TUỔI GIÀ TRÊN ĐẤT MỸ
Lê Đức Luận
“Biết rồi, khổ quá, nói mãi…” Đây là câu nói của cụ cố Hồng, một nhân vật trong tiểu thuyết trào phúng Số Đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912–1939). Ngày nay, câu nói ấy không còn thuộc về cụ cố Hồng mà đã trở thành một lời châm biếm phổ biến trong dân gian mỗi khi nghe mãi những mẩu chuyện đến nhàm tai.
Khi nghe kể những chuyện vừa dễ thương vừa dễ ghét của các cụ già Việt Nam đang sống trên đất Mỹ, có người ngao ngán thở dài, bảo rằng:
“Biết rồi… khổ quá… nói mãi…”
Ngày xưa, nhà văn Thạch Lam (1910-1942) viết truyện ngắn Nhà Mẹ Lê, người đời nay mới biết cái đói, cái nghèo, cái cơ cực của kẻ bần cùng bị người dân trong huyện thời đó gọi một cách khinh bỉ là “những kẻ ngụ cư”. Và cũng trong truyện ngắn này, cho người ta thấy cái vô cảm của bọn cường hào ác bá thời phong kiến.
Truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao (1915 - 1951) cho người đời nay hiểu được cái thân phận hẩm hiu của những phu đồn điền cao su thời Pháp thuộc.
Vậy thì, những truyện ngắn kể về người già đang sống trên đất Mỹ để độc giả đời nay đọc chơi và cho thế hệ mai sau hiểu tại sao cha ông của họ đã có mặt trên đất Mỹ này và để lại một câu gây nhiều tranh cãi:
“Nước Mỹ là thiên đàng hạ giới mà cũng là địa ngục trần gian”.
Tôi xin kể cuộc đời của ba ông già Việt Nam đã sống trên đất Mỹ gần tròn nửa thế kỷ để nghiệm xem câu nói trên đây có đúng với thực tế hay không.
Trước tiên là ông Hai Thìn.
Sau khi chiếm được miền Nam, chính quyền Việt Cộng tiến hành chính sách “cải tạo công thương nghiệp” – xóa bỏ giai cấp tư sản mại bản. Gia đình ông Hai Thìn bị “đánh tư sản” — nhà cửa, tài sản bị tịch thu. Những người trong gia đình bị bắt đi “xây dựng vùng kinh tế mới.”
Ông Hai Thìn trốn vào Chợ Lớn, theo một gia đình người Hoa vượt biên theo diện bán chính thức — đến Hoa Kỳ năm 1979.
Nhờ biết cách làm ăn kinh doanh trên một đất nước có nhiều cơ hội, ông Hai Thìn thành công và trở nên giàu có nhanh chóng — năm bốn mươi lăm tuổi đã là một triệu phú.
Vợ ông qua đời khi ông bước vào tuổi 75. Ông hụt hẫng! Các con của ông thương cha già và có lòng hiếu thảo, muốn ông ở cùng với con cháu để được phụng dưỡng chu đáo và bớt cô đơn. Nhưng ông Hai Thìn không ở chung với đứa con nào. Ông xin vào nhà dưỡng lão để không gây phiền hà cho con cháu.
Đây là một nhà dưỡng lão hạng sang bậc nhất ở vùng biển Florida. Chỉ giới thượng lưu giàu có mới vào được nơi này - mỗi tháng phải trả đến mười ngàn đô la - cho nên nhà dưỡng lão có một hệ thống chăm sóc sức khỏe hết mức và có trách nhiệm rõ ràng. Họ bảo đảm: các cụ sẽ có một cuộc sống an toàn, tiện nghi và ổn định — từ bữa ăn, giấc ngủ đến việc theo dõi sức khỏe mỗi ngày.
Thế mà, một buổi sáng, ông Hai Thìn biến mất khỏi nhà dưỡng lão. Nhân viên của nhà dưỡng lão xôn xao tìm kiếm — không biết ông đi đâu và đang ở nơi nào.
Cả ban giám đốc, đến y tá, bồi phòng sốt vó đi tìm suốt cả buổi sáng nhưng không có kết quả. Cuối cùng, họ phải thông báo cho thân nhân của ông Hai Thìn và báo cáo với sở cảnh sát địa phương để nhờ tìm kiếm.
Chuyện ông Hai Thìn mất tích làm xôn xao dư luận. Các đài truyền thông, truyền hình thông báo tin tức. Các con ông thuê thám tử tư đi tìm, đồng thời đăng báo: “Ai tìm được tung tích ông Hai Thìn sẽ được thưởng hai trăm nghìn đô la.”
Người ta tìm đủ mọi cách, nhưng mọi nỗ lực tìm kiếm đều vô hiệu, như thể ông Hai Thìn đã tan trong không gian, không để lại dấu tích.
Người ta đồn đoán rằng có thể ông bị bọn “xã hội đen” bắt cóc để đòi tiền chuộc mạng hoặc là ông chán cảnh giàu sang, muốn tìm nơi thiền định (?)
Sự mất tích của ông Hai Thìn chẳng những làm cho con cháu ông lo lắng, đau buồn mà cộng đồng người Việt Nam ở đây cũng tỏ lòng thương tiếc, vì ông là một doanh nhân thành đạt, có tiếng tăm với tấm lòng nhân ái và hào sảng. Ông đã đóng góp công sức và tiền bạc trong việc phát triển cộng đồng.
Gần hai năm trôi qua, các con ông không ngừng ra công tìm kiếm người cha kính yêu với sự lo âu và thương nhớ.
Bỗng một buổi chiều, ông xuất hiện trước cửa nhà.
Ngỡ ngàn, xúc động, vui mừng như đang nằm mơ — người con trai cả đón ông vào nhà, rồi vội thông báo cho anh em, bà con biết:
“Ba đã về …”.
Chỉ hai giờ sau, con cháu, dâu rể và bà con thân thích có mặt đông đủ. Trông ông tiều tụy, mọi người ái ngại… Mặc dù có nhiều điều thắc mắc, nhưng chưa ai dám nêu câu hỏi. Cuối cùng, người con trai út ngồi cạnh, nắm tay cha, rưng rưng khẽ hỏi:
- Sao ba bỏ nhà dưỡng lão? Ba đã đi đâu, ở đâu và làm gì trong thời gian qua?
- Ba đi tìm “cái thú đau thương.”
Ôi! Đi tìm cái thú đau thương! Một câu trả lời mơ hồ như đùa cợt.
Nhưng lúc ấy ông Hai Thìn tỏ ra rất minh mẫn với thần thái ung dung, nên người con cả nêu tiếp câu hỏi:
-“Cái thú đau thương!” Nó như thế nào? Ba có tìm được không?
Ông nhìn các con trìu mến, rồi nói như một linh mục đang giảng đạo trong nhà thờ:
- Ngày trước, ba bận rộn với công việc, nghe người ta mô tả sự bất hạnh của những kẻ vô gia cư, ba chỉ gởi tiền cứu trợ. Khi vào nhà dưỡng lão, được người ta cung phụng hết mức, ba có cảm tưởng mình giống như một con chim quý nuôi trong lồng son, nên ba muốn được tự do và thử đi tìm “cái thú đau thương” của những kẻ vô gia cư. Thế là ba trốn khỏi nhà dưỡng lão, tìm đến với những người homeless (vô gia cư). Khi nhập bọn và sống cùng với họ, ta mới hiểu thấu cái trớ trêu của kiếp người trong cõi nhân gian - mỗi người có một cảnh ngộ, một số phận - có khi là: một lần mất việc, một cuộc ly hôn, một cơn bịnh không tiền chữa; đôi khi là do cái mỏi mệt của tâm hồn sinh ra trầm cảm, nghiện ngập, mất niềm tin vào chính mình. Và quan trọng là họ cảm thấy mình không còn thuộc về đâu nữa.
- Cũng có người không chấp nhận những gì mình hiện có, cố đi tìm những cái tuyệt đối như tự do tuyệt đối, sung sướng tuyệt đối, hay đau khổ tuyệt đối, như ba. Nhưng được sinh ra trên cõi đời này - có kẻ thông minh, người đần độn; có kẻ giàu sang, người cùng khổ…
Đó là điều tất yếu trong xã hội loài người. Nếu con người có mặt trên thế gian này đều giống nhau trên mọi phương diện thì chẳng khác gì đàn cừu trên đồng cỏ. Cho nên không có cái “tuyệt đối” trong xã hội loài người.
- Gần hai năm sống cảnh vô gia cư, ba ngộ ra một điều: hạnh phúc hay đau khổ là do cảm nhận của con tim và khối óc trong mỗi cá nhân. Nó không rơi rụng bên ngoài để ta góp nhặt.
- Cho nên, ba trở về với những gì mình hiện có, do số phận an bài.
Người thứ hai là ông Triệt.
Ông Triệt qua Mỹ năm 1991 theo diện HO. Mặc dù sống trên đất Mỹ mấy mươi năm, ông chưa hội nhập được vào nền văn hóa của Hoa Kỳ. Ông vẫn giữ nề nếp gia phong xứ Huế. Ông sống với hoài niệm oanh liệt của thời trai trẻ.
Mỗi lần con cháu đến thăm chơi — thằng cháu nội, đứa cháu ngoại — đưa tay ngoắc ngoắc, miệng cười toe toét, nói: “Hi!” Khi chúng đến. Lúc ra về, chúng vẫy tay: “Bye bye…” như các lãnh tụ chính trị vẫy tay chào dân chúng. Thấy bực trong lòng, nhưng ông chỉ mắng yêu: “Bố chúng mày - cứ hai với bai (Hi với Bye) - cái khoanh tay, thưa gởi biến đâu mất rồi?
Cha mẹ chúng nó chỉ cười trừ về cái khó tính của ông già.
Mỗi lần gia đình sum họp, con cháu ngồi nghe ông kể cái thời oanh liệt khi ông nắm chức vụ Tiểu đoàn trưởng Nhảy dù với bao chiến công lừng lẫy. Lần đầu nghe kể, các con ông thích thú lắng nghe và hãnh diện về người cha hào hùng của mình. Nhưng tội cho tuổi già hay quên - đã kể chuyện ấy mấy mươi lần rồi, khi gặp con cháu vẫn kể lại y chang. Con cháu không dám nói ra, phải chịu trận ngồi nghe những chuyện ông đã kể không biết bao nhiêu lần. Chúng nó nhìn nhau ngầm hiểu: “Biết rồi… khổ quá… nói mãi…”
Tôi nhớ một đoạn trong tiểu thuyết Số Đỏ: “Thằng bồi ngồi tiêm thuốc phiện cho cụ Hồng đã đếm đúng 1872 câu gắt của cụ: “biết rồi, khổ quá, nói mãi” trong thời gian gia đình tổ chức tang lễ cho cụ tổ (cha của cụ Hồng). Lúc ấy, người nhà ra vào - kẻ đề nghị thế này, người góp ý thế kia. Cụ Hồng không thêm vào, cũng chẳng bớt đi, chỉ nằm hút thuốc phiện và nói một câu duy nhất: “Biết rồi, khổ quá, nói mãi.”
Không biết con cháu của ông Triệt đã có bao nhiêu lần thì thầm với nhau: “biết rồi… khổ quá… nói mãi…” khi nghe người cha kể mãi câu chuyện hào hùng? Tôi cười thầm, tự hỏi.
Với ông Triệt thì có rất nhiều chuyện để kể. Ông là người khẳng khái, kiên định lập trường chính trị của một người quốc gia chân chính. Ông ôm trong lòng nỗi sầu mất nước và nuôi chí quang phục quê hương.
Mỗi khi gặp lại bạn bè cùng chí hướng, ông thường “lẩy” vài câu Kiều, hay ngâm vài câu thơ cổ để giãi bày tâm sự.
Để ôn lại quãng đời oanh liệt của người lính Dù, ông cất giọng:
Đường đường một đấng anh hào
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài
Giang hồ quen thói vẫy vùng
Gươm dài nửa gánh, non sông một chèo. (ND)
Rồi nhớ lại cuộc sống hào hùng ngày trước, ông cao giọng:
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai (ND).
Sau khi về hưu, các bạn già thường gặp nhau uống trà, nhấp rượu, tán gẫu chuyện đời và nhắc lại cái uất hận của ngày ba mươi tháng Tư.
Ông Triệt hồi tưởng mới ngày nào những người trai trẻ xông pha nơi chiến địa để bảo vệ quê hương, bây giờ ngồi đây với mái tóc điểm sương, nhưng trong lòng vẫn tha thiết với quê hương và đau lòng khi thấy dân ta sống dưới chế độ độc tài, bị cai trị bởi lớp người chẳng ra gì. Ông Triệt khẽ ngâm mấy câu thơ trong bài Cảm Hoài của Đặng Dung (1373-1414), một danh tướng cuối thời nhà Trần.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch / Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
Cụ Phan Kế Bính dịch:
Thù trả chưa xong, đầu đã bạc/ Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Đối với kẻ không ra gì mà có cơ hội lên cầm quyền, ông lại đọc thơ của Đặng Dung:
Thời lai đồ điếu thành công dị/ Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Cụ Phan Kế Bính dịch:
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ/ Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Khi nói đến những kẻ hợp tác với chính quyền cộng sản hay có ý muốn hòa giải hoà hợp, Ông “lẩy” mấy câu Kiều:
Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu,
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi…
Ông Triệt tỏ ra thất vọng về cái tật mau quên của những người từng chịu cảnh khổ nhục trong nhà tù Việt Cộng. Ông ngâm mấy câu trong bài thơ Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ, nghe não lòng không kém gì GS Trần Văn Khê đã ngâm bài thơ ấy vào Xuân Canh Dần 2010:
Gặm một mối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm…
Ông ngừng, nhấp ngụm trà, giải thích: “Cái lũ mắt bé mà ngạo mạn, ngẩn ngơ là mấy thằng quản giáo đấy.” Rồi ông ngâm tiếp:
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự…
Ông lại ngừng, giải thích: “Bọn gấu dở hơi là mấy đứa làm ăng-ten đấy, bọn vô tư lự là mấy đứa cúi đầu hầu hạ bọn cai tù.”
Rồi ông cúi xuống, nghẹn ngào:
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Hôm nay, qua mùa đông tuyết giá, mấy bạn già gặp nhau uống trà để vui đón cái ấm áp đầu mùa xuân. Bên ngoài, những cành hoa anh đào rực rỡ dưới ánh nắng vàng trong màu hổ phách. Buổi sáng đầu mùa như đang bừng lên sức sống. Lẽ ra là một cuộc chuyện trò vui vẻ, bỗng trở nên trầm mặc khi ông Triệt khơi lại những quá khứ đau buồn.
Ông Triệt nhận ra điều đó. Ông mở tủ lấy ra chai Cognac Rémy Martin, rót mời mọi người. Ông nâng ly mời khách.
Một ông bạn già thấy chuyện gì ông Triệt cũng “lẩy” Kiều “đá” thơ được, bèn hỏi:
- Có bài thơ nào mô tả cảnh thiên đàng hay địa ngục ở nước Mỹ này, ông ngâm cho anh em nghe chơi ?
Ông Triệt bóp trán suy nghĩ, rồi trả lời:
- Chưa bắt gặp bài thơ nào, nhưng tôi có thể nói: Nước Mỹ là thiên đàng — thiên đàng ở đây không phải là cơm áo gạo tiền mà là sự tự do. Con người được tự do bày tỏ những nhận định và suy nghĩ của mình mà không sợ bị “sờ gáy”.
Nâng ly, mời mọi người, ông nói tiếp:
- Thay vì tìm những vần thơ mô tả thiên đàng, địa ngục, tôi ngâm bài thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác (1881-1945)* để hầu quý cụ.
Giọng ông sang sảng vang lên:
Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cột, phù cương thường.
Hà tất tiêu dao bốn bể/luân lạc tha hương.
Trời Nam nghìn dặm thẳm/ Non nước một màu sương.
Chí chưa thành, danh chưa đạt.
Trai trẻ bao lâu mà đầu bạc
Trăm năm thân thế, bóng tà dương.
Vỗ gươm mà hát/ Nghiêng đầu mà hỏi.
Trời đất mang mang/ Ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta/ cạn một hồ trường….
……
Hồ trường! Hồ trường!
Ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn.
Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan.
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút, đá chạy cát dồn.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt,
Có người quá chén như điên như dại.
Nào ai tỉnh, nào ai say?
Chí ta ta biết, lòng ta ta hay.
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ,
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây!
Ông Triệt đặt ly rượu lên bàn, gục xuống. Đôi vai ông rung nhẹ.
Ông khóc!
Bây giờ sang ông già thứ ba - ông Thường.
Hình như cái tên Thường mà cha mẹ đặt cho ông có ảnh hưởng đến cuộc đời của ông. Ông đến Mỹ theo diện ODP vào năm 1992, do người em gái bảo lãnh và được định cư ở California.
Đến đất nước xa lạ này với vợ và hai con, ông lo sự sống hơn là suy nghĩ chuyện đời. Ông tìm được việc làm trong hãng điện tử; vợ ông giúp việc cho một tiệm bán thực phẩm Á Đông — lương không cao, nhưng ông cảm thấy như vậy là may mắn và đầy đủ.
Nhớ lại ngày nào, khi còn ở trong nước - mỗi ngày, ông đẩy chiếc xe ba gác chở mướn cát sạn cho người ta xây nhà - làm suốt ngày, nắng mưa cơ cực, tấm áo lúc nào cũng đẫm mồ hôi, mà chiều về chỉ đủ mua gạo, mắm, rau cho bữa cơm chiều cùng gia đình. Bây giờ ở Mỹ, ông làm trong hãng điện tử tám giờ mỗi ngày. Tiền tiêu dùng cho gia đình theo lối sống cần kiệm chỉ khoảng hai giờ tiền lương là đủ cho cuộc sống một ngày. Sáu giờ lương còn lại, ông để dành.
Nhờ vậy, ông Thường mua được xe hơi, bốn năm sau có đủ tiền đặt cọc mua nhà và nuôi hai đứa con ăn học thành tài. Nhà không lớn, xe không sang, nhưng đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống bình thường ở Mỹ.
Được như thế là ông mãn nguyện. Ông không mơ ước cuộc sống cao sang, cũng chẳng bon chen danh lợi.
Hai đứa con của ông tốt nghiệp đại học - thằng con trai ra kỹ sư điện toán, đứa con gái ra dược sĩ. Mặc dù lương khá cao, nhưng noi gương cha, chúng nó sống cuộc đời bình thường - không mê nhà lớn, xe sang, cũng chẳng đua đòi thời trang, hàng hiệu.
Năm sáu mươi lăm tuổi, ông Thường về hưu. Con cái đã lập gia đình, ra ở riêng. Vợ chồng ông vẫn ở căn nhà cũ, vui sống tuổi già.
Ông bà Thường có thu nhập thấp nên đủ điều kiện xin được Medi-Cal. Medi-Cal giúp chi trả tiền khám bệnh, thuốc men, nằm viện khi bị đau ốm… Nhờ vậy, ông bà an tâm, không phải lo cái bảo hiểm sức khỏe. Với số tiền trợ cấp mỗi tháng, đủ cho ông bà có cuộc sống ung dung thong thả, không phải nhờ con cái phụ giúp tài chánh.
Năm nay, ông Thường bước vào tuổi tám mươi, nhưng vẫn còn mạnh khỏe. Ông thích trồng cây kiểng và cây ăn trái trong khu vườn nhỏ sau nhà; bà vợ thích trồng cây ớt, cây cà và chăm bón vạt rau thơm. Đó là cái thú vui của tuổi già.
Ông bà Thường rất hiếu khách. Mỗi khi các bạn già đến thăm chơi, ông bà rất vui. Người đời thường nói: “giàu nhờ bạn, sang nhờ vợ”.
Ông Thường được cái “sang nhờ vợ”. Bà Thường biết chiều chồng lại khéo nấu ăn. Mỗi lần bạn bè của ông đến chơi, bà rất vui vẻ, niềm nở… nấu những món ăn ngon đãi khách.
Nhân dịp ông Thường qua tuổi tám mươi, các cụ rủ nhau đến nhà ông ấy để chúc mừng tuổi thọ. Hôm nay, tinh thần của các cụ đều hưng phấn. Một bạn già đề nghị ra sau vườn ngồi uống trà để hưởng cái nắng ấm đầu mùa xuân hơn là ở trong nhà. Ông Thường chiều ý khách, đem khay trà, bình cà phê đặt trên chiếc bàn đá kê dưới gốc cây khế. Mọi người ngồi uống trà, nhâm nhi cà phê, chúc tụng nhau, chứ không bàn luận chuyện thời sự hay chính trị gây tranh cãi như những lần họp mặt trước đây.
Qua tuần trà, cà phê… bà Thường đem những đĩa mì xào giòn, bò tái chanh…thơm phức…mời khách. Ông Thường khui chai rượu vang đỏ, rót ra, mời các bạn già nâng ly - chúc mừng tuổi thọ.
Khì khà vài ly rượu, các cụ thấy lâng lâng…
Nhìn quanh khu vườn với những cây mãng cầu, cây khế, cây bưởi, cây cam sai trái; những chậu kiểng hoa cúc, hoa hồng khoe sắc; bên kia là luống rau thơm xanh mượt; rồi tiếng nước róc rách phát ra từ hòn non bộ ở góc vườn làm một ông bạn già ngây ngất với cảnh vật chung quanh, ông đặt một câu hỏi bâng quơ:
- Không biết trên thiên đàng có được cái cảnh như thế này không?
Một câu hỏi bâng quơ nhưng sau đó gây nhiều tranh luận.
Một ông bạn già khác trả lời:
- Sau khi chết, có ai trở lại trần gian kể cho ta nghe cảnh thiên đàng hay địa ngục như thế nào đâu? Toàn là do con người tưởng tượng vẽ vời ra cả.
- Vậy mà tôi thấy trên các cáo phó, chia buồn , bao giờ người ta cũng có lời cầu xin cho linh hồn người quá cố sớm được vào cõi Thiên đàng hay Niết bàn. Một ông già có ý phản bác.
Một ông khác thêm vào:
- Nếu Thiên Chúa lòng lành và Đức Phật từ bi mở lòng thương xót chấp nhận lời cầu xin của người trần thế, thì thiên đàng chật chỗ mà địa ngục chẳng có ai.
Ông già ngồi cạnh chen vào:
- Ông nghĩ thế là sai rồi, có người muốn vào địa ngục đấy. Tôi kể các ông một chuyện, nghe như tiếu lâm mà có thật: Khi chúng tôi vào trại “tập trung cải tạo” ở Suối Máu - Biên Hòa, do bọn bộ đội quản lý nên dễ thở hơn bọn công an. Sau bữa cơm chiều, chúng tôi được đi dạo lòng vòng quanh doanh trại hay ngồi tán gẫu với nhau đến chín giờ mới vào lán ngủ. Các anh lính trẻ thích ngồi nghe các ông linh mục kể chuyện đạo, chuyện đời. Các cha thường kể chuyện rất hấp dẫn. Một hôm cha K. nói về thiên đàng, địa ngục.
Vừa hết chuyện, một anh ngoéo tay cha K, nói: “Cha ơi! Khi chết, cha đừng xin lên thiên đàng, hãy xuống địa ngục với chúng con vui hơn - ở dưới đó có thịt chó, có nhảy đầm và mọi thứ linh tinh”.
Cha K. cười, không có lời phản bác.
Câu chuyện chấm dứt, các cụ nâng ly, cười thoải mái…
Bấy giờ, một ông đặt lại vấn đề:
- Hiện nay có một số người bảo rằng: “Hoa Kỳ là thiên đàng hạ giới mà cũng là địa ngục trần gian.” Quý ông nghĩ sao về ý tưởng này?
Ông Thường phát biểu:
- Hạnh phúc nơi thiên đàng hay nhục hình ở địa ngục là do con người tưởng tượng ra. Rồi cũng chính con người kéo cái thiên đàng xuống, lôi cái địa ngục lên, chụp cho cái mũ phàm trần. Cho nên, khi thấy sự cơ hàn của kẻ vô gia cư thì bảo: Hoa Kỳ là địa ngục; khi thấy cảnh phồn thịnh, tự do thì cho Hoa Kỳ là thiên đàng. Thực chất Hoa Kỳ chẳng phải thiên đàng, mà cũng không phải là địa ngục.
Đây là vùng đất hứa dành cho những kẻ khốn cùng đã mang trong người dòng máu bất khuất, phiêu lưu, mạo hiểm. Họ đến đây để tìm hay tạo nên cơ hội để xây dựng cơ đồ. Nó không có chỗ cho những kẻ thiếu ý chí và lười biếng dung thân.
Ông kết luận: Tôi cho rằng vấn đề chỉ đơn giản như thế.
( Tháng 4- 2026)
* Khi phong trào Đông du thất bại ở Nhật Bản, ông Nguyễn Bá Trác, lưu lạc sang Tàu, viết bài thơ này bằng chữ Hán. Sau đó, chính tác giả dịch ra chữ Nôm, đăng trên Tạp chí Nam Phong, số 41, vào đầu năm 1920.
Lê Đức Luận


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét