Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2026

Khai Bút Đầu Năm

 


KHAI BÚT ĐẦU NĂM
Lê Đức Luận 

Khai bút đầu năm nay, tôi viết chữ “Tình”. Những năm về trước, tôi  viết chữ Tài, chữ Lộc, chữ Phước, chữ Thọ. Năm nay, bỗng dưng trong đầu nảy ra cái chữ “Tình”.

Chữ Tài, chữ Lộc, chữ Phước, chữ Thọ tự nó cho thấy được điều mong ước. Nhưng chữ Tình, thấy nó mông lung nếu đứng một mình, phải thêm một vài chữ theo sau mới xác định được cái mong muốn và mơ ước của mình.

Tôi suy nghĩ và hồi tưởng…

Thời trai trẻ có: tình yêu lứa đôi, tình bạn tâm giao… rồi thêm tình đồng đội, tình huynh đệ chi binh. Khi lưu lạc trên đất khách thì có thêm tình đồng hương. Khi cảm thương những kẻ khốn cùng là tình nhân loại…

Bước qua tuổi tám mươi - “lão lai tài tận - lực bất tòng tâm.” Những thứ tình kia mờ nhạt, chỉ còn cái nhìn tiêu cực như nhà thơ Nguyễn Hữu Tư tự thán:

“Đã qua cái thuở sông hồ.

Chỉ còn ngồi đợi chuyến đò âm-dương”


Tuy vậy, trong tôi vẫn còn lưu luyến cái tình già.

Thế là “Tình Già” được chọn để khai bút đầu năm.

Nói đến tình già là nhớ ngay đến bài thơ Tình Già của cụ Phan Khôi (1887-1959).

Ngày 10 tháng 3 năm 1932, báo Phụ Nữ Tân Văn đăng một bài mà thời ấy có người phê bình rằng: “Thơ chẳng ra thơ, văn chẳng ra văn…”

Sau đó, Tuần Báo Phong Hóa đăng lại bài này vào số báo Tết năm Quý Dậu - tức ngày 24 tháng 1 năm 1933.

Lúc này, người ta mới công nhận phong trào Thơ mới bắt đầu xuất hiện - đánh dấu một chuyển hướng mạnh mẽ trong thi ca Việt Nam - phá vỡ các quy tắc thơ cổ và tiếp thu văn hóa Tây Phương.

Phong trào Thơ Mới (thơ tự do) ra đời ở Việt Nam vào đầu thập niên 1930 - khơi dòng cho tiếng thơ ra khỏi khuôn phép cũ về niêm luật gò bó, chữ nghĩa trau chuốt cho vừa tai người xưa. Nó cất lên giọng nói đời thường của con người đang sống, đang yêu, đang già đi cùng kỷ niệm… và nó biểu lộ sự rung động của con tim trong mỗi cá nhân rất trung thực và riêng tư…

Nhiều người cho rằng “Tình Già” là bài thơ mới xuất hiện đầu tiên.

Nếu xét về thời gian thì không hẳn là như thế, vì trước “Tình Già” đã có những bài thơ phá cách của Tản Đà - lưng chừng giữa thơ cũ và thơ mới.

Nhưng “Tình Già” quả thực là bài thơ đầu tiên có ý thức rõ ràng về Thơ mới.

Chính tác giả Phan Khôi đã xác nhận: “Cố tình phá niêm luật - dùng lời ăn tiếng nói đời thường và tuyên bố công khai đây là “Thơ Mới.”

Có một điều nhận thấy ở đây là cụ Tản Đà sinh năm 1889, cụ Phan Khôi sinh năm 1887 - cách nhau hai năm - coi như cùng thời. Cụ Tản Đà làm thơ “phá cách” do cảm hứng và khí chất, còn cụ Phan Khôi làm thơ mới bằng cách “đoạn tuyệt” có ý thức và lý luận.

Hai con đường khác nhau nhưng cùng đưa thơ cũ sang thơ mới.

Những bài thơ phá cách của Tản Đà xuất hiện từ đầu 1920 - trước thời kỳ Thơ mới khoảng mười đến mười lăm năm, còn bài thơ Tình Già của Phan Khôi ra đời năm 1932 - cách nhau khoảng hơn mười năm.

Không hiểu thơ phá cách của cụ Tản Đà có ảnh hưởng đến lối làm thơ mới của cụ Phan Khôi hay không?

Nhưng khi nói đến thơ mới, người ta nhắc ngay đến bài thơ “Tình Già” của cụ Phan Khôi, ít nhắc đến Tản Đà và về sau có nhiều nhà thơ làm những bài thơ mới rất hay như: Thế Lữ với bài Hổ Nhớ Rừng; Lưu Trọng Lư với bài Tiếng Thu; Vũ Đình Liên với bài Ông Đồ; có Xuân Diệu với những bài thơ tình như Yêu, Tình Thứ Nhất; có Hàn Mặc Tử với Lưu Luyến, Đây Thôn Vĩ Dạ …v…v…

Tiếp theo có Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Đình Hùng… và càng về sau, phong trào Thơ mới càng phát triển mạnh, nhất là sau khi đất nước chia đôi, ở miền Nam từ năm 1954 - 1975, rất nhiều thi sĩ trẻ đã để lại những bài thơ mới làm xao xuyến lòng người…

Thế mà, trải qua non thế kỷ, nói chính xác là 94 năm từ khi phong trào Thơ mới xuất hiện năm 1932, có biết bao bài thơ mới rất lạ, rất hay làm rung động con tim của nhiều thế hệ. Nhưng giữa “rừng thơ mới” với bao tinh hoa và thay đổi ấy, “Tình Già” của Phan Khôi vẫn còn nguyên chỗ đứng của mình, như một cột mốc mở đầu, được nhắc đến với tất cả sự trân trọng trong văn học sử nước nhà.

Tuổi già, rảnh rỗi, ngồi buồn… tôi lướt một vòng trên “mạng”, thử tìm có bài thơ nào trong thời hiện đại mô tả tình già rung động, xót xa và hay hơn bài “Tình Già” của cụ Phan Khôi. Cuối cùng, tôi bắt gặp một bài thơ ưng ý. Đó là bài thơ “Đôi Dép” của Nguyễn Trung Kiên - sáng tác năm 1995, in lần đầu trên tạp chí Thế Giới Mới, ngày 15-12-1997.

Bài thơ Đôi Dép của Nguyễn Trung Kiên hay không phải do câu chữ trau chuốt, cầu kỳ mà nó diễn tả đúng cái lặng lẽ, xót xa và nhân hậu của cuộc tình đi đến cuối đời - không mơ mộng, không thề thốt, chỉ có kỷ niệm, thời gian và sự cam chịu - rất người!

Bài thơ Tình Già của cụ Phan Khôi nổi tiếng cũng không phải câu chữ cầu kỳ mà hay ở cái giọng nói thản nhiên - thật lòng, thật đời, thật buồn của một người đã sống đủ lâu để không cần làm dáng với cảm xúc.

Một mối tình không thành nhưng không tan biến cho đến lúc “hai cái đầu đều bạc” được kể lể với giọng bình thản nhưng đụng đáy con tim — rất thấm!

Hai mươi bốn năm xưa,

một đêm vừa gió lại vừa mưa,

Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,

hai cái đầu xanh kề nhau than thở:

- “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,

mà lấy nhau hẳn đà không đặng:

Để đến nỗi tình trước phụ sau,

Chỉ bằng sớm liệu mà buông nhau!”

- “Hay nói mới bạc làm sao chớ!

Buông nhau làm sao cho nỡ?

Thương được chừng nào hay chừng ấy,

Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng,

mà tính chuyên thủy chung!”

Hai mươi bốn năm sau,

tình cờ đất khách gặp nhau:

Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung,

Đố có nhìn ra được?

Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,

Con mắt còn có đuôi.

Tác giả: Phan Khôi

Bài thơ Tình Già có thể tách ra từng đoạn để thưởng thức, nhưng bài thơ Đôi Dép, mỗi câu mang một ý, chúng liền lạc với nhau suốt cả bài thơ, tạo nên cái rung động miên man cho người đọc, nên tôi ghi lại toàn bài thơ Đôi Dép của Nguyễn Trung Kiên để không cắt nguồn cảm xúc.

“Bài thơ đầu anh viết tặng em.

Là bài thơ anh kể về đôi dép

Khi nỗi nhớ ở trong lòng da diết

Những vật tầm thường cũng viết thành thơ

Hai chiếc dép kia gặp gỡ tự bao giờ

Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nửa bước

Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược

Lên thảm nhung, xuống cát bụi, cùng nhau

Cùng bước, cùng mòn, không kẻ thấp người cao

Cùng chia sẻ sức người đời chà đạp

Dẫu vinh, nhục không đi cùng người khác

Số phận chiếc này phụ thuộc vào chiếc kia.

Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi

Mọi thay thế đều trở nên khập khiễng

Giống nhau lắm nhưng người đi sẽ biết

Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu

Cũng như mình trong những lúc vắng nhau

Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía

Dẫu bên cạnh đã có người thay thế

Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh

Đôi dép vô tri khắng khít bước song hành

Chẳng thề nguyện mà không hề giả dối

Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội

Lối đi nào cũng có mặt cả đôi.

Không thể thiếu nhau trên những bước đường đời

Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải - trái

Như tôi yêu em ở những điều ngược lại

Gắn bó đời nhau vì một lối đi chung.

Hai mảnh đời thầm lặng bước song song

Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc

Chỉ còn một là không còn gì hết

Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia.”


Hai bài thơ cách nhau gần thế kỷ, tuy khác nhau về thời đại, lại gặp nhau ở chỗ là làm cho lòng người xao xuyến… Bài thơ “Đôi Dép”nói lên cái tình yêu thủy chung, cái nghĩa tào khang gắn bó, còn “Tình Già” mang vẻ lãng mạn đã được tiết chế bằng sự điềm tĩnh của một người từng trải.

Tôi tìm hiểu cơ duyên nào đã khiến hai tác giả viết nên hai bài thơ tình già để đời này, thì được biết: Bài thơ Đôi Dép của Nguyễn Trung Kiên ra đời từ một chuyện vui nói về đôi dép trong sinh hoạt thơ văn thời sinh viên. Từ hình ảnh giản dị ấy, tác giả liên tưởng đến tình yêu thủy chung, sự đồng hành lặng lẽ của hai con người trên bước đường đời. Lúc đó, tác giả ở tuổi hai mươi hai.

Còn bài thơ Tình Già của cụ Phan Khôi không phải là tiếng nói bột phát, mà được cất lên sau một thời gian ấp ủ, như một sự cố tình diễn đạt đời sống rất thật, rất người… qua thơ mới.

Nhẩm tính, cụ Phan Khôi sinh năm 1887, cụ viết bài thơ Tình Già vào năm 1932 - như vậy, lúc đó cụ vào tuổi 45. Cụ ấp ủ cuộc tình lưu lạc, đến 24 năm sau mới viết thành thơ. Như vậy, chuyện tình éo le xảy ra lúc cụ Phanmới 21 tuổi.

Giai thoại chuyện tình được bà Phan Thị Mỹ Khanh, con gái cụ Phan Khôi kể lại qua di cảo “Phan Khôi Tự Truyện” : Năm 1908, cha tôi bị cầm tù ở Hội An ba năm, vì tham gia các phong trào kháng sưu thuế ở Trung Kỳ. Một ngày, được viên võ quan coi tù điều về nhà riêng để viết liễn và câu đối. Ở đây, ngoài viên võ quan còn có vợ là một thiếu phụ rất đẹp và còn trẻ lắm. Khi cha tôi viết, bà rót rượu mời cha tôi uống để có cảm hứng.

Cha tôi thấy dễ chịu, vung ngọn bút như phượng múa rồng bay. Người thiếu phụ cứ đưa mắt theo ngọn bút. Sau bữa ấy, người thiếu phụ cảm mến người viết chữ, nên nhờ một người tù mang gói nhỏ gồm trầu cau nói là của bà Ch. gởi ông.

Sau đó người tù này tiết lộ mối tình ngang trái: Lâu nay tôi phục dịch hằng ngày trong nhà ông võ quan coi tù và tôi được vợ ông Ch. tin cậy, nên bà đem tình riêng ngỏ với tôi nhiều lần rằng: Bà thấy thầy thì thương lắm, nên gởi vật nhỏ mọn làm tin - mong ngày khác thầy cho bà gặp để nói chuyện…

Đến đây, trong đầu tôi bỗng nảy ra sự so sánh giữa cái “tình già” thời xưa của cụ Phan Khôi và cái “tình già” ngày nay của thế hệ tám mươi trên đất Mỹ.

Thời cụ Phan, 45 tuổi, đã cho là già. Bây giờ ở Mỹ, 45 tuổi được coi là còn trẻ, cái tuổi đang hăng say xây dựng sự nghiệp. Phải qua tuổi tám mươi mới gọi là già.

Thời cụ Phan Khôi còn bị lễ giáo ràng buộc - yêu nhau lắm mà không dám nhìn “cho no con mắt…” đến nỗi khi gặp lại cố nhân mà than rằng: “Nếu chẳng quen lung, chớ nhìn ra được…” và dù tình cũ nghĩa xưa có gợi lại trong lòng, vẫn phải dừng lại trong giới hạn: “ Ôn chuyện cũ mà thôi - liếc mắt đưa nhau đi rồi - con mắt có đuôi..”.

Tôi không hiểu thấu câu “ liếc mắt đưa nhau đi rồi - con mắt có đuôi” - “con mắt có đuôi” là làm sao? Có phải đó là cách nói dân gian để chỉ ánh mắt liếc nhẹ mà còn vương lại, như có cái “đuôi” kéo theo sau - một cái liếc không dứt khoát, rất kín đáo để nhận ra nhau, nhớ nhau và tự nhủ: “vẫn còn thương!”

Nghĩ như vậy, không biết có đúng ý cụ Phan?

Nhưng thôi! Mỗi cảnh, mỗi thời có cái khác nhau. Chỉ biết “tình già” ngày nay của các cụ ở tuổi tám mươi trên đất Mỹ được tự do hơn, phóng khoáng hơn, nhưng trong lòng vẫn mang một nỗi niềm lưu lạc cô đơn và ray rứt - khó lòng bày tỏ cùng ai.

Trước năm 1975, biết bao cuộc tình thơ mộng - hẹn thề “nối tóc xe tơ”. Nhưng cuộc chiến tranh tàn khốc quá, đành phải nén lòng để kỷ niệm nên thơ đi vào ký ức.

Sau năm 1975, tiếng súng không còn, nhưng vỡ oà bi thảm: lưu lạc, ngăn cách, chia ly, đứt gánh … Chàng còn ở lại chiến truờng thì nàng đã lên đường di tản, hay chàng ở trong trại tập trung cải tạo, nàng ở nhà tần tảo thăm nuôi cho đến ngày chàng ra tù, hoặc chàng vượt biên, nàng ở lại quê nhà, ngóng trông ngày sum họp…

Rồi mấy mươi năm sau, gặp nhau trên đất khách - hai mái đầu đã bạc - ngỡ ngàng chẳng biết nói sao cho phải, vì chàng và nàng đã có cuộc sống riêng tư, nhưng những kỷ niệm nên thơ bấy lâu chìm trong ký ức, bây giờ trổi dậy, làm cho cả hai cảm thấy ngậm ngùi… đành cho nước mắt chảy ngược về tim.

Xem ra, chuyện “tình già” của cụ Phan Khôi không đủ lớn để khóc, cũng không nhỏ để quên. Nhưng những chuyện “tình già” của các cụ tám mươi nhà ta trên đất Mỹ đầy thương cảm và xúc động… có thể làm cho nhiều người rơi lệ…

Ấy vậy, mà mấy mươi năm qua chưa có bài thơ “tình già” nào xuất hiện làm rung động lòng người hơn bài thơ “Tình Già” của cụ Phan Khôi.

Viết thế có thể chủ quan hay thiếu sót. Nếu ai bắt gặp bài thơ “tình già” nào hay hơn “Tình Gìa” của cụ Phan Khôi thì nêu lên để chúng ta cùng suy ngẫm và so sánh.

LÊ ĐỨC LUẬN

(tháng 2-2026)




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét