Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản Mạn Văn Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản Mạn Văn Học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2024

Tản Mạn Về Những Đóng Góp Của Văn Hóa Trí Thức Bắc Di Cư 1954 - July 26, 2024

 

Trên các sạp báo miền Nam sau 1954, đã thấy những dấu ấn của giới trí thức miền Bắc 1954 qua sách, báo chí… (Facebook)

TẢN MẠN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA VĂN HÓA TRÍ THỨC BẮC DI CƯ 1954 - JULY 26, 2024

Đỗ Trường

Những nhà văn, nhà thơ gốc Bắc di cư vào miền Nam có sự khác biệt gì khác so với những nhà văn, nhà thơ ở miền Nam khi đó?

Nhìn chung Văn học miền Nam có tính chất, phong cách đại chúng, bình dân với khẩu ngữ thường nhật. Đặc trưng này, cho ta thấy, văn xuôi, tiểu thuyết dường như chủ yếu đi vào khai thác những cốt truyện ly kỳ, và thiên về hành động. Vì vậy, những trang văn ở đó nghiêng về kể chuyện, đối thoại, ít chú trọng đến diễn biến, cùng phân tích tâm lý nhân vật. Có lẽ, ngoài cái tính cách chân chất, giản đơn của người Nam Bộ, thì văn xuôi, tiểu thuyết dài kỳ đăng báo (feuilleton, theo ngôn ngữ thời nay, gọi là mỳ ăn liền) cũng đã góp phần không nhỏ làm nên đặc điểm này của Văn học miền Nam. Mà điển hình các nhà văn: Phú Đức, Vĩnh Lộc, Cửu Lang… Bởi, báo chí Nam Bộ ra đời sớm, và khá tự do cởi mở so với Bắc và Trung Kỳ vào thời điểm đó.

Trên các sạp báo miền Nam sau 1954, đã thấy những dấu ấn của giới trí thức miền Bắc 1954 qua sách, báo chí… (Facebook)

Về thơ ca, trước bối cảnh xã hội, báo chí khá cởi mở như vậy, ta có thể thấy xuất hiện hàng loạt các nhà thơ như: Manh Manh (Nguyễn Thị Kiêm), Lư Khê, Hồ Văn Hảo, Vân Đài, Huy Hà, Nguyễn Hữu Trí, Khổng Dương, Sơn Khanh làm cho Văn học miền Nam khá sinh động. Thơ ca của họ đã đi thẳng vào tâm hồn cởi mở, dân dã của độc giả miền Nam. Tuy nhiên, có thể nói thơ ca miền Nam lúc đó chưa thực sự hay, nhiều bài còn vụng về, ngượng nghịu. Ta thử đọc lại vài câu thơ trong bài: Con nhà thất nghiệp, viết ở thời kỳ đó của Hồ Văn Hảo một trong những nhà thơ hàng đầu của Nam Bộ (thời điểm đó), để thấy rõ điều đó:

“… Cha con gần về tới,
Con ôi,
Nín đi nào!”
Dạ như bào,
Miệng cười, hàng lệ xối
Cánh cửa tre từ từ mở…
Một luồng gió lạnh chen vô,
Đèn vụt tắt; tối mò…
– Ai đó?
– Ai? Mình về đây!
Chút nữa đã bị còng;
Mới chen vào, họ la ăn trộm!
Nếu chân không chạy sớm
Mặt vợ con còn thấy chi mong!“

Tuy không được cởi mở về báo chí như ở Nam Bộ, nhưng những tinh hoa văn học đều tập trung ở đất Bắc. Đặc biệt sự ra đời của Tự lực văn đoàn do anh em nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam sáng lập. Dường như đây là nhóm văn học đầu tiên tại Việt Nam (Hà Nội). Vì vậy, giai đoạn này Văn học miền Bắc (Bắc Kỳ) có khác so với Văn học miền Nam (Nam Bộ). Bởi, ngoài tài năng quần tụ, thì tính đặc trưng văn học vùng, miền này hiện lên khá rõ nét trong các tác phẩm của nhà văn, nhà thơ.  Nếu Văn học phương Nam giản dị, thì Văn học đất Bắc trau chuốt lắt léo, ẩn dụ, đa tầng ngữ nghĩa, với nhiều hình tượng trong sự liên tưởng. (Nói theo sách vở của mấy ông phê bình hiện nay: phép tu từ). Từ những đặc điểm ấy, ta có thể thấy, không chỉ thi ca, mà ở văn xuôi, tiểu thuyết cũng đã tạo dựng được những nhân vật chân thực, sinh động có tầm khái quát, mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, và giá trị thẩm mỹ cao.

Cho nên nói, năm 1954 những nhà thơ, nhà văn như: Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Vũ Bằng, Doãn Quốc Sỹ, Vũ Khắc Khoan, Dương Nghiễm Mậu… mang hồn vía thơ văn đặc trưng khác lạ đất Bắc vào Nam là vậy.

Hình: sachxua

Giới trí thức thế hệ di cư 1954 đã đóng góp gì cho nền văn học Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa, và để lại những di sản như thế nào?

Các văn nghệ sĩ miền Bắc đã đem một luồng gió mới làm thức tỉnh Văn học miền Nam đang gà gật lúc đó (1954). Cái văn hóa, ngôn ngữ vùng miền đã đem sự sinh động cho Văn học, cũng như các bộ môn nghệ thuật khác của miền Nam. Hơn thế nữa cái ngôn ngữ, văn hóa đặc trưng vùng miền này, ảnh hưởng ít, nhiều đến tâm hồn những văn nghệ sĩ phương Nam. Và cũng chính mảnh đất và con người rộng mở phương Nam, không chỉ đã mở rộng tâm hồn (sáng tạo) cho các văn nghệ sĩ đã thành danh kể trên, đến từ đất Bắc, mà còn sản sinh ra hàng loạt các nhà văn, nhà thơ như: Duyên Anh, Du Tử Lê, Nguyên Sa, Thảo Trường, Dương Nghiễm Mậu, Nguyên Vũ, Thế Uyên…Sự giao thoa văn hóa, ngôn ngữ này làm cho Văn học miền Nam thật phong phú. Nhất là từ khi các tạp chí, nhà xuất bản do các văn nghệ sĩ đến từ miền Bắc sáng lập. Đặc biệt là Tạp chí Sáng Tạo (Sài Gòn) hầu hết là do các văn nhân đất Bắc: Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Duy Thanh… chủ trương, và thành lập. Ở đó, tôi nghĩ ít nhiều không chỉ tác động đến khuynh hướng, nghệ thuật sáng tạo cho các nhà văn đã thành danh như Võ Phiến, mà còn ảnh hưởng đến các nhà thơ nhà văn mới cầm bút như Tô Thùy Yên, hay Luân Hoán. Rất kỳ lạ, khi viết về điều này, facebook của tôi bật lên bài thơ của Luân Hoán vừa viết xong. Và cái ảnh hưởng việc sử dụng từ ngữ địa phương ấy của thi sĩ phương Nam Luân Hoán cho đến tận hôm nay, khi ông đã quá bát tuần, và ở mãi tận Canada ngồi viết. Nếu không có động từ “táy máy” đặc sệt tiếng địa phương miền Bắc trong câu: từng sợi táy máy vân vê, thì khó có thể cho người đọc sự lạ lùng, sinh động, hồn nhiên, đầy tinh nghịch đến vậy:

“… đường xa đi miết hóa gần
chân quen bụi cỏ-cú nằm lẻ loi
vừa đi vừa nhớ tóc dài
em thơm chẳng mấy chốc vai ngồi kề
từng sợi táy máy vân vê
hai làn hơi thở tìm về dòng chung…”
(Khi mặt trời chưa mọc – ngày 17-2-2024)

Do vậy, ta có thể thấy cuộc di cư của các văn nghệ sĩ từ Bắc vào Nam năm 1954 đưa đến sự giao thoa, bổ sung cho nhau của 2 đặc trưng văn học (nêu ở phần trên) làm cho Văn học miền Nam mới mẻ, phong phú hơn.

Giá trị, di sản để lại cho Văn học miền Nam nói riêng, và Văn học Việt Nam nói chung của các văn nghệ sĩ thuộc các thế hệ di cư, có thể nói là vô giá. Nhiều lúc, tôi có cảm tưởng: Nếu không có trường thiên Khu Rừng Lau của nhà giáo, nhà văn Doãn Quốc Sỹ, Lửa Từ Bi của Vũ Hoàng Chương, Mưa Núi của Mai Thảo, Thần Tháp Rùa của Vũ Khắc Khoan, Gia tài người mẹ của Dương Nghiễm Mậu, Mây Trên Đỉnh Núi của Nguyên Vũ… thì Văn học Việt Nam sẽ có một khoảng trống vô cùng to lớn. Những tác phẩm văn học hội tụ cả hai giá trị nhân đạo, và giá trị hiện thực như vậy, dù sau 1975 người ta có cố tình hủy diệt, thì cũng như âm nhạc miền Nam, nó vẫn sống và còn sinh sôi nảy nở, không chỉ ở nơi đã sinh ra.

(Hình: Facebook)

Với âm nhạc, sự góp sức quan trọng từ trí thức Bắc 1954 di cư

Cũng như văn học và các bộ môn nghệ thuật khác, năm 1954 có nhiều ca, nhạc sĩ tài hoa di cư vào Nam. Họ đã đem cái trang nhã, cầu kỳ phương Bắc trộn vào cái bình dị, ấm áp của phương Nam, tạo ra hồn vía mới cho âm nhạc miền Nam.  Những ca khúc trữ tình ấy, tuy nhẹ nhàng, gần gũi mang tính tự sự cá nhân, song rất sang trọng, đi sâu vào mọi giới thưởng ngoạn. Nó làm cho người nghe, tưởng như Tân nhạc miền Nam đã được thay da đổi thịt vậy. Việc đưa dân ca vào Tân nhạc, mà điển hình là nhạc sĩ Phạm Duy không chỉ đưa người nghe trở về với hồn vía dân ca truyền thống, mà còn làm phong phú nền Tân nhạc Việt.

Thành tựu to lớn đó không chỉ đào tạo sản sinh ra các thế hệ ca, nhạc sĩ tài năng, đa dạng với phong cách, nghệ thuật riêng biệt, độc đáo, mà còn cho hướng người nghe, nhất là giới trẻ đến với âm nhạc chân thực cùng giá trị thẩm mỹ. Những thành tựu đó, phải kể đến các tên tuổi các nhạc sĩ, ca sĩ: Phạm Duy. Phạm Đình Chương, Cung Tiến, Chung Quân, Văn Phụng, Đức Huy…Thái Thanh, Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Duy Quang, Thanh Lan…

Đặc biệt, riêng sự nghiệp sáng tạo của Phạm Duy có thể nói là kho báu, một tượng đài cho Tân nhạc miền Nam nói riêng, và cho nền âm nhạc Việt Nam nói chung.

 Văn hóa miền Nam đã tác động không ít đến trí thức di cư

Sự di cư của các văn nghệ sĩ miền Bắc vào Nam, không chỉ là sự giao thoa văn hóa, ngôn ngữ vùng miền, mà còn bổ sung, ảnh hưởng nhau về thi pháp, khuynh hướng sáng tác. Có thể nói, đất và con người phương Nam đã cho các nhà văn đến từ đất Bắc có cái nhìn rộng mở, phóng đãng hơn. Một số hạn chế, sự ràng buộc nơi đất Bắc trong tư tưởng nhà văn đã được nới lỏng, cởi bỏ. Hành động, và ngôn ngữ mộc mạc phương Nam ấy, đã hòa trộn vào những trang văn trau chuốt lắt léo, ẩn dụ, đa tầng ngữ nghĩa, làm cho (giọng) văn của họ thẳng thắn, nhẹ nhàng, nhanh gọn và sâu sắc hơn. Sự sinh động, khi vay mượn, sử dụng ngôn ngữ, lời thoại bình dân đặc trưng của các vùng miền, đia phương miền Nam, dù câu thơ, trang văn ấy, viết về đất Bắc, đi sâu vào mọi tầng lớp người đọc. Có thể nói, hầu hết các nhà văn di cư ít nhiều đã thay giọng điệu, hay nghệ thuật dẫn truyện, hoặc tâm lý nhân vật của mình. Đặc biệt có một số nhà văn như có sự tiếp nối, và làm mới văn xuôi, tiểu thuyết dài kỳ đăng báo (feuilleton) của những nhà văn miền Nam: Phú Đức, Vĩnh Lộc, Cửu Lang. Mà điển hình là Duyên Anh với những tác phẩm thiên về hành động, giang hồ đường phố: Điệu ru nước mắt, Luật hè phố, Dzũng ĐaKao…hoặc Nguyễn Thụy Long với: Bước Giang Hồ, Loan Mắt Nhung…

*(Tuy nhiên, tiểu thuyết dài kỳ đăng báo cũng đã có trên các báo ở Hà Nôi từ thập niên ba mươi, song dường như rất hiếm tác phẩm về hành động giang hồ này)

(Hình: Facebook)

Và rồi, di sản đó, sau 1975…

Sau 1975 không chỉ tác phẩm của các nhà văn, và các nhà xuất bản gốc Bắc, mà toàn bộ nền Văn học miền Nam bị khai tử. Toàn bộ sách, báo…nghĩa là tất tần tật những gì dính dáng đến chế độ cũ in ấn xuất bản, kể cả tình yêu tình iếc, hay những sách vô thưởng vô phạt đều tịch thu, và hóa vàng. Tuy nhiên, vẫn có một số sách báo được cất giấu, do chính những người buộc phải thi hành mang ra Bắc, như truyện của Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long hay Dương Nghiễm Mậu. Chúng tôi lúc đó bắt đầu vào trung học cũng lén lút thay nhau đọc, khoái lắm. Khoái đến độ, có anh bạn họa sĩ, sau này dứt khoát đặt tên con gái là Duyên Anh.

Tất nhiên, cũng như nhưng tác phẩm của mình, các nhà văn di cư này đều vào rọ cả. Có những bác bị cải tạo tù đày đến trên dưới chục năm như: Nguyên Vũ, hay Thảo Trường…đặc biệt Doãn Quốc Sỹ bị bắt thả, bắt thả nhiều lần tổng cộng đến 14 năm tù đày. Tôi nghĩ, dường như có sự trả thù, hay gì đó, như nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Một cụ già chuyên thi ca thơ phú tình yêu trong cái lạc loài của kiếp người, vậy cũng bị tù đày cho đến chết. Hay những tác phẩm của ông thơ tình Đinh Hùng cũng đốt bằng sạch cho tuyệt nọc.

Gần đây, nhà nước đã hồi sức cấp cứu cho một số tác phẩm như của Đinh Hùng, Duyên Anh… sống lại. Tuy nhiên, các bác đã lầm. Bởi, đã bị chôn, nhưng những tác phẩm ấy có bị chết bao giờ đâu.

(Leipzig, Tháng Sáu 2024)

Đỗ Trường/SGN


Thứ Năm, 25 tháng 7, 2024

Một Bài Thơ Của Nhà Nghiên Cứu Và Phê Bình Văn Học Đặng Tiến

 

Nhà Nghiên Cứu Và Phê Bình Văn Học Đặng Tiến

MỘT BÀI THƠ CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC ĐẶNG TIẾN
Thầy Dương Anh Sơn

Có thể nói rằng giáo sư Đặng Tiến là nhà nghiên cứu và phê bình văn học được rất nhiều người trong giới học thuật miền Nam trước đây rất mến mộ qua cuộc sống và những tác phẩm nghiên cứu có giá trị về văn học đặc biệt trong lĩnh vực thơ ca. 

Ông sinh ngày 1940 tại làng An Trạch, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là Hòa Vang, Đà Nẳng). Ông tốt nghiệp Đại học Văn khoa Saigon năm 1963 rồi dạy văn chương tại trường Lycée Yersin,(theo chương trình tiếng Pháp) tại Dalat từ năm 1964-1966. Ông bắt đầu viết đăng bài trong một số tạp chí các mục điểm sách và phê bình văn học từ 1960. 

Năm 1966, ông sang Berne, Thụy Sĩ làm viên chức ngoại giao. Tại nơi này, ông đã dành nhiều thời giờ cho cuốn Vũ trụ thơ, viết và hoàn tất tại Berne vào 17/8/1967. Năm 1969, ông là giảng viên dạy văn chương Việt Nam trong Ban Việt học tại Đại học Paris VII, văn chương Việt Nam tại Orleans cho đến khi nghỉ hưu 2005. Ông cùng gia đình sinh sống tại vùng Orleans này. Trước 1975, nhiều bài viết của ông đăng trên các tạp chí Mai, Văn, Tân Văn... v.v... đề tên ông hay biệt hiệu là Nam Chi.


Hai tác phẩm nổi bật cho thấy tài năng tìm hiểu và phê bình văn chương của Đặng Tiến là: 

1/- Vũ trụ thơ Q.I (NXB Giao điểm, Saigon, 1972) và Vũ trụ thơ Q.II (NXB Thư Ấn quán, NJ, USA, 2008).

2/- Thi pháp và chân dung, (NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2009) và khoảng 150 tản văn, tùy bút, tiểu luận phê bình đăng rải rác trong nhiều tạp chí. Những nhận xét của ông rất sâu sắc, tinh tế và có những khám phá mới lạ.

Ông mất ngày 17/4/2023 tại Orleans, phía nam Paris, Pháp và được gia đình hỏa táng theo di chúc. Ngày 17/7/2024 vừa qua, di cốt của ông được gia đình mang về quê hương Quảng Nam an táng.

* * *

Tôi được làm quen với các bài bình giảng văn học hay nghị luận văn chương của giáo sư Đặng Tiến khi ông giảng dạy văn chương tại trường Lycée Yersin (Trung học Yersin) tại Dalat khi tình cờ đọc những cuốn vở ghi chép của một người anh có theo học với thầy Tiến từ 1964-1966 tại Trường Yersin (Lớp troisième và seconde, tương đương với lớp đệ tam và đệ nhị bên Đệ nhị cấp chương trình Việt, nay là lớp 10 và 11 THPT). Những bài giảng văn của thầy Tiến khi nhận xét về các tác giả văn học như Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Tản Đà... v.v... rất sáng sủa, dễ hiểu, thấu đáo và nêu lên được những điểm nổi bật của các tác giả này cùng các thơ văn của họ. Nhờ những tập cours này, tôi đã hoàn thành kỳ thi Tú tài 1 ban B về văn chương khá tốt mặc dầu không thụ giáo trưc tiếp với Thầy.....

Hôm nay (17/7/2024), nhân ngày đưa di cốt của ông an nghỉ tại quê nhà, tôi xin ghi lại một bài thơ của ông để thấy ngoài tài nghị luận, phê bình văn chương, ông cũng là một người làm thơ có những nét độc đáo về ý tứ, về cách dùng từ ngữ và nhất là những suy tưởng của tác giả về cuộc sống, về quê hương và tình yêu. Bài thơ này chép lại trong một tạp chí trước 75. Vì thế, nếu có những sai sót nào xin các bạn đọc giúp đỡ và bổ sung. Xin cám ơn nhiều và xin giới thiệu một bài thơ để tưởng niệm một người Thầy, một nhà nghiên cứu và phê bình văn học kỳ cựu và tài hoa.


VỀ MỘT ÁNH TRĂNG
Đặng Tiến

1

Trời ngát xanh trong lời chim khuyên mới sớm
Lời bao la lìa ý vụt bay cao
Lìa cánh mộng hồn đêm lìa xác bướm
Về quỳ bên Em dâng một cánh hoa đào

2

Tình gửi chân mây. Em có nhớ kiếp nào?
Hanh nắng trong lòng hay trăng xế chiêm bao....
Ngày Em đến hoa quên mà lá nhớ
Anh đợi Em đây. Em đừng bỡ ngỡ
Sông ngàn xưa gửi nước lại ngàn sau

3

Tóc từng sợi lạc giòng từ nguyên thủy
Trôi bơ vơ phế tích một thiên đường
Những chiếc lá bay bay về cội ý
Là lòng anh xin cưới một quê hương

4

Anh không viết lời thề trên lá đỏ
Màu nào không ngờ vực bóng thời gian?
Đá quên thề còn ngoại tình với gió
Đêm hôm rồi nở một đóa phong lan....

5

Những hạt cát ngậm lâu đài trong ký ức
Giọt sương hồng muối biển lớn cuối tương lai
Soi bước Em về muôn tế bào cháy rực
Lửa hành tinh nhầm lối đã đầu thai

6

Giông tố cũ đã san bằng quá khứ
Chút hoang liêu còn lại gửi mai sau
Em trèo hái từng trái sầu đỏ úa
Trên cành khô ươm lại đóa hoa đầu

7

Anh – loài chim ngậm hờn trong cổ họng
Ba mươi năm và vỡ tiếng thanh tao
Tiếng hát vẫn bao la theo đầu ngọn sóng
Về gục bên Em dâng một cánh hoa đào
Tháng 2/1970

Dương Anh Sơn


Thứ Tư, 24 tháng 7, 2024

Lên Sáu

 


L Ê N S Á U
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

Mấy αi còn nhớ – Bài thơ ᵭã tɾȇn 100 năm nhưng vẫn còn nguyȇn ý nghĩα về sự giáo Ԁục con người.


LÊN SÁU 

Sách quṓc ոgữ - Chữ ոước tα,

Con cái ոhà – Đḕᥙ ρhải học.

Miệոg thì ᵭọc - Tαi thì ոghe

Đừոg ոgủ ոhè - Chớ láᥙ táu

Con lên sáᥙ - Đαոg vỡ lòng

Học cho thȏոg - Thầy кhỏi mắng.

.

Tɾoոg tɾời ᵭất - Nhất là ոgười

Ở tɾên ᵭời - Hơn giṓոg vật

Con ьé thật - Chưα ьiḗt gì

Còn ոgᥙ si - Phải Ԁạy ьảo

Cho ьiḗt ᵭạo - Mới ոên thȃn

Sαᥙ lớn Ԁần - Con sẽ кhá

.

Ai ᵭẻ tα - Chα cùոg mẹ

Bṑոg lại ьḗ - Thươոg và yêu

Ơn ոhườոg ьαo - Con ρhải ոgẫm

Áo mặc ấm - Mẹ mαy cho

Cơm ăn ոo - Chα кiḗm hộ

Chα mẹ ᵭó - Là hαi thȃn

.

Hαi thȃn là - Là thȃn ոhất

Tɾoոg tɾời ᵭất - кhȏոg αi hơn

Con ьiḗt ơn - Nên ρhải hiḗu

Nghĩα chữ hiḗᥙ - Đạo làm con

Con còn ոon - Nên học tɾước

Đi một ьước - Nhớ hαi thȃn

.

Con còn ոhỏ - Có mẹ chα

Lúc vào ɾα - Được vui vẻ

Con còn ьé - Mẹ hαy chiḕu

Thấy mẹ yêᥙ - Chớ làm ոũng

Đã ᵭi học - Phải cho ոgoαn

Hαy quấy càn - Là chẳոg hiḗu.

.

Con còn ьé - Mẹ hαy lo

Ăn muṓn cho - Lại sợ ᵭộc

Con ṓm ոhọc - Mẹ lo tҺươпg

Tìm Ϯhυṓc thαոg - Che ոắոg gió

Con ոghĩ ᵭó - Sαo cho ոgoαn

Hαy ăn càn - Là chẳոg hiḗu

.

Aոh em ɾuột - Một mẹ chα

Mẹ ᵭẻ ɾα - Tɾước sαᥙ ᵭó

Cùոg мάᥙ mủ - Như tαy chȃn

Nên yêᥙ thȃn - Chớ gαոh tị

Em coi chị - Cũոg ոhư αnh

Tɾước là tìոh - Sαᥙ có lễ

.

Người tɾoոg họ - Tổ siոh ɾα

Ôոg ᵭḗn chα - Bác cùոg chú

Họ ոội ᵭó - Là tȏոg chi

Cậᥙ và Ԁì - Vḕ họ mẹ

Con còn ьé - Nên Ԁạy quα

Còn họ xα - Sαᥙ mới ьiḗt

.

Người tɾoոg họ - Có ьḕ tɾên

Lạ hαy quen - Đḕᥙ ρhải кính

Có кhách ᵭḗn - кhȏոg ᵭược ᵭùα

Ai cho quà - Đừոg lấy vội

Ôոg ьà gọi - Phải Ԁạ thưα

Phàm ոgười ոhà - кhȏոg ᵭược hỗn

.

Con ьé Ԁại - Mãi vui chơi

Muṓn ɾα ոgười - Phải chăm học

Miệոg ᵭαոg ᵭọc - Đừոg tɾȏոg ոgαng

Học Ԁở Ԁαոg - Đừոg có chán

Học có ьạn - Con Ԁễ hαy

Mḗn tɾọոg thầy - Học chóոg ьiḗt

.

Dạy con ьiḗt - Phéρ vệ sinh

Ăn quả xαոh - кhó tiêᥙ hoá

Uṓոg ոước lã - Có ոhiḕᥙ sȃu

Áo mặc lȃᥙ - Siոh ghẻ lở

Mặt кhȏոg ɾửα - Siոh ᥙ mê

Đαոg mùα hè - Càոg ρhải giữ

.

Các giṓոg vật - Thật là ոhiḕu.

Như con hươᥙ - Ở ɾừոg cỏ

Như con chó - Nuȏi giữ ոhà

Con ьα ьα - Loài мάᥙ lạnh

Loài có cάոh - Như chim cȃu

Còn loài sȃᥙ - Như ьọ ɾóm

.

Cȃy và cỏ - Có кhác loài

Tɾȏոg ьḕ ոgoài - Cũոg Ԁễ ьiḗt

Như cȃy mít - Có ոhiḕᥙ cành

Lúα, cỏ giαոh - Có từոg ᵭṓt

Còn tɾoոg ɾuột - Lại кhác ոhαu.

Vài ոăm sαᥙ - Con ьiḗt кỹ

.

Đá ьờ sȏոg - кhȏոg sṓոg cҺḗϮ

Khȏոg có ьiḗt - кhȏոg có ăn

Khȏոg ոgười lăn - Cứ ոằm ᵭȃy

Như ᵭá cuội - Như ᵭá xαnh

Như mảոh sàոh - Như ᵭất thó

Các vật ᵭó - Theo loài кim

.

Các loài кim - Tìm ở ᵭất

Nhất là sắt - Nhì là ᵭṑng

Làm ᵭṑ Ԁùոg - кhắρ tɾoոg ոước

Như vàոg ьạc - Càոg quý hơn

Đúc làm tiḕn - Để muα ьán.

Ai có vạn - Là ոgười giàu.

.

Vṓn xưα là - Nhà Hṑոg Lạc

Nαy tên ոước - Gọi Việt Nαm

Bṓn ոghìn ոăm - Ngày mở ɾộng

Nαm và Bắc - Ấy hαi miḕn

Tuy кhác tên - Đất vẫn một

Lào, Miên, Việt - Là Đȏոg Dương

.

Đầᥙ tɾị ոước - Đức кiոh Ԁương

Tɾuyển Hùոg Vươոg - Mười tám chúα

Quα mấy họ - Quȃn Tàᥙ sαng

Vuα Điոh Hoàոg - кhαi ոghiệρ ᵭḗ

Tɾải Đinh, Lý - Đḗn Tɾần, Lê

Nαy ոước tα - Là ոước Việt

.

Chữ ոước tα - Tα ρhải học

Cho tɾí óc - Ngày mở mαng

Muṓn vẻ vαոg - Phải làm lụng

Đừոg lêᥙ lổոg - Mà hư thȃn

Nước ᵭαոg cần - Người tài giỏi

Cṓ học hỏi - Để tiḗn ոhαnh

.

Vừα ích mìոh - Vừα lợi ոước

Chớ lùi ьước - Là кẻ hèn

(Nghiêm Hàm ấn quán xuất ьản, 1924). – Bài thơ ᵭã tɾên 100 ոăm ոhưոg vẫn còn ոguyên ý ոghĩα vḕ sự giáo Ԁục con ոgười.

Blog Tổ Ấm


Thứ Năm, 7 tháng 9, 2023

Một Ngày Về Với Cha

 

Minh họa: sabine-ojeil-unsplash


MỘT NGÀY VỀ VỚI CHA
Thanh Le

Cuối tuần, mọi người, mọi nơi đang chộn rộn đón mừng ngày lễ dành cho cha. Tuyệt vời thay, năm nay ngày lễ dành cho cha lại đúng vào ngày Chủ Nhật 18 Tháng Sáu. Dịp lễ, rơi đúng vào ngày cuối tuần, rất thuận tiện cho chúng ta có những buổi họp mặt thể hiện tình yêu thương và biết ơn dành cho đấng sinh thành. Chúng ta, ai cũng trân quý tình cảm thiêng liêng dành cho cha. Cha là người sinh ra chúng ta, nuôi dưỡng và hy sinh cả cuộc đời người cho gia đình. Ngàn năm trước và cũng như ngàn năm sau, mãi mãi công ơn cha được tôn vinh tựa như núi Thái Sơn hùng vĩ.

Vi vi non cao ơn dưng dục
Mênh mông bin rng đc sinh thành

Năm nay, tôi lại vội vã chạy đến thăm mộ Bố Mẹ ở Oak Hill. Chỉ kịp mua vội vàng mấy ly chè, vài ba cái bánh mang đến mộ Bố Mẹ. Nói chuyện thì thầm với Bố Mẹ vài câu, tôi thấy mình như quay về lại với quá khứ. Nhắm mắt lại, tôi hồi tưởng đến những ngày khi còn cha, còn mẹ. Mau quá, dường như mới đây thôi… nhưng giờ đây, con với bố mẹ ngàn trùng cách biệt.

Tri chiu bng lng bóng hoàng hôn.
Tiếng c xa đưa vng trng dn…
K chn Chương Đài, ngưi l th.
Ly ai mà k ni hàn ôn
(Bà Huyện Thanh Quan)

Nhớ bố mẹ lắm, nhưng con biết nói gì? Chung quanh chỉ là bia mộ và cỏ xanh. Buổi trưa nghĩa trang Oak Hill thật buồn và quạnh vắng. Thưa thớt vài người đến thăm mộ, những bó hoa, cái tàn, cái héo bên những bia đá xám xanh nằm thẳng tắp ngay ngắn trên bãi cỏ. Gió thổi đong đưa vài ba chiếc lá trên những tàn cây cao phủ trời chiều. Tôi tự hỏi: Cuộc sống trở mình khi bình minh đến, ra đi trong buổi chiều tà. Con người chúng ta lên cả sao Hỏa, sao Kim, nhưng sao lại không nắm bắt được thời gian?

Bố tôi là một người đơn giản, không cầu kỳ, không trau chuốt. Đối với ông mọi việc chung quanh dường như chỉ hiện hữu chỉ có 30 giây. Có lẽ trường đời đã dạy bố như thế. Năm 17 tuổi, mang tính chất “giang hồ”, bố trốn ông bà nội, bám đu thành xe lửa vào Nam. Không một xu dính túi, bố bắt bạn với một “đồng chí” cũng như mình. Hai ông thần trốn trong kho hành lý, lúc lại lẫn vào đống than. Hai ông chia nhau củ khoai, ngụm nước và cùng ngồi… gãi ghẻ với nhau.

Một tuần lễ trên chiếc xe lửa lắc la lắc lư, hai anh đồng chí “tuyên thệ” sẽ cùng nhau “chia ngọt sẻ bùi”. Ai tìm được thân nhân trước, sẽ lo cho người bạn của mình. Khi vào đến Sài Gòn, cặp “đồng chí” này cùng nhau tìm đến nhà bác tôi trước. Bác là anh họ của bố. Nghe tiếng gọi cửa, bác nhận ra thằng em “giang hồ” của mình tả tơi trong bộ quần áo đen lẻm đầy bụi, đầy than.

Ngồi nghe hồi lâu câu chuyện “dế mèn phiêu lưu ký” của bố, bác phát hiện bố luôn tay “sột soạt gãi đàn”. Thế là bác đẩy bố ngâm mình trong thùng phuy nước với lá ổi, lá nhãn. Tắm táp, sạch sẽ xong xuôi, bố được bác cho ăn kín đầy cái bao tử trống rỗng của ông. Đến khi lên gác đi ngủ, bố mới nhớ đến “lời thề nguyền” cùng thằng đồng chí nối khố của mình. Ông vội chạy ra cửa sổ nhìn xuống đường.

Dưới ánh đèn vàng èo ọt, bóng cây cột điện ngã dài trên góc phố lẻ loi. Con đường tối vắng tanh. Ắt hẳn người đồng chí ấy đã ôm “mối hận đồ bàn” ra đi và tiếp tục con đường lang thang kỳ bạt một mình. Mẹ trách bố vô tình vô nghĩa. Bố phát quạu “ơ bà này hay nhỉ, đến nơi, cả nhà mừng mừng tủi tủi, hỏi thăm ông bà ngoài Bắc, rồi lại chuyện chuyến phiêu lưu, tôi làm sao nhớ được”. Nói thế, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy bố trầm ngâm. Nhưng sự “trầm ngâm” đó cũng chỉ tồn tại được có 30 giây. Và chỉ năm phút sau là bố đã ngáy o o…

Hầu như bố không buồn và cũng không bao giờ lo lắng điều gì. Cả cuộc đời của bố tràn ắp tiếng cười.Tôi chưa thấy bố khóc và cũng chưa bao giờ thấy ông buồn. Với tính chất “ăn to, nói lớn” của một người sĩ quan, nơi nào có ông đến, là nơi đó rổn rảng âm thanh vui nhộn, ồn ào náo động. Lúc trung niên, bố bận bịu với quân ngũ, hiếm khi ông ở nhà. Nay ông ở mặt trận này, mai ông ở mặt trận kia. Lúc ở thành phố, thì bố ở doanh trại Quang Trung. Bố phó thác cho mẹ xoay sở, bươn chải. Mẹ tôi chẳng khác nào người phụ nữ của Tú Xương.

Quanh năm buôn bán  mom sông,
Nuôi đ năm con vi mt chng
Ln li thân cò khi quãng vng
Eo sèo mt nưc bui đò đông…
(Trần Tế Xương)

Bố mặc cho mẹ tôi một nách con với đồng lương lính. Chuyện cơm áo, gạo tiền chưa bao giờ ông quan tâm. Bố rất thích bàn chuyện thời sự, chính trị. Gặp các bác, các chú trúng đài, trúng tần số, bố có thể ngồi huyên thuyên hàng giờ. Bố cũng có một trí nhớ rất siêu. Tất cả số điện thoại của các con, bà con, nội ngoại, ông viết trên bảng để ở tủ lạnh, nhưng hiếm khi bố cần đến nó.

Ngay cả lúc ông ngoài 70, khi cần ông cũng đọc vanh vách số điện thoại cần tìm. Có lẽ do bố rèn luyện trí nhớ khi mỗi ngày, sáng, trưa và tối, ông luôn ôm đọc cuốn từ điển. Ngay từ lúc ở Việt Nam hay sang Mỹ, bố thật sự thích thú với những cuốn tạp chí “The Week” hay “TIME”. Ông đọc và thấy cái gì hay, ông đi kiếm tôi để hai cha con cùng “hót”. Tôi cũng tự hỏi bố cũng có nhiều điều hay, nhưng sao mẹ lại không thấy nhỉ?

Hồi còn bé, tụi tôi được huấn luyện như trong quân đội. Sáng sớm, trời lạnh, khi chúng tôi, còn đang mắt nhắm, mắt mở, bố đã dựng đầu dậy hết, lùa ra sau vại nước. Ông xối lên vài gáo nước, bắt tắm. Đứa nào, đứa nấy lạnh run, tỉnh ngủ hẳn ra. Ở nhà, cứ như trong quân đội vậy. Bố là mẫu người Captain von Trapp trong “The Sound of Music”, chỉ thiếu có cái còi tu huýt thổi thôi.

Nhưng với khách khứa, bạn bè, con cháu, ông là người dễ tính, dễ gần với cái tính chân thật mộc mạc của ông. Bố là dân gốc Bắc, nhưng ông lại mang đậm rặt tính chất của người đồng bằng Nam bộ “có sao nói dzậy”. Về già, gặp lại bạn bè lâu năm, ông phán ngay một câu xanh rờn “Ủa, tôi tưởng anh chết rồi… ha… ha…”. Có lần họ hàng mang cháu ẵm bồng đến khoe, bố buột miệng ngay “con bé này nó xinh đấy, nhưng nó có môi trề giống mẹ nó.” Mẹ nhanh, nhưng cũng không kịp giựt áo ông. Thấy mặt mẹ nhăn lại, ông phán tiếp câu thứ hai, Ủa tôi nói không đúng sao? Khách lại thêm một lần đỏ mặt.

Chẳng thế mà bao phen, ông đã làm cho khách giận, cắt đứt luôn dây chuông liên lạc, trong khi ông vẫn tỉnh queo không hề để ý tại sao. Ông nói xong rồi quên, chẳng có gì đọng lại trong tâm tư của ông. Ông không giận ai và cũng không quan tâm ai giận mình. Bố tôi dưới ngòi bút tả chân dung của mẹ “chưa thấy người, đã nghe thấy tiếng” và  người gì mà cứ thẳng như ruột ngựa”. Đối với ông, mọi thứ tự nhiên, tại sao chúng ta lại phải tô màu cho nó.

Ngày bố ra đi, bố đi rất nhanh và cũng rất sạch sẽ như bản chất của ông. Cơn đau tim ùa đến khi ông vừa mới tắm xong. Bố chạy vội vào phòng, nằm vật trên giường rồi mất. Tất cả xảy ra đều dứt khoát, nhanh chóng. Bố đã ra đi, rời khỏi cõi đời, rời bỏ mẹ tôi và chúng tôi. Từ đây tôi không còn nghe tiếng cười nói rổn rảng, rộn ràng của bố. Từ đây, tôi không còn được nhìn thấy bóng dáng người mỗi sáng ngồi bên cuốn tự điển, tờ tạp chí nhấm nháp tách trà hay cafe. Mẹ thôi không còn người để nhăn, để trách cứ, để nương dựa, để chuyện trò. Tình già của bố mẹ tôi là thế, “giận thì giận, mà thương thì thương”. Tôi xót xa nhìn mẹ khóc, đôi vai gầy rung từng nhịp trong vòng tay chị giúp việc. Cơn đột quỵ như dòng thuỷ triều dâng cao, lại một lần nữa kéo mẹ gục ngã.

Bố tôi mất chỉ vài ngày trước lễ Halloween. Tôi chỉ tiếc là bố mẹ chưa kịp ngồi bên lò sưởi than để phát kẹo ngày Halloween mà tôi đã chuẩn bị cho ông bà. Có lẽ bố háo hức, vội vã đi để kịp hòa nhập trong mùa Halloween chăng?

Anh tôi đến, cắt đứt dòng tư tưởng lan man của tôi. Các anh chị em, ai có công việc nấy, giờ giấc không trùng khớp. Chỉ có hai anh em hẹn gặp ở mộ bố mẹ. Anh đến, lặng lẽ chắp tay thì thầm. Tôn trọng giây phút riêng anh dành cho bố mẹ. Tôi đi lững thững đứng dưới tàn cây nhìn anh. Anh vẫn vậy, đầy tự tin, quả quyết và ít nói.

Ảnh: tác giả gửi

Lúc còn bé, anh là một bản sao của bố. Anh giống bố từ cái nghịch ngợm, lì đòn nhưng lại đầy tài năng, tháo vát. Trông anh, tôi như thấy hình bóng dáng bố hiện về đang đứng lạnh lùng, cô độc giữa những nấm mộ đá, đồi cỏ chơ vơ. Anh cúi xuống, lấy tay phủi phủi đám bụi trên bia đá. Và vỗ vỗ nhè nhẹ bờ cỏ quanh mộ, như vuốt ve bờ vai gầy của mẹ. Mái tóc của anh, từng sợi bạc là từng ngày làm việc mệt mỏi, từng năm lăn lộn trong cuộc sống. Anh già nhiều, tôi cũng già nhiều.

Nhưng độ rày anh có vẻ thoải mái hơn. Ngắn gọn vài câu, anh khoe ba đứa nhỏ đã tốt nghiệp ra trường. Thằng bé nhất, lại quyết định đi làm vì có hai công ty đề nghị công việc tốt. Hai bé lớn thì vừa quay lại trường, vừa làm, vừa học lên Master. Anh nói: “Anh xong bổn phận”. Câu nói nghe thấy lòng nhẹ tênh. Cha mẹ Việt Nam là vậy. Trách nhiệm và bổn phận.

Tôi từ chối không đi ăn với anh, để còn chạy lo thêm một số công việc cho kịp trước khi về tối. Hai anh em lái xe rời nghĩa trang khi buổi chiều đang đổ xuống. Những đám mây xám chiều ngả dần sang tối. Những chiếc lá tăng dần tiếng soàn soạt theo gió. Tôi ngoái nhìn lại mộ bia của bố mẹ và tự hỏi:

Em hi tôi: “Phiến đá có linh hn không?
Em hi tôi: “Đá biết th dài xa xôi?
Em hi tôi: “Đá có ngm ngùi chia phôi?
….
Tôi hôm nay là ai?
Hn như mt phiến đá nm
Trăm năm như ngàn năm
Ngưi cùng đá băn khoăn…
(Diệu Hương)

Thanh Le

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2022

Lời Bình Bài Thơ "Hai Sắc Hoa Ti Gôn"

LỜI BÌNH BÀI THƠ "HAI SẮC HOA TI GÔN"
Mike Vo

Trân trọng 

NHHN 

Xin mời quý vị theo dõi 



Tiết Lộ Về Tác Giả Bài Thơ Hai Sắc Hoa Ti-Gôn

TIẾT LỘ VỀ TÁC GIẢ BÀI THƠ HAI SẮC HOA TI-GÔN
Người Trà Vinh Chia Sẻ Thông Tin

Nguồn: Ngọc Trang - Diệu Bình 
Lược trích : Người Trà Vinh 
Ảnh minh họa: Internet
Thực hiện: Người Trà Vinh 

Trân trọng 
NHHN 

Xin mời quý vị theo dõi 



Đi Tìm Bí Ẩn TT Kh

ĐI TÌM BÍ ẨN TT Kh, TÁC GIẢ BÀI THƠ TÌNH HAY NHẤT TRONG LỊCH SỬ THƠ CA VIỆT NAM
Duy Ly Radio

Bí Ẩn Tác Giả TT Kh
Giọng đọc: Duy Ly

Trân trọng 
NHHN 

Xin mời quý vị theo dõi 



Thứ Năm, 14 tháng 4, 2022

Hồ Dzếnh Với Hồn Thơ Quê Ngoại

 

Nhà thơ Hồ Dzếnh

HỒ DZẾNH VỚI HỒN THƠ QUÊ NGOẠI 
Thái Tú Hạp

Có những buổi chiều cuối thu, sương mù phủ xuống âm u khắp núi rừng Kỳ Sơn, Quảng Nam, một mình đi giữa hàng lau bạc trắng. Cái tĩnh mịch hoang vắng của đất trời, cơ hồ chỉ cần một tiếng chim kêu cũng đủ làm giao động cảnh trí mênh mông của buổi chiều thêm hiu quạnh. Những giây phút lắng đọng tâm tư như thế, tôi thường hay nhớ đến bài thơ Mầu Cây Trong Khói của Hồ Dzếnh, đã được Dương Thiệu Tước phổ thành ca khúc Chiều:

Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây…
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây…

Lời thơ của Hồ Dzếnh như một định mệnh theo tôi đến suốt đời. Tôi đã thuộc duy nhất bài hát này, khi còn lẻ loi một mình ở rừng núi Thượng Đức. Đại Lộc. Ái Tử. Trên Phá Tam Giang. Hay buổi chiều lang thang ven những ngọn đồi Đà Lạt. Và cuối cùng ở những con đường dưới chân núi Kỳ Sơn ở quê nhà.

Nhà thơ Hồ Dzếnh, thân sinh ông là ông Hà Kiến Huân, người Quảng Đông, có thể vì sinh kế nên lưu lạc đến Việt Nam, và đã sang một chuyến đò duyên nợ với cô lái tỉnh Thanh Hóa. Sau những ngày hạnh phúc bên nhau, Hồ Dzếnh đã ra đời, và không ngờ lớn lên đã trở nên một nhà văn, thơ xuất sắc trong văn học nghệ thuật Việt Nam. Mặc dù Hồ Dzếnh sinh trưởng trên xứ sở Việt Nam, nhưng trong tâm tưởng lúc nào ông cũng mơ về một quê hương đầy bản sắc thơ mộng. Những hình ảnh mây trắng ngàn năm trên Lầu Hoàng Hạc vẫn còn bay lãng đãng. Những thảm cỏ non nơi cánh đồng Anh Vũ vẫn ngút ngàn kiêu sa. Vẫn những hàng liễu buông đầy lãng mạn trên Tây Hồ soi bóng:

Ta nhớ màu quê, khát gió quê
Mây ơi ngưng cánh đợi ta về
Cho ta trông lại tầng xanh thẳm
Ngâm lại bài thơ “Phương Thảo Thê”

Đất Thánh Trời Đông, Mẹ Á Châu
Anh hoa ngàn thuở rạng phong hầu
Chín cung thăm thẳm hồn hương khói
Danh vọng vang lừng mây gió Âu

Liễu Động Đình thơm chuyện hảo cầu
Tóc thề che mướt gái Tô Châu
Bâng khuâng trăng sáng trời Viên Hán
Một dải Giang Nam nước rợn màu

Ai hát mà nay, gió vẫn thơm
Ai đau non nước não căm hờn?
Chiêu Quân nếu mãi người Cung Hán
Thi tứ tìm đâu nét tủi hờn?

Mây ơi có tạt về phương Bắc
Chầm chậm cho ta gửi mấy lời
Từ thuở ly hương ta vẫn nhớ
Nhưng tình xa lắm gió mây ơi!

(Tư Hương)

Cõi thơ của Hồ Dzếnh thể hiện cái thế giới đầy tình yêu thương chân thật, như hạt ngọc lấp lánh kết tinh từ đời sống ấu thơ, đầy những bất hạnh nghèo khó, nhưng không thiếu những cảnh tượng hồn nhiên, thơ mộng, bao dung, như biển trời. Hồ Dzếnh đã tâm sự: “Hỡi nước Việt Nam, tôi nghiêng lòng xuống Người, trên những luống cày mà hương thơm còn phảng phất, vì tôi đã từng uống nước và nói tiếng nói của Người, vì tôi đã thề yêu Người trên bậc tuyệt vời của tôn giáo…”. Những lời trân quý ông dành dâng tặng đến Người là Mẹ ông. Có lẽ suốt chuỗi đời ấu thơ, ông sống trong vòng tay trìu mến của Mẹ, nên ông yêu kính Mẹ vô cùng. Chính vì ông yêu Mẹ nên ông ca tụng hình ảnh những người con gái Việt Nam, suốt một đời thủy chung tận tụy vì chồng con:

Cô gái Việt Nam ơi!
Từ thuở sơ sinh lận đận rồi,
Tôi biết tình cô u uất lắm,
Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi

Cô chẳng bao giờ biết bướm hoa,
Má hồng mỗi tiết mỗi phôi pha
Khi cô vui thú, là khi đã
Bồng bế con thơ, đón tuổi già!

Cô gái Việt Nam ơi!
Ngọn gió thời gian đổi hướng rồi,
Thế hệ huy hoàng không đủ xóa
nghìn năm vằng vặc ánh trăng soi.

Tôi đến đây tìm lại bóng cô,
Trở về đường cũ, hái mơ xưa
Rau sam vẫn mọc chân rào trước,
Son sắt, lòng cô vẫn đợi chờ.

Dãi lúa cô trồng nay đã tươi,
Gió xuân ý nhị vít bông cười…
Ai hay lòng kẻ từng chăm lúa,
Trong một làng con, đã héo rồi!

Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời,
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.

(Cảm Xúc – Quê Ngoại)

Hồ Dzếnh bước vào làng văn, thơ từ năm 1937, với một số bài gởi đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Trung Bắc Chủ Nhật, Tạp San Mùa Gặt Mới. Những tác phẩm đã xuất bản như Quê Ngoại (Thơ 1943), Hoa Xuân Đất Việt (Thơ 1946), Một Truyện Tình 15 Năm Về Trước (Truyện 1942), Cô Gái Bình Xuyên (1946), Chân Trời Cũ (Truyện 1942). Văn của Hồ Dzếnh trong sáng nhẹ nhàng, tình cảm chân thật gần gũi, ấm cúng như một hạnh phúc bình dị quen thuộc quanh đời sống thôn dã, nồng thắm quê hương. Về thơ Hồ Dzếnh cấu trúc những sáng tạo sâu sắc, mới lạ, chan chứa trữ tình, thể hiện một hồn thơ chân thành, tuyệt đẹp và độc đáo. Trong hai tập thơ Quê Ngoại và Hoa Xuân Đất Việt, được nhà văn Mai Thảo nhận định: “Trong cái thế giới ngột ngạt bít bưng tức thở của những tháp ngà tiền chiến như những phần mộ lạnh buốt, thơ Hồ Dzếnh hơn cả Xuân Diệu và theo tôi, hơn cả Nguyễn Bính đầu mùa, là những xâu chuỗi lanh lảnh nhạc vàng gõ vui từng nhịp nắng trên mênh mông đài trán thiên nhiên. Tôi nhớ mãi cái cảm giác của tôi, 20 tuổi, tiếp nhận một tập thơ còn trẻ hơn hồn mình phơi phới, một tập thơ cỏ non lả lả, một tập thơ cốm mới đậm đà, một tập thơ mười tám cái xuân đầy, đọc mỗi câu tưởng như có mật, có đường ngọt trong cổ. Thơ Hồ Dzếnh là cái trạng thái ngu ngơ mà chủ đề là tình yêu và ánh sáng. Ngó thật kỹ, Quê Ngoại không hằn một nếp nhăn. Với tôi, một tập thơ đầu tay phải như thế. Phải có cái khí thế vạm vỡ của sức sống như một vươn tới, cái vóc dáng của tình yêu như một kín trùm dào dạt. Dẫu cho lỡ cả thiên đường, thì xin một nửa tấc vườn vắng hoa. Hồ Dzếnh không làm thơ đâu. Thơ đã có, đâu đó, trên mây, trên cành, trong nước chảy dưới chân cầu, trong không khí, thơ một thuyền đầy, thơ một chuyến lớn chở Hồ Dzếnh đi vào thênh thang tiếng nói…”

Hồ Dzếnh, ông là một nhà thơ khí khái không quỵ ngã trước mọi áp lực của thời thế, ông cố vượt qua mọi giông bão cuộc đời, tạo thế đứng lẫm liệt của một cây thông giữa bạt ngàn lau lách, nên ông đã giữ được niềm quý trọng của quần chúng nuôi hoài những cảm tình qua cõi thơ trong sáng, tình người, đầy hồn nhiên, thơ mộng của ông.

Khi thi sĩ Bùi Giáng còn lang thang nơi trần thế, mỗi lần đọc đến những bài thơ lục bát của Hồ Dzếnh, Bùi Giáng biểu tỏ niềm mến phục chân tình qua nhận xét “chẳng khác giải Ngân Hà lấp lánh nhớ nhung trên bầu trời Văn Học Việt Nam”:

Phút linh cầu mãi không về
Phân vân giấy trắng chưa nề mực đen
Khói trầm bên giấc mơ tiên
Bâng khuâng… trăng rải qua miền quạnh hiu

Tô Châu lớp lớp phù kiều
Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam
Rạc rời, vó ngựa quá quan
Cờ treo ý cũ, mây dàn mộng xưa

Biển chiều vang tiếng nhân ngư
Non xanh thao thiết trời thu rượu sầu
Nhớ thương bạc nửa mái đầu
Lòng nương quán khách nghe màu tà huân

Buồn Tư Mã, nhớ Chiêu Quân
Nét hoa thấp thoáng, ý thần đê mê
Phút linh cầu mãi không về
Phân vân giấy trắng chưa nề mực đen…

(Phút Linh Cầu – Quê Ngoại)

Bùi Giáng đã không ngượng ngùng mà thẳng thắn phát biểu: “Ta phải cố quên mấy bài lục bát của Hồ Dzếnh thì mới đủ can đảm làm thơ. Nhưng mỗi phen đang giữa cơn chịu khó liên trì mà chợt sực nhớ tới cái bài Phút Linh Cầu của Hồ Dzếnh thì ối thôi! Ối thôi! Chẳng còn thể nào tiếp tục công việc gì nữa cả… Linh hồn bỗng nhiên xô ùa máu me chạy tuột đi hướng khác vô phương nắm cầm lại… Không còn một loại thơ kim cổ nào đứng nổi trước cái trận chiêm bao kỳ ảo kia. Tôi thách các bạn tìm bất cứ trong thi ca cổ kim một bài thơ nào đứng vững nổi trước mấy vần lục bát của ông bạn Minh Hương…”

Thái độ khiêm cung của Thi sĩ Bùi Giáng đã làm cho chúng ta liên tưởng đến Thi hào Lý Bạch, khi qua chơi lầu Hoàng Hạc, đọc bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, giật mình chỉ viết nên hai câu:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
Trước mắt có cảnh, nói không được
Vì thơ Thôi Hiệu ở trên đầu.

Ngoài những bài thơ trứ danh đã đan cử ở trên, riêng tôi vẫn còn yêu thích những giòng thơ tích lũy tình yêu thánh hóa, ươm đầy ảo vọng tương lai, mâu thuẫn nội tâm của Hồ Dzếnh, chất ngất những hoài nghi:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân
Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần
Tôi nói khẽ: gớm làm sao nhớ thế

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Em tôi ơi tình có nghĩa gì đâu
Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu?
Thuở ân ái mong manh hơn nắng lụa

Hoa bướm ngập ngừng cỏ cây lần lữa
Hẹn ngày mai mà đến sẽ vui hơn
Chỉ ngày mai mới đẹp ngày mai thôi
Em cứ hẹn, nhưng em đừng đến nhé

Tôi sẽ trách – cố nhiên – nhưng rất nhẹ
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về
Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở

Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
Cho nghìn sau… lơ lửng… với nghìn xưa

(Ngập Ngừng – Quê Ngoại)

Nếu thời gian không làm phai nhạt kỷ niệm êm đềm thơ mộng của thi nhân thì không gian đâu có tạo cho nhân thế phải hận sầu vì chia ly xa cách! Chủ đích mọi chuyện xảy ra đều do cái tâm tạo thành. Tình yêu chân chính thừa khả năng vượt qua không – thời gian và lúc nào cũng thể hiện bản chất trong sáng mới mẻ đầy cảm xúc sáng tạo:

Ngày xưa xa rồi, lông ngỗng hết
Người xưa xa rồi, tình xưa không chết,
Ngàn năm trăng sáng đất Phong Châu,
Duyên cổ còn mơ vạn cổ sầu,

– Nàng là Hoa tươi đất Việt,
Chàng là Tinh túy Trời Ngô,
Tình trâm anh, dòng thế phiệt,
Chỉ hồng duyên thắm se tơ.

– Ngờ đâu, trước cảnh biển bao la
Gươm sắc chia lìa con với cha,
Trung nghĩa ai hay trung nghĩa…tận
Một thiên bạc mệnh úa trời hoa

Giếng vàng, ánh ngọc nghìn xưa,
Giở trang sách cũ, hương thừa còn bay,
Mà sao người đó ta đây,
Tình duyên phảng phất như ngày đã xa.

Người về, ta mới nhớ ra
Yêu là thế ấy, mơ là thế thôi

(Phong Châu – Quê Ngoại)

Ý tưởng nối kết của giòng luân lưu tâm thức từ nghìn xưa cho đến ngàn sau như một hóa thân tiền kiếp, hiện tượng chỉ có được nơi các bậc Chân Tu Đạt Lai Lạt Ma, chúng ta chỉ là những hạt bụi biến hóa vô thường, mắc xích nghiệp chướng luân hồi qua từng kiếp sống. Thời gian qua từng sát na đã là sự đổi thay trùng trùng duyên khởi. Cuối cùng rồi mọi người cũng phải chọn cho mình chuyến đi vào cõi hư vô tuyệt mù.

Nhà thơ tài danh Hồ Dzếnh đã nằm xuống vĩnh viễn ngày 13-8-1991, khi tuổi thọ vừa 75. Sau khi được tin ông ra đi, Hà Nội đã rầm rộ mang đầy hoa đến phúng điếu, đăng tin trên khắp nhật báo, tập san văn học, cùng với những bài viết ca ngợi Hồ Dzếnh như một thiên tài của Đất Nước. Trong lúc ông còn sống, chỉ là một công nhân thợ đúc thép Gia Lâm tầm thường, nghèo khổ, ngày ngày đi về căn gác nhỏ, thầm lặng như một tội đồ, không một ai thương tiếc.

Thái Tú Hạp

(Trích Tuyển Tập Giữa Trời Hoa Bay)