THAM LUẬN 2: SỨ MỆNH VĂN HÓA
Trần Xuân Thời
THAM LUẬN 2:
Sứ Mệnh Văn Hóa
“Tấc lòng cố quốc tha hương,
Đường kia nỗi nọ, ngổn ngang bời bời.
Cảnh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm” (Nguyễn Du)
Sau 50 năm trời viễn xứ, cảm giác chung của chúng ta là không nơi
nào bằng quê hương mình và cũng không có ngôn ngữ nào truyền cảm bằng ngôn ngữ
chúng ta nghe từ thuở còn cưu mang trong lòng quê mẹ.
Trong cuộc sống cộng đồng ngày nay, Việt ngữ vẫn đóng vai
trò quan trọng, là dụng cụ bậc nhì để ghi chép âm thoại sau lời nói, bắc nhịp
cầu thông cảm giữa người và người, để truyền thông cái tình và hoằng dương cái
lý, lưu truyền tư tưởng và tình cảm cho hậu thế.
Lịch sử chứng minh cho chúng ta thấy, trải qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc,
chúng ta vẫn giữ được truyền thống văn hoá dân tộc, không để cho Bắc phương
đồng hóa. Ngày nay trên bước đường lưu vong, dù đôi khi bất mãn với hiện
tại, tiếc nuối quá khứ và hy vọng vào một tương lai tốt đẹp, nhưng chúng ta vẫn
đặt tâm vào vấn đề giáo dục con em, bảo tồn và phát huy Việt ngữ, nếu không
Việt ngữ sẽ mai một dần.
Thời gian trôi qua nhanh như bóng câu qua cửa. Lớp hậu sinh trưởng thành và
được giáo dục trong sinh cảnh văn hóa mới sẽ, có thể, không còn thiết tha đến
Việt ngữ, vì không được học hỏi, không hiểu và do đó không thích, đúng như câu
“Vô tri bất mộ”.
Học Việt ngữ qua báo chí, kinh điển, sử sách, vừa bảo tồn được
ngôn ngữ Việt, vừa phát huy được năng khiếu sinh ngữ. Truyền thông bằng ngôn
ngữ là năng khiếu đặc trưng của con người, vượt ra ngoài biên giới chủng tộc,
không gian và thời gian. Năng khiếu ngôn ngữ phát triển đồng thời với khả năng
tri giác ngoại giới, khả năng thu nhận và truyền thông kiến thức, tinh luyện
suy luận và phát triển sáng tạo.
Tiếng nói là phương tiện trực tiếp truyền thông tư tưởng và tình cảm giữa người
và người và được mệnh danh là dụng cụ bậc nhất trong vấn đề thông đạt. Khi đã
có tiếng nói, người ta tìm ra phương thức diễn đạt tiếng nói bằng ký hiệu gọi
chung là văn tự. Văn tự được xem như dụng cụ bậc nhì để có thể chuyển tải tư
tưởng đến tha nhân qua không gian và thời gian như sách sử, báo chí, và ngày
nay còn có dụng cụ truyền thanh và truyền hình, internet, để nối dài lời nói
xuyên lục địa.
Nếu gọi nhạc là nghệ thuật tiết tấu âm thanh, thì văn tự là nghệ thuật phối trí
ký hiệu để ghi chép làm phương tiện chuyển đạt tư tưởng. Tiến trình học hỏi để
phối trí, lãnh hội và diễn đạt tư tưởng không phải chỉ thu gọn trong trường thi
trận bút từ tiểu học cho đến đại học mà còn phải nghiên cứu, trau dồi có khi
suốt cả cuộc đời. Câu nói “văn ôn võ luyện” thật không sai.
“Nước ta vốn xưng văn hiến đã lâu, phong tục Bắc Nam sẵn có.”
Trong suốt thời Bắc thuộc chúng ta đã dùng chữ Hán, mãi đến sau năm 936, thời
tự chủ, theo truyền thuyết cụ Hàn Thuyên đã dùng chữ Nôm để ghi chép tiếng
Việt, chữ Nôm được xem như chữ viết đầu tiên của nước ta. Nhiều tác phẩm
văn chương trong suốt các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần được viết bằng chữ Hán.
Chữ Nôm được dùng nhiều vào đời Lê Trung Hưng và Nguyễn. Có lẽ vì sự cạnh tranh
giữa hai môn phái trọng Nôm và môn phái trọngg Hán, nên các văn kiện của triều
đình đều dùng chữ Hán, mãi đến thời Tây Sơn chữ Nôm mới được trọng dụng.
Chữ Nôm và chữ Hán đều là văn tự cho giới khoa bảng và nho sĩ hơn là thứ dân vì
tính chất phức tạp trong lối ghép chữ, phải mất rất nhiều thì giờ mới có thể
học hỏi và lãnh hội được. Tình trạng này đã góp phần vào sự hình thành giai cấp
nho sĩ, khoa bảng, liệt vào hàng đầu của giai cấp xã hội.
“Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt
Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên
Có giang sơn thì sĩ đã có tên
Từ Chu, Hán vốn sĩ này là quý”
(Nguyễn Công Trứ)
Trong thời phôi thai của nền văn học Việt, các vị sư nổi danh như Ngô Chân Lưu
và Trương Ma–Ni được vua Đinh Tiên Hoàng phong làm Văn Tòng và Tăng Lục đã đóng
góp vào phần trước tác và truyền bá Hán học. Đến đời Tiền Lê, khi sứ giả nhà
Tống sang Việt Nam, vua Lê Đại Hành, đã thỉnh Sư Lạc Thuận, giả làm khách lái
đò, đối đáp văn thư với sứ giả nhà Tống. Sư Ngô Chân Lưu soạn văn tiễn sứ giả.
Các vị thâm nho này đã nổi danh về văn học và tham dự quốc sự, được dân gian
truyền tụng.
“Câu thơ Lạc–Thuận, sứ Tống khen hay,
Bài ca Chân–Lưu nổi danh muôn thuở”
Sang triều đại nhà Lý, Lý Công Uẩn, tức là Lý Thái Tổ, lúc 3 tuổi đã được Pháp
Sư Lý Khánh Vân nhận làm con nuôi. Khi sang nghiệp nhà Lý, ngài rất tôn sùng
đạo Phật. Đây là thời cực thịnh của Phật giáo. Đặc điểm là các vị sư, dù được
triều đình kính nễ vẫn chủ trương hòa đồng tôn giáo “Tam Giáo đồng nguyên” –
Nho–Thích–Lão.
Nhà Lý đã mở ra những khoa thi Tam Giáo. Sư Viên Chiếu đã sánh Phật Giáo và
Khổng Giáo như mặt Trời và mặt Trăng, “Trú tắc minh ô chiếu, dạ lai ngọc thố
minh”. Ngày thì mặt trời chiếu, đêm thì mặt trăng soi. Tinh thần hòa đồng của
các vị sư chiếu sáng trong suốt các triều đại khai quốc này như sư Bảo Thịnh,
sư Minh Tâm, sư Vạn Hạnh, sư Đạo Hạnh, sư Minh Không, kể cả thuyết pháp lấy
Thân, Khẩu, Tâm làm gốc của đạo.
Triết lý Phật học đã thấm sâu vào tâm linh và tình tự dân tộc. Hai tác phẩm nổi
danh nhất của nền văn học Việt Nam là Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu vào đời
Lê Trung Hưng và Kim Vân Kiều truyện của Nguyễn Du vào thời Nguyễn sơ đã thể
hiện rõ rệt triết lý Phật học về nhân duyên, nghiệp báo.
Ôn Như Hầu, mượn lời Cung Oán, đã luận về thân thế con người sinh
ra trong bể khổ:
“Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
Ai bày trò bãi bể nương dâu
Trắng răng đến thuở bạc đầu
Tử, sinh, kinh, cụ, làm nau mấy lần.”
hay:
“Phong trần đến
cả sơn khê,
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này
Tuồng huyễn hóa đã bày ra đấy
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau
Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì! “
Đời sinh ra trong cảnh khổ vì vướng phải nhân duyên, tiền kiếp.
“Hẳn túc trái làm sao đây tá
Hay tiền thân hậu quả xưa kia
Hay Thiên Cung có điều gì
Xuống trần mà trả nợ đi cho rồi”
Do đó, muốn thoát cảnh đòi đoạn tâm can của chốn trần ai khổ lụy, phải dứt thất
tình lục dục, mượn chốn thiền môn để tu niệm.
“Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật
Mối thất tình quyết dứt cho xong
Đa mang chi nữa đèo bòng
Vui gì thế sự mà mong nhân tình
Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa
Mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên
Thoát trần một gót thiên nhiên
Cái thân ngoại
vật là tiên trên đời”
Thân phận nàng Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du cũng
ba chìm bảy nổi:
“Ma đưa lối, quỷ đưa đường
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi
Hết nạn ấy đến nạn kia
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần
Trong vòng giáo dựng gươm trần
Kề lưng hùm sói giữ thân tôi đòi”
Cuộc đời lưu lạc giang hồ của Kiều cũng chỉ vì nhân duyên, nghiệp chướng.
“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn, Trời gần Trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài nằm với chữ tai một vần”
Sau 15 năm lưu lạc giang hồ, Kiều đã được tái hợp với Kim Trọng, thoát cảnh
ngang trái của cuộc đời.
“Nửa giấc đoạn trường tan gối điệp
Một dây bạc mệnh dứt cầm loan”
Nhờ nước sông Tiền Đường đã giải oan;
“Mười mấy năm trời nợ giủ xong
Sông Tiền Đường đục hóa ra trong.
....
Tấm lòng thiên cố thương mà trách
Chăng trách chi Kiều trách hóa công!”
Triết lý Phật Giáo làm phong phú hoá triết lý nhân sinh Việt vốn
chịu ảnh hưởng của Nho học về luân thường đạo lý dựa trên Tam Cương (quân, sư,
phụ); Ngũ Thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín); Ngũ Luân (Vua tôi, cha con, anh
em, vợ chồng, bè bạn)… dựa trên triết lý của Nho Giáo dùng Tứ Thư, Ngũ
Kinh làm sách giáo khoa qua các triều đại quân chủ Trung Hoa và Việt Nam, qua
phương pháp giáo dục giúp con người phát triển qua 8 ý niệm chính:
(1) Cách vật: tìm tòi học hỏi (investigation of things)
(2) Trí
tri: để đạt sự hiểu biết thấu đáo cái nguyên lý của sự vật, (extension of knowledge)
(3) Thành tâm (the will becomes sincere),
(4) Chánh ý (the mind is rectified),
(5) Tu thân (personal life is cultivated),
(6) Tề gia (the family is regulated),
(7) Trị quốc (the state is put in order),
(8) Bình thiên hạ (and peace is established throughout the
world).
Đó là triết lý giáo dục nhân bản bàng bạc trong nền học thuật Việt
suốt hơn một ngàn năm lịch sử cho đến cuộc cải cách giáo dục với kỳ thi Hương
cuối cùng năm 1918.
Nếu các vị danh sư của Phật Giáo đã tích cực đóng góp vào sự hình
thành nền văn học Việt từ thuở phôi thai thì khoảng năm 1530 dưới thời Vua Lê
Chúa Trịnh, các vị Thừa sai Thiên Chúa Giáo đến giảng đạo tại Việt Nam đã sáng
chế và lưu truyền cho hậu thế một phương pháp ghi chép tiếng Việt độc nhất vô
nhị: chữ Quốc Ngữ, thêm một chứng tích của tôn giáo góp công vào sự phát triển
của nền Văn hóa Việt Nam.
Khi các phái bộ Thiên Chúa Giáo đến Việt Nam, vì nhu cầu giảng kinh Thánh và
nhu cầu truyền đạt, các Giáo sĩ thừa sai học nói tiếng Việt và dày công nghiên
cứu cách dùng mẫu tự La-tinh a, b, c... để viết tiếng Việt.
Công trình này do nhiều Giáo sĩ thực hiện, nhưng người được nhắc nhở đến nhiều
nhất là cố Giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes). Ngài đã học cách nói tiếng
Việt với một cậu bé Việt 13 tuổi. Cậu bé này là một thần đồng về ngôn ngữ. Chỉ
trong 3 tuần lễ, Cha Đắc Lộ đã đọc được hầu hết các thanh âm tiếng Việt và
ngược lại cậu bé Việt đã học được tiếng La-tinh. Cậu bé đã trở thành đồ đệ của
Cha Đắc Lộ, đọc kinh cầu bằng La-tinh và trở thành một thầy giảng nổi tiếng
thời bấy giờ.
Ban đầu tiếng Việt có nhiều chữ khó viết như Trời viết thành “blời”, nhưng dần
dần chữ Việt viết theo mẫu tự La-tinh biến thành một khí cụ sắc bén, một phương
pháp mới trong vấn đề ký âm, ghi chép tiếng Việt một cách giản tiện, dễ dàng và
nhanh chóng. Nhiều người có thể lãnh hội, không tốn công phí sức như học chữ
Nôm và chữ Hán. Người ta quen gọi là chữ Quốc Ngữ để phân biệt với chữ Nôm và
chữ Hán.
Chữ Quốc Ngữ được các Giáo sĩ Thiên Chúa Giáo phát minh đã mở con đường sáng
cho nền giáo dục nước nhà, nhờ cách ghi chép và đánh vần giản tiện. “Quốc Ngữ
chữ nước ta” ra đời đúng lúc mà:
“Đạo học ngày này đã chán rồi
Mười người theo học chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khóa tư lương trấp trỏm ngồi” (Tú Xương)
Hai tác phẩm đầu tay là cuốn tự điển Quốc Ngữ – Bồ Đào Nha – Latin
(Dictionarium Annamiticum sey Tonkinese cum Lusitanum, et latinum declaration)
và cuốn Kinh Nghĩa dạy Giáo Lý cho tân tòng (Catechismus pro iis qui volunt
suscipene Baptism in octo dies divisus) bằng song ngữ La–Việt do Giáo sĩ Đắc Lộ
trước tác và xuất bản vào năm 1651.
Sau giai đoạn khai phóng, Giám Mục Behaine và Giám Mục Tabert đã gọt dũa hình
thức chữ Quốc Ngữ sắc bén như ngày nay, qua các cuốn Tự Điển Việt-La xuất bản
năm 1838, cha Ravier nhuận sắc và được tái xuất bản vào năm 1880.
Trong thời gian này, tại Nam Việt có đến 527 trường dạy Quốc Ngữ gồm hơn 17,000
học sinh nam nữ so với 209 trường dạy chữ Hán cho khoảng 2,300 học sinh. Sỉ số
học sinh Hán ngữ giảm sút rất nhiều. Mãi đến năm 1917 các khoa thi Hương bị bãi
bỏ. Hán học chỉ còn là lưu niệm vang bóng một thời! Theo mới nới cũ phải chăng
là luật đào thải của thiên nhiên?
Văn tự là phương tiện truyền đạt tư tưởng và nối dài lời nói. Chữ Quốc ngữ đã
đủ sắc bén để diễn tả tư tưởng thì tội tình gì mà miệt mài Hán tự, tốn công,
phí sức, thiếu tính chất phổ cập trong quần chúng.
Kế nghiệp của các Giáo sĩ Thiên Chúa Giáo, các giáo dân cũng đã đóng góp tích
cực vào sự bành trướng chữ Quốc Ngữ như Pétrus Ký, Paulus Của, Nguyễn Văn
Vĩnh... Petrus Trương Vĩnh Ký (1837–1898) là một thần đồng về ngôn ngữ. Ông nói
được 12 thứ tiếng, và Chủ Bút tờ Công Báo đầu tiên ở Nam Việt là Tờ GIA ĐỊNH
BÁO, xuất bản năm 1865.
Gia Định Báo là tờ báo truyền bá Quốc Ngữ đầu tiên làm nền tảng cho các báo
Quốc ngữ sau này. Năm 1909, ông Canavaggio xuất bản tờ Nông Cổ Mín Đàm với sự
cộng tác của các vị Lương Khắc Minh, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt. Ông
Trần Chánh Chiếu, sau đó làm Chủ Bút tờ LỤC TỈNH TÂN VĂN xuất bản năm 1907.
Các học giả của Phong Trào Duy Tân cũng đã rầm rộ truyền bá Quốc Ngữ như quý
ông Phan Chu Trinh (1872–1926), Ngô Đức Kế (1878–1929), Trần Quý Cáp
(1870–1908) và Huỳnh Thúc Kháng (1876–1949).
Tại Bắc Việt nhà giáo Bùi Xuân Phái và các thông ngôn, tham biện lập Hội Trí
Tri để phổ biến văn minh học thuật Âu Mỹ vào năm 1892. Năm 1891 tờ Đại Nam Đồng
Văn Nhật Báo xuất bản bằng Hán Văn và sau đó thêm phần Quốc ngữ. Đến năm 1907
đổi danh thành Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo do Nguyễn Văn Vĩnh làm Chủ Bút, đăng
tải các tác phẩm dịch thuật như thơ La Fontaine, kịch Moliere, khảo luận tư
tưởng chính trị về Tự Do, Bình Đẳng... Năm 1905 tờ Đại Việt Tân Báo xuất bản
song ngữ Hán – Quốc Ngữ do ông Đào Nguyên Phổ làm chủ bút, nối liền giữa tân
học và cựu học.
Trên toàn quốc phong trào “Học Báo” đã được phát động rầm rộ, kể cả chính quyền
Đông Dương dưới thời Toàn Quyền Beau (1901–1908). Toàn Quyền Paul Beau đã tích
cực hỗ trợ chương trình truyền bá Quốc Ngữ và thành lập Đại học Đông Dương tại
Hà Nội năm 1906. Vì sinh viên bãi khóa phản đối chính sách thuế khoá của chính
quyền thuộc địa nên Toàn Quyền Klobukowski ra lệnh đóng cửa Đại học Đông Dương.
Đến năm 1917 Toàn Quyền Albert Sarraut cho phép mở lại với danh xưng mới Đại
học Hà Nội. Năm 1905, với Phong Trào Duy Tân, cụ Phan Bội Châu xuất dương qua
Nhật Bản, viết về những bức Huyết Lệ Thư, kể rõ kinh nghiệm Duy Tân của Nhật
Hoàng, được phiên ra chữ Quốc Ngữ, truyền bá trong dân chúng 3 miền, và dùng
làm tài liệu giáo khoa cho Trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Trường ĐKNT cũng đã bị
đóng cửa sau 10 tháng hoạt động.
Về cơ sở giáo dục, ngoài các trường công lập lớn như Quốc học Huế (1896), Chu
Văn An Hà nội (1908), Pétrus Ký Saìgòn (1927). Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã
mở thêm trên 850 ngôi trường, đóng góp lớn lao vào nền giáo dục nước nhà. Từ
năm 1889 đến 1904, ba ngôi trường đã được các Sư Huynh Dòng Jean Baptiste De La
Salle thành lập: Trường Taberd ở Sài Gòn, Trường Pellerin ở Huế và Trường
Puginier ở Hà Nội. Sau đó đã lập thêm các trường khác ở những tỉnh lớn và đã
đào tạo hàng trăm ngàn công dân ưu tú phục vụ trong mọi ngành hoạt động của
quốc gia.
Ngoài những tạp chí nêu trên, hai tạp chí nổi tiếng kết nối sự nghiệp truyền bá
Quốc Ngữ là Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong Tạp Chí và Nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Các
cơ sở này dùng Quốc Ngữ để đẩy mạnh phong trào cải cách tư tưởng, đả phá những
tập tục cổ hủ, không còn thích ứng với trào lưu tiến bộ mới “gió Mỹ mưa Âu” mà
nhân vật Loan trong tác phẩm Đoạn Tuyệt đã nói lên phần nào triết lý văn nghệ
của nhóm Tự Lực Văn Đoàn.
Như vậy, trong suốt 300 năm chữ Quốc Ngữ đã tiến đến giai đoạn tinh luyện, hầu
hết các thể văn đều được sáng tác như ký sự, văn khảo, dịch thuật truyện, thơ,
kịch, văn, luận thuyết... Nhiều sách giáo khoa được các học giả Bắc, Trung, Nam
sáng tác và đăng tải trên các tờ báo viết bằng chữ Quốc ngữ cho đồng bào thưởng
lãm.
Nhiều danh từ về triết học, kỹ thuật bắt đầu xuất hiện bằng cách ghép danh từ
Hán Việt hoặc phiên âm từ ngoại ngữ để đáp ứng nhu cầu của nền giáo dục mới,
dồi dào các ngành học chứ không chỉ học văn chương thi phú như trước. Nền tân
học đòi hỏi nhiều danh từ không có trong Việt ngữ. Kho tàng Việt ngữ dồi dào về
danh từ tình cảm, văn chương nhưng thiếu danh từ về khoa học, kỹ thuật và triết
học. Nếu nói nhìn quân phục biết tư cách thì cũng có thể nói nhìn cách dùng
danh từ trong các cuộc đối thại hàng ngày thì có
thể do lường được biết trình độ học vấn.
V ì thế trong các bài thi trắc nghiệm trình độ kiến thức (test) trong các
chương trình trung hoc, các cấp đại học Mỹ hiện nay đều có câu hỏi vế ý nghĩa
của danh từ.
Ngày nay, sự thiếu thư tịch để tham khảo là một sự trở ngại lớn cho vấn đề viết
văn khảo. Họa chăng văn hóa là những gì còn lại sau khi đã quên hết, đúng như
câu “La culture est ce qui reste quand on a tout oublié”. Văn hoa là những gì
còn lại sau khi đã quên hết. Nghe ra có vẻ nghịch lý, nhưng nếu hiểu theo phân
tâm học (psychoanalysis) của Freud, thì trí tuệ
chia làm 3 phần. Phần nhớ rõ ràng những sự kiện gọi là phần “Ý thức”
(conscious); phần lờ mờ, nhớ nhớ, quên quên gọi là “Tiềm thức” (subconscious)
và phần ẩn náu sâu kín, có thể xuất hiện một cách bất kỳ xuất ý, gọi là phần
“Vô Thức” (unconscious). Đa số những hành vi, cử chỉ hằng ngày của chúng ta do
phần vô thức điều khiển.
Mục đích của giáo dục nhằm truyền đạt sự hiểu biết (Tri/ knowledge/
connaissance). Sự hiều biết cơ bản tổng quát ở cấp Trung học nên có danh xưng
là Trung học phổ thông.
Sự hiểu biết chuyên môn (specialties) về các ngành sinh hoạt trong
xã hội thường đươc đào luyện ở cấp cao đẳng, đại học về các ngành chuyên khoa về Văn hoá, Xã hội, Kinh tế,
chính trị …học đường huấn luyện sự hiểu biết chuyên môn hay phần “Tri”. Khả
năng suy luận và áp dụng vào đời sống sự hiều biết
gọi là “Thức”.
Trí thức (intellectual) là những sĩ tử (1) có kiến văn và (2) có khả năng suy luận, nói có sách, mách có chứng, biết áp dụng sự hiểu biết để phục vụ
phúc lợi chung là hình ảnh của người quân tử. (ngược lạị là “Trí ngủ”!
“Đại học chì đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại dĩ ư chí
thiện”. Cái đạo của nền giáo
dục phổ thông hay rộng rải là làm sáng tỏ đức
tính tốt của con người, để giúp dân mỗi ngày môt trở
nên mới mẻ và để đạt đến mức chí thiện
(holiness).
Kiến văn học hỏi được ở học đường là những kinh nghiệm và kiến
thức quá khứ nhằm giúp sĩ tử căn bản để suy luận
trong tiến trình tìm kiếm giải pháp mới. Nói cách khác “giáo dục” là tiến trình
thu nhận sự hiểu biết của quá khứ làm căn
bản cho giai đoạn tinh luyện suy luân và phát triển sáng tạo.
Tiến trình giáo dục là tiến trình “tiêm nhiễm” kiến thức vào vô
thức, càng nghiên cứu học hỏi, kho tàng vô thức càng phong phú. Trong ý niệm đó
“Văn hóa là cái gì còn lại sau khi đã quên hết”, hiểu theo phân tâm học
(psychoanalysis) của Freud.
Văn hoá nói chung là những gì thể hiện sự hiện hữu của con người
trên trái đất này và được lưu trữ qua các văn khố, bảo tàng viện, lưu truyền
kiến thức qua hằng ngàn năm lịch sử.
Văn hóa là linh hồn
của môt dân tộc. Sự phá huỷ hoàn toàn văn
hoá của môt dân tộc dẫn đến sự diệt vong của dân tộc đó. Chúng ta có thể nói các sinh vật
khác không có văn hoá.
Tiếc thay, đảng CS Hà Nội, từ năm 1954, tại Miền Bắc và 1975
tại Miến Nam, đã dành tài nguyên quốc gia vào việc phá hủy nến văn hoá dân tộc
như đốt sách, phá Chùa, đâp Nhà Thờ, hủy hoại các bia mộ, các di tích lịch sử,
đốt sách và sát hại tri thức, văn nghệ sĩ, rập theo chính sách ‘Cách mạng văn
hoá” của Mao Trạch Đông.
Dù nhớ hay quên, viết văn, làm báo chỉ nhằm chủ đích phục vụ
nhân sinh, trao đổi kinh nghiệm và kiến thức để chúng ta “một phen tri kỷ cùng nhau” trong công tác bảo tồn
và phát huy nền văn hóa dân tộc.
Ghi lại công nghiệp của cổ nhân là một niềm vui tinh thần, “Làm việc nghĩa
không kể lợi hại. Luận anh hùng không kể hơn thua”. Dù không biết “Những người
muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ”, nhưng họ đã trồng cây cho chúng ta ăn trái và
hoa thơm tỏa ngát lòng đất.
Hiểu một cách giản dị, văn là vẻ đẹp, hoá là biến hoá. Công trình
văn hoá của cổ nhân đã lưu lại trong tâm hồn chúng ta chút gì để nhớ, chút gì
để thương như lời Tú Xương còn như văng vẳng bên tai:
“Ta nhớ người xa cách núi sông
Người xa xa lắm nhớ ta không?”
và thông cảm với tâm tư của Thôi Hạo:
“Ai người trước đã qua
Ai người sau chưa tới
Ngẫm Trời, Đất mông lung,
Một mình tuôn giọt lệ!”
Kẻ tha thương đâu đâu cũng cô độc, “L’exilé partout est seul”! Nên chúng
ta đồng cảm với tâm tư của Vương Duy:
“Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu.
Tây xuất Dương quan vô cố nhân”.
Mong bạn uống cạn chén bồ đào vì khi qua bên kia phương trời Tây thì không còn
cố nhân nữa!
“Mưa mai thấm bụi Vị Thành
Liễu bên quán trọ sắc xanh ngời ngời
Khuyên anh hãy cạn chén mời
Dương quan ra khỏi ai người cố tri”
(Tống Nguyên nhị sứ An Tây)
“Văn dĩ tải đạo”. Viết văn là để chuyển tải đạo lý.
“Đạo theo lẽ Trời mà ra và cũng bởi lòng người mà đến”.
Nhưng Trời không nói “Thiên hà ngôn tai”, thì người cũng chỉ
“truyền nhi bất tác”.
Sinh hoạt xã hội, viết văn, làm báo, vừa để sưởi ấm tâm hồn, vừa bắc nhịp cầu
thông cảm cổ, kim, vừa để hoằng dương công đức của tiền nhân cũng là sứ mệnh
văn hóa chung của chúng ta vậy.
“Rồi một ngày mai băng giá hết
Muôn hoa đua nởrộn Xuân về “
Trần Xuân Thời
“Mỗi Độ Xuân Về “
Ghi chú :
Đính kèm baì viết từ Net.
ALEXANDRE DE RHODES
Nhân mới đọc bài tri ân giáo sĩ
Alexandre de Rhodes do công ơn sáng lập ra chữ quốc ngữ, tôi xin phép đăng lại
bài viết về chuyến thăm mộ ngài ở IRAN mà tôi đã từng đăng lên trang nhà, cách
đây khá lâu , để quý vị cùng đọc .
*****************
THĂM MỘ ALEXANDRE DE RHODES TẠI BA TƯ
- TRI ÂN NGƯỜI KHAI SÁNG CHỮ QUỐC NGỮ VIỆT NAM.......................
Xin cám ơn người, một vị đại ân nhân
của những người con nước Việt. Xin tri ân người với lòng kính yêu sâu sắc:
Alexandre de Rhodes
“Từ thuở còn sinh viên, khi được học
về nguồn gốc chữ Quốc ngữ mà chúng ta có được để sử dụng một cách dễ dàng và
tiện lợi như ngày nay. Tôi đã thầm cảm ơn những nhà truyền giáo phương Tây, đặc
biệt là Alexandre de Rhodes, người đã có đóng góp lớn lao trong việc hoàn thiện
hệ thống bảng chữ cái cho người Việt Nam của chúng ta.
Và may mắn thay, trong chuyến đi Ba
Tư (Iran) lần này. Một cơ duyên vô cùng quý báu đã giúp tôi có cơ hội đến viếng
thăm ngôi mộ, nơi yên nghỉ của ông trong một nghĩa trang nằm ở ngoại ô của
thành phố Esfahan, Iran.
SỰ CHỈ GIÚP CỦA NHỮNG NGƯỜI BẠN TỐT
BỤNG
Từ lời gợi ý của một chị bạn, chúng
tôi biết được thông tin về ngôi mộ của Alexandre de Rhodes được an táng trong
một nghĩa trang công giáo của người Armenia tại Esfahan. Nhưng do thời gian lưu
lại nơi đây khá ngắn, vì thế hy vọng được đến viếng thăm ngôi mộ của ông là khá
mong manh cho chúng tôi.
Khi nghe chúng tôi nói về ước nguyện
của mình, cô Malih - một Hướng dẫn viên người Iran vô cùng thông cảm và hết sức
tận tình giúp đỡ. Mặc dù với thâm niên hơn 10 năm làm nghề hướng dẫn viên, đã
đưa biết bao nhiêu đoàn khách từ khắp năm châu đến thăm Esfahan, nhưng là người
Hồi giáo cho nên cô chưa hề biết đến thông tin về khu nghĩa trang người công
giáo Armenia nằm ở đâu. Và cô cũng không hề biết đến thông tin nào về Alexandre
de Rhodes.
Sau quá trình tìm kiếm, thông qua một
người bạn gốc Armenia, cô Malih hỏi thăm được địa chỉ của nghĩa trang. Nhưng
vấn đề là không phải ai cũng được vào thăm nghĩa trang. Mà cần phải có sự đồng
ý của người quản lý ở nghĩa trang.
Một lần nữa, chúng tôi may mắn gặp
được một vị quản lý ở nhà thờ Vank, ông đã nhiệt tình viết cho chúng tôi một tờ
giấy phép để xuất trình cho người quản lý ở nghĩa trang.
Cầm tờ giấy trên tay, chúng tôi vội
vàng đi về phía ngoại ô thành phố Esfahan. Nơi có nghĩa trang của cộng đồng
người Armenia sống tại đây.
NƠI NGƯỜI NẰM XUỐNG
Trước mặt chúng tôi là một nghĩa
trang rộng lớn. Những dãy mộ xếp hàng dài nối bên nhau mênh mông. Chúng tôi
biết là sẽ không dễ dàng để tìm ra vị trí lăng mộ của ngài. Chúng tôi tìm gặp một
cụ già quản mộ ở đây dò hỏi. Cụ nhanh chóng lên xe đưa chúng tôi đến ngôi mộ có
tên Alexandre de Rhodes….
Hôm chúng tôi đến, là ngày đầu năm
mới của tết cổ truyền Nowruz của người Ba Tư (Iran), một vài ngôi mộ gần đấy
được đặt những chậu hoa. Còn ngôi mộ của ông không có một cành hoa nào, đó chỉ
là một nấm mồ nhỏ làm bằng một tảng đá hình chữ nhật nằm khép mình khiêm tốn
bên những ngôi mộ khác.
Một niềm xúc cảm thân thương nghẹn
ngào mà tôi không thể tả thành lời đang tuông chảy trong tôi. Đây là nơi an
nghỉ của người đã có đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc Việt Nam. Dưới lớp đất
ấy là thi hài của một người phương Tây xa lạ.
Ông đã mất từ gần 4 thế kỉ trước
nhưng ông là người đã giúp cho dân tộc Việt Nam có được một bảng chữ cái với
các thanh sắc uyển chuyển nhẹ nhàng, nhằm để ghi lại và diễn đạt tiếng mẹ đẻ
của người Việt Nam.
Mộ ngài Alexandre de Rhodes
Đặt một chậu hoa tím mua được trong
một hiệu bán hoa tết của người Iran lên mộ ông. Chúng tôi không ai nói lời nào.
Nhưng giữa chúng tôi có một sự đồng cảm sâu sắc. Chấp tay lên ngực, tôi khẽ cúi
đầu xin gửi đến người một lời tri ân sâu sắc.
Nhìn thái độ thành khẩn và tôn kính
của chúng tôi dành cho người nằm dưới nấm mộ. Người quản trang hỏi cô Malih:
"ông ấy là ai mà chúng tôi có vẻ tôn kính thế?".
Và ông đã vô cùng ngạc nhiên khi biết
rằng đây là người đã có công hoàn thiện bảng chữ cái cũng như xuất bản những
quyển tự điển Việt - Bồ - La tinh đầu tiên cho người Việt Nam từ những năm
1651.
Qua cuộc chuyện trò, tôi đuợc biết
người quản trang có tên gọi là Rostam Gharibian, ông đã làm việc ở đây được 17
năm.
Tôi hỏi, trong 17 năm đó có bao giờ
ông thấy ai là con cháu hay người thân của ngài Alexandre de Rhodes đến viếng
mộ ông ấy hay không.
Thoáng chút đăm chiêu, ông trả lời
rằng: vì là một thầy tu cho nên khi mất đi cũng như bao người khác Alexandre de
Rhodes cũng không có vợ con. Và họ hàng thì cũng ở xa tít tận châu âu cho nên
chắc cũng không ai còn nhớ.
Vì thế trong 17 năm nay ông cũng chưa
hề nghe thấy một người họ hàng hay con cháu nào của ông đến thăm. Chỉ thỉnh
thoảng đôi khi ông thấy có một vài người Việt Nam đến viếng mà khi đó thì ông
cũng không biết họ là ai và có quan hệ như thế nào với người đã mất…
Theo truyền thống của những người
Iran, tôi lấy một ít nước rửa lên nấm mồ của ông. Những giọt nước mát trong
chảy lên bia mộ ông tựa như lời thì thầm của chúng tôi xin gửi đến người. Cả
một đời ông cống hiến vì đạo. Và trong quá trình truyền giáo, với mục đích mong
muốn truyền tải những thông điệp trong kinh thánh một cách dễ dàng hơn.
Ông đã không quản khó nhọc để tìm
cách sáng tạo ra bảng chữ cái tiếng Việt. Và đến khi cuối đời, Ngài đã lặng lẽ
nằm lại nơi xứ người. Có lẽ giờ đây ông không còn một người bà con họ hàng nào
nhớ đến ông để thỉnh thoảng ghé thăm, chăm nom nấm mồ của ông nữa, nhưng có lẽ
ông cũng ấm lòng khi biết rằng vẫn còn đó những người con nước Việt.
Vẫn còn đó hơn 90 triệu người con nước
Việt trên khắp 5 châu sẽ mãi mãi không bao giờ quên ơn ông. Người đã có công vĩ
đại trong việc chấm dứt 1000 năm tăm tối, 1000 năm khốn khó khi những người
Việt phải đi mượn chữ Tàu ghi lại tiếng Việt.
Những người con đất Việt kính cẩn
nghiêng mình trước mộ ALEXANDRE DE RHODES
Và giờ đây, hạnh phúc thay. Chúng ta
đã có được bảng chữ cái của riêng mình. Một bảng chữ cái dựa trên các ký tự La
Tinh nhưng vô cùng uyển chuyển và dễ học.
Xin cám ơn người, một vị đại ân nhân của những người con nước
Việt. Xin tri ân người với lòng kính yêu sâu sắc: Alexandre de Rhodes!”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét