THƠ TÔ ĐÔNG PHA - BÀI 60, 61 VÀ 62
Thầy Dương Anh Sơn
THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA
Bài 60
ĐỀ THẨM QUÂN CẦM 題沈君琴
Nhược ngôn cầm thượng hữu cầm thanh, 若言琴上有琴聲,
Phóng tại hạp trung hà bất minh? 放在匣中何不鳴?
Nhược ngôn thanh tại chỉ đầu thượng, 若言聲在指頭上,
Hà bất ư quân chỉ thượng thính? 何不於君指上聽?
Dịch nghĩa:
Nếu nói rằng tiếng đàn vốn có trên cây đàn, - Khi đặt để ở trong hộp vì sao lại không phát tiếng kêu? – Nếu nói rằng tiếng đàn ở trên đầu ngón tay, - Sao không nghe ở trên đầu ngón tay của ông vào lúc này?
Tạm chuyển lục bát:
ĐỀ THƠ CÂY ĐÀN ÔNG HỌ THẨM.
Nói rằng tiếng có trên đàn,
Sao trong hộp đặt không vang tiếng rày?
Nói rằng tiếng ở ngón tay,
Chẳng nghe đầu ngón lúc này của ông.
Chú thích:
** Đây là một trong những bài thơ nổi tiếng của Tô Đông Pha (1037-1101) khi bàn về âm thanh của cây đàn cầm mang nhiều tư tưởng Thiền học sâu xa cũng như mối tương quan của vạn vật. Như chúng ta đã biết , suốt đời nhà Đường cho đến đời nhà Tống bên Trung Hoa từ thế kỷ thứ 7 cho đến thế kỷ 13 có tám văn hào lớn (bát đại gia) là Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên (đời Đường), Âu Dương tu, Vương An Thạch, Tăng Củng và ba cha con họ Tô hay còn gọi là “Tam Tô” là Tô Tuân (cha), Tô Thức (Tô Đông Pha) và Tô Triệt (em Tô Thức). Tô Đông Pha ngoài tài năng về thơ ca, từ phú, hội họa, âm nhạc...v.v... còn là một người am tường đạo Phật, nhất là tư tưởng Thiền tông cùng với tưtưởng của đạo Nho và đạo Lão. Chính vì thế, khi bàn luận thơ ca, chúng ta vẫn thấy ôngđem sự thấu ngộ về Thiền để đưa ra những “công án” khiến người đọc phải suy nghĩ và đi tìm câu trả lời đích đáng theo tinh thần Thiền học của các chư tổ.Ngoài bài thơ giàu chất Thiền này và phong thái ung dung của Đạo gia, Tô Đông Pha còn có nhiều bài thơ sâu lắng và mang cốt cách của ông dầu phải trải qua nhiều bước thăng trầm sóng gió ở chốn lưu đày. Chúng ta có thể kể đến các bài thơ: Lô Sơn 廬山 (Bài 41), Lư Xuân Trung Cảnh 錄春中景, Định Phong Ba 定風波, Quán Triều 觀潮, Tây Lâm Bích Đề 題西林壁 (Bài 42), Hàm Tử Do Miên Trì Hoài Cựu 和子由澠池懷舊, Xích Bích Phú 赤壁賦...v.v... đã ít nhiều cho thấy Đông Pha đã thấu đạt lẽ nhân sinh giữa cuộc đời phong trần này, vừa mang phong cách ung dung, tiêu dao, thoát tục của Đạo gia lại vừa thấu lẽ vô thường của đạo Phật. Chúng ta sẽ thấy điều đó trong bài thơ sau đây.
- Câu 1: Nhược ngôn cầm thượng hữu cầm thanh, 若言琴上有琴聲: nhà thơ đã nêu lên một giả thuyết là nếu âm thanh đã sẵn có trong cây đàn.
- Câu 2: Phóng tại hạp trung hà bất minh? 放在匣中何不鳴?: vậy khi đặt trong chiếc hộp sao lại không phát ra tiếng kêu?? Nhà thơ đã phủ nhận bản thân cây đàn không thể nào tự mình phát ra được âm thanh.
- Câu 3: Nhược ngôn thanh tại chỉ đầu thượng, 若言聲在指頭上: nhà thơ lại đưa ra giả thuyết nếu tiếng đàn ở trên đầu ngón tay gảy đàn để rồi nhà thơ trả lời trong câu 4.
- Câu 4: Hà bất ư quân chỉ thượng thính? 何不於君指上聽?: nhà thơ trả lời: sao lại không nghe trên đầu ngón tay của ông ấy?
Âm thanh không tồn tại nơi cây đàn cũng không ở đầu ngón tay gảy đàn mà ở sự kết nối của các “duyên khởi”. Nhờ có “nhân duyên” hòa hợp và tương tác với nhau mới tạo ra tiếng đàn! Nghĩa là phải có cây đàn tốt, phải có người gảy đàn thành thạo mới tạo được bài ca hay. Đó là tinh thần của triết học Thiền tông của đạo Phật khi bước sang đất Trung Hoa giàu tinh thần thơ ca thi vị. Đồng thời, bài thơ ngắn này cũng cho thấy một lối lập luận rất đơn sơ để đưa người đọc phải suy nghĩ về tương quan vạn vật, tương quan cuộc sống...v.v...: Câu 1 đưa ra ĐỀ Câu hai: PHẢN ĐỀ. Câu 3: ĐỀ Câu 4: PHẢN ĐỀ. Các cặp tương sinh này khiến cho người đọc buộc phải suy nghĩ để THẤY được ý định của nhà thơ. Đó cũng là cách trong Thiền tông gọi là “công án” giúp tìm ra chân lý hay giác ngộ. Đồng thời, lối lập luận này mang tinh thần “phá chấp” trong đạo Phật......
- nhược 若: nếu, như thế ấy, giống như, thuận theo, giả sử, hoặc là, mày, ngươi...
- phóng 放: buông thả, vứt bỏ, đặt để, phát ra, mở ra, phóng to....
- minh 鳴: cái gì phát ra tiếng kêu gọi là minh; tiếng chim hót, tiếng tăm, kêu, gáy, hót, rống, hú, phát lộ, bày tỏ....
- ư 於: ở, vào lúc, và, với, bị, do, hơn, đến, nhớ, cho, đối với....
- quân 君: cách xưng hô trân trọng trong mối giao tình. Ở đây “Thẩm quân”- một nhân vật là bạn bè thân tình của Tô Thức không được rõ về lai lịch nhưng giỏi chơi đàn cầm; nghĩa khác: vua, người chủ, cha mẹ, vợ, bạn thân...v.v...
Bài 61
ĐỊNH PHONG BA 定風波
Tam nguyệt thất nhật Sa Hồ đạo trung ngộ vũ 三月七日沙湖道中遇雨
Mạc thính xuyên lâm đả diệp thanh, 莫聽穿林打葉聲,
Hà phương ngâm khiếu thả từ hành. 何妨吟嘯且徐行。
Trúc trượng mang hài khinh thắng mã, 竹杖芒鞋輕勝馬,
Thùy phạ? 誰怕?
Nhất thoa yên vũ nhậm bình sinh. 一蓑煙雨任平生。
Liệu tiễu xuân phong xuy tửu tỉnh, 料峭春風吹酒醒,
Vi lãnh, 微冷,
Sơn đầu tà chiếu khước tương nghinh. 山頭斜照卻相迎。
Hồi thủ hướng lai tiêu sắt xứ, 回首向來蕭瑟處,
Quy khứ, 歸去,
Dã vô phong vũ dã vô tình. 也無風雨也無晴。
Dịch nghĩa:
Ngày thứ bảy tháng ba, giữa đường đi Sa Hồ gặp mưa. Chớ nghe tiếng (mưa rơi) xuyên rừng vỗ đập trên lá, - Sao ngại ngâm hò, từ từ sắp đi đến rồi? – Gậy trúc, dép cỏ nhẹ nhàng còn hơn (cưỡi) ngựa! – Sợ gì nào!? – Một cái áo tơi (giữa) cơn mưa và khói tỏa mặc cho cả cuộc đời này! (c.1-5)
Cơn gió mùa xuân thổi se lạnh làm tỉnh men rượu! – Hơi lạnh nhè nhẹ, - Trên núi, ánh chiều tà lại như đón tiếp nhau! - Quay đầu lại, hướng về chốn vắng vẻ tiêu điều, - Trở về thôi! – Vậy là không có gió mưa, cũng không có trời tạnh ráo! (c.6-11)
Tạm chuyển lục bát (còn 8 câu):
AN ĐỊNH GIỮA SÓNG GIÓ.
Xuyên rừng vỗ lá chớ nghe!
Ngâm nga sao ngại, sắp đi đến rồi.
Gậy, giày: hơn ngựa nhẹ vời,
Áo tơi: mưa khói mặc đời sợ chi!
Gió xuân tỉnh rượu lạnh se!
Trên non,chiếu ánh chiều về đón nhau!
Quay đầu chốn vắng hướng vào,
Về thôi, trời tạnh gió nào, mưa đâu?
Chú thích:
** Đây là một bài thuộc thể “Từ 詞” nổi tiếng của Tô Đông Pha. Thể “từ” là một thể văn vần đặc biệt, phát triển rực rỡ vào đời nhà Tống bên Trung Hoa nên được gọi là “Tống Từ 宋詞”. Nếu thơ Đường hay là “Đường Thi 唐詩” là đỉnh cao của thơ ca thời Đường, “Tống Từ” lại cực thịnh vào đời nhà Tống. Ban đầu,”từ” là lời ca theo điệu nhạc dân gian vùng Tây Vực cũng như trong dân gian của người Hán, người ta gọi nó là “khúc tử từ 長短句” hay “trường đoản cú 長短句” do câu từ dài ngắn không đều. Đến cuối đời Đường, các văn nhân bắt đầu sử dụng và đến đời Tống trở thành một thể văn học bác học. Do bài “Từ” viết câu dài ngắn không đều vì đi theo điệu nhạc có sẵn gọi là “từ bài 詞牌”. Chẳng hạn bài “Niệm nô kiều”, ”Định phong ba”, ”Mãn giang hồng”...v.v... của Tô Đông Pha được viết theo
tên các điệu hát trong dân gian. Câu chữ của “Từ” dài ngắn khác nhau nhưng ngắt câu đã là thanh “bằng” thì thanh kế phải là thanh “trắc”. Nhưng nhiều khi linh động thay đổi như bài từ này với hai câu đầu kết câu với thanh “bằng” nối nhau chuyển qua hai câu kế lại hai thanh “trắc”... Đời Tống, thể “Từ” càng hoàn thiện chia làm ba nhóm: một là “Tiểu lệnh 小令” ngắn, có chừng 58 chữ, hai là “Trung điệu” có số câu chữ trung bình, ba là “Trường điệu 長調” dài có khi hơn 100 chữ. Ngoài ra, đời nhà Tống, ”Từ” hình thành hai khuynh hướng là “Uyển ước 婉約” (tinh tế, mềm mại, giàu cảm xúc..) và “”Hào phóng 豪放” (khoáng đạt nhưng mạnh mẽ và mang tinh thần triết lý). Nhìn chung ban đầu “từ” là “ca từ” để ca hát nên giàu nhạc tính lại uyển chuyển và mang nhiều cảm xúc tinh tế khoáng đạt và linh động,hào phóng hơn Đường luật. Về sau, âm điệu trong “từ” dần dần thất lạc chỉ chú ý văn tự. Từ của thời Tống đã lan truyền các nước lân cận như Nhật Bản, Việt Nam, Cao Ly nhất là ở thời trung đại......
Bài từ “Định phong ba” được Tô Thức sáng tác khi bị biếm chức đi Hoàng Châu. Khi đi ngang Sa Hồ gặp cơn mưa lớn.Người đi cùng ông lại cuống quýt tránh mưa, riêng ông vẫn chống gậy trúc, mang dép cỏ mà ung dung đi tiếp và cảm hứng làm ra bài từ này. Bài thơ vừa mang phong cách thiền của đạo Phật, vừa mang phong thái tiêu dao của đạo gia và lại mang nhân sinh quan của Nho giáo của một người từng trải luôn giữ vững khí chất và cốt cách nhà Nho....
- đả diệp 打葉: đây chỉ những hạt mưa tuôn đập hay vỗ xuống các cành lá của khu rừng nhà thơ đi ngang qua..
- phương 妨: ngại, trở ngại, ngăn trở, tổn hại...
- khiếu 嘯: kêu, gầm rú, thét gào, thở dài, huýt, hát nghêu ngao...
- thả 且: lại, vừa, mà lại, vả chăng, hãy thế, sắp, gần tới, hơn nữa...
- từ hành 徐行: đi thong thả, đi từ từ, đi chậm rãi....
- mang hài 芒鞋: mang: bẹ của cỏ gai rất dai lại sắc nhọn được kết lại để làm dép cỏ (hài)...
- thắng mã 勝馬: hơn hẳn đi bằng ngựa...
- thùy 誰怕: ai, gì, nào...
- phạ 怕: sợ hãi, khiếp sợ, ngại, có lẽ, há, nếu như...
- thoa 蓑: lấy cỏ tranh hay rạ khô bện lại làm tấm cuộn tròn đeo cổ để che mưa gọi là áo tơi
- nhậm 任: gánh vác, mặc cho, chịu đựng, dốc lòng, mang thai...
- bình sinh 平生: suốt đời, cả đời, một đời, giao tình cũ, lúc bình thường...
- liệu tiễu 料峭: se lạnh, lạnh nhè nhẹ nhưng thấm thía dùng để tả gió xuân...
- câu cuối cùng (câu 11)Dã vô phong vũ,dã vô tình 也無風雨也無晴: có thể xem là kết quả của “công án” thiền khi phủ nhận không có gió mưa và cũng không có trời tạnh nào đâu ?!.. Một khi đã “định tâm” thì mưa gió hay trời quang mây tạnh không còn là trở ngại để bản thân phải bận bịu. Con người sẽ chiến thắng hoàn cảnh, làm chủ bản thân mình). (Chữ “dã 也” đặt đầu câu hay giữa câu có nghĩa là: vậy, cũng. Nhưng đặt cuối câu mang tính cảm thán)
Bài 62
TÂY GIANG NGUYỆT 西江月
(KỲ NHẤT) (其一)
Thế sự nhất trường đại mộng, 世事㇐場大夢,
Nhân sinh kỷ độ thu lương. 人生几度秋涼。
Dạ lai phong dĩ minh lang, 夜來風已鳴廊,
Khán thủ my đầu mấn thượng. 看取眉頭鬢上。
Tửu tiện thường sầu khách thiểu, 酒賤常愁客少,
Nguyệt minh đa bị vân phương. 月明多被雲妨。
Trung thu thuỳ dữ cộng phong quang, 中秋誰與共風光,
Bả trản thê lương bắc vọng. 把盞凄涼北望。
Dịch nghĩa:
Chuyện đời là một giấc mộng lớn, - Đời người được mấy lần cảm thấy cái lạnh lẽo của mùa thu?! – Đêm đến, khuya gió đã kêu rít nơi mái hiên, - Hãy nhìn xem nơi đầu lông mày và mái tóc. (c1-4)
Rượu rẻ thường buồn sầu vì ít khách! – Trăng sáng thường bị mây che khuất! – Đêm trung thu, ai là người sẽ cùng thưởng thức cảnh đẹp trăng sáng? – Nâng chén rượu não nề nhìn về phương bắc.
Tạm chuyển lục bát:
TRĂNG Ở TÂY GIANG (Bài 1)
Chuyện đời: giấc mộng lớn thôi!
Mùa thu sầu não, đời người bao phen.
Gió đêm kêu hú mái hiên,
Đầu mày, mái tóc nhìn xem trên này!
Khách vơi, rượu rẻ buồn thay!
Sáng trăng thường bị đám mây che vùi.
Cùng trung thu đẹp ai người?!
Não nề phương bắc trông vời chén nâng!
Chú thích:
**Đây là một bài “từ” khác của Tô Đông Pha làm trong thời kỳ bị biếm trích rời kinh đô đi Hoàng Châu và nhiều vùng khác . Bài từ này họ Tô đã làm ở bên Tây Giang, một nhánh sông của Châu Giang chảy qua vùng Vân Nam, Quảng Tây rồi chảy ra biển phía đông Trung Hoa.
- Câu 1: Thế sự nhất trường đại mộng 世事㇐場大夢: Chuyện đời chỉ là một giấc mộng lớn: thời Đường Minh Hoàng của Trung Hoa trước kia, Lý Bạch trong bài “Xuân nhật túy khởi ngôn chí 春日醉起言志 “có hai câu mở đầu: ”Xử thế nhược đại mông,Hồ vi lao kỳ sinh 處世若大夢, 胡為勞其生?” nghĩa là: Ở đời như giấc mộng lớn, Cớ chi phải vất vả cho cuộc sống?. Trong bài từ này, Tô Đông Pha được nuôi dưỡng trong nguồn suối của Lão Trang và Thiền tông xem
cuộc đời như mộng huyễn. Với Trang Tử của đạo gia, cuộc đời như giấcmộng của hồ điệp, của loài bướm.Còn với đạo Phật các pháp trong đời đều như mộng huyễn (Nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn). Trong những bước đầu làm quan bị biếm chức đi Hoàng Châu,Tô Đông Pha càng thấm ngộ ý nghĩa của cuộc đời hơn bao giờ hết! Các việc xảy ra trong đời từ chính trị, danh lợi chỉ như tuồng ảo hóa của giấc mộng lớn!
- Câu 2: Nhân sinh kỷ độ thu lương 人生几度秋涼: Đời người được bao lần trải qua mùa thu lạnh lẽo?. Cuộc đời qua cách nhìn của Tô Thức quả ngắn ngủi (kỷ độ) và cảm giác cô đơn quạnh quẽ bàng hoàng trước chuyển biến của kiếp người và của thời gian trôi đi...
- Câu 3: Dạ lai phong dĩ minh lang 夜來風已鳴廊: Đêm đến gió đã kêu hú nơi mái hiên, nơi hành lang tạo nên âm thanh buồn bã hiu quạnh của mùa thu trong chốn lưu đày...
- Câu 4: Khán thủ mi đầu mấn thượng 看取眉頭鬢上: Hãy nhìn xem nơi đầu lông mày và mái tóc ở trên, soi mình để thấy tuổi tác đã thêm tóc đã bạc.
Nhà thơ đang đi qua mùa thu của cuộc đời, đang đi qua “giấc mộng lớn”!
- Câu 5: Tửu tiện thường sầu khách thiểu 酒賤常愁客少: Uống rượu loại rẻ mạt nên thường buồn sầu vì khách đã vơi, đã ít đi! Rượu rẻ tiền không quan trong nhưng nhà thơ thấy được khi làm quan, khi đương quyền nhiều khách lui tới với mình, giờ bị thất sủng đi đày nơi đất khách quê người uống chén rượu nhạt buồn cho tình đời đổi thay, khách khứa ít đi và xa cách kẻ đang bị lưu đày!
- Câu 6: Nguyệt minh đa bị vân phương 月明多被雲妨: Trăng sáng vẫn thường bị mây giăng che khuất. Câu này mang tính biểu tượng sâu sắc; Tô Đông Pha sống cuộc đời trong sáng, thanh cao không nặng nề theo đuổi danh lợi vẫn bị những kẻ đố kỵ xấu xa ghen ghét ví như đám mây che khuất vầng trăng....
- Câu 7: Trung thu thùy dữ cộng phong quang 中秋誰與共風光: Mùa trung thu ai là người sẽ cùng thưởng thức phong cảnh đẹp? Câu hỏi ấy bộc lộ nỗi cô đơn trong mùa thu cuộc đời trong chốn lưu đày, không còn ai là tri kỷ tri âm để cùng nhau thưởng thức cái đẹp của đêm trăng trung thu!
- Câu 8: Bả trản thê lương bắc vọng 把盞凄涼北望: Cầm chén nhỏ hướng về phía bắc, hướng về kinh đô với tâm trạng thê lương não nề vì xa cách người thân,vì cách chia bạn bè trong triều đình và cảm giác cô đơn buồn áo não của nhà thơ!
Bài thơ đã cho chúng ta thấy giai đoạn Tô Đông Pha phải biếm trích rời khỏi kinh đô trên bước đường lưu đày xa quê. Ông vốn thấm nhuần tư tưởng của đạo Phật và Lão Trang và xuất thân là một nho sĩ đậu đạt ra làm quan phải chấp nhận những va chạm những phiền toái trong cuộc sống đời thường hay chốn quan triều! Tâm trạng cuối bài thơ khi nhớ đến kinh đô, nhớ triều đình, gia đình và bè bạn...v.v... cũng mang dấu ấn của nhà nho, Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, nhờ tinh thần phóng khoáng của đạo gia, nhờ sự hiểu biết về thiền tông và nhờ cốt cách của một nhà nho chân chính ông vẫn vững vàng vượt qua nghịch cảnh với tinh thần lạc quan, không nhuốm nặng sầu khổ như Đỗ Phủ trước kia.....
- kỷ độ thu lương 几度秋涼: mấy khi ,mấy lúc trải qua (kỷ độ) mùa thu lạnh lẽo(thu lương)....
- minh lang 鳴廊: lang: mái hiên hay hành lang dài...; minh: tiêng kêu, tiếng hú vang, tiếng chim kêu...v.v.... đây chỉ tiếng gió đi qua mái hiên hay hành lang phát ra âm thanh vi vu hay kêu rú...
- mi đầu mấn thượng 眉頭鬢上: đầu lông mày và hai mái tóc hai bên ở trên đầu...
- tửu tiện 酒賤: loại rượu mua với giá rẻ mạt, rượu của người nghèo...
- khách thiểu 客少: khách khứa ghé chơi ít bớt (vì cái nghèo của gia chủ và cũng vì thân phận xa quê ở nơi biếm trích).
- đa 多: phó từ có nghĩa: thường thường, lắm khi, thường bị, phần nhiều...
- vân phương 雲妨: mây che phủ, mây ngăn trở (phương: che chắn, che lấp, ngăn trở...)
- phong quang 風光: cảnh sắc tươi đẹp (nghĩa giống như phong cảnh 風景)
- bả trản 把盞: (bả: cầm, mang, nâng, giữ, đem cho...; trản : cái chén nhỏ.)
Nâng cái chén nhỏ lên...
- thê lương 凄涼: hiu hắt, lạnh lùng, não nề, sầu buồn....
Dương Anh Sơn
(Lần đến: THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA – Bài 63, 64 và 65)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét