Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026

Nhân Kỷ Niệm Ngày Truyền Thống Năm Thứ 74 Trường Bộ Binh QLVNCH (1951-2025)

 


NHÂN KỶ NIỆM NGÀY TRUYỀN THỐNG NĂM THỨ 74 TRƯỜNG BỘ BINH QLVNCH (1951-2025)
Trần Xuân Thời

THAM LUẬN: 1

Nhân Kỷ Niệm ngày Truyền Thống năm thứ 74

Trường Bô Binh QLVNCH (1951-2025)

Quc phá thức trung thành, gia bn tri hiếu t

Quý Niên Trưởng, quý Chiến hữu 

Trước hết, tôi xin gửi lời chào mừng quý Niên trưởng, quý Chiến hữu đã không quản ngại đường sá xa xôi, nước non ngàn dặm ra đi, tham dự K niệm ngày Truyền Thống thứ 74 (1951-2025) của Cựu Sinh viên Sĩ Quan Trừ Bị Quân Lực Viêt Nam Cộng Hòa. 

Việt Nam vốn là môt quốc gia thống nhất từ Ải Nam Quan đền mũi Cà Mau. “Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào kiệt thời nào cũng có”. Sau khi Nhât đảo chánh quân Pháp ở Đông Dương, ngày 11 tháng 3 năm 1945, Hoàng Đế Bảo Đại đã tuyên Cáo Viêt Nam độc lâp, trong bản Tuyên ngôn có đoạn:

Chiếu tình hình thế giới nói chung và tình hình Á Châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay hiệp ước bảo hộ ký với Pháp được bãi bỏ và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia”.

Khâm thử,

Huế, ngày 27 tháng giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại

Hiệp ước Vịnh Hạ Long được ký kết vào ngày 5 tháng 6 năm 1948 Pháp quốc công nhận nền độc lập của Việt Nam.

1- Trường Sĩ Quan Trừ Bị

Năm 1949 Mao Trạch Đông chiếm Trung hoa. Hoa kỳ, với chính sách ngăn ngừa (US containment policy) sự bành trướng của Cộng Sản, bắt đầu can thiệp quân sự vào Việt Nam. Tổng thống Harry Truman viện trợ quân sự cho Viêt Nam để tăng cường quân lực.  Quốc Trưởng Bảo Đại ký Sắc Lệnh ngày 15 tháng 7 năm 1951, kêu gọi tổng động viên: Thanh niên tuổi từ 18 đến 28 đều phải nhập ngũ. Những người có bằng từ Cao đẳng Tiểu học (bằng Brevet hay Trung học đệ nhất cấp) trở lên có  đủ điều kiện nhập học khóa sĩ quan trừ bị. Viện trợ quân sự của Hoa Kỳ đã giúp ngân khoản cho chính phủ Viêt Nam: (1)-Di chuyển Trường Sĩ Quan tại Đập Đá Huế được thành lập năm 1948 lên Đà lạt với danh xưng mới Trường Võ Bị Liên Quân Đà lạt. (École Militaire Inter- Armes). (2)-Thành lập thêm hai Trường Sĩ Quan Trừ Bị (Écoles d’ Officiers de Reserve) tại Nam Định và Thủ Đức.

Khoá I Nam Định và Khóa I Thủ Đức được khai giảng vào ngày 1 tháng 10 năm 1951. Trường Nam Định chỉ huấn luyện được 1 khoá rôi ngưng hoạt động vì Viêt Minh đươc Trung cộng hỗ trợ mở chiến dịch Đông Xuân tại Miền Bắc. 

Trường Thủ Đức đào tạo được 5 khóa thì tạm ngưng huấn luyện năm vaò tháng 2 năm 1955, chiếu điều khoản giảm trừ binh bị của Hiệp Định Geneve ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 do Thực Dân Pháp và Công Sản ký kết, tự đông phân đôi Viêt Nam ra miền Nam Bắc trái với  ý chí của toàn dân, đã  vi phạm quyền dân tộc tự quyết (right to self-determination) của Quốc  Gia Viêt Nam do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo.

Trường Thủ Đức tái hoạt động vào tháng 2 năm 1957 từ khoá 6 và được cải danh thành Liên trường Võ khoa Thủ Đức. (Thu Duc Military Center) gồm thêm các Trường: Thiết giáp, Pháo binh, Công binh, Quân cụ, Truyền tin, Quân chính, Thông vận binh, Thể dục quân sự. Tháng 10 năm 1961, các trường chuyên môn được tách ra khỏi Liên trường Võ khoa Thủ Đức, ngoại trừ 3 Trường Bộ binh, Thiết giáp và Thể dục Quân sự. Ngày 1 tháng 8 năm 1963, Trường lấy lại danh hiệu cũ lúc ban đầu là Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Năm 1964, Trường lãnh thêm nhiệm vụ đào tạo các cán bộ Đại đội trưởng và Tiểu đoàn trưởng. Cũng kể từ năm này các tuyển sinh vào học sĩ quan trừ bị phải có văn bằng Tú tài 1 trở lên hoặc chứng chỉ tương đương.  Ngày 1 tháng 7 năm 1964 Trường được cải danh thành Trường Bộ Binh (Infantry School).

Trường đào tạo từ khóa 1 (1951) đến khóa 27 (1967) theo thứ tự từng năm nhưng khi chiến cuộc leo thang, nhu cầu đòi hỏi nhiều sĩ quan khiến số khóa tăng lên từ trên 2 khóa mỗi năm. Kể từ năm 1968 trở đi thì mỗi khóa được gọi là "1/68", "2/68", "1/69", "2/69"… 1/75.   Kể từ năm 1968 công việc đào tạo sĩ quan trừ bị của Trường Thủ Đức được bổ túc bởi  Trường Sĩ  Quan Đồng Đế ở Nha Trang.  Cuối năm 1973, Trường Bộ binh Thủ Đức được lệnh di chuyển về Huấn khu Long Thành. Đến giữa tháng 4 năm 1975 lại di chuyển về Thủ Đức. Đến 30 tháng 4 năm 1975, các Trường đào tạo Sĩ Quan Trừ bị QLVNCH ngưng hoạt động.

2- Tổng Hội

Sau gần ¼ thế k, Trường Sĩ Quan Trừ Bị đã đào tạo được khoảng 80,000 Sĩ Quan kiêu hùng, phục vụ trong mọi quân, binh chủng, sánh vai với khoảng 6,600 Sĩ quan Hiện dịch xuất thân từ Võ Bị Quốc Gia và các sĩ quan Không Quân và Hải quân trên mọi chiến trường chống Cộng sản từ Bắc chí Nam.

Ngày 30-4-1975, vì thiếu sự hỗ trợ của đồng minh, VNCH lui binh. Một số CSVSQTB cố thủ tại quê nhà, một số di tản ra ngoại quốc.   Sau thời gian thích nghi với cuộc sống mới, các cựu Sinh Viên  đã bắt đầu thành lập các đoàn thể tại các tiểu bang Hoa kỳ và tại các quốc gia tự do từ đầu thập niên 1980. 

Đến giữa thập niên 1980, Tổng Thống Ronald Reagan phái Đại tướng  John Vessey sang Viêt Nam thương thảo về ba vấn đề: (a)-Tìm kiếm cựu quân nhân Hoa Kỳ  mất tich ( MIA); (b)-vấn đề đoàn tụ gia  đình (ODP); và (c)-vấn để phóng thích tù nhân chính trị ( HO).-  (Đọc các văn thư đính kèm của Đại Tướng John Vessey, của Nghị Sĩ HK Bolschwitz và cuả Tổng Tống Clinton gởi chiến hữu Trần Xuân Thời, nguyên Chủ tịch Cộng Đồng Viêt Nam Tiểu bang và  Liên bang Hoa Kỳ, ghi thêm chi tiết về tiến trình thương thảo với CSVN, nghi trình tại Quốc Hội Hoa Kỳ và vân dề thiết lập bang với Cộng sản Viêt Nam).   Ban đầu CSHN không chịu phóng thich tù nhân chính tri, sợ nguy hại đến nền an ninh. ĐT Vessey tường trình với TT Reagan về sự lo ngại của Bắc Bộ Phủ. TT Reagan cho biết sẽ baỏ trợ tất cả những chiến binh được phóng thích qua đinh cư tại Hoa kỳ, sau đó mới có sự thoả thuận qua chương trình HO.- Humanitarian Operation- Nhờ đó, một số động CSV đã được Chính Phủ Hoa Kỳ bảo trợ đến định cư tại Hoa Kỳ, đã gia tăng nhân số của CSVSQTB tại các tiểu bang Hoa Kỳ.  Nhưng mãi đến đầu thập niên 2000, mới có sự phối hợp sinh hoạt cấp quốc gia và quốc tế qua các đại hội tại Houston, WADC, Louisiana, Canada, Úc Châu, San Jose, CA.  Chúng ta tri ân quý Niên trưởng và Chiến hữu đã tham gia vào công tác tổ chức cơ chế Tổng hội và thăng tiến sinh hoạt từ đầu thập niên 2000 đến nay.

Trong thập niên 2010, Tổng hội tổ chức đại hội ở Georgia, mở màn cho một giai đoạn mới. Sau Đại hội Georgia năm 2014, các đại hội lần lượt được tổ chức tại Florida, Dallas, Houston, Oklahoma…

Trong thập niên 2020, các đại hội được tổ chức tại St. Paul Minnesota State Capitol năm 2022, tại San Jose, CA, 2023 và k niệm ngày Truyền Thống năm 2024 đã được tổ chức tại San Diego, CA vào hai ngày 17-18 tháng 8 năm 2024, họp mặt và bầu Tân Hội Đồng Quản Trị cho nhiệm kỳ 2024-2026. Đại hi tháng 9 năm nay 2025 sẽ được tổ chc ti Houston, TX.

Tính từ đại hội 2014 tại Atlanta, GA, đến 2025 Tổng hội đã phát hành 16 Bản Tin, và 3 Đăc San. Đại hội San Diego 2024 đã phát hành K Yếu Thập Niên ghi nhận sinh hoạt trong giai đoạn từ năm 2014 đến 2024.

3- Hoạt Động

Trong suốt 50 năm (1975-2025), từ ngày di tản chiến thuật, ngoài một số CSVSQTB cố thủ trên quê hương, một số khác lần lượt qua thời gian, đã tái định cư tại các quốc gia tự do và quyết tâm thực hiện các mục tiêu đã được ghi trong bản Nội Quy, các công tác được tóm lược nhu sau: 

(1)- Thăng tiến tình huynh đệ chi binh.

(2)- Tạo môi trường gặp gỡ, khuyến khích tinh thần tương than, tương trợ, hỗ trợ thuơng phế binh và gia đình tử sĩ.

(3)- Đóng góp vào công tác duy trì nền văn h Việt tôc và phát huy văn hóa Việt Nam hải ngoại. Phục vụ Cộng đồng, tham gia sinh hoạt trong các lãnh vực văn hoá, xã hội, kinh tế chính trị tại các quốc gia nợi CĐVN đang sinh sống, truyền thông tình tự dân tộc và tinh thần quốc gia qua các thế hệ dậu duệ.

(4)- Góp phần tranh đấu nhằm tái lập lập, tự do, dân chủ, nhân quyền và hạnh phúc thực sự cho đồng bào quốc nội.

“ Việc nhân nghĩa, cốt ở yên dân.

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Tổng hội là một tập thể chiến binh kiêu hùng, đa năng, đa hiệu đã thể hiện khả năng, kinh nghiệm quản trị về mọi ngành sinh hoạt quốc gia liên quan đến văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao trước 1975 …  Tổng hội luôn kết chặt thân tình, kết tinh chí hướng, liên tục tranh đấu để tái lập tự do, dân chủ, nhân quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam, hầu giúp cho đại nghiệp cứu quốc của toàn dân chóng được viên thành. Khi đó “Cờ Vàng sẽ mọc thiên phương, vạn hướng và sẽ không còn loại Cờ Máu đỏ lòm”.

4- Đại Hội  

(1)- Nhằm kết chặt thân tình, kết tinh chí hướng, tri ân các chiến hữu đồng môn, chiến sĩ đồng minh Hoa Kỳ, các quốc gia tham chiến, và hơn 3 triệu dân, quân, cán, chính VNCH, đã hy sinh trong cuôc chiến chống Cộng sản. 

(2)- Kiềm điểm công tác đã thực hiện trong thời gian qua và hoạch định chương trình cho tương lai, hỗ trợ hậu duệ với hoài bảo “Làm cho khắp nơi vang tiếng người Viêt Nam cho đến muôn đời.” 

(3)- Thăng tiến sinh hoạt  của Tống Hội quyết tâm thực thi tôn chỉ  ”Tổ Quốc -Danh Dự- Trách Nhiệm”. Tập thể CSVSQTB, phục vụ tập thể đồng hương, tập thể chiến hữu QLVNCH, đóng góp vào đại nghiệp tái lập tự do, dân chủ, nhân quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ và hạnh phúc thực sự cho đồng bào quốc nội. 

(4)- Tổng Hội phục vụ Viêt Nam Cộng Hòa, Quân Lực Việt Nam Công Hoà.  Khối Dân, Quân, Cán, Chính đã di tản ra ngoại quốc vẫn tiếp tục công tác tranh đấu cho quê hương, hợp tác với tập thể chiến sĩ các quân binh chủng và đồng bào đang cố thủ tại quê nhà, trong ứng, ngoại hợp, chờ cơ hội  tái lập sự toàn vẹn lãnh thổ từ Ải Nam Quan đến Muĩ Cà Mâu.

(5)- Trong công tác xây dựng dân chủ cho Viêt Nam. Tổng hôi đương nhiên không công nhận sư hiện diện bất hợp pháp của nhà cầm quyền Cộng sản trên quê hương tại Miền Bắc từ 1954 vì Công sản Hà nội và Thực dân đã đơn phương ký kết Hiệp Ước Geneve,  phân đôi Viêt Nam ra hai Miền Nam Bắc, vi phạm quyền dân tộc tự quyết, trái với nguyện vọng của toàn dân Việt Nam do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo.

(6)- Năm 1975, Đảng Cộng Sản Hà nội, một lần nữa, đã vi phạm Hòa Ước Ba Lê ký kết năm 1973. Hoà ước 1973 quy định các quốc gia ký kết vào Hoà Ước Ba Lê phải tôn trọng quyền dân tộc tự quyết của VNCH và công nhận quyền Miền Nam Việt Nam lựa chon chính thể cai trị qua môt cuộc bầu cử tự do dưới sự giám sát quốc tế.

(7)- Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Cộng sản Bắc Viêt xâm lăng VNCH bằng vũ lực trái với công pháp quốc tế và áp đặt nền cai trị độc tài vô sản chuyên chính trên quê hương điêu tàn suốt 50 năm qua.

“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bần thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi”. 

Chính phủ và Quân lực VNCH, Dân, Quân, Cán, Chính đành phải di tản ra hải ngoạị để bảo vệ thực lực, chờ ngày phục quốc đễ giải phóng quê hương vì: 

“Quê ta chốn ấy giờ tang thương lắm
Mãnh đất ưu phiền hai chữ năng mưa”

6- Quốc Nạn Thức Trung Thành

(1)- Măc dù có ý kiến khác nhau về ngày 30 tháng 4 năm 1975. Viêt Nam Công Hòa thực sự chưa bao giờ chính thức đầu hàng quân xâm lăng Cộng sản là ý kiến áp đảo cho rằng hành vi yêu cầu buông súng của cựu Tướng Dương Văn Minh ngày 30 tháng 4 năm 1975, là hành vi bất hợp lệ vì cựu Tướng Dương Văn Minh không phải là Tổng Thống hợp hiến chiếu theo tinh thần của Hiến Pháp VNCH. Lời kêu gọi buông súng này đã sa vaò bầy của CSBV khiến cho biết bao quân sĩ anh hùng của QLVNCH phần thì tuần tiết, phần thì căm thù giặc, nghiến đến gãy cả hàm răng, chết đứng giữa trận tiền hoặc đành lui binh vào hiểm địa hoặc bị tù tội chôn vuì cả môt thời thanh xuân. Những chiến sĩ đã hy sinh hoặc sống còn đều là những anh hùng hào kiệt của dân tôc Việt đáng được ngàn năm ghi danh vào sử sách. Đó là danh dự vĩnh viễn của Dân, Quân, Cán, Chính của Việt Nam Công Hoà:

“Trượng phu không hay xẻ gan bẻ cột, phù cương thường

Hà tất tiêu dao bốn bể, lưu lạc tha hương

Trời Nam nghìn dặm thẳm, mây nước một màu sương

……………………………………………………..

Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta ta hay

Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây”

(2)- “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”.  Chiếu Điều 56 Hiến pháp Việt Nam Công Hòa năm 1967, Ông Trần Văn Hương đã đảm nhiệm chức Tổng thống khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào ngày 21/4. Nếu ông Trần Văn Hương không đảm nhiệm chức tổng thống nữa thì chủ tịch Thượng viện, lúc đó là ông Trần Văn Lắm, sẽ là người ngồi lên ghế tổng thống. Sau đó ba tháng, chính quyền sẽ tổ chức bầu cử lại.  Cựu Tướng Dương Văn Minh, lúc bấy gi, không phải phó tổng thống, không phải chủ tịch Thượng viện, cũng chẳng được bầu lên..  Về mặt pháp lý, việc cựu Tướng Dương Văn Minh trở thành tổng thống là hoàn toàn vi hiến”.

(3)- Quốc hội Viêt Nam thời bấy giờ có 3 khuynh hướng theo nhận xét của một vị cựu Dân biểu VNCH: Sau Hiệp Định Paris, nhìn thấy trước mắt con đường liên hiệp tâm lý các khối thế lực: Phật giáo, Công giáo, Đảng phái đều ra sức chống Tổng Thống Thiệu để dành chỗ, làm cho tình hình trở nên rối ren hơn, chỉ có lợi cho Cộng sản.  Trong giai đọan đó, 3 nhóm họp thành khối đối lập DTXH theo đuổi ba chương trình khác nhau: (1) nhóm Phật giáo chống Thiệu và muốn Thiệu ra đi bằng mọi giá. 2) nhóm Đảng phái lo củng cố đảng. 3) nhóm thân tướng Minh muốn ông Dương Văn Minh thay thế Tổng Thống Thiệu.” 

(4)- Hoàn cảnh trong không ấm, ngoài không êm như vậy, Việt Nam Công Hoà đành phải lui binh để bảo toàn thực lực, hẹn ngày tái chiếm Việt Nam.  Quân tử không oán Thiên vưu Nhân. Đồng minh và cấp lãnh đao VNCH cũng đã cố gắng hành sử hết khả năng của mình. Dù muốn, dù không, quá khứ là quá khứ, khộng thay đổi đươc. Nỗ lực chung hiện nay là mỗi chiến hữu trong cương vị của mình, tích cực góp phần xây dựng tương lai của giống nòi mới là quan trọng.   Hơn ½ thế k, oán Trời , trách Người cũng đã đủ. Platon đã nhận định:”

7- Quốc Phá Thức Trung Thành

Tổng hội là tồ chức đươc thành lập chiếu luât về cơ quan bất vụ lợi hay phi lợi nhuận (NPO- Not for profit organization). Hiên nay tại Hoa Kỳ có 50 bộ luât tại 50 tiểu bang. Các hội tại tiều bang, tuỳ nhu cầu, có thể hoạt động có giấy phép (de jure) do tiếu bang cấp hoặc không có giấy phép (de facto). Mỗi thành viên là môt chiến sĩ nhân quyền đang xây dựng dân chủ cho Viêt Nam bắng cách tham gia sinh hoạt các đoàn thể văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị qua nhiều phương cách: 

(1)- Hoặc chấp nhận thái độ âm thầm tôn trọng nhân quyền, tôn trọng tinh thần quốc dân tộc, không hợp tác với đối phương, không trực tiếp hay gián tiếp làm lợi cho Công sản, không trách người đem thân giúp nước, không tham gia sinh họat của Công sản dưới bất cứ hình thức nào. 

(2) Hoặc tham gia các sinh hoạt của các tổ chức tranh đấu chống độc tài Công sản đang giày xéo quê hương, tranh đấu trực diện với kẻ thù của dân tôc nhằm tái lập tự do, dân chủ và nhân quyền cho toàn dân Vit Nam.  

(3)- Cựu sinh viên SQTB cũng như cựu quân nhân trong các quân binh chủng VNCH thường hoạt đông trong Công đồng người Việt trên toàn thế giới, trong các chính đảng, những tổ chức có trước 1975 và môt số đoàn thể tự phát sau 1975.  Mỗi khi quốc gia lâm nguy, quần hùng nỗi dậy là sự kiện đương nhiên xảy ra từ ngày lập quốc đến nay. Chỉ những người không học lịch sử hay hỗ trợ đối phương mới trách cứ những tổ chức thực sự đem thân giúp nước. Ciceron, năm 46 trước công nguyên, đã nhận xét” Sự khác biệt giữa người lớn và trẻ em là trẻ em thiếu kiến thức về lịch sử”.

(a)- Cộng đồng là định chế xã hội người Việt tỵ nạn CS hoat đông tại nhiều điạ phương, quốc gia. Ngoài  các công tác xã hội, thường tổ chức biểu dương lực lượng và sinh hoạt tranh đấu cho nhân quyền, tự do, dân chủ, phản đối các phái đoàn CSVN tha hương cầu thực, tranh đấu cho tự do tôn giáo, chống đối hành vi đàn áp dân lành, đả phá chủ trương  vĩ nhân hóa HCM, dương cao ngọn cờ chính nghĩa... liên lạc với chính quyền các cấp, yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ thực hiện chương trình đoàn tụ gia đình, phóng thích tù nhân chính trị…

(b)- Chính đảng hay đoàn thể chính trị thường tổ chức các nghi hội quốc gia, quốc tế có hằng chục đoàn thể tham dự từ thập niên 1990 như các Hội Nghị Liên Kết, Hội Nghị Yểm Trợ Tự Do cho Viêt Nam, các t  chức kháng chiến….mỗi đảng có đảng quy và đảng viên thi hành chính sách của đảng.

(c) Chính Phủ

Hiện nay có Chính Phủ Pháp Định (De Jure Government) kế tục (state successio) chính phủ VNCH trước 1975 và các Chính phủ tự phát sau 1975. Khi quốc gia lâm nguy, quần hùng thường nỗi dậy chống xâm lăng là chuyện thiên kinh điạ nghĩa đã xảy ra tự cổ chí kim qua lịch sử Việt tộc trên bốn ngàn năm văn hiến, là những cố gắng cần được khích lê,  thay vì “dị ứng” hay chống đối như thái độ của giới thân Công hay giới ”Thương nữ vô tri vong quốc hận”.

Vì nếu không có sư quật khởi, tranh đấu  cho tự do, dân chủ thì dân tộc khó thoát khỏi tình trạng độc tài đảng trị.  Ngoài các công trình của quý Niên Trưởng, Chiến hữu trong công tác thành lập và sinh hoạt trong các công đồng, các chính đảng, các đoàn thể tranh đấu, họat động công khai của cựu Sinh Viên SQ Thủ Đức liên quan đến quốc sự đươc ghi nhận sau 1975.  

(1)- Đốc sự Nguyễn Bá Cẩn, xuất thân từ Trường Sĩ Quan Thủ Đức và Học Viện Quốc Gia Hành Chánh trong thập niện 1950,  Chủ tịch Hạ  Viện, Quốc Hội  VNCH, được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm làm Thủ Tướng, thay thế Thủ  Tướng Trần Thiên Khiệm là người đã từng hoàn thành và nạp Hồ sơ nới rộng thềm lục địa lên Ủy ban định ranh thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc vào năm 2009.  

(2)- “Qua việc Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn nộp Hồ Sợ Nới Rộng Thềm Lục Địa vào năm 2009 mà Liên Hiệp Quốc đã gián tiếp công nhận VNCH là một chánh thể còn tồn tại. Vì để Liên Hiệp Quốc tiếp nhận hồ sơ này thì phải hội đủ hai điều kiện như sau: 1- Phải nộp hồ sơ với tư cách quốc gia.  2- Phải là quốc gia đã có ký vào Hiệp ước Luật biển (UNCLOS). Để thỏa mãn hai điều kiện trên, cố Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đã quyết tâm ngày đêm tranh đấu, tìm tòi và cuối cùng đã được Liên Hiệp Quốc chấp nhận hồ sơ…”

(3)- Hiện nay Chính Phủ Pháp Định VNCH (De Jure Government) là chính phủ duy nhứt kế tục hợp pháp Chính Phủ Viêt Nam Cộng Hoà. (De Jure= hợp pháp hay pháp định). Chính Phủ VNCH đã ký vào Hiệp Định Paris năm 1973, có tư cách yêu cầu tái hợp Hòa Đàm Paris về Viêt Nam để thực thi các điều khoản  ần định liên quan đến VNCH.   Chúng ta rất cần có sự hiện diện của VNCH trong Hội Nghị Quốc Tế vì đó là nhân chứng và cũng là chánh thể VNCH nối tiếp công quyền của Đệ Nhị VNCH. Để thực thi sứ mệnh được giao phó, CPPD hoạt đồng với tinh thần “tam cố thảo lư “.

(4)- “Chính phủ VNCH Pháp Định sẽ tiếp tục hoat động tại hải ngoại đáp ứng nhu cầu cho thế giới biết Chính phủ VNCH vẫn còn và QLVNCH vẫn còn. CPPĐ ngoài các công tác liên quan đến va1âăn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, đặc biêt chú trong đến vấn nhân quyến,  tiếp tục sứ mêng bang giao quốc tế mà tổ quốc đã giao phó trong công tác vận động, liên lạc với các quốc gia đã từng lập bang giao với Viêt Nam Cộng Hòa trước 1975 và các quốc gia tự do đã ký kết vaò Hòa Ước Ba Lê năm 1973 để yêu cầu tái hơp Hoà  Đàm Ba Lê và thi hành các điều khoản đã ký kết về Viêt Nam.

(5)-Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn qua đời năm 2009.  Luật sư Lê Trọng Quát xuất thân từ Đại học Luât Khoa và Trường Sĩ Quan Thủ Đức vào thâp niên 1950– Đệ nhất Quốc Vụ Khanh kế nhiệm vị trí Thủ tướng Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa Pháp Định. Thủ Tướng Lê Trọng Quát qua đời năm 2022.  Đốc sự Trần Xuân Thời, xuất thân từ Đai học Văn Khoa, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Trường Sĩ Quan Thủ Đức vào thập niện 1960, và Đai Học Kinh Doanh, Đại học Luật, vào cuối thập niên 1970, Phó Thủ Tướng tiếp tục sứ mênh Thủ Tướng lãnh đạo Chính phủ Pháp Định VNCH hiện nay.

(6)- Duy trì Viêt Nam Cng Hoà và tranh đấu cho tự do, dân chủ và hạnh phúc thực sự cho toàn dân là mục đích. Chức chưởng và nhiệm vụ, nhân sự đảm nhiệm chức vụ để thi hành vụ là tạm thời, thay đổi qua thời gian.  Công tác tranh đấu cho tự do dân chủ tại Viêt Nam là vấn đề trường kỳ. Chính phủ là tổ chức phục vụ phúc lợi chung của đồng bào, trong tinh thần tôn trọng công lý: Sống lương thiện, không gây tác hại cho người khác và tôn trọng quyền lợi của mỗi người.  “Justice is to live honestly, not to injure others and to give everyone his due”.

(7)- Để thực thi sứ mệnh tái lập tự do, dân chủ cho Việt Nam, Chính Phủ Pháp Định kêu gọi sự hỗ trợ và đồng thời sẵn sàng hợp tác với tất cả qúy vị Dân-Quân- Cán-Chính VNCH, các tổ chức tranh đấu quốc gia,  để hầu đaị nghiệp cứu quốc của toàn dân chóng được viên thành. 

(8)- Đáp một câu hỏi vế vai trò của Chính Phủ Pháp Định nếu có tổ chức bấu cử tự do dưới sự giám sát quốc tế?.  Nhiêm vụ của CPPD là vân động quốc tế thực thi Hoà Ước Ba Lê năm 1973,  lập kế hoạch hoàn thành mọi thủ tục bảo đảm cho cuộc bầu cử được công minh và hỗ trợ tân chính phủ được toàn thể đống bào tuyển chon. Xong nhiệm vụ CPPD sẽ từ chức và trao quyền cho tân chính phủ. 

“Chiếu Hiến Pháp VNCH 1967, điều 52.1: “Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một liên danh, được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín."  Như vậy, bất cứ ai muốn trở thành Tổng Thống của VNCH đều phải thông qua bầu cử. Từ đó có thể xác định rằng, ai không thông qua cuộc bầu cử này đều là VI HIẾN. 

8- Các Hiệp Ước Quốc Tế về Việt Nam

(1)- Hiệp định Geneva ngày 20 tháng 7 năm 1954 do Cộng sản và Thực dân ký kết đã tước đoạt quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Việt Nam khi quyết định chia cắt đất nước VN thành hai miền Nam Bắc trước sự phản đối của chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo. Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ đã bày tỏ thái độ qua lời phát biểu: “Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở”. 

Đến năm 1956, chính phủ VNCH bác bỏ đề nghị tổng tuyển cử hiệp thương giữa hai Miền Nam Bắc vì (1) không thể có bầu cử tự do tại Miền Bắc do CS kiểm soát. (2) Quốc gia Việt Nam đã không ký vào Hiệp Định Geneve năm 1954 nên không có trách vụ thi hành. (3) Đồng minh Hoa Kỳ cũng đã không ký vào Hiệp Định Geneve năm 1954 vì Hoa Kỳ chấp nhận Trung Hoa Quốc Gia và bác bỏ tư cách đại diện của Trung Cộng trên diễn đàn chính trị quốc tế. (4)  Không có điều khỏan nào trong Hiệp Định ấn định thể thức Tổng Tuyển Cử mà chỉ là phần đàm luận trong bản Tuyên cáo chung sau Hội Nghị.

(2)- Hiệp định Paris (Paris Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam) ngày 27 tháng 1 năm 1973 công nhận quyền Dân Tộc Tự Quyết của Miền Nam Việt Nam: 

Chương IV, điều 9 ấn định:

a) The South Vietnamese People’s right to self-determination is sacred, inalienable, and shall be respected by all countries. 

Quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Viêt Nam là quyền thiêng liêng, không thể chuyển nhượng và các quốc gia phải tôn trọng.

(b) The South Vietnamese People shall decide themselves the political future of the South through genuinely free and democratic general elections under international supervision- 

Nhân dân Miền Nam Việt Nam sẽ quyết định chính phủ tương lai cho Nam Việt Nam qua cuộc bầu cử thật sự tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế. 

Trong thực tế Cộng sản Hà Nội đã vi phạm Hiệp Định Paris, xâm lăng VNCH và áp đặt chế độ độc tài CS lên nhân dân miền Nam Việt Nam từ 1975 đến nay. 

Điều 19: “The parties agree on the convening of an international conference with 30 days of the signing of this agreement to acknowledge the signed agreements, to guarantee the ending of the war, the maintenance of peace in Vietnam, the respect of the Vietnamese people’s fundamental national rights, and the South Vietnamese people’s right to self-determination, and to contribute to and guarantee peace in Indo China.  

Các quốc gia tham dự Hội nghị đồng ý triệu tập Hội Nghị quốc tế trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký thỏa ước để công nhận thỏa ước đã được ký kết, bảo đảm chấm dứt chiến tranh, duy trì hòa bình cho Việt Nam, tôn trọng những quyền căn bản của nhân dân Việt Nam và quyền dân tộc tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, đóng góp và bảo đảm hòa bình tại Đông Dương.”

Thi hành điều 19 thượng dẫn, ngày 2 tháng 3 năm 1973, 12 quốc gia họp trước sự chứng kiến của Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc đã ký một văn kiện gọi là ACT of the Paris Agreement ending the War and restoring Peace for Vietnam.

(3)- Định Ước (Act of the Paris Agreement on ending the War and Restoring Peace in Viet Nam), do 12 quốc gia ký ngày 2 tháng 3 năm 1973 được xem như là bản “Tông Đồ Công Vụ” của 12 vị Bộ Trưởng Ngoại Giao của 12 thành viên tham gia vào Hòa Hội Paris, gồm có Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Việt Nam Cộng Hòa, Canada, Nam Dương, Ba Lan, Hung Gia Lợi, Trung Cộng, Cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng. Bản Định Ước này quy định biện pháp áp dụng trong trường hợp có sự vi phạm Hiệp Ước Ba Lê.  Định ước này có tính cách quan trọng trong vấn đề đòi lại quyền dân tộc tự quyết cho Việt Nam khi Việt cộng vi phạm Hiệp Định Ba Lê xâm lăng Việt Nam Cộng Hoà, áp đặt chế độ độc tài đảng trị CS lên toàn dân Việt từ 1975 đến nay.

Điều 2 : The Agreement responds to the aspirations and fundamental national rights of the Vietnamese people, i.e. the independence, sovereignty, unity, and territorial integrity of Viet-Nam, to the right of the South Vietnamese people to self-determination, and to the earnest desire for peace shared by all countries in the world. The Agreement constitutes a major contribution to peace, self-determination, national independence, and the improvement of relations among countries. The Agreement and the Protocols should be strictly respected and scrupulously implemented.

Bản Định Ước xác định nguyện vọng và các quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam phải được tôn trọng…

Điều 7 (a) In the event of a violation of the Agreement or the Protocols which threatens the peace, the independence, sovereignty, unity, or territorial integrity of Viet-Nam, or the right of the South Vietnamese people to self-determination, the party signatory to the Agreement and the Protocols shall, either individually or jointly, consult with the other Parties to this Act with a view to determining necessary remedial measures. - Nếu có sự vi phạm Hiệp Định Ba Lê nguy hại đến nền hòa bình, một hay nhiều quốc gia có quyền tham khảo với các quốc gia khác để quyết định biện pháp giải quyết. (b) The International Conference on Viet-Nam shall be reconvened upon a joint request by the Government of the United States of America and the Government of the Democratic Republic of Viet-Nam on behalf of the party signatory to the Agreement -Hội Nghị Quốc Tế sẽ được tái triệu tập khi Hoa Kỳ và CS Hà Nội yêu cầu.  (c) or upon a request by six or more of the Parties to this Act- hoặc theo lời yêu cầu của sáu hay nhiều hơn trong 12 quốc gia tham dự vào bản Định Ước. 

Nếu chúng ta vận động mạnh mẽ với 9 quốc gia tự do trong 12 thành viên ký vào bản Định Ước thì chúng ta có cơ hội thành công. 

 (4)- Đạo luật Public Law 93-559 do Tổng Thống Gerald Ford ban hành ngày 30 tháng 12 năm 1974. Section 34(b) : “In order to lessen the human suffering in Indochina and to bring about a genuine peace there, the Congress urges and requests the President and the Secretary of State to undertake the following measure … 

Điều 34 (b) ấn định vấn đề tái triệu tập Hội Nghị Ba Lê “Để giảm thiểu sự đau khổ của nhân dân và mang lai hòa bình thực sự cho Đông Dương, Quốc hội khẩn thiết yêu cầu Tổng Thống và Bộ Trưởng Ngoại Giao áp dụng biện pháp sau đây. (4) to reconvene the Paris Conference to seek full implementation of the provisions of the Agreement of January 27, 1973 on the part of the Vietnamese parties to the conflict.”

Tái nhóm Hội Nghị Ba Lê để tìm phương cách thực thi toàn vẹn các điều khoản của Hội nghị ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 về các thành viên liên hệ đến cuộc xung đột tại Việt Nam.

Đạo luật này chưa được thực hiện hay hủy bỏ, do đó còn có hiệu lực. Mặc dù nhân sự đã thay đổi trong các chính phủ, nhưng trách nhiệm thi hành các hiệp ước, đạo luật không phải vì thế mà bị thời tiêu.

Hiệp định Paris (Paris Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam) ngày 27 tháng 1 năm 1973 công nhận quyền Dân Tộc Tự Quyết của Miền Nam Việt Nam: 

Chương IV Điều 9 (a) Quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam là quyền thiêng liêng, không thể chuyển nhượng và các quốc gia phải tôn trọng. (b) Nhân dân Miền Nam Việt Nam sẽ quyết định chính phủ tương lai cho Nam Việt Nam qua cuộc bầu cử thật sự tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế. Trong thực tế CS Hà Nội đã vi phạm Hiệp Định Paris, xâm lăng VNCH và áp đặt chế độ độc tài CS lên nhân dân miền Nam Việt Nam từ 1975 đến nay. 

Chapter IV, Article 9 (a): “The South Vietnamese People’s right to self-determination is sacred, inalienable, and shall be respected by all countries. (b) The South Vietnamese People shall decide themselves the political future of South through genuinely free and democratic general elections under international supervision.”

Điều 19: Các quốc gia tham dự Hội nghị đồng ý triệu tập Hội Nghị quốc tế trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký thỏa ước để công nhận thỏa ước đã được ký kết, bảo đảm chấm dứt chiến tranh, duy trì hòa bình cho Việt Nam, tôn trọng những quyền căn bản của nhân dân Việt Nam và quyền dân tộc tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, đóng góp và bảo đảm hòa bình tại Đông Dương.

Article 19: “The parties agree on the convening of an international conference with 30 days of the signing of this agreement to acknowledge the signed agreements, to guarantee the ending of the war, the maintenance of peace in Vietnam, the respect of the Vietnamese people’s fundamental national rights, and the South Vietnamese people’s right to self -determination, and to contribute to and guarantee peace in Indo China.”

Thi hành điều 19 thượng dẫn, ngày 2 tháng 3 năm 1973, 12 quốc gia họp trước sự chứng kiến của Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc đã ký một văn kiện gọi là ACT of the Paris. Cng sn Hà ni, không được nhân dân Vit Nam bu c và tn phong vào vai trò lãnh đo mà CSVN nm quyn lãnh đo bng cách vi phm Hoà Ước Ba Lê ký kết năm 1973 và xâm lăng min Nam Vit nam. Cng sn Hà Ni đã và đang vi phm trng trn Bn Tuyên Ngôn Quc Tế Nhân Quyn. Điu 21 Bn Tuyên Ngôn Quc Tế Nhân Quyn (Article 21) n đnh:

“Mi người đu có quyn tham chính trc tiếp hoc gián tiếp được tuyn chn qua các cuc bu c t do.”Everyone has the right to take part in the government of his country, directly or through freely chosen representatives”. Cng sn VN khng b và cm đoán người Vit quc gia ng c, các ng c viên do đng Cng Sn đ c.

“Mi người đu có quyn ngang nhau trong vic s dng các tin ích công cng. “Everyone has the right of equal access to public service in his country”. Cng Sn VN dành mi tin nghi, đc quyn đc li, dch v công cng cho cán b, đng viên cng sn, kỳ th và km kp người Vit quc gia trong moi dch v, sinh hot kinh tế, xã hi, văn hoá, giáo dc…

“Chính quyn phi ly ý chí chung ca toàn dân làm căn bn, ý chí ny sẽ được th hin qua các cuc bu c đnh kỳ và thc s bng th thc ph thông đu phiếu, kín hoc bng các phương thc bu c t do tương đương. The will of the people shall be the basis of the authority of government; this will shall be expressed in periodic and genuine elections which shall be by universal and equal suffrage and shall be held by secret vote or by equivalent free voting procedures”. Sut 48 năm thng tr toàn cõi Vit Nam sau 1975, ti Min Nam và 69 năm ti Mìn Bc, Cng sn Hà ni cai tr không do ý chí ca toàn dân Vit Nam tn phong th hin qua các cuc bu c t do.

Đng Cng Sn Vit Nam đã hình thành mt giai cp tài phit mi và quyết tâm phân chia đc quyn, đc li gia các đng viên, đ “áo xiêm buc trói ly nhau”, thng tr đt nước trong cnh bn cùng hoá nhân dân, khiến cho Vit nam tr thành nghèo kh nht thế gii. Cng sn rt s nhân dân giàu mnh, vì phú quý sinh l nghĩa, đng baò sẽ đòi hi t do, dân ch và mi khi giàu mnh sẽ có đ phương tin lt đ chế đ cng sn.

5- Bin pháp phc hi dân ch cho Vit Nam

(a)- Bu c t do ti Vit nam là mt trong nhng gii pháp mà các cng đng, đoàn th đang chun b và vn đng. Ngoài ra, các cng đng, đoàn th còn yêu cu LHQ, Hoa Kỳ và các quc gia t do h tr gii pháp t chc bu c t do ta Nam Vit theo tinh thn điu 21 Bn Tuyên Ngôn Quc Tế Nhân Quyn và đt cuc bu c dưới s giám sát quc tế.

Khôi phục nền dân chủ ở một quốc gia bị chính quyền cộng sản chiếm đóng có thể là một quá trình phức tạp và đầy thách thức. Không có giải pháp chung nào phù hợp cho tất cả, vì nó phụ thuộc vào bối cảnh và hoàn cảnh cụ thể của quốc gia đó. Tuy nhiên, một số chiến lược chung đã được áp dụng trong quá khứ bao gồm:

1. Thúc đẩy các phong trào cơ sở và các tổ chức xã hội dân sự ủng hộ các giá trị dân chủ và nhân quyền.

2. Hỗ trợ các cơ quan truyền thông độc lập và các nhà báo đưa tin về tham nhũng và lạm quyền của chính phủ.

3. Khuyến khích áp lực và trừng phạt quốc tế đối với chính phủ để tôn trọng nhân quyền và tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng.

4. Xây dựng liên minh với các quốc gia và tổ chức quốc tế khác để hỗ trợ quá trình chuyển đổi dân chủ.

5. Cung cấp viện trợ kinh tế và nhân đạo để hỗ trợ sự phát triển và ổn định của đất nước.

6. Khuyến khích đối thoại và đàm phán giữa chính phủ và các nhóm đối lập để đạt được một quá trình chuyển đổi hòa bình.

7. Hỗ trợ các thể chế và quy trình dân chủ, chẳng hạn như bầu cử tự do và công bằng, một nền tư pháp độc lập và một nền báo chí tự do.

8. Khuyến khích các chương trình giáo dục và trao đổi văn hóa để thúc đẩy các giá trị và nguyên tắc dân chủ.

Điều quan trọng cần lưu ý là tình hình của mỗi quốc gia là khác nhau, và những gì hiệu quả ở quốc gia này có thể không hiệu quả ở quốc gia khác. Hơn nữa, bất kỳ giải pháp nào cũng cần được dẫn dắt bởi người dân trong nước, với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Xin lưu ý rằng đây chỉ là tổng quan chung, và điều quan trọng là phải hiểu sâu hơn về bối cảnh và hoàn cảnh cụ thể của quốc gia để tìm ra giải pháp hiệu quả nhất. 

Điu 9(b) Hoà Ước Ba Lê ký ngày 27/1/73 đã quy đnh:

“The South Vietnam shall decide themselves the political future of South Vietnam through genuinely free and democratic general elections under the international supervision - Min Nam Vit Nam sẽ t quyết đnh th chế chính tr cho tương lai Min Nam Vit Nam bng các cuc bu c thc s t do và dân ch dưới s giám sát quc tế”.

(b)- Gii quyết vn đ chính tr cho Min Nam theo nhng điu khon ca Hoà Đàm Ba Lê 1973 và TNQTNQ thì “Toàn quc Vit Nam” sẽ được t do, dân ch, phú cung và đc lp khi b Hán hoá.  Ngoài ra, t do, dân ch có th được tái lp ti Vit Nam mt khi (1) Chế đ cng sn t gii th, (2) Người Vit t do hi ngoi và quc ni yêu cu các nước t do thc hin kế hoch t chc bu c t do dưới s giám sát ca quc tế theo điu 21 Bn Tuyên Ngôn Quc Tế Nhân Quyn và Điu 9(b) Hoà Ước Ba Lê năm 1973. (3) Nhân dân VN ni dy lt đ chế đ đc tài cng sn…

(c)- Trong trung hp gii pháp bu c t do được thc hin, đ tránh vn đ hp thc hóa chế đ phi nhân CS hin hu, câu hi mà mt s người quan tâm là liu chúng ta có chun b đâỳ đ các lc lượng qun chúng quc ni và hi ngoi đ h tr gii pháp bu c t do nhm bo đm tính cách công chính ca cuc bu c, ng phó vi tình thế biến chuyn và có đ cán b quc gia sn sàng h tr chính ph dân c nhiếp chính hay chưa?  Đó cũng là mt trong nhng vn đ mà các đoàn th cng đng, tôn giáo, xã hi, chính tr, dân, quân, cán, chính, phi lưu tâm. Trước hết phi kin toàn cơ cu t chc, thng nht hành đng, hp qun gây sc mnh, vn đng, ni công, ngoi hp trong giai đon 2, sau 50 năm lưu vong hi ngoi.

Người dân thường như chúng ta không có thẩm quyền để tham gia Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam. Do đó, chúng ta cần có một chánh phủ và liên tục công quyền để đại diện cho chúng ta trên trường quốc tế.  Chánh Phủ Pháp Định là một chánh phủ hợp pháp, hợp hiế và nối tiếp công quyền Chánh phủ VNCH tiền nhiệm, kế tục  công vụ phục vu VNCH theo Hiến Pháp VNCH 1967 và tuân theo điều 2.4 của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

Cộng sản Hà nội rất sợ Miền Nam thực hiện tổ chức bấu cử tự do để tuyển chọn môt chính quyền vì dân, do và phục vu toàn dân để  mang lại tự do, dân  chủ và hạnh phúc thực sự cho toàn dân nên thường cho tay sai đánh phá các tổ chức chống cộng suốt 50 năm nay.

Với lòng tin vào chính nghĩa tât thắng, các tổ chức chống công vẩn dõng dạc đường hoàng lên đường. Chúng ta sẽ chiến đấu với sức mạnh gâp đôi khi chiến đấu với lòng tin mai đây chiến thắng. “We are twice armed if we fight with faith” (Platon).

Ngoài ra, CSV Trường Bô Binh đang tham gia vào nhiền đoàn thể ch1nh trị kết tinh chí hướng nhằm tìm môt hướng đi thích hợp cho tập thể chúng ta vậy.

Kính chúc quý vị hưởng trọn niềm vui “huynh đệ chi binh” trong ngày tái ngộ.

Trần Xuân Thời
Cựu Chủ tịch Tổng Hội.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét