Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

Người Tị Nạn Và Việt Kiều

 


NGƯỜI TỊ NẠN VÀ VIỆT KIỀU
chisam44@yahoo.com

Sau năm 1975, người Việt Nam bỏ nước ra đi tị nạn đã bị Cộng sản gọi bằng những danh từ khác nhau. Những danh từ này mang những hậu ý chính trị gian xảo, do đó việc tìm hiểu ý nghĩa chính xác của chúng thật cần thiết để chúng ta sử dụng chính xác trong từng trường hợp.
Người tị nạn và sự lươn lẹo trong ngôn từ
Khi vào cưỡng chiếm đất miền Nam, cưỡng đoạt tài sản của người dân miền Nam, Cộng sản đã gọi tất cả dân chúng miền Nam là "bọn Mỹ Ngụy".
Đối với những người dân có cơ may vượt thoát được bằng những cuộc vượt biển, vượt biên để xin tị nạn ở các xứ sở tự do, Cộng sản đã dùng nhiều danh từ thô tục để điểm mặt người tị nạn.
Trước tiên, trong một hội nghị với các cán bộ tại Hà Nội năm 1975, Trần Phương – Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội – đã ví von một cách tục tĩu dân miền Nam là "những con điếm cho Mỹ làm tình để đổi lấy viện trợ".
Cùng trong tư tưởng dâm ô ấy, Lê Duẩn mạt sát những người di tản là "một bọn ma-cô, đĩ điếm", Phạm Văn Đồng chửi người ra đi là "bọn phản quốc", và các nhà báo, nhà văn Cộng sản, kể cả bọn "Cộng sản 30 tháng 4" cũng chửi hùa theo là "những đồ rác rưởi trôi dạt khắp năm châu bốn bể, cặn bã xã hội, lười lao động, chạy theo bơ thừa sữa cặn".
Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, còn hằn học hơn khi tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn năm 1993 tại Amsterdam: "Những người di tản đáng bị chặt đầu".
Nhưng chẳng bao lâu sau, Cộng sản hiện nguyên hình là một bọn gian manh. Năm 1990, khi Cộng sản bắt đầu nhận tiền của người tị nạn gửi về, "bọn đĩ điếm" ngày nào lập tức được họ "nâng cấp" lên thành "Việt kiều", và ân tình hơn, Đỗ Mười tuyên bố: "Việt kiều là những khúc ruột ở bên ngoài ngàn dặm của dân tộc".
Tưởng cũng cần hiểu rõ từ nguyên của chữ "Việt kiều" để thấy rõ thâm ý của Cộng sản. "Kiều" trong chữ Hán có nghĩa là ở nhờ, ở làng khác hay nước khác.
Từ này được dùng làm tính từ cho những danh từ như "kiều dân" (người sống ở ngoài lãnh thổ mà người đó được sinh ra), "kiều bào" (đồng bào ở nước ngoài).
Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, người Hoa sống ở Việt Nam được gọi là Hoa kiều, và chế độ Hà Nội gọi những người Việt sống ở nước ngoài mà ủng hộ họ là "Việt kiều yêu nước".
Người Việt bỏ xứ ra đi tị nạn không phải là Việt kiều hay kiều bào, vì những người này đã không chấp nhận chế độ Cộng sản, đã sinh cơ lập nghiệp vĩnh viễn trên một quốc gia khác và đã có quốc tịch của quốc gia sở tại.
Gọi người tị nạn là Việt kiều, Cộng sản có gian ý muốn "tóm thâu" khối chất xám này thành "con dân" của họ, đặt dưới quyền sinh sát của họ. Nghị định số 78/2009/NĐ ngày 22/09/2009 về Luật Quốc tịch xác định rõ quan niệm này: theo đó, bao giờ người mang quốc tịch Việt Nam chưa được chính phủ Việt Nam cho phép từ bỏ quốc tịch, thì người ấy vẫn còn quốc tịch Việt Nam, dù rằng họ đã có quốc tịch Mỹ, Canada, Úc…
Càng lộng ngôn và ngang ngược hơn, đối với con cháu của người Việt tị nạn, dù sinh ra và lớn lên tại các quốc gia mà ông cha họ đã định cư, Cộng sản vẫn xem những người này có quốc tịch Việt Nam nếu chưa làm đơn xin bỏ quốc tịch và chưa được chính phủ Việt Nam chấp thuận.
Về điểm này, chúng ta thấy rõ chính sách trơ tráo, đánh lận con đen của Cộng sản. Theo Điều 13, Khoản 2, Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2008: "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn có quốc tịch Việt Nam.
Sau 5 năm kể từ khi luật này có hiệu lực, kiều bào phải đến cơ quan đại diện của chính phủ Việt Nam tại nước ngoài để đăng ký xin giữ quốc tịch, nếu không, sau ngày 1/7/2014 sẽ mất quốc tịch".
Trái với dự tính, sau 5 năm chỉ có khoảng 6.000 người ghi tên xin giữ quốc tịch. Vì số người xin giữ quốc tịch quá ít, vào tháng 7/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký luật gia hạn cho người muốn giữ quốc tịch thêm 5 năm nữa, tức là kéo dài đến ngày 1/7/2019.
Ngôn từ của Cộng sản thật lươn lẹo, lật lọng. Cho đến ngày 1/7/2019, người Việt ở hải ngoại mặc nhiên vẫn còn quốc tịch Việt Nam và vẫn bị chi phối bởi Luật Quốc tịch Việt Nam được giải thích "rộng rãi" theo kiểu luật rừng.
Chính bà Ngô Bá Thành, một chuyên viên xách động xuống đường thời Việt Nam Cộng Hòa, người được Cộng sản phong chức Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, đã từng ví von: "Việt Nam có một rừng luật nhưng áp dụng luật rừng".
Cho đến đầu năm 2014, chính phủ Việt Nam vẫn khư khư giữ quan niệm "cha chú" này với người Việt tị nạn.
Trong bài huấn từ của Nguyễn Thanh Sơn – Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đặc trách Cục Người Việt nước ngoài – nhắn nhủ cho phái đoàn "Việt kiều yêu nước" về quê ăn Tết, ông đã nhắc lại lời của Thủ tướng Võ Văn Kiệt 20 năm trước như sau:
"Cộng đồng người Việt ra đi sau chiến tranh và định cư ở nước ngoài rất đặc thù, không giống các cộng đồng ngoại kiều khác. Những thuyền nhân ra đi đa số là vì mục tiêu kinh tế chứ không phải mục đích chính trị. Có một bộ phận những người ra đi sau cuộc chiến tranh mang theo tư tưởng hận thù của những người thua trận và được tuyên truyền rất nhiều điều ghê sợ không có thực về chủ nghĩa cộng sản...
Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đã khẳng định rõ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, tức là những người máu mủ ruột thịt thực sự, không phân biệt đó là thành phần nào, đó là ai".
Đối với những "Việt kiều yêu nước", Cộng sản muốn gọi tên gì thì cứ gọi, sai bảo điều gì thì cứ làm. Nhưng đối với người Việt tị nạn Cộng sản, họ không phải là Việt kiều, mà họ là người Mỹ, người Canada, người Pháp, người Úc, người Đức gốc Việt… Phải gọi chính danh như vậy và phải tôn trọng quyền chọn lựa của họ là không chấp nhận chế độ Cộng sản.

Chisam 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét