Thứ Tư, 20 tháng 5, 2026

Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du - Tập 3: Bắc Hành Tạp Lục



THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU - TẬP 3: BẮC HÀNH TẠP LỤC - BÀI 32, 33 VÀ 34
Thầy Dương Anh Sơn

THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU - TẬP 3 : BẮC HÀNH TẠP LỤC

Bài 32

TAM LIỆT MIẾU                                                                      三烈廟

Thái nữ sinh sồ Trác nữ bôn,                                                     蔡女生雛卓女奔,
Lạc hoa phi nhứ bất thăng ngôn.                                                落花飛絮不勝言。
Thiên thu bi kiệt hiển tam liệt,                                                   千秋碑碣顯三烈,
Vạn cổ cương thường thuộc nhất môn.                                      萬古綱常屬㇐門。
Địa hạ tương khan vô quí sắc,                                                    地下相看無愧色,
Giang biên hà xứ điếu trinh hồn?                                               江邊何處吊貞魂。
Thanh thời đa thiểu tu như kích,                                                清時多少鬚如戟,
Thuyết hiếu đàm trung các tự tôn!                                             說孝談忠各自尊。

Dịch nghĩa:

Cô gái họ Thái sinh con nhỏ, còn cô họ Trác (bỏ nhà) chạy theo trai! – Chuyện hoa rụng ,tơ bay nói ra không thể hết lời! – Ngàn thu tấm bia khắc ba người (phụ nữ) khí tiết trung liệt vẻ vang sáng ngời! – Giềng mối “cương thường” từ ngàn xưa thuộc về một cửa! (c.1-4)
Dưới đất kia, (ba người)nhìn nhau chẳng hổ thẹn! – Bên bờ sông, chốn nào là nơi của những hương hồn trinh phụ ấy (để ta) để viếng? – Thuở thanh bình, không ít người để râu như cái mác vểnh lên, - Bàn luận về đạo hiếu, đạo trung đều cho mình là hơn người!(c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

MIẾU THỜ BA NGƯỜI TRUNG LIỆT.

Trác theo trai, Thái sinh con,
Tơ bay, hoa rụng nói không hết lời !
Ngàn thu bia sáng ba người,
Cương thường muôn thuở về nơi một nhà.
Nhìn nhau chẳng thẹn dưới kia,
Bên sông viếng chốn nào là hồn trinh?!
Bao người râu mác thời bình,
“Hiếu trung” bàn chuyện cho mình là hơn!

Chú thích:

- Tam liệt miếu 三烈廟: miếu thờ ba người thân của Lưu Thời Cửu đời Chính Đức nhà Minh (1506-1521) gồm Trương thị là vợ chính, người thiếp là Quách thị và con gái là Lưu thị đã nhảy xuống sông tự vẫn quyết không chịu nhục khi gặp bọn cướp đã giết chồng và cha khi đang trên đường đi nhậm chức.
Năm Gia Tĩnh, nhà Minh đã truyền cho lập miếu thờ ba người phụ nữ cùng một nhà trung liệt này.
- liệt 烈: người trung trực, giàu nghĩa khí sẵn sàng coi nhẹ cái chết, hy sinh cho lý tưởng hay giữ tròn khí tiết ,danh dự ; nghĩa khác : lửa sáng mạnh mẽ, dư thừa, rơi rớt, dữ dội....
- Thái nữ 蔡女: tức Thái Diễm tự là Văn Cơ, con gái của Thái Ung, là bạn thân của Tào Tháo thời Đông Hán, Trung Hoa. Lúc Hung Nô từ phía bắc tràn xuống cướp phá, Văn Cơ bị bắt đem về đất Hung Nô bắt lấy chồng giặc sinh ra hai người con trải qua 12 năm. Về sau nhờ Tào Tháo đem vàng bạc châu báu sai sứ sang chuộc về. Văn Cơ có làm tập thơ “Bi Phẫn Thi” để gửi gắm tâm sự uất hận của nàng.
- sinh sồ 生雛: sồ: non, trẻ con, chim non, con nhỏ...; sinh sồ: sanh con nhỏ...
- Trác nữ 卓女: chỉ Trác Văn Quân 卓文君 vẫn thường được đề cập nhiều trong thơ văn Trung Hoa. Văn Quân là người con gái góa chồng của Trác Vương Tôn 卓王孫 giàu có đời Hán, Trung Hoa. Tư Mã Tương Như 司馬相如 là một nhà thơ và nhà soạn nhạc có tài lại đẹp trai đến dự tiệc tại nhà họ Trác. Khi thấy Trác Văn Quân xinh đẹp, Tương Như bèn gảy khúc “Phượng cầu hoàng 鳳求凰” quyến rũ khiến Trác Văn Quân bỏ nhà đi theo Tư Mã Tương Như. Thơ văn
Trung Hoa thường lấy chuyện này để chê bai hành động coi nhẹ lễ giáo của Trác Văn Quân.
- bôn 奔: bỏ đi, bỏ chạy, chạy vội, cưới hỏi không đủ lễ, bỏ theo trai....
- bất thăng ngôn 不勝言: nói không hết lời...
- kiệt 碣: hòn đá đứng một mình, bia đá , cột đá làm mốc, bia đá có đỉnh tròn...
- hiển 顯: sáng tỏ, vẻ vang, hiển đạt, bày tỏ, hiển hiện...
- khan vô quí sắc 看無愧色: nhìn chẳng thấy sự hổ thẹn nơi sắc mặt...
- tu như kích 鬚如戟: râu tựa như lưỡi mác. Câu chuyện về Chử Ngạn Hồi trong sách Nam Tử có câu: ”... Râu ông cứng như mác sao lại không có chí khỉ của kẻ trượng phu”. Câu nói này dùng để chỉ những kẻ “tốt mã” nhưng lại “vô tài”...
- tự tôn 自尊: cho mình là hơn người....

Bài 33

ĐỀ VI LƯU TẬP HẬU                                                              題韋盧集後

Thi nhân bất đắc kiến,                                                                詩人不得見,
Kiến thi như kiến nhân.                                                              見詩如見人。
Đại sơn hưng bảo tạng,                                                              大山興寶藏,
Độc hạc xuất phong trần.                                                           獨鶴出風塵。
Châm giới dị tương cảm,                                                           針芥易相感,
Việt Hồ nan tự thân.                                                                   越胡難似親。
Tam Đường thiên tải hậu,                                                           三唐千載後,
Tịch mịch cửu vô văn.                                                               寂寞久無聞。

Dịch nghĩa:

Các nhà thơ (họ Vi ,họ Lư) không còn trông thấy được nữa ! – Song đọc thơ của các ông như đã thấy người (làm thơ). – (Thơ của hai ông) như ngọn núi to lớn làm nên kho chứa vật quí báu, - (Hai ông là)
những con chim hạc lẻ loi đã đi ra chốn bụi bặm trần gian. (c.1-4) Nam châm và hạt cải là những vật dễ bị cuốn hút nhau, - (Còn tôi với hai ông) người ở đất Việt,kẻ đất Hồ khó gần gũi được! – Một ngàn năm sau của thời Tam Đường, - Đã vắng lặng rồi, từ lâu không nghe thấy nữa! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

ĐỀ PHÍA SAU TẬP THƠ CỦA VI, LƯ.

Nhà thơ không thấy được rồi,
Thấy thơ như thấy con người đâu đây!
Núi to vật quí chứa bày,
Thoát ra gió bụi, riêng bay hạc trời.
Cảm nhau “châm cải” dễ thôi,
Thân nhau Hồ Việt xa xôi khó nào!
Ba đời Đường, mãi ngàn sau,
Không nghe gì nữa, từ lâu vắng người.

Chú thích:

- Vi 韋: tức nhà thơ Vi Ứng Vật (khoảng 735-832) đời Đường Huyền
Tông ,Trung Hoa. Ông chịu ảnh hưởng tư tưởng ẩn dật, thoát trần của nhà thơ Đào Tiềm và Vương Duy. Ông làm đến chức Thiếu khanh kiêm Ngự sử trung thừa, để lại tập thơ gồm 10 cuốn.
- Lư 盧: thời Sơ Đường bên Trung Hoa có hai nhà thơ họ Lư là Lư Chiếu Lân (641-680) và Lư Đồng (có khi đọc là Lô). Có lẽ Nguyễn Du đề cập đến Lư Chiếu Lân được xếp vào “Tứ Kiệt” đời Đường.
- hưng 興: làm nên, dậy nên, dâng lên, hưng thịnh, đề cử lên...
- bảo tạng 寶藏: âm của “tàng” có nghĩa là kho chứa, kho cất giữ đồ quí báu hay chỉ kinh tạng nhà Phật...
- châm giới 針芥: châm hay còn gọi là nam châm có thể hút được các chất sắt. Còn để chỉ kim châm cứu hay kim may áo; giới là hạt cải nhỏ khiến ngọc hổ phách có thể hút dính.... Châm và cải chỉ những người tính tình hợp nhau dễ kết thành bạn bè....
- tương cảm 相感: có tình cảm cùng nhau, có mối liên quan tình cảm hay gắn bó với nhau....
- Việt Hồ 越胡: đất Việt ở phía nam còn đất của người Hồ ở phía bắc Trung Hoa. Đây dùng để chỉ sự xa cách vời vợi, khó gần nhau....
- Tam Đường 三唐: văn học Trung Hoa chia đời Đường làm ba thời kỳ: Sơ Đường (618-712), Thịnh Đường (713-824) và Vãn Đường (825-927).

Bài 34

QUÁ THIÊN BÌNH                                                                   過天平

Phân Thuỷ sơn tiền nhị thuỷ phân,                                            分水山前二水分,
Thiên Bình thuỷ diện tự lân tuân.                                              天平水面似磷峋。
Nhất bôi không điện lâm giang miếu,                                        ㇐杯空奠臨江廟,
Thiên cổ thuỳ vi thế thạch nhân.                                                千古誰為砌石人。
Bán lĩnh khê tuyền giai nhập Sở,                                               半嶺溪泉皆入楚,
Mãn châu bi kiệt dĩ phi Tần.                                                      滿洲碑碣已非秦。
Chu nhân tranh chỉ gia hương cận,                                            舟人爭指家鄉近,
Não sát thù phương lão sứ thần.                                                 惱殺殊方老使臣。

Dịch nghĩa:

Trước núi Phân Thủy dòng sông rẽ làm hai nẻo, - Mặt sông Thiên Bình nhấp nhô tựa như những hòn đá lởm chởm. – Một chén rượu suông dâng cúng khi qua ngôi miếu ven sông, - Ai là người ngàn năm trước đã xếp đá chồng lên nhau (để làm ngôi miếu)? (c.1-4)
Nửa bên triền núi, khe nước và con suối đều chảy vào đất Sở, - Khắp
các cồn bãi có những tấm bia đá (ghi dấu) đã ngoài đất Tần. – Những người đi thuyền tranh nhau chỉ trỏ quê nhà đã tới gần, - (Làm cho) lão sứ thần của phương trời khác buồn não nề chết đi được! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

QUA SÔNG THIÊN BÌNH.

Trước non Phân Thủy chia sông,
Thiên Bình mặt nước gợn vờn nhấp nhô.
Rượu suông cúng miếu bên bờ,
Ngàn xưa ai đã xếp cho đá chồng?
Suối khe vào Sở nửa non,
Bia giăng khắp các bãi sông ngoài Tần.
Người thuyền tranh chỉ quê gần,
Não nề chết lão sứ thần phương xa.

Chú thích:

- Thiên Bình 天平: tên của một trong hai con sông chảy trước núi Phân Thủy 分水山 là một ngọn núi nhỏ ở huyện Nam Chiếu, Hồ Nam, Trung Hoa.
- tự lân tuân 似磷峋: tựa như núi nhọn nhấp nhô lởm chởm...
- không 空: trống rỗng, vắng vẻ, không có gì... Đây chỉ chén rượu suông dâng cúng thần miếu không có lễ vật nào khác...
- điện 奠: lễ vật dâng cúng, lễ vật cúng tế...
- lâm 臨: đến, soi xuống, soi xét, đoái hoài... Đây chỉ thuyền đang đi đến ngôi miếu ven sông (lâm giang)...
- thế (xế) thạch 砌石: đá được sắp xếp chồng chất lên nhau. Đây chỉ việc xếp đá để xây ngôi miếu từ ngàn xưa...
- mãn châu 滿洲: khắp nơi các cồn bãi gần sông nước...
- bi kiệt 碑碣: xem C.T bài 33 trên (Tam LIệt Miếu).
- tranh chỉ 爭指: tranh nhau lấy ngón tay chỉ trỏ...
- não sát 惱殺: buồn bực áo não (não) có thể chết đi được (sát), buồn đứt ruột, buồn não nề...
- thù phương 殊方: ở một phương trời khác biệt....

Saigon 2003, Dương Anh Sơn
(Lần đến : BẮC HÀNH TẠP LỤC của Nguyễn Du -
Bài 35, 36 và 37)
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét