THƠ CỦA ĐỖ PHỦ - BÀI 110, 111, 112 VÀ 113
Thầy Dương Anh Sơn
THƠ CỦA ĐỖ PHỦ
Bài 110
ĐĂNG DUYỆN CHÂU 登兗州
THÀNH LÂU 城樓
Đông Quận xu đình nhật, 東郡趨庭日,
Nam lâu túng mục sơ. 南樓縱目初。
Phù vân liên Hải Đại, 浮雲連海岱,
Bình dã nhập Thanh Từ. 平野入青徐。
Cô chướng Tần bi tại, 孤嶂秦碑在,
Hoang thành Lỗ điện dư. 荒城魯殿餘。
Tòng lai đa cổ ý, 從來多古意,
Lâm diểu độc trù trừ. 臨眺獨躊躇。
(Năm 740)
Dịch nghĩa:
Ngày (xưa) theo cha đến vùng Đông Quận, - (Nay) lần đầu lên lầuphía nam phóng tầm mắt nhìn xa! – Mây nổi nối liền Đông Hải và Đại Sơn, - Đồng bằng trải rộng vào đến Thanh Châu,Từ Châu. (c.1-4)
Ngọn núi cao lẻ loi vẫn còn tấm bia từ thời nhà Tần, - Thành hoangcòn sót lại (vết tích) cung điện nước Lỗ. – (Từ xưa) theo đến nay có nhiềudáng vẻ cổ xưa, - Đứng nhìn xuống xa xa ,riêng mình cứ bâng khuâng, ngậpngừng.! (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
LÊN LẦU THÀNH DUYỆN CHÂU.
Ngày xưa Đông Quận theo cha,
Nay lầu nam thả mắt qua lần đầu.
Mây bay Hải Đại nối nhau,
Cánh đồng bằng phẳng vào trong Thanh Từ.
Bia Tần, núi lớn chơ vơ,
Thành hoang, điện Lỗ sót dư còn bày.
Dấu xưa nhiều vẻ đến nay,
Từ xa trông ngắm, riêng đây ngập ngừng!
Chú thích:
- Duyện Châu 兗州: một huyện thành của Trung Hoa xưa nằm giữa vùng Thanh Châu 青州 và Từ Châu 徐州 (Thanh Từ 青徐). Ngày còn trẻ, Đỗ Phủ theo cha đến thành Duyện Châu. Nay lại ghé Duyện Châu nhắc lại kỷ niệm với cha mình.
- Đông Quận 東郡: tên gọi khác của Duyện Châu. Nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Hà Nam , Trung Hoa.
- xu đình 趨庭: là đi theo cha (xu: đi theo, tuân theo, làm theo, rảo bước...) đến chốn đình phủ. Đây là kỷ niệm của Đỗ Phủ khi còn trẻ đi theo cha đến chỗ nhậm chức.
- túng mục sơ 縱目初: phóng tầm mắt, thả mắt (túng mục) lần đầu tiên (sơ)...
- Hải Đại 海岱: Hải: tức là Đông Hải hay Bột Hải là biển phía đông của Trung Hoa ; Đại: tức là Thái Sơn, một trong năm ngọn núi lớn bên Trung Hoa (Ngũ Nhạc).
- Tần bi 秦碑: bia được dựng đời Tần để ca ngợi công lao cũa Tần Thủy Hoàng...
- chướng 嶂: núi cao và to lớn, sừng sửng như bức bình phong.
- dư 餘: thừa ra, dư ra, sót lại, còn lại, ngoài ra, hơn, quá, nhàn rỗi, dự tính, dư dã...
- cổ ý 古意: mang, chưa chất dáng, vẻ, vị ... v.v... xưa trước (ý: 意 ý nghĩ, nhận biết, tấm lòng, suy nghĩ trong lòng, nghĩ ngợi, quan điểm, ngờ vực, dự tính...)
- lâm diểu 臨眺: ở trên cao (lâm) nhìn, ngắm xa xa (diểu)...
-trù trừ 躊躇: bâng khuâng, ngập ngừng, chần chừ...
Bài 111
TIỀN XUẤT TÁI 前出塞
(Kỳ lục) (其六)
Vãn cung đương vãn cường, 挽弓當挽強,
Dụng tiễn đương dụng trường. 用箭當用長,
Xạ nhân tiên xạ mã, 射人先射馬,
Cầm tặc tiên cầm vương. 擒賊先擒王。
Sát nhân diệc hữu hạn, 殺人亦有限,
Liệt quốc tự hữu cương. 列國自有疆。
Cẩu năng chế xâm lăng, 苟能制侵陵,
Khởi tại đa sát thương! 豈在多殺傷。
(năm 752)
Dịch nghĩa:
Khi giương cung lên phải nên giương loại cung cứng cáp , - Khi dùng tên , phải dùng tên dài ! – Bắn người , trước tiên là bắn ngựa ! – Bắt giặc, đầu tiên phải bắt tướng. (c-1-4)
Giết người phải có hạn, - Các nước sẵn có biên cương. – Nếu ngăn chặn (giặc) xâm lăng, - Đâu phải do giết hại cho nhiều!
Tạm chuyển lục bát:
TRƯỚC KHI RA BIÊN ẢI.
(Kỳ 6)
Nên dùng cung cứng giương lên,
Dùng tên để bắn, tên nên loại dài.
Bắn người, bắn ngựa trước ngay!
Trước khi bắt giặc , bắt vây tướng cùng.
Giết người cũng có hạn chừng!
Nước nào vẫn sẵn biên cương ranh phần.
Nếu ngăn chặn giặc xâm lăng,
Biết bao người chết hay chăng đó kìa!
Chú thích:
** Loạt thơ TIỀN XUẤT TÁI gồm 9 bài và sau đó là 5 bài HẬU XUẤT TÁI thể hiện tinh thần phản đối chiến tranh cùng hiện thực của đao binh loạn lạc gây ra biết bao đau thương cho dân chúng của Đỗ Phủ . “Xuất tái” hay “Nhập tái” (Ra hay vào vùng biên giới) là một loại “nhạc phủ” lấy hình ảnh của những người đi lính thú lo chiến chinh ngăn giặc ở vùng biên tái tây bắc Trung Hoa cũng như tham vọng mở mang biên giới, xâm lấn lãnh thổ của bộ tộc Thổ Phồn của tướng Kha Thư Hàn khi động viên, chiêu mộ quân lính vùn Quang Trung,Trung Hoa đi đánh nhau mở rộng đất đai ở vùng Tây Bắc . Bài thơ này ban đầu cho thấy nhà thơ bình luận về kỹ thuật và phép dùng binh nhưng 4 câu thơ tiếp lại cho thấy tinh thần phản đối chiến tranh, châm biếm việc đi gây hấn các bộ tộc ngoài biên giới Tây Bắc Trung Hoa để giành giật đất đai của nước khác! Tư tưởng chung loạt các bài thơ này cho thấy tinh thần nhân đạo, yêu chuộng hòa bình của Đỗ Phủ. Và điều đó cũng góp phần cho văn học Trung Hoa tôn vinh Đỗ Phủ là bậc “Thi thánh 詩聖” sánh vai cùng bậc “Thi tiên 詩仙” Lý Bạch và “Thi Phật 詩佛” của Vương Duy (Thơ của Vương Duy hòa quyện “thi, họa và chất Thiền”. Người đời ca ngợi thơ và nhân cách của Vương Duy đạt đến cảnh giới giác ngộ siêu thoát như các bậc Thanh Văn, Bồ Tát)...
- vãn cung 挽弓: giương, kéo dây cung...
- vãn cương 挽強: giương (loại cung) cứng cáp, mạnh mẽ...
- đương 當 : nên, đáng, xứng nhau, ngang nhau, gánh vác, đương thời, chống giữ...
- diệc hữu hạn 亦有限: cũng giữ mức độ, cũng chừng mực, không vượt giới hạn... Tinh thần nhân đạo của Đỗ Phủ thể hiện rõ nét trong câu thơ này.
Chiến tranh xưa nay gây ra do tinh thần hiếu chiến, hiếu sát và tham vọng cướp đất đai ,mở rộng lãnh thổ... v.v... rất khó ngăn chặn. Đỗ Phủ chỉ mong muốn kẻ đi xâm lăng bớt đi sự tàn bạo, hiếu sát quá độ gây cảnh máu đổ thịt rơi cho binh lính hai bên.Vì thế, trong vai trò của một nhà thơ, ông chỉ biết dùng ngòi bút khuyên can thiên hạ nên tiết giảm bạo lực, giết chóc trong chiến chinh mà thôi. Kẻ “sĩ” không phải là võ tướng hay theo đuổi nghiệp binh . Vai trò của họ là tinh thần “ưu thời mẫn thế” và một tấm lòng biết thương cảm cho nỗi khổ của dân đen trong chiến cuộc...
-liệt quốc tự hữu cương 列國自有疆: các nước đều sẵn có biên cương (của nước mình).Câu thơ này cho thấy rõ tinh thần phản đối chiến tranh xâm lược ,chiếm cứ đất đai của nước khác yếu thế hơn. Đây chính là lòng yêu chuộng hòa bình, tôn trọng lân bang để cho máu xương thôi tuôn rơicủa bậc “thi thánh” Đỗ Phủ!
- câu 7 và 8: Nếu ngăn chặn được sự xâm lăng thì đâu cần phải giết chóc cho nhiều. Mở rộng ra: tư tưởng yêu chuộng hòa bình, ngăn ngừa cái ác là nền tảng để các nước biết tôn trọng lãnh thổ của nhau hầu tránh đi đến xung đột tranh giành đất đai của nhau....
Bài 112
ỨC ĐỆ (Kỳ nhất) 憶弟其㇐
Táng loạn văn ngô đệ, 喪亂聞吾弟,
Cơ hàn bạng Tế châu. 飢寒傍濟州。
Nhân hi thư bất đáo, 人稀書不到,
Binh tại kiến hà do? 兵在見何由。
Ức tạc cuồng thôi tẩu, 憶昨狂催走,
Vô thì bệnh khứ ưu. 無時病去憂。
Tức kim thiên chủng hận, 即今千種恨,
Duy cộng thuỷ đông lưu. 惟共水東流。
Dịch nghĩa:
Thời loạn lạc binh đao rối ren, mất mát, nghe tin em của ta - Đói rét nương náu ở vùng Tế Châu. – Vắng người , thư không (gửi) đến được, - Giặc còn, làm sao để gặp nhau!? (c.1-4)
Nhớ hôm qua thôi, (ta) giục chạy cuống cuồng! – Không lúc nào không ốm bệnh và bỏ được nỗi lo lắng! – Hiện nay muôn ngàn mối hận , - Chỉ có cùng dòng nước chảy về phía đông. (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
NỖI NHỚ NGƯỜI EM.
(Bài 1)
Nghe em thời loạn rối bùng,
Náu nương đói rét ở vùng Tế Châu.
Vắng người, thư chẳng đến đâu!
Gặp nhau sao được binh đao hãy còn.
Mới đây, nhớ chạy cuống cuồng,
Lúc nào cũng bệnh, buông lo được nào!
Giờ đây ngàn mối hận trào,
Chỉ cùng con nước chảy vào phía đông!
Chú thích:
** Bài thơ này của Đỗ Phủ là một khúc tâm tình đau xót thời loạn lạc với nỗi nhớ người em cũng đang chịu khổ vì cảnh chia lìa...
- táng loạn 喪亂: chữ này thường được dùng để nói về cảnh tan tác và loạnlạc vào thời An Lộc Sơn đời Đường Huyền Tông dấy binh gây ra nhiều thảm trạng đau thương cho dân chúng và nhiều gia đình như của Đỗ Phủ phải ly tán... Một số dị bản dùng chữ “tán loạn 散亂 với chữ “tán” có bộ phác 攴 . Nhưng hầu hết các bản gốc gác xưa từ thời Đường đều dùng chữ “táng loạn 喪亂” với chữ “táng” có bộ khẩu 口. Chữ “tán” với bộ phác chỉ sự rối ren mất mát do binh đao.
- bạng: nương dựa, nương náu, bên cạnh, gần, rộng khắp, một bên...
-Tế Châu 濟州: nay là huyện Tế Ninh, tỉnh Sơn Tây, Trung Hoa.
- binh tại 兵在: binh đao, chiến tranh, khói lửa... v.v... vẫn còn đó...
-ức tạc 憶昨: nhớ ngày hôm qua, nhớ chuyện mới xảy ra, nhớ ngày xưa...
- cuồng thôi tẩu 狂催走: giục giã, cuống cuồng, vội vàng phải chạy loạn...
- vô thì bệnh 無時病: không lúc nào không ốm đau...
- khứ ưu 去憂: nỗi lo lắng (ưu) không vất bỏ được (khứ), nỗi lo lắng không nguôi ... Ốm đau là bệnh tật nhưng lo lắng cũng là tâm bệnh của Đỗ Phủ trong thời tao loạn!
-thiên chủng hận 千種恨: hàng ngàn loại (chủng) uất hận...
- duy cộng 惟共: chỉ có cùng chung...
Bài 113
ỨC ĐỆ (Kỳ nhị) 憶弟其二
Thả hỉ Hà Nam định, 且喜河南定,
Bất vấn Nghiệp Thành vi. 不問鄴城圍。
Bách chiến kim thuỳ tại? 百戰今誰在?
Tam niên vọng nhữ quy. 三年望汝歸。
Cố viên hoa tự phát, 故園花自發,
Xuân nhật điểu hoàn phi. 春日鳥還飛。
Đoạn tuyệt nhân yên cửu, 斷絕人煙久,
Đông tây tiêu tức hy. 東西消息稀。
Dịch nghĩa:
Mừng thay vùng Hà Nam đã yên ổn! – Không còn phải hỏi thành Nghiệp bị vây hãm nữa! – Trải qua trăm trận chiến, nay còn ai sống sót? – Ba năm rồi mong mỏi em trở về. (c.1-4)
Vườn xưa ,hoa vẫn tự nở!, - Ngày xuân ,chim vẫn bay về. – Đã lâu rồi, vắng người và khói tỏa, - Tin tức phía đông hay phía tây đều
thưa vắng!
Tạm chuyển lục bát:
NỖI NHỚ NGƯỜI EM.
(Bài 2)
Hà Nam yên ổn mừng thay!
Nghiệp Thành chẳng hỏi hãm vây thế nào!
Ai còn ?- trăm trận nay sao?
Ba năm mong ngóng em mau về nhà.
Vườn xưa vẫn tự nở hoa,
Xuân về, chim vẫn la đà lượn bay.
Khói, người - vắng bặt lâu nay,
Nhạt thưa ít ỏi đông tây tin nhà.
Chú thích:
** Bài thơ thứ hai này cũng là nỗi lòng nhớ mong tin tức người em trong thời buổi loạn ly sau nỗi vui mừng tạm thời khi chiến sự tạm yên ổn. Toàn bài thơ là một bức tranh thời loạn với chiến tranh rối bời ,nhà cửa vắng bóng con người cùng làn khói tỏa của cảnh sinh hoạt bình dị . Và nhất là nỗi thương nhớ của tình anh em bị chia cách bởi loạn ly. Vũ trụ, thiên nhiên vẫn tuần hoàn với hoa vẫn nở và mùa xuân vẫn quay về cùng đàn chim bay lượn nhưng gia đình, anh em vẫn chưa được đoàn tụ!
- thả hỉ 且喜: hãy vui mừng, lại vui, sắp được vui.... (thả: hãy, hãy thử, hãy thế, sắp, lại, vả chăng, hơn nữa...). Đây chỉ là niềm vui mong manh của nhà thơ vì chiến cuộc chưa hoàn toàn chấm dứt!
- Hà Nam 河南: thường được xem là vùng Trung Nguyên 中原 hay Trung Châu 中州, với tên gọi có nghĩa là phía nam của Hoàng Hà, con sông lớn của Trung Hoa... Vùng này được xem là cái nôi phát sinh nền văn minh của Trung Hoa.
- định 定: ổn định, yên ổn....
- Nghiệp Thành 鄴城: nay thuộc huyện An Huy, Hà Nam, Trung Hoa.
- vi 圍: vây quanh, vây hãm, bao quanh, bao vây, vòng vây, màn che...
- kim thùy tại 今誰在: nay, bây giờ ai còn sống sót? ....
- Câu 5 và 6 : cảnh vật vẫn tuần hoàn theo tự nhiên cho dù có chiến tranh loạn ly, con người tan tác, chưa được đoàn tụ.... Đó là một cái nhìn rộng lớn hơn của nhà thơ về vũ trụ tốt đẹp đã bị chiến cuộc làm cho mờ nhạt buộc phải đối mặt với thực tế đang xảy ra.... Có một số bản dùng chữ “cố hương” (quê cũ) với nghĩa rộng hơn nói về một vùng quê hương yêu dấu. Nhưng các bản văn gốc từ thời Đường vẫn dùng chữ “cố viên 故園” (vườn xưa, vườn cũ...)
- đoạn tuyệt nhân yên cửu 斷絕人煙久: Đã lâu rồi (cửu) vườn xưa trên đã vắng bặt, cắt đứt hình bóng con người và dấu vết khói tỏa của cuộc sống (nhân,yên). Chiến cuộc buộc con người phải rời xa rất lâu bỏ lại cửa nhà cùng những sinh hoạt đời thường để đi lánh nạn....
- tiêu tức hi 消息稀: tin tức thưa thớt, ít ỏi hầu như không có....
Dương Anh Sơn
(Lần đến: THƠ CỦA ĐỖ PHỦ - Bài 114, 115 và 116)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét