, hiệu trưởng Trần Quốc Tuấn, Quảng Ngãi.
- Quân Khu 2: Nguyễn Đức Giang hiệu trưởng Nguyễn Huệ Tuy Hòa, Lê Văn Tùng hiệu trưởng trường Banmêthuột.
- Quân Khu 3: Trần Mai Châu hiệu trưởng Hóc Môn, Lê Anh hiệu trưởng trường Dĩ An.
- Quân Khu 4: Lê Văn Oanh, giám học trường Kiến Hòa, Nguyễn Trung Quân hiệu trưởng Phan Thanh Giản Cần Thơ.
- Quân Khu thủ đô: Vũ Đức Thịnh hiệu trưởng Mạc Đỉnh Chi, Mr Bằng hiệu trưởng trường Quận 8.
- hai thông dịch viên.

Chúng tôi đáp xuống phi trường San Francisco, được một đại diện của đại học Ohio đón, chuyển máy bay đi Washington DC. Người này hướng dẫn phái đoàn suốt cuộc du hành quan sát ở Mỹ. Dừng chân ở Washington DC ba bốn ngày chỉ để cho chúng tôi biết thủ đô Hoa Kỳ, sau đó đi Ohio. Tại đây, Ohio University, cơ quan hợp đồng với USAID lo tổ chức và hướng dẫn phái đoàn thuyết trình khá cặn kẽ chương trình quan sát qua 13 tiểu bang. Tại một tiểu bang, chúng tôi quan sát các trường từ thứ hai đến thứ sáu. Thứ bảy thăm viếng di tích lịch sử hay phong cảnh đặc sắc địa phương, chủ nhật di chuyển đến tiểu bang khác.

Chúng tôi sử dụng khoản trợ cấp 23 đô la/ngày để trang trải tiền ăn ở. Có nơi như tại thành phố Albani, thủ phủ của tiểu bang New York, có một số phụ huynh học sinh mời một thành viên trong phái đoàn đến lưu trú với gia đình họ suốt tuần. Phần tôi được ở hai nhà, mỗi nhà ba ngày. Ộng Văn Đình Hy, chủ sự Phòng Học Vụ tại Bộ không nói được tiếng Anh. Tiếng Anh của tôi cà xịch cà đụi nhưng với sự phụ họa của tứ chi, Mỹ/Việt cũng có thể hiểu nhau. Hai anh em chúng tôi ở chung với nhau, mỗi nhà ba ngày.

Ra quân lần đầu ở một trường tại Cleveland. Theo chương trình, sau một ngày tiếp xúc với Ban Giám Hiệu, quan sát các lớp học, tối hôm đó có cuộc gặp gỡ với giáo chức, phụ huynh học sinh và báo chí địa phương. Phụ huynh học sinh đặt những câu hỏi chung chung về hệ thồng giáo dục VN, các loại trường, việc thi cử… Hai vị trưởng và phó phái đoàn thay nhau trả lời những câu hỏi được thông dịch ghi lại chủ điểm bằng tiếng Việt. Các phóng viên đặt câu hỏi cũng theo cách thức đó, thông dịch ghi chủ điểm các câu hỏi. Tôi nghe và hiểu được nội dung những điều họ nêu lên. Khái quát có những điểm:

1. Chiến tranh Việt Nam vì Sài Gòn không thi hành hiệp định Geneve 1954, qui định hai năm sau sẽ có cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước.
2. Người VN nghĩ thế nào về quân đội Mỹ tham chiến ở VN.
3. Có sự chia rẽ sâu sắc giữa người theo Đạo Thiên Chúa và Đạo Phật, người Bắc người Nam ở VN sau 1963…
4. Xã hội VN đồi trụy, đĩ điếm…

Hiểu được nội dung các câu hỏi, tôi xin ông trưởng phái đoàn cho phép trả lời, và được chấp thuận. Cầm tờ giấy do thông dịch viên trao tay tóm tắt những câu hỏi được chuyển ra Việt ngữ tôi nghĩ, những phóng viên này thuộc nhóm phản chiến. Trả lời:

1- Hiệp định Geneve ký kết ngày 20-7-1954. Hoa Kỳ và phái đoàn VN không ký vào hiệp định nên có quyền không tuân thủ. Vả lại, theo hiệp định những đơn vị chính qui của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rút về miền Bắc vỉ tuyến 17 (sông Bến Hải) nhưng thực tế Bắc Việt vẫn ém lại nhiều cán bộ nòng cốt khắp cả Trung và Nam Phần. Họ đã bắt đầu khuấy động, xây dựng cơ sở, tổ chức những nhóm vũ trang càng ngày càng lớn mạnh với sự tiếp tay của Bắc Việt. Tuy quốc hiệu là Việt Nam Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhưng thực chất là cộng sản. Ở những nước cộng sản làm gì có tự do cho một cuộc tổng tuyển cử.

Ngày 7-7-1955 (song thất) ông Ngô Đình Diệm từ Hoa Kỳ được Quốc Trưởng Bảo Đại điều về Nam VN làm thủ tướng. Sau này trở thành Tổng Thống qua một cuộc trưng cầu dân ý “xanh bỏ giỏ đỏ bỏ bì” để truất phế cựu hoàng Bảo Đại. Thủ tướng Ngô Đình Diệm đối mặt với vô cùng khó khăn trong việc định cư cho hơn một triệu người di cư từ miền Bắc, không chỉ tín hữu Thiên Chúa Giáo mà kể cả những người có tôn giáo khác, thành viên của những đảng phái chống Việt Minh... Trong khi đó cộng sản ra tay phá hoại. Nhiều nơi đã có những cuộc đụng độ võ trang. Và cường độ chiến tranh tăng dần.

2- Năm 1949 Trung cộng làm chủ lục địa Trung Hoa. Năm 1954 hiệp định Geneve chia đội Việt Nam. Khối cộng sản mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở Đông Nam Á, vì có thêm Bắc Việt, tiếp cận biên giới với Trung Hoa. Hoa Kỳ đóng vai “sen đầm quốc tế” e ngại hiệu ứng domino nên tìm cách ngăn chặn. Theo tôi biết, bấy giờ ở Đông Nam Á có một vòng đai chiến lược bao quanh phía Đông Trung Hoa: Đại Hàn với tổng thống Lý Thừa Vãn, Đài Loan với tổng thống Tưởng Giới Thạch, Phi Luật Tân với tổng thống Magsaysay, Nam Dương (đa phần dân số theo Hồi giáo) với tổng thống Sukarno, Việt Nam với tổng thống Ngô Đình Diệm, một tín hữu thuần thành Thiên Chúa Giáo. Nhưng chiến tranh quốc - cộng lại xảy ra ở miền Nam Việt Nam, buộc Mỹ phải đổ quân vào chiến trường này, đánh giặc theo kiểu Mỹ. VN được xem là một tiền đồn chống lại sự bành trướng của cộng sản trong vùng Đông Nam Á.

Sự hiện diện của quân đội Mỹ ở VN đã tạo lợi thế cho Bắc Việt về mặt tuyên truyền quốc tế, rằng Mỹ xâm lăng VN. Đồng thời sự kiện này cũng làm mất chính nghĩa của quân dân VN, chống cộng sản xâm lăng.

Giá như Hoa Kỳ theo yêu sách của tổng thống Ngô Đình Diệm không đưa quân vào trực tiếp tham chiến mà viện trợ đầy đủ để Nam VN tự bảo vệ thì chiến phí và thất thoát nhân mạng Mỹ/Việt có thể giảm thiểu rất nhiều.

3- Tôi xin phép mời các thành viên trong phái đoàn đứng lên khi được hỏi về tôn giáo, gốc gác. Xong tôi nói với cử tọa: Người nói có kẻ nói không, ai tin ai. Quí vị đã thấy trong phái đoàn chúng tôi gồm cả thông dịch viên có 15 người, thuộc đủ thành phần: Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, người Bắc người Trung người Nam. Qua thực tế đó, quí vị tự trả lời câu hỏi của mình.

4- Hoa Kỳ là một Hiệp Chủng Quốc. Những người đầu tiên đến Bắc Mỹ có gốc gác từ những nước Âu châu, tổ tiên của người Mỹ da trắng. Không nói gì xa, thế chiến thứ hai 1939-1945 kéo dài chỉ sáu năm. Hoa Kỳ đã tham gia và đánh thắng quân Đức Quốc Xã ở Tây Âu. Trở về quê hương sau chiến tranh, lính Mỹ đã khoe khoang chỉ vài ba thỏi chocolat cũng dụ được con gái ở Pháp, Ý hay Đức bán thân. Chiến tranh ở VN kéo dài hơn 20 năm, chưa có chỉ dấu kết thúc, làm sao không phát sinh nhiều tệ đoan xã hội. Đĩ điếm là chuyện đương nhiên có thật, không những thế, còn nhiều tệ nạn khác do chiến tranh gây ra...

Sau 14 tuần qua 13 tiểu bang và Washington DC, phái đoàn dự một buổi họp tổng kết chuyến du hành quan sát với Ohio University tại San Francisco. Buổi họp mang tính hình thức để chia tay. Phái đoàn được thông báo, thời gian ở Mỹ, mỗi người được trợ cấp 23 đô/ngày, ở Đài Loan chỉ 17 đô. Chúng tôi rời Mỹ vào những ngày đầu tháng 7-1967 đi Đài Loan. Trong phái đoàn tôi là người duy nhất đã đi Mỹ một lần vào năm 1962 nên trước đó đã đề nghị lưu lại Tokyo 72 giờ không cần chiếu khán nhập cảnh. 72 giờ ở Tokyo, chạy nhiều hơn đi, cỡi ngựa xem hoa.

Tại Đài Loan cũng như ở Mỹ, phái đoàn được một nhân viên của Bộ Giáo Dục ra đón. Người này hướng dẫn phái đoàn suốt cuộc hành trình trong nước Cộng Hòa Dân Quốc này. Anh rất thông thạo tiếng Anh. Chúng tôi được đưa về trung tâm Đài Bắc, khu vực có khách sạn và nhà hàng trung bình.

Từ Đài Bắc chúng tôi được hướng dẫn theo con đường xuyên đảo quốc dọc theo bờ biển phía Đông từ Đài Bắc đến Cao Hùng, dừng chân mỗi nơi vài ngày thăm viếng các trường Trung Học. Chương trình có vẻ đơn điệu, họp với Ban Giám Hiệu, trao đổi về sự khác biệt giữa hai hệ thống tổ chức giáo dục, thăm lớp... Điều khác biệt là “quân sự hóa học đường”. Học sinh trung học mang quân phục đi học, Ngoài giờ học văn hóa, trường còn đặt nặng chương trình huấn luyện quân sự. Buổi sáng có lễ chào cờ, buổi chiều có lễ hạ cờ, hàng ngũ trang nghiêm. Nhìn cảnh chào cờ và hạ cờ ta có cảm tưởng đây là một quân trường. Lập luận của chính phủ từ thời tổng thống Tưởng Giới Thạch là sẵn sàng tái chiếm lục địa. Tái chiếm lục địa là điều không tưởng, thật ra là phòng xa, chuẩn bị kế hoạch lâu dài đề phòng Trung Cộng tấn công Đài Loan. Người Đài Loan nghĩ rằng, chừng nào hai đào ngoài khơi Phúc Kiến là Kim Môn và Mã Tổ còn trụ vững thì Đài Loan còn ngủ yên.

Chuyến về lại Đài Bắc, ngược theo con đường ven bờ biển ở Miền Tây, không thăm viếng trường nào, chỉ ngoạn cảnh. Tại Đài Bắc, phái đoàn cũng có một buổi gặp mặt lấy lệ với một số viên chức Bộ Giáo Dục, và kết thúc bằng một bữa tiệc chia tạy. Tôi từng nghe người Việt mình ca tụng: Ở nhà Tây, ăn cơm Tàu, lấy vợ Nhật. Nói riêng món “cơm Tàu”, chúng tôi từng có lai rai ở những nhà hàng Tàu trong nuóc, nhưng chưa thấy một bữa tiệc nào lạ lùng, thịnh soạn như hôm nay. Sau lời phi lộ và đáp lễ của chủ khách, nhập tiệc. Thông dịch viên người Hoa hướng dẫn, tiệc gồm có 28 món. Khi đến món cá là kết thúc. Tại chỗ ngồi, mỗi thực khách nhận được một tờ bìa đỏ gấp đôi, hai trang phía trong mỗi trang có những dòng chữ Hán viết hàng theo chiều dọc. Đó là thực đơn, chẳng ai hiểu món gì với món gì.

Sau món xúp vi cá, biết tên theo sự nhận dạng, ba bốn món ăn khác được bày trên một cái bàn nhỏ xoay tròn. Mấy tháng trời ăn đồ ăn Mỹ ớn quá, bây giờ ăn đồ Tàu hợp khẩu vị. Nếu không vì phép lịch sự tối thiểu, để lại chút ít trên dĩa thì đã quét sạch hết. Ăn mãi chẳng thấy món cá. Bỗng bồi bàn bưng lên mỗi bàn một tô sành lớn và thay dĩa bằng chén. Múc ra thấy nước ngọt còn nóng hổi, cái là những loại trái cây cắt nhỏ. Ai cũng tưởng là món tráng miệng. Nhưng không, thông dịch viên giải thich, ăn một chút đồ ngọt cho đỡ ớn, sẽ tiếp tiếp tục những món khác. Đúng vậy, sau vài ba món nữa đến món cá. Mọi người ăn cầm chừng, bụng không còn sức chứa. Ăn uống xong, một tiếp viên nữ phát cho khách khăn nóng. Anh Phước mỉm cười, phán: lạc chiếu! Cô tiếp viên trợn tròn mắt, đứng yên. Một số bà con trong phái đoàn khi biết đi Đài Loan đã học năm bảy tiếng chào hỏi, cám ơn cũng ngạc nhiên, ăn xong rồi sao lại xin ớt. Lạc-chiếu là ớt. Anh Phước biết mình lộn, cười và sửa sai, xê-xị nghĩa là cám ơn.

* Trường Trung Học Tổng Hợp Nguyễn Huệ.

Chúng tôi về đến Việt Nam vào giữa tháng 8-1967. Sau khi yết kiến ông Ủy Viên Giáo Dục (bộ trưởng), giáo sư Nguyễn Văn Trường thời thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ lãnh đạo Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (thủ tướng), ai về nhiệm sở nấy. Tôi qúa vui mừng với 4 phòng học mới đã cơi lầu với bảng đen có bục, cùng bục cho bàn giáo sư đúng theo khuôn mẫu các phòng học đang sử dụng. Tôi vô cùng ân hận, không có một lời cám ơn về sự giúp đỡ quá nhiệt tình của trung đoàn Đại  Hàn, khi biết họ đã mãn thời gian phục vụ tại Việt Nam và đã hồi hương. Băn khoăn, e người Hàn quốc đánh giá thấp cách ứng xử của người Việt Nam. Người ta đâu có biết tôi vắng mặt hơn bốn tháng.

Tôi tiếp xúc với bác hội trưởng Hội Phụ Huynh Học Sinh (HPHHS) Bùi Phương, đưa đề nghị Hội vận động tài chánh lo bàn ghế cho bốn lớp mới để có thể sử dụng sớm chừng nào hay chừng đó. Tôi thưa với bác Hội Trưởng, việc xây dựng, kiến thiết ở các trường công lập do Bộ Giáo Dục đài thọ ngân khoản. Bây giờ có trình xin ngân khoản cũng phải qua những thủ tục hành chánh, tài chành rườm rà, trong khi trường đang cần phòng học cho chương trình tổng hợp mới được Bộ Giáo Dục chấp thuận. Bác Bùi Phương, cùng hai phụ huynh cao niên khác, nếu tôi nhớ không lầm là bác Hữu Dụng và bác Lê Chí Mãn, hai trong số những thương gia ở địa phương đi vận động. Trong vòng vài tháng, các phòng mới được trang bị bàn ghế cho học sinh và bốn bàn giáo sư.

Nhân đây tôi cần có đôi lời về bác hội trưởng Bùi Phương. Tôi đến Nguyễn Huệ vào giữa tháng 12-1963 và rời Nguyễn Huệ đi Võ Tánh vào tháng 8-1972. Trong thời gian gần 9 năm bác Bùi Phương giữ vai trò Hội Trưởng HPHHS. Việc công, việc tư giữa trường Nguyễn Huệ và gia đình bác hội trưởng có nhiều mối quan hệ, liên kết thật gắn bó.

Hai bác là người miền ngoài, Nghệ An thì phải. Đây là một gia đình rất lễ nghĩa, mẫu mực. Bùi Thị Ngọc Dung, Bùi Thị Ngọc Điệp, Bùi Thị Ngọc Anh là ba ái nữ của gia đình này đang học những năm đệ nhị cấp trường Nguyễn Huệ. Ba thiếu nữ có dung hạnh và khả năng học vấn rất đáng khen. Về sau này tôi biết thêm Ngọc Dung và Ngọc Điệp, Ngọc Anh có một em gái học trường tư thục Bồ Đề (?) và em trai út Bùi Văn Phú, bác sĩ giám Đốc Bệnh Viện Trung Ương Huế.

Tôi không rõ chuyện cô gái út của bác Hội trưởng vì sao học tư thục. Vì một lý do nào đó mà em này không dự kỳ thi vào lớp đệ thất thì chẳng nói làm chi. Còn thi hỏng vào lớp đệ thất Nguyễn Huệ là một điều đáng tiếc. Con ông Hội Trưởng HPHHS có nhiều công lao với trường, em vợ hai giáo sư (hay cựu giáo sư). Ngoài ra tôi còn mời Hội Trưởng HPHHS tham gia vào Hội Đồng Kỷ Luật như một thành viên có quyền bỏ phiếu. Hội Đồng Kỷ Luật gồm hiêu trưởng, tổng giám thị, hai giáo sư đệ nhị cấp, hai giáo sư đệ nhất cấp + hội trưởng HPHHS. Với quan hệ như vậy đối với trường, tôi có thể trình bày tình lý với Hội Đồng Giám Khảo để giải quyết một  trường hợp khá đặc biệt.

Giáo sư Phạm Văn Minh tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn ban Văn chương được bổ nhiệm về Nguyễn Huệ. Sau một thời gian dạy học chuyển qua làm quản thủ thư viện Lam Sơn của trường. Minh và Ngọc Anh yêu thương nhau từ thuở thầy trò. Sau khi Ngọc Anh đậu tú tài Minh ngõ ý với hai bác Bùi Phương xin tiến tới hôn nhân. Minh có trọ trong nhà tôi một thời gian. Tôi xem Minh như em. Minh còn một bà mẹ già ít ăn ít nói nên lễ cưới hỏi, vợ chồng tôi đóng vai đại diện nhà trai. Minh đươc đổi về Sài Gòn, hai vợ chồng dắt dìu nhau vào thủ đô lập nghiệp. Cựu giáo sư Trần Viết Ngạc tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Huế, ban Sử Địa kết duyên cùng con gái đầu của bác hội trưởng, Bùi Thị Ngọc Dung. Một sự kiện khá lý thú, em trai của Trần Viết Ngạc là bác sĩ Trần Viết Phồn chiếm được trái tim của Bùi Thị Ngọc Điệp, em kế Ngọc Dung. Nghĩ lại chuyện xưa về quan hệ gắn bó giữa trường Nguyễn Huệ và bác Hội Trưởng HPHHS, tôi càng cảm mến sự tự trọng của bác Bùi Phương, để cho con mình học trường tư thục Bồ Đề trong thị xã.

Hai bác mệnh chung đã lâu, lăng mộ được xây trong phạm vi chùa Sư Nữ ở Cầu Lim, Huế cách lăng mộ ông bà nhạc gia tôi chừng vài trăm thước. Mỗi lần có dịp về Huế, chúng tôi hương hoa viếng lăng mộ cha mẹ, không bao giờ quên  hai bác Bùi Phương.

* Thực thi chương trinh tổng hợp.

Sau chuyến du hành quan sát của tôi, trường Nguyễn Huệ cải danh: Trường Trung Học Tổng Hợp Nguyễn Huệ. Lại thêm những may mắn bất ngờ cho trường. Anh Tôn Thất Hường được bổ nhiệm Trưởng Ty Xã Hội Phú Yên. Nhà riêng của anh ấy nằm bên kia đường, trước nhà tôi. Qua lại với nhau thành thân thiết, nhận ra nhau cùng gốc huyện Phú Lộc, Thừa Thiên và cùng  học trường An Lương Đông (Thường gọi là trường Truồi). Anh học trên tôi một lớp. Anh Hường hỏi tôi một cách tình cờ về sự thay đổi danh xưng của trường. Tôi giải thích qua loa cho có chuyện. Anh cho biết Ty Xã Hội hiện có 20 máy may và 24 máy đánh chữ nằm ụ trong kho. Đây là những máy móc Bộ Xã Hội cung cấp, trù lập các lớp huấn nghiệp, dạy nghề cho giới trẻ càng ngày càng chạy về nững khu an toàn, tránh  giăc giã. Ty Xã Hội quá bận rộn với việc cứu trợ đồng bào chạy giặc, không phương tiện mở các lớp huấn nghệ, Anh ngỏ ý cho trường Nguyễn Huệ mượn 24 máy đánh chữ và 20 máy may. 

Buồn ngủ gặp chiếu manh! Gặp cơ hội thuận lợi bất ngờ, tôi chớp ngay lấy. Một lớp đánh chữ và một lớp may cắt được mở, sau khi được Bộ Giáo Dục chấp thuận đề nghị truyển dụng hai chuyên viên. Nguyễn Huệ có lẽ là trường có hơi hướm tổng hợp đầu tiên trong 10 trường có hiệu trưởng tham gia chuyến du hành quan sát ở Mỹ và Đài Loan. Năm 1970 anh trưởng Ty Xã Hội Tôn Thất Hường đổi về Huế, 1972 tôi đổi vào NhaTrang. Bốn năm năm hai bên không ai nhắc gì đến số máy may, máy đánh chữ. Và tôi cũng chẳng nhớ khi mượn có viết giấy viết tờ gì không. Số máy móc này trở thành tài sản của trường Trung Học Tổng Hợp Nguyễn Huệ cho đến năm 1975.     

Với danh nghĩa tổng hợp, sau một thời gian ngắn trường Nguyễn Huệ và trường BanMêThuột có chung một cố vấn Mỹ, Dr Steele. Thật ra ông cố vấn Mỹ này không giúp đỡ gì mấy cho việc phát triển Chương Trinh Tổng Hợp. Nhưng rất phiền hà cho tôi sau 1975, phải trả lời những tra vấn của cán bộ chấp pháp: Vì sao một trường học lại có cố vấn Mỹ?

* Đất Phú đến dễ khó rời.

Nhân Kiệt, Đất Phú đến dễ khó rời. Đầu năm 1966 tôi vào Sài Gòn chừng vài tuần trước Tết âm lịch. Vừa đến Nha Trung Học tôi gặp ông chủ sự Phòng Nhân viên. Ông chủ sự nói, đang tính đánh công điện khẩn gọi tôi vào trình diện ông Giám Đốc Nha Trung Học. Tôi trình diện ông giám đốc, được biết tin phải yết kiến gần ông Bộ Trưởng. Ông Bộ Trưởng bảo tôi: Anh về sửa soạn đi Đà Nẵng ngay làm hiệu trưởng trường Phan Chu Trinh. Sự vụ lệnh sẽ đến trường sau khi anh về. Tôi trình xin thi hành lệnh sau Tết âm lịch. Ông Bộ Trưởng không đống ý, bảo tôi ra gấp Đà Nẵng nhận nhiệm sở, sau đó trở về Tuy Hòa ăn Tết với gia đinh. Tội tức tốc in lại danh thiếp với chức vụ Hiệu Trưởng Trường Trung Hoc Phan Chu Trinh -  Đà Nẵng.

Về lại Nguyễn Huệ tôi chuẩn bị đi Đà Nẵng nhận nhiệm vụ mới, cử giám học Lê Ngọc Giáng xử lý thường vụ, thông báo cho đồng nghiệp tin tức sẽ rời nhiệm sở, làm thủ tục di chuyển v.v..., tiệc tùng chia tay với đồng nghiệp. Tuy Hòa là thị xã của một tỉnh nhỏ, mỗi khi có Ty Sở trưởng thuyên chuyển đều có tiệc chia tay. Mọi việc đều sẵn sàng, chỉ chờ ngày lên đường. Tôi điện thoại cho thiếu tá Tỉnh Trưởng Trần Văn Hai (cấp bậc hồi đó, về sau thăng chuẩn tướng, tuẫn tiết ngày 30-4-1975) xin phép vợ chồng tôi đến thăm ông bà tại tư dinh sau giờ làm việc. Tôi trình bày tự sự việc thuyên chuyển ra Đà Nẵng. Thiếu tá tỉnh trưởng nói: Nếu anh muốn đi, tôi để anh đi, còn không tôi sẽ can thiệp giữ anh lại. Tôi trả lời, là công chức phải tuân hành lệnh cấp trên, không tự ý muốn đi hay ở lại. Thiếu tá Tỉnh Trưởng góp ý: tình hình Huế, Đà Nẵng rất phức tạp. Anh ra đó phải hết sức cẩn thận. Ai thay anh ở trường Nguyễn Huệ?, ông hỏi. Tôi trình chưa có người thay thế, giám học mới được cử xử lý thường vụ. Thiếu tá tỉnh trưởng có vẻ ngạc nhiên, nhận xét và đưa ra quyết định: Anh đi, trường Nguyễn Huệ cũng thiếu hiệu trưởng. Tại sao Bộ Giáo Dục không bổ nhiệm thẳng một người khác ra Đà Nẵng cho tiện việc cả hai nơi? Tôi sẽ giữ anh lại. Ngày hôm sau Tòa Hành Chánh Phú Yên và trường Nguyễn Huệ nhận được công điện khẩn của bộ Giáo Dục chấp thuận đề nghị của Tỉnh Trưởng Phú Yên. Tôi những tưởng mới hơn vài năm đã hết duyên với đất Phú, ngờ đâu duyên còn thắm đến 6 năm sau.

Đầu năm 1968 Dr Steele đưa Dr Aladize, cố vấn ở Bộ Giáo Dục đến thăm trường Tổng Hợp Nguyễn Huệ, một trường mới được tổng hợp hóa vài bước đầu. Đối với tôi, Dr Aladize là người đã biết qua khóa tu nghiệp Anh Văn bốn tuần cho giáo sư đệ nhị cấp tổ chức tại trường Bùi Thị Xuân, Đà Lạt vào mùa hè 1966. Tôi được cử làm Giám Đốc Điều Hành, tiến sĩ Đào Thị Hợi phụ tá chuyên môn, với ban hướng dẫn gồm tiến sĩ Dương Thanh Bình, ba hay bốn tiến sĩ đệ tam cấp (master) và giáo sư Bùi Dương Chi của trường Trung học Ban-Me-Thuôt. Trong Ban Hướng Dẫn tôi có biết một người là thầy Hoàng Diệm, cựu giáo sư Khải Định sau năm 1945. Dr Aladize cố vấn khóa tu nghiệp, đồng thời xuất chi mọi khoản sở phí liên hệ, chẳng hạn như khách sạn cho Ban Điều Hành, chi phí bất thường, tiền giờ thuyết trình và hướng dẫn, du ngoạn… Trong mấy lần họp đầu tuần tôi nói tiếng Việt, tiến sĩ Đào Thị Hợi dịch ra tiếng Anh cho Dr Aladize, phần còn lại, thảo luận hay đề nghị đều dùng Anh ngữ. Chỗ nào không hiểu tôi hỏi lại bằng tiếng Việt. Khóa tu nghiệp được kết thúc bằng một lễ bế mạc do thứ trưởng Bộ Giáo Dục Trần (hay Nguyễn) Lưu Cung từ Sài Gòn lên chủ tọa.

Qua chuyện trò, Dr Aladize hỏi tôi có muốn sang Mỹ học School Administration không. Tôi nghe rất thích chí, được đi Mỹ học còn gì vui bằng, có cơ hội cải tiến Anh ngữ  múa may của mình. Bàn và thuyết phục “bà bộ trưởng nội vụ”. OK. Tôi thông báo cho Dr Aladize. Sau  một thời gian ngắn tôi được Bộ Giáo Dục cho phép đi Mỹ học, nhưng phải qua ba tháng học Anh Văn bổ túc tại Hội Việt Mỹ. Lại tiệc tùng chia tay trong nội bộ cũng như với các Ty Sở trưởng. Đến khi làm passport, bị Bộ Quốc Phòng bác vì còn trrong hạn tuổi động viên. Lại trở về đất Phú. Tháng 8-1968, cũng đi nhưng không đi Mỹ mà đi Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn cùng lúc với đồng nghiệp trong Vùng Hai Chiến Thuật. Danh nghĩa là “Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan”. Thực tế chỉ được huấn luyện quân sự 9 tuần, trở về lại nhiệm sở với cấp bậc binh nhì, 7 năm chưa được vinh thăng binh nhất.

Giữa tháng 8-1972 tôi giã từ Nguyễn Huệ vào Nha Trang nhận nhiệm sở mới ở trường Võ Tánh. Lại tiệc tùng chia tay. Anh Bùi Thế Chương, quản đốc Trung Tâm Tu Nghiệp Công Chức, nơi tổ chức tiệc tiễn chân. Phát biểu: Sự bất quá tam rồi đó nghe. Lần sau nếu có một chuyến ra đi nữa, ông phải đãi anh em Ty Sở  trưởng. Tôi hứa, không những đãi Ty Sở Tưởng mà luôn cả gia đình. Có tiếng cười từ phía thực khách: nói dóc!

Bài viết không có phần kết thúc với dấu ./. (chấm hết). Gần 9 năm ở đất Phú tình nghĩa làm sao đong đầy. Tôi dự tính sẽ viết tiếp, hay ít ra cũng đào xới trí nhớ để tìm lại dấu vết của một miền đất dung thân dài nhất trong đời làm việc.
…………………………………………………………………………………………………………………………….

Nguyễn Đức Giang


Thầy Cô Nguyễn Đức Giang

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2020

Tôi Là Ai?

GIỚI THIỆU
NHHN xin trân trọng chuyển lời thăm sức khỏe của thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Đức Giang đến quý Thầy, Cô và CHS Liên Trường Phú Yên. Diễn đàn cũng rất vinh hạnh và vui mừng được thầy đóng góp bài TÔI LÀ AI?. Bài viết rất sâu sắc và ý nghĩa, xin mời thưởng thức.
Trân trọng
NHHN



TÔI LÀ AI?
Thầy Nguyễn Đức Giang

Lời dẫn nhập

Trên chuyến bay từ San Francisco đi Tokyo, tiêu đề một bài viết hơi lạ lạ đã lôi kéo sự chú ý của tôi “ WHO AM I?” đăng trong tạp chí của hãng hàng không PAN AM. Bài viết một chuyện có thật về một thanh niên Nhật Bản thuộc thế hệ thứ hai di dân. Không ngờ tâm sự của người thanh niên này mấy mươi năm sau lại phản ảnh phần nào tâm sự của mình. Đã lâu ngày, tôi quên mất tên tuổi của các nhân vật trong chuyện nên tự đặt tên và thêm ít nhiều gia vị cho câu chuyện được đậm đà.

Chuyện Người ta

Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt trên chiến trường Á Châu và Thái Bình Dương với sự đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện của Nhật, thật ra với điều kiện Nhật hoàng Hirhito không bị cáo buộc tội phạm chiến tranh. Nhật hoàng vẫn tại vị, không chịu chung số phận với hai nguyên thủ quốc gia khác của phe Trục là Hitler và Mussolini.

Nước Nhật đang chuyển mình vươn lên sau cuộc chiến triền miên với địa bàn quá rộng lớn, vượt quá tiềm năng tài nguyên và nhân lực quốc gia. Sự đổ vỡ do chiến tranh gây nên, nhất là hai quả bom nguyên tử tàn phá khủng khiếp Hiroshima và Nagasaki còn hằn sâu trong tâm tư của mỗi một ngưởi Nhật, vốn có lòng tự hào dân tộc cao, mà đành phải chấp nhận một cuộc đầu hàng tủi nhục với sự hiện diện của kẻ thù trên quê hương của mình.

Không một nước nào, một thành phố nào trên thế giới mang sắc thái tân cổ giao duyên rõ nét như nước Nhật và thủ đô Đông Kinh. Những đền đài xưa cổ xen lẫn với những cấu trúc tân kỳ. Những bộ kimono sặc sỡ, cổ kính điểm những nét chấm phá sinh động hòa vào những dòng người xuôi ngược mang y phục Tây phương…

Micheal Sơn­ Điền chăm chú thu hình những cụ già Nhật đang thong thả dạo quanh công viên hoàng gia. Lặng lẽ như sự vắng lặng trong khu vực công viên, họ kính cẩn hướng về hoàng cung nghiêng mình trước khi thả bộ đi dạo, và động tác đó được lặp lại trước khi rời công viên. Sơn­ Điền - từ đây anh được gọi như vậy ­băn khoăn tự hỏi: Cái gì tượng trưng cho nước Nhật? Những trung tâm thương mại và kỹ nghệ sầm uất, sinh hoạt náo nhiệt chẳng kém gì ở những thành phố lớn Âu Mỹ? Hay những thế giới độc đáo kiểu Nhật Bản như khu vực công viên hoàng gia với những cụ già tôn sùng Nhật hoàng trong lặng lẽ, âm thầm?

Nước Nhật với người Nhật khác với bức tranh Sơn­ Điền tự phát họa trước khi về thăm tổ quốc và thân nhân. Nó xa lạ như sự xa lạ của cái tên Micheal Sơn­ Điền, nửa Mỹ nửa Nhật mà khi ở giữa lòng tổ quốc anh mới cảm nhận được. Sơn­ Điền được sinh ra ở Mỹ. Thân phụ anh, Sơn­ Điền Đại­ Bản­ từ đây gọi là Đại­ Bản ­di cư sang Mỹ từ những năm đầu thế kỷ 20. Những khó khăn và thiệt thòi của thời gian đầu lập nghiệp nơi đất mới đã làm cho Đại ­Bản nghĩ rằng ở Mỹ mà không Mỹ thì khó có thể thành công trên nhiều phương diện. Quả thật, Đại­ Bản đã thành công trên thương trường sau hơn ba mươi năm cần cù, bươn chải và cũng đã thành công trong việc Mỹ hóa gia đình. Hai con ông, một trai một gái chỉ còn cái họ Sơn ­Điền là không Mỹ hóa được. Cái họ này cũng đi dần vào quên lãng, vì ở nhà, ở trường hay bất cứ nơi đâu anh đều được gọi là Micheal. Sơn­ Điền là một người Mỹ trong hình hài Nhật Bản. Anh không nói được tiếng mẹ đẻ, thông thạo tiếng Mỹ là đương nhiên, còn nước Nhật anh chỉ biết một cách mơ hồ.

Tình tự dân tộc lần đầu tiên trổi dậy trong lòng anh như một người Nhật là vào mùa đông năm 1941, khi anh học năm cuối cùng của bậc trung học. Tháng 12 năm 1941 Nhật tấn công Trân Châu Cảng mà không tuyên chiến, hủy diệt ba phần tư hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ. Tin sốt dẻo gây xúc động cả nước. Vào đầu giờ học ngày hôm sau tin tức này là đề tài thời sự nóng bỏng cho thầy trò cả lớp. Mọi con mắt xoi bói đều chiếu vào anh, oán hận hay khâm phục anh không nhận ra được. Anh chỉ biết có một dòng máu nóng tự hào cuồn cuộn trong cơ thể. Sơn­ Điền ngẩng mặt nhìn thẳng về phía trước, tưởng mình là một phi công trong phi đoàn Thần Phong đang biến hạm đội Mỹ thành những miếng mồi ngon cho cuộc không tập. Chiến tranh Mỹ Nhật tiếp diễn, nhưng gia đình Sơn ­Điền bàng quan đọc tin tức về những thất bại dần dà của Nhật trên mặt trận Thái Bình Dương một cách dửng dưng.

Mùa thu năm 1945, hai quả bom nguyên tử hủy diệt hai thành phố Hiroshima và Nagasaki buộc Nhật phải đầu hàng. Những đôi mắt trong lớp lại chiếu vào Sơn ­Điền. Những cái nhìn kiêu căng hay thương hại? Anh cúi mặt xuống, cảm thấy tủi nhục của một kẻ thất trận. Nhưng rồi tình tự Nhật Bản trong người anh cũng phai lạt dần theo thời gian.

Nhật Bản càng ngày càng phát triển mạnh về kinh tế. Theo cam kết với Đồng Minh, Nhật không có bộ Quốc Phòng mà chỉ có Cục Phòng Vệ Dân Sự. Đồng Minh e ngại một lực lượng quân sự hùng mạnh của Nhật được tái lập có thể tạo bất ổn ở Á Châu. Sự lo xa đó đã tạo cơ hội thuận lợi cho Nhật. Quốc phòng đã có Mỹ lo, Nhật rảnh tay phát triển kinh tế. Chẳng bao lâu, Nhật trở thành một trong những cường quốc kinh tế hàng đầu. Những thành tựu của Nhật cũng chẳng gây hứng khởi gì cho gia đình Sơn ­Điền­

Sau khi tốt nghiệp đại học, Sơn ­Điền quyết định trở về thăm tổ quốc và thân nhân. Giao tiếp với đời sống gia đình Nhật Bản hằng ngày, lúc đầu Sơn­ Điền cảm thấy thích thú do tính hiếu kỳ: chậm chạp trong cung cách cúi mình chào hỏi, chậm chạp trong bộ kimono gò bó với đôi guốc Nhật hai quai, chậm chạp và phức tạp trong cung cách uống trà và những lễ nghi xưa cũ tưởng như đã quá lỗi thời… Người ta có cảm tưởng người Nhật quá lãng phí thời gian và quá bảo thủ. Thật ra có hai con người trong mỗi người Nhật, một người xem ra chậm chạp nhưng ôm chắc lấy nguồn gốc dân tộc, bảo vệ truyền thống dân tộc và một người khác nhanh nhẹn tháo vác chạy trước cả đà văn minh kỹ thuật thái tây.

Sơn­ Điền sinh ra và lớn lên ở Mỹ hơn một phần tư thế kỷ. Anh hoàn toàn được nuôi dưỡng và giáo dục kiểu Mỹ nên thiếu hẳn Nhật tính trong người. Dần dà anh cảm thấy thiếu thoải mái. Khó chịu nhất là bà nội anh và bà con gần gũi chẳng ai gọi được tên anh, và đi đâu anh cũng phải cặp kè một người anh em họ thông dịch. Sự ngăn cách giữa anh và thân nhân qua người thông dịch càng ngày càng lớn, hoặc ít ra anh cũng cảm thấy như vậy. Anh khó mà biết được trong sự lễ phép quá độ của người Nhật là lịch thiệp xã giao hay niềm nở chân tình.

Sơn­ Điền viện cớ đi du lịch để tránh sự gò bó Nhật Bản quanh mình, tránh cái bóng ma thông dịch mà anh tin chắc không nói lên đầy đủ một cách trung thực tâm tình và ý nghĩ của anh, nhưng lại làm cho anh có cảm tưởng bị lệ thuộc... Một lần anh gọi taxi về khách sạn, hẳn nhiên là bằng tiếng Anh. Bằng một thứ tiếng Anh không trôi chảy, người tài xế quát vào mặt anh: "Cút! Tao có đói cũng không thèm chở một tên mất gốc, chạy theo Mỹ". Người tài xế đã hiểu lầm Sơn­ Điền, và phản ứng thô bạo của anh ta cũng chẳng có gì khó hiểu. Từ đó mỗi khi cần giao thiệp, Sơn­ Điền nhận mình là du khách Đại Hàn để tránh những ngộ nhận phiền toái.

Nhật Bản đến giữa thế kỷ thứ 19 vẫn còn là một nước chậm tiến, bế quan tỏa cảng. Năm 1854, trước áp lực của hạm đội Mỹ, Nhật buộc lòng phải mở các hải cảng cho Mỹ giao thương. Theo đóm ăn tàn, Nga, Anh, Pháp, Đức, Hòa Lan nhảy vào. Người Nhật xem việc nhượng bộ ngoại quốc là một sĩ nhục quốc thể và qui trách cho chế độ Mạc Phủ, mỗi vùng một lãnh chúa. Chế độ này bị áp lực phải giải thể năm 1871. Mọi quyền hành đều tập trung vào tay Minh Trị Thiên Hoàng Mutsihito để canh tân xứ sở theo khuôn mẫu Tây phương. Hơn 20 năm sau, Nhật có dịp thử thách kết quả công cuộc canh tân với chiến thắng Trung Hoa trong vụ tranh chấp ảnh hưởng trên bán đảo Triều Tiên năm 1895 và 10 năm sau đó, đánh tan hạm đội Baltique của Nga ở eo biển Đối Mã. Đầu thế kỷ 20, Nhật nghiễm nhiên trở thành cường quốc bậc nhất tại châu Á và dần dà bành trướng thế lực trong vùng qua chiêu bài Đại Đông Á.

Thời gian đầu Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật mau chóng thu được những thắng lợi lớn rộng khắp Á Châu: chiếm Trung Hoa, thắng Pháp ở Đông Dương, Anh ở Miến Điện và Singapore, Hòa Lan ở Nam Dương, Mỹ ở Phi Luật Tân nhưng cuối cùng phải đầu hàng vô điều kiện. Lòng tự hào dân tộc bị xúc phạm, danh dự mà người Nhật quí trọng hơn sinh mạng bị tổn thương. Vậy có người Nhật nào có thể dễ dàng chấp nhận những đứa con hư hỏng, đua đòi đã chối từ tiếng mẹ đẻ.

Nước Nhật chối bỏ Sơn­ Điền hay Sơn ­Điền chối bỏ Nhật Bản? Anh không trả lời được câu hỏi tự đặt ra. Điều rõ ràng là Sơn ­Điền cảm thấy quá xa lạ trên phần đất gọi là tổ quốc của mình, xa lạ cho đến nỗi có khi anh phải buộc lòng chối bỏ cả gốc gác. Những hăm hở, rộn rã lúc ban đầu biến mất, nhường chỗ cho sự chán chường. Anh rút ngắn thời gian lưu trú tại Nhật Bản. Đi đâu đây? Rời bỏ một tổ quốc để trở về một tổ quốc ư? Chiếc máy bay nhẹ nhàng cất cánh mang theo tâm tư nặng trĩu trong lòng Sơn­ Điền. Anh rời một quê hương để trở về một quê hương hay lửng lơ giữa không trung không bến bờ ? Chưa bao giờ anh có những ý nghĩ mông lung không định hướng như lúc này. Ngồi cạnh anh là một trung úy Mỹ trẻ tuổi, và chung quanh đa số hành khách là quân nhân Mỹ trở về sau khi mãn hạn phục vụ ở Nhật hay Đai Hàn. Đối với quân nhân trẻ phục vụ ở ngoại quốc, còn đề tài nào hấp dẫn hơn gái đẹp bản xứ để ồn ào đủa cợt với nhau trên chuyến bay đường dài. Sơn Điền nghe mà nóng rát cả mặt. Viên trung úy bắt chuyện cho có chuyện giữa người đồng hành

- Anh người nước nào? - Tôi người Nhật, Sơn ­Điền trả lời. - Anh không muốn nói thêm là công dân Mỹ gốc Nhật. Nói như thế cũng không gỡ được chút thể diện nào mà còn tỏ ra hèn nhát. - Anh là người Nhật mà nói tiếng Mỹ thật lưu loát. Viên trung úy khen.

Sơn­ Điền lạnh toát người khi chợt nhận ra một sự thật. Người Nhật không chấp nhận anh, vì anh không biết nói tiếng Nhật và thiếu Nhật tính. Còn ngườ Mỹ thì chỉ coi anh là một người Nhật nói thông thạo tiếng Mỹ. TA LÀ AI? Sơn­ Điền tự hỏi. Tại sao có những cặp mắt soi bói của bạn học khi nghe Nhật tấn công hay đầu hàng? Phải chăng vì ta là người Nhật? Tại sao ta bị người tài xế taxi mắng nhiếc? Phải chăng vì ta là người Nhật nhưng chỉ nói được tiếng Mỹ? Sơn ­Điền không xác định được cho mình một căn nguyên lý lịch rõ ràng. Từ những vấn nạn đó, anh nhận thức được rằng: Người Nhật sinh sống ở ngoại quốc không thể nào từ bỏ mối liên hệ với đất mẹ, đồng thời cũng không thể không chấp nhận một thực tại, ảnh hưởng của đời sống nơi xã hội mình đang dung thân. Rõ ràng là cần phải giữ cội rễ của mình và hội nhập vào xã hội mới, chứ không đồng hóa hoàn toàn.

Khác với quan điểm của phụ thân, Sơn­ Điền vạch cho mình một đường đi lối về, đi vào xã hội Mỹ và về với Nhật Bản. Anh hăng hái hoạt động cho chủ trương đó, nỗ lực học tiếng Nhật, tích cực xây dựng cộng đồng Nhật Bản trên cơ sở duy trì truyền thống và văn hóa Nhật.

Cộng đồng Nhật Bản đã phát triển mạnh ở Mỹ. Họ đã thành công trên nhiều lãnh vực kể cả trong địa hạt chính trị. Sự hiện diện của một bộ trưởng gốc Nhật trong nội các của Tổng Thống George W. Bush là một bằng chứng cụ thể. Tuy thế, trong mọi hoàn cảnh và cương vị, không một người Nhật nào phủ nhận mình là con cháu của Thái Dương Thần Nữ.

Chuyện của mình

Do một cơ duyên đưa đẩy ngoài ý muốn lúc ban đầu, tôi định cư ở Đan Mạch kể từ mùa đông năm 1982. Trước đây ít người Việt biết đến Đan Mạch, có biết chăng chỉ biết danh xưng một cách mơ hồ. Cách đây không lâu, đài truyền hính Đan Mạch thực hiện một cuộc phỏng vấn trên đường phố New York. Nhiều người Mỹ không biết vị trí địa dư của nước này trên thế giới, có người cho Đan Mạch là thủ đô của Thụy Điển.

Đan Mạch là một nước quân chủ lập hiến với dân sộ 5,3 triệu và diện tích 44.000km2. Đứng đầu ngành hành pháp là NỮ Hoàng Margrethe II. Thực tế, thủ tướng là nguyên thủ quốc gia. Quốc Hội Đan Mạch độc viện, bầu cử theo thể thức đa số tỉ lệ. Thể thức bầu cử này phản ảnh được nhiều khuynh hướng chính trị khác biệt của nhiều đảng phái. Bất cứ đảng nào đạt được số phiếu theo tỉ lệ tối thiểu đã ấn định so với tổng số phiếu bầu, đều có đại biểu nhiều hay ít ở Quốc Hội. Vì vậy mà nó phản ảnh được tính đa nguyên trong sinh hoạt chính tri. Quốc Hội được gọi bằng tiếng Đan Mạch với một danh từ kép FOLK + TING = FOLKETING. FOLK có nghĩa là Nhân Dân, TING là đồ vật hay vấn đề. Mẫu tự “e” được sử dụng như một dấu nối. Đúng là một Quốc Hội do Dân và Vì Dân.

Đan Mạch có một chút dây mơ rễ má với Việt Nam. Hoàng tế Henrik là một người Pháp, sinh ra và trưởng thành ở Việt Nam vào thời thuộc địa. Tuy vậy ông Hoàng Henrik chẳng có quan hệ gì với cộng đồng người Việt tị nạn. Một vài tờ báo đăng tải về một số dự án Đan Mạch viện trợ cho Việt Nam và đưa ra giả thiết, do liên hệ xa xưa của ông Hoàng mà những dự án ấy được thực hiện. Quả thực không đúng như vậy. Duới chế độ quân chủ lập hiến, quốc vương hay nữ hoàng chỉ đóng vai trò tiêu biểu đại diện tối cao của quốc gia, không có trách nhiệm về phương diện chính trị. Theo đó Nữ Hoàng Đan Mạch cũng không thể ảnh hưởng đến chính sách, đường lối quốc gia, huống chi là hoàng tế chỉ có vai trò vệ tinh của nữ hoàng.

Người Việt ta thường nói “tay làm, hàm nhai”. Câu nói này chưa sát với thực tế cuộc sống ở Đan Mạch, không làm cũng có ăn. Bằng hình thức này hay hình thức khác, tùy hoàn cảnh, những người không có thu nhập đều đặn được hưởng trợ cấp, có dự trù mức tối thiểu nhà cửa, ăn uống, điện nước, kể cả giải trí… từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt. Không có một hạng người nào mà mạng lưới an sinh xã hội không quan tâm đến… Một người ngoại nhập, khi đã có thẻ thường trú, được cấp một thẻ bảo hiểm sức khỏe, có giá trị không những trong nước Đan Mạch mà khắp các nước trong khối Liên Hiêp Châu Âu. Có nghĩa là đi đến bất cứ nước nào trong khối Liên Hiệp, rủi ro bị tai nạn hay đau ốm, bệnh viện sở tại có bổn phận săn sóc. Phí tổn hai nước liên hệ thanh toán với nhau, bệnh nhân không biết đến. Chính vì vậy mà người Đan vui vẻ đóng thuế lợi tức rất cao để trang trải cho những chi phí an sinh xã hội. Giáo dục hoàn toàn miễn phí ở mọi cấp học. Người dân ở mọi lứa tuổi được cống hiến cơ hội thuận lợi để trau dồi học vấn, không còn cái cảnh “tạc bích tụ huỳnh” hay “cá gỗ” của các hàn sĩ xứ Nghệ ngày xưa.

Ở Đan Mạch phụ huynh và giới trẻ chưa vận dụng đủ hoàn cảnh xã hội thuận lợi để thăng tiến sự học vấn. Sự thuận lợi ấy là phụ huynh không chạy ăn từng bữa toát mồ hôi cho con em ăn học. Ngoài ra, không đóng bất cứ một loại phí tổn nào cho học đường, kể cả ở cấp đại học. Từ 18 tuổi, bất luận gia đình thuộc thành phần nào, nếu còn đi học vẫn được cấp học bổng. Đã có nhiều thanh niên nam nữ Việt Nam thành công, hầu hết theo ngành khoa học, rất ít người theo ngành nhân văn, có thể vì khó khăn về ngôn ngữ. Nhưng tỉ lệ người thành đạt so với lứa tuổi còn quá khiêm nhường. Ngoài những khó khăn về ngôn ngữ, còn có nhiều nguyên nhân xa và gần khác. Môt xã hội có đời sống được bảo đảm quá an toàn sẽ làm thui chột ý chí đấu tranh sinh tồn, là lực cản của chí tiến thủ. Một yếu tố nội tại không nâng giới trẻ và cộng đồng Việt Nam tại Đan Mạch lên ngang tầm vóc với giới trẻ và cộng đồng Việt Nam ở nhiều quốc gia khác là “chủng loại xã hội” của cộng đồng.

Trước năm 1975, nhiều nước như Anh, Pháp, Mỹ, Đức. Úc, Gia­ Nã Đại… công nhận giá trị tương đương văn bằng Việt Nam nơi có nhiều sinh viên đến du học và có nhiều người Việt sinh sống. Tuy họ sống còn rời rạc, nhưng là nền móng đầu tiên cho cộng đồng về sau. Sau năm 1975, phần nhiều “người Việt có máu mặt” cũng đến định cư ở những nước này. Biến cố trọng đại 1975 đã lay chuyển tận gốc rễ từng gia đình, từng cá nhân, đã biến nhiều ôg thành thằng và nhiều thằng thành ông. Người ta có thể thành công trên nhiều lãnh vực mà không cần đến một trình độ học vấn cao. Tuy không thể lấy văn bằng làm thước đo cho sự thành công, nhưng giáo dục luôn luôn là chiếc chìa khóa để mở nhiều cánh cửa. Cộng đồng Việt Nam tại Đan Mạch còn mới mẻ, tuy ít người nhưng thành phần xã hội quá đa dạng, lại thiếu hẳn yếu tố nhân sự tiên khởi nên chưa có thể bắt kịp các cộng đồng ở những quốc gia khác. 

Các nước Tây phương đã đạt được một nền dân chủ tự do rất cao. Tuy vậy vẫn còn nhiều khác biệt trong việc thực thi. Tự do dân chủ không phải chỉ được xác định trong hiến pháp, để rồi có những công dân tự do sống trong những tòa nhà tráng lệ, trong khi nhiều công dân khác tự do chui rúc dưới gầm cầu, trên hè phố… Tự do dân chủ chỉ có một ý nghĩ đich thực khi chính quyền tạo cơ hội thuận lợi cho công dân được hưởng quyền tự do dân chủ ấy. Vì vậy mà ở một chừng mực nào đó nên có sự quân bình xã hội. Đan Mạch không có những ông vua sắt, vua thép, vua dầu hỏa… nhưng họ tự hào với một xã hội rất ít người giàu, nhưng người nghèo lại càng ít hơn. Nhìn vào sinh hoạt chính trị và xã hội Đan Mạch cũng như các nước Bắc Âu, ta có thể nói đó là những nước “tư bản theo định hướng siêu xã hội chủ nghĩa”.

Có chừng trên 17.000 người Việt tị nạn ở Đan Mạch. Con số này có thể thiếu chính xác. Số thống kê công bố hằng năm của Hội Đồng Tỵ Nạn về các sắc dân ngoại nhập thấp hơn con số thực tế. Những người đã nhập quốc tịch không nằm trong bản thống kê. Có lẽ chính quyền Đan Mạch muốn hạ thấp số thống kê để người Đan không có cảm tưởng xã hội phải cưu mang quá nặng nề. Đối với người Đan, cộng đồng Việt Nam được tiếng tốt vì tính siêng năng, cần cù, an phận thủ thường và ít vi phạm tệ nạn xã hội “lộ thiên” trắng trợn như giới trẻ quá khích của nhiều sắc dân khác. Những tệ nạn xã hội “không lộ thiên” nảy sinh do hoàn cảnh sinh sống và khe hở của pháp luật. Thu nhập của một người độc thân có công ăn việc làm, tùy công việc, cao hơn trợ cấp xã hội nhiều. Nếu có gia đình, con cái mà chỉ một người đi làm thì lương bổng thấp hơn trợ cấp xã hội cho toàn gia đình. Trong trường hợp này phải đến văn phòng xã hội khai báo có chứng từ lương bổng để xin một khoản bù trừ. Tuy vậy vẫn có người chịu khó thức khuya dậy sớm để đi làm, tránh mặc cảm ăn bám. Chọn thất nghiệp là giải pháp phổ biến nhất, vừa khỏe lại không bị rắc rối giấy tờ khai báo. Có một số li dị dàn cảnh để vợ chồng có thu nhập riêng cao hơn. Người đàn bà đơn lẻ mà có con được xã hội quan tâm đặc biệt. Trên mặt pháp lý vợ chồng phải ra riêng, thực tế gia đình vẫn đề huề sum họp.

Theo luật ngoại kiều, một người ngoại nhập được cấp thường trú có thể bảo lãnh người hôn phối, cha mẹ trên 60 tuổi và con cái dưới 18 tuổi. Luật này đã bị di dân và người tị nạn triệt để lợi dụng, tạo ra tình trạng buôn người và buôn bán hôn nhân một cách hợp pháp. Một người độc thân trở về cố hương để cưới vợ lấy chồng theo nhu cầu hôn nhân thì chẳng nói làm chi. Có những trường hợp cưới hỏi theo đơn đặt hàng, được ấn định giá cả hẳn hoi. Có những trường hợp vì lòng tham, vợ chồng thỏa thuận với nhau li dị trên mặt pháp lý, về nước cưới một cặp vợ chồng đã li dị dàn cảnh để được bảo lãnh, ông nọ bảo lãnh bà kia, bà nọ bảo lãnh ông kia… Có đôi trường hợp trục trặc, lộng giả thành chân, gia đình ly tán. Người tị nạn tự làm cho mình vong thân trong khi xã hội tạm dung khuyến khích họ nên giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc. Nhằm mục đích đó, luật Đan Mạch cho phép người di dân và tị nạn được học tiếng mẹ đẻ từ 3 đến 5 giờ mỗi tuần, giáo chức được trả lương. Ngày nay, để tránh sự thâm thủng ngân sách, việc dạy tiếng mẹ đẻ tùy theo khả năng của mỗi địa phương. Nhiều địa phương đã bỏ việc này. Tuy vậy, vẫn có nhiều đồng hương tình nguyện dạy Việt Ngữ cho con em. Cánh tay nhân ái còn vươn dài đến nhiều nước để nuôi dưỡng những ai tình nguyện muốn trở về quê hương.

Một dân biểu Đan Mạch đã đệ trình Quốc Hội dự thảo Luật Hồi Hương, được thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2000. Lời dẫn nhập kèm bản dự thảo đầy tình người. Dân biểu tác giả bản dự thảo đã phân tích tâm lý, hoàn cảnh của người sống trong một đất nước xa lạ với nhiều sự khác biệt, từ phong thổ, khí hậu đến văn hóa và lối sống hằng ngày, nhất là đối với những vị cao niên. Vì vậy cần tạo điều kiện cho những ai muốn trở về để có thể sống trọn đời thoải mái hơn ở chính quê hương của họ. Qua thời gian luật này có nhiều thay đổi, nhưng nói chung, ngưới tị nạn hồi hương không gặp khó khăn trong cuộc sống hằng ngày. Điều đặc biệt là trong vòng một năm kể từ ngày rời Đan Mạch, nếu cảm thấy cuộc sống ở quê nhà không thích hợp, được sử dụng Quyền Hối Tiếc, xin trở lại Đan Mạch. Nhưng quyền này chỉ được phép sử dụng một lần. Mới đây phong thanh một nguồn tin phát xuất từ chính quyền như thả một cái bong bóng để đo lường dư luận. Nhà nước sẽ cấp một khoản tiền tương đương 20.000USD và phí tổn chuyên chở, chỉ một lần, cho những ai không có quốc tịch Đan Mạch muốn hồi hương. Đề nghị này có tính khả thi, vì nếu được thực thi nó sẽ tiết kiệm nhiều cho ngân sách quốc gia Đan Mạch. Số tiền này chỉ đủ cung cấp cho một người lớn tuổi hưởng trợ cấp trong vòng một năm rưỡi, chưa kể tiền thầy, tiền thuốc, tiền bệnh viện… khi đau ốm. Các sắc dân khác đã đánh tiếng từ chối, nhưng nhiều người Việt cao niên rất quan tâm đến đề nghị này.

Nếu quan niệm một cách giản dị, sống là tồn tại với thời gian thì không nơi nào bằng Đan Mạch có đất lành cho chim đậu. Nhưng lẽ sống vốn phức tạp nên con người, ngoài những nhu cầu thiết thực cho đời sống hằng ngày, còn có những ưu tư khác. Trong cuộc sống của người lưu vong, không có sự mất mát nào lớn lao bằng sự mất mát tình tự quê hương và dân tộc. Gia đình tôi rất hâm mộ bóng tròn, ít khi bỏ qua một trận đấu giữa hội tuyển quốc gia Đan Mạch và hội tuyển của một nước khác. Diễn biến của trận đấu được biểu lộ trên nét mặt người xem. Một chút vui lây hay thoáng buồn tùy theo kết quả trận đấu. Âu đó cũng chỉ là tâm lý thông thường ”ăn cây nào rào cây ấy”. Có lần tôi cùng năm ba đồng hương xuống Đức xem trận đấu giao hữu giũa hội tuyển hai nước. Trong sân vận động, chúng tôi gặp một số khán giả đồng hương định cư ở Đức. Họ cùng với người Đức reo hò: Deutchland! Deutchland! Trong khi chúng tôi cùng người Đan Mạch thì: Danmark! Danmark! Quê hương Việt Nam xa vời vợi. Chúng tôi thiếu tình tự quê hương chân thật nên phải vay mượn của nước tạm dung để biểu lộ tình cảm của mình. Chúng tôi ngồi gần nhau, chuyện trò với nhau nhưng trong tâm tư như có một cái gì ngăn cách. Và trong những lúc đó, điều đáng buồn là mẫu số chung Việt Nam hoàn toàn mờ nhạt.

Tôi kể chuyện người ta và chuyện của mình để tự nhắc nhở, trong cách suy nghĩ và hành động làm sao tìm được hai đường về: về với bản lai diện mục của tự thân và về với tình tự dân tộc để tìm cho ra câu trả lời cho câu hỏi: TÔI LÀ AI ?

Nguyễn Đức Giang




Thứ Tư, 3 tháng 10, 2018

Tâm Tình Về Chuyến Đi Áp Chót Đến Boston

GIỚI THIỆU
Xin hân hạnh giới thiệu đến quý Thầy Cô, quý Đồng Môn và quý Thân Hữu
Tâm tình của thầy Nguyễn Đức Giang, cựu hiệu trưởng trường Nguyễn Huệ Tuy Hòa, Phú Yên sau chuyến tham dự Đại Hội 8 Boston.
Trân trọng giới thiệu.
NHHN



Quý đồng nghiệp và các em CHSLT thân ái,


Mỗi lần đến với đồng nghiệp và cựu học sinh các trường như Cường Để Qui Nhơn, Tổng Hợp Nguyễn Huệ Tuy Hòa, Võ Tánh-Nữ Trung Học/ HuyềnTrân Nha Trang qua những lần Hội Ngộ, tôi đều nói là "Chuyến Đi Áp Chót". Và áp chót đã năm ba lần...

Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Đức Giang

Lần này đến tái ngộ với đồng nghiệp và cựu Học Sinh Liên Trường Phú Yên (CHSLTPY), rồi tiếp theo bằng một chuyến cruise non một tuần tôi rất đắc ý. Đắc ý vì lần đầu tiên đi cruise, đắc ý hơn vì có cơ hội cho đồng nghiệp và thầy trò nhân dịp này cùng nhau thổ lộ hàn huyên tâm tình chân thật qua những ngày đêm cùng ăn ở, sinh hoạt trên tàu. Cựu giáo sư Nguyễn Văn Hàng từ sau 1975 tôi mới gặp lại: "Biết có anh dự Hội Ngộ chúng tôi mới đi dự". Cảm kích! Một Nguyễn Huệ  ước chừng vào tuổi cổ lai hy đang phì phèo điếu thuốc ngoài hành lang tàu, nơi có để gạt tàn, tôi vừa ngồi xuống ghế bên cạnh:
- Em hư lắm thầy ạ
- Hư thế nào? Em hút thuốc từ năm 14 tuổi, đến bây giờ vẫn còn hút. 
- Em có biết tại sao hư như vậy  không? Vì em học với một ông thầy hư. Vừa nói tôi vừa móc bao thuốc ra châm một điếu! Thân mật như bạn bè! Ngày vui bao giờ cũng qua mau!

Quý Thầy Cô trong đêm Đại Hội Boston

Một chuyện rủi ro xảy ra, không những gây rắc rối phiền hà cho cá nhân tôi mà còn gây lo âu cho cựu giáo chức và CHSLTPY. Lần thứ hai lên bờ tôi phát hiện passport bị thất lạc. Tôi thường để passport và tiền bạc chung trong túi jacket ngắn tay có fermeture cho an toàn. Ngày lên bờ đầu tiên, nghĩ rằng  có tiêu pha, lôi tiền ra vào vô ý có thể làm rớt cái passport nên để tiền vào túi quần. Sự thể diễn ra ngược lại. Ba lần đến văn phòng lưu giữ đồ thất lạc không có kết quả, phải làm giấy kê khai mất passport.

Sáng thứ bảy 15-9 tôi bị gọi đến phòng làm việc với nhóm an ninh Mỹ trên bờ xuống kiểm tra trước ngày tàu cặp bến Boston. Đến nơi, tôi thấy một đoàn dài hàng trăm người, tuần tự bị gọi "hỏi cung". Hỏi ra mới biết đó là những bồi bếp, nhân viên người ngoại quốc phục vụ trên tàu. Tôi lâm vào tình trạng bất thường, không có passport, nên cũng bị xếp vào loại người cần kiểm tra. Trong lúc chờ đợi, tôi chưa ăn sáng. Nói với nhóm an ninh, họ chỉ đến một cái bàn đặt ở góc phòng để dùng tạm bánh ngọt, trà, cà phê. Thậm chí mỗi lần cần đi restroom cũng có người dẫn đi rồi đứng chờ ngoài cửa. Chết cha rồi, bị quản thúc! Vấn đáp với cô/bà trưởng toán security:
- Anh đã đến Mỹ lần nào chưa?
- Có, lần đầu vào mùa hè năm 1962.
- Làm gì ?
- Tham dự Đại Hội Sinh Viên Quốc Tế tổ chức tai Laval University, Quebec, Canada với tư cách chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Huế, Việt Nam. Sau hội nghị thăm M.Gill University ở Montreal, Columbia University ở New York do lời mời của các Tổng Hội Sinh Viên liên hệ.
- Sau đó ?
- Năm 1967  đến Mỹ 15 tuần, thành viên trong phái đoàn giáo dục VN đi quan sát giáo dục Mỹ do USAID tài trợ. 
- Anh định cư tại Denmark từ năm nào?
- Từ cuối năm 1982. Từ đó đến nay tôi đã sang Mỹ 14-15 lần để thăm viếng thân nhân, bằng hữu.

Sau năm ba câu hỏi lông bông, họ yêu cầu tôi dẫn đến phòng ngủ lục soát. Bốn nhân viên an ninh Mỹ lục soát khá kỹ càng. Không có chi đáng nghi ngờ. Trước khi chia tay bà trưởng toán nhắc nhở: Nhiệm vụ chúng tôi đến đây kết thúc. Phần anh, không thể rời Mỹ hay vào nước quá cảnh trên đường về mà không có passport. Anh phải tiếp xúc với Tòa Đại Sứ Đan Mạch ở Washington hay tiện hơn là Tòa Tổng Lãnh Sự Đan Mạch ở New York để làm một passport tạm thời.

Rắc rối rồi! Tin chắc lâm vào hoàn cảnh này nhất định không thể nào trở về tổ ấm theo hành trình dự đinh. Bỏ vé máy bay, chỉ mua chuyến về, nghe đâu mua trước vé máy bay rẻ không  hoãn lại được. Và  giá vé máy bay một chuyến bằng vé khứ hồi. Tiền bạc không thành vấn đề, đã có sẵn. Vấn đề là không ước lượng được những việc khá phức tạp cần phải làm. Tìm gặp Trần Vũ, người địa phương Boston, đồng trưởng ban tổ chức Hội Ngộ với Thái Sắc để vấn kế. Vũ hứa một cách nhiệt tình đưa tôi đi New York, hẹn 6 giờ sáng thứ hai 17-9 lên đường. Cầm chắc không kịp đáp chuyến bay về Đan Mạch ngày hôm sau 18-9. Tuy vậy cũng khá yên tâm vì nhờ Vũ, đã có hướng giải quyết...

Kỷ niệm trên du thuyền Đại Hội 8 Boston

Gặp nhau qua những buổi ăn chung trên cruise, Hoàng/Hạnh đến từ San Jose biết rõ sự tình nên đã nhiều lần liên lạc với Tịnh, một CHS Nguyễn Huệ thân thiết  làm việc ở Washington. Tịnh tìm hiểu rồi cho biết ở Boston có Văn Phòng Đại Diện Thương Mãi Đan Mạch có thể cấp passport tạm thời, đồng thời cho biết số điện thoại emergency của văn phòng này. Mọi thông tin hữu ích Minh Trí, con trai trưởng của tôi tháp tùng chuyến đi Hội Ngộ, nhận được trưa chủ nhật từ Tịnh qua Hoàng/Hạnh. Chỉ còn vài giờ nữa Minh Trí phải ra phi trường bay về Đan Mạch nhưng kịp gọi Emergency đến Văn Phòng Đại Diện Thương Mãi nói chuyện với trưởng cơ quan Jakobsen. Jakobsen có một lối làm việc "hơi lạ" so với người VN làm việc tại những cơ quan ngoại giao ở nước ngoài. Jakobsen xác nhận có thể cấp passport tạm thời rồi hướng dẫn: Ngày mai thứ hai bận họp đầu tuần, chưa biết lúc nào rảnh. Muốn làm passport tạm thời đến ngay chiều nay (chủ nhật) tại địa chỉ..., lúc 6 giờ 30, mang theo hai tấm hình passport và 160 đô lệ phí. Chúng tôi đến địa chỉ đã cho biết, Jakobsen mặc T-shirt quần short đứng đón ngoài ngõ cụt. Jakobsen bắt tay ngay vào việc. Tôi điền vài ba mẫu giấy, Jakobsen điền một số chi tiết về tôi vào passport tạm thời, cắt hình cho vừa cỡ, dán vào passport, đóng dấu ký tên, xuất biên lai nhận lệ phí. Công việc diễn ra chừng 20 phút! Cám ơn, bắt tay nhau, hẹn gặp lại theo phép lịch sự. Giải quyết xong công việc một cách gọn nhẹ tôi báo tin ngay cho Vũ, cám ơn sự nhiệt tình của Vũ và nhờ Vũ thông báo rộng rãi có thể được để anh chị em trong đại gia đình Cựu Học Sinh Liên Trường yên tâm, xem như chẳng có xảy ra chuyện gì bất thường cho tôi cả.

Đoạn trên tôi nói cách làm việc của một trưởng cơ quan người Đan Mạch ở nước ngoài "hơi lạ", lẽ ra phải nói quá lạ lùng vì thiện chí và sốt sắng quá mức của Jakobsen. Ai có thể trách Jakobsen nếu anh trả lời "hôm nay chủ nhật, văn phòng đóng cửa, ngày mai bận công tác, rồi hẹn một dịp khác..." Nói chuyện với vài thân nhân và bằng hữu ở Mỹ, họ cũng cho rằng khó có thể có một người hành xử như Jakobsen. Trong cái rủi có cái may, học được một bài học đáng giá.

Điểm "hơi lạ" thứ hai là sự khác biệt về cung cách làm việc của Jakobsen so với các viên chức VN làm việc ở nước ngoài. Tôi thường nghe cách xử lý công việc của các cơ quan công quyền VN ở trong nước hay nước ngoài bao giờ cũng phải qua "thủ tục đầu tiên", nói trắng ra là "tiền trước hậu sau", nếu không thì thành "ngưu trâu mã ngựa". Tôi gặp trường hợp này cách đây 5 năm trong chuyến đi VN, nhân tiện qua Cao Miên thăm ông chef cũ Đan Mạch đang làm trưởng ban hay chủ tịch Ủy Ban Mekong. Tưởng rằng đã xuất trình chiếu khán nhập cảnh khi từ Đan Mạch vào VN. Đến sân bay Pnom Penh để về Saigon mới hay cần phải xin chiếu khán nhập cảnh. May sẵn có xe ông chef cho tài xế đưa ra phi trường, tôi tức tốc chạy về Pnom Penh làm chiếu khán nhập cảnh tại Tòa Lãnh Sự VN. Viên chức trách nhiệm hỏi:
- Muốn lấy ngay hay để mai mốt?
- Khác biệt như thế nào giữa hai trường hợp?
- Mai mốt lấy 20 đô, lấy ngay 40 đô.
Tôi muốn lấy ngay, kéo bóp tiền ra đếm 20, 30,... 37 thì hết tiền lẻ. Đang lưỡng lự có nên đưa tờ 100 đô để người ta thối lại không, thì viên chức đứng trong khung kính nói, thôi 37 cũng được! 

Thầy - Trò chiều Hội Ngộ

Còn lưu luyến với cruise và không khí đượm tình thân thiết đồng nghiệp, đồng môn trên tàu nên rủ bà con trở lại cruise. Ngày 15-9  bà con trên cruise nhận được thông báo chuyền miệng sẽ có buổi họp tổng kết chuyến đi cruise vào lúc 17 giờ. Thọ thay mặt Ban Tổ Chức Hội Ngộ nêu lên một số vấn đề và trả lời vài ba câu hỏi. Trước khi kết thúc, Thọ tiếp, thầy Giang mất passport... Tôi nghĩ ngay, rằng Thọ có thể kêu gọi nam nữ Nguyễn Huệ giúp đỡ mình nên đi nhanh lên lấy micro từ tay Thọ để đánh lạc hướng bằng cách kể một chuyện đời xưa: "Tam Nhơn Đồng Hành Tất Hữu Ngã Sư".

Ngày xửa ngày xưa cách đây trên 30 năm có một thằng tên Ánh. Ánh có hàm răng Cời. Người ta gọi nó là thằng Ánh Cời, môi trên không che kín hàm răng, tuổi tác trên dưới 30. Có khi cái tên cúng cơm của nó cũng bị bỏ quên, chỉ gọi nó là thằng Cời. Cời không bao giờ tỏ ý bất mãn khi bị gọi tên bằng tật nguyền của mình, chỉ toe toét cười, hàm răng hô lộ ra rõ hơn một chút. Tiếng xì xào đúng sai không rõ, kể rằng nó phụ trách một tủ thuốc tại một trạm Y Tế xã đâu ở Diên Khánh. Tủ thuốc rất đơn sơ, chủ yếu là Xuyên Tâm Liên trị bá bệnh. Trạm Y Tế cháy, xã qui trách nhiệm cho nó. Đó là nguyên do nó phải vào tù, giam chung với tù chính trị? Cời và tôi được đặt dưới quyền điều khiển của Khanh, một cựu hạ sĩ quan quân đội VNCH, lo việc nấu cơm canh cho tù nhân, Khanh sai đâu chúng tôi làm đó. Nhóm làm bếp được mở cửa phòng sớm để lo chuyện bếp núc.

Nội qui bất thành văn của trại, hai tháng được thăm nuôi một lần, không được nhận những thứ xa xỉ, chẳng hạn cà-phê để khỏi làm phiền gia đình, tiền bạc tối đa chỉ được 10 đồng (tiến mới đổi)... Một hôm thằng Cời lượm được một cục giấy, tờ giấy bạc 20 đồng, xếp và xếp cho đến khi không còn xếp được nữa, có lẽ cho dễ dấu. Cời đem tờ bạc 20 trình cho cán bộ quản lý. Cán bộ tuyên bố tiền này sẽ sung vào quỹ trại. Sung như thế nào chẳng ai dám hỏi. Có hỏi tù nhân xem ai mất tiền cũng chẳng có ai dám nhận, nhận là vi phạm nội qui, tiền mất họa mang. Những năm cuối thập niên 70, toàn miền Nam lâm vào tình trạng khó khăn chung. 20 đồng mới có giá trị lớn.

Nhìn vào bàn ăn chung tại khu nhà bếp, ta có thể dự đoán được hoàn cảnh kinh tế của gia đình tù nhân. Sau những ngày chủ nhật được thăm nuôi hai tháng/lần, có nhóm ăn uống có thịt cá tương đối, có nhóm muối dưa (muối sả kho mặn có pha chút thịt mỡ)... Thằng Cời thỉnh thoảng cũng có thăm nuôi, nhưng rất đơn sơ. Chẳng ai mời ai, tích cốc phòng cơ. Thằng Cời khác, mỗi lần được thăm nuôi nó bày hết đồ lên bàn ăn vui vẻ mời chú mời anh trong đội nhà bếp... Xét tính khí hồn nhiên của nó, không phải nó mời để được mời lại. 

Đi lâu mới biết đường dài, ở lâu mới biết con ngài (người) phải chăng. Tiếng tốt của thằng Cời được đội nhà bếp bàn tán và loan đến một số tù nhân thường lui tới nhà bếp. Nó được phục hồi tên cúng cơm và thay vì Cời người ta đổi thành Cười: Thằng Ánh Cười. Chứng kiền việc thằng Ánh Cười nộp 20 đồng cho cán bộ quản lý, tôi thật tâm suy nghĩ, đặt vào địa vị của nó, mình có làm được như nó không. Thằng Ánh tuổi tác bằng con tôi, thằng Ánh không có học vấn bằng tôi, thằng Ánh không có địa vị xã hội bằng tôi, nhưng khi lưỡng lự tự hỏi: mình có làm được như nó không, thì về mặt "Thiện Căn Ở Tại Lòng Ta, Chữ Tâm...!", tôi thấy chưa được xếp ngang với Thằng Ánh Cười. Trường học có thể cho ta cơ hội để thành công về một phương diện nào đó, nhưng trên mọi nẻo đường đời, ba người cùng đi ắt có một ông thầy cho ta những bài học để thành nhân. Quả thật tôi đã học được một bài học từ Thằng Ánh Cười.

Thầy - Trò trên phố Boston

Các em CHSLTPY thân mến,

Trở về Đan Mạch với trọng lượng hành lý theo qui định của hãng máy bay. Nhưng tôi mang về một gánh nặng, quá nặng không cân-đo-đong-đếm được, gánh nặng tâm tình của đồng nghiệp và CHSLTPY.

Chúc đại gia đình chúng ta khắp mọi nơi thân tâm an lạc!

Thân mến
Nguyễn Đức Giang

- Tin giờ chót. Cruise đã tìm thấy passport của tôi, đang hỏi địa chỉ để gởi về Đan Mạch.