Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

Hoa Kỳ: Đánh Hay Lui

 


HOA KỲ: ĐÁNH HAY LUI?
Linda Nguyễn

Trong suốt 30 năm, Hoa Kỳ với lực lượng quân sự hùng mạnh nhất thế giới đã từ chối tham gia cuộc chiến với Iran. Mọi chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, mọi Bộ trưởng Quốc phòng, mọi chiến lược gia quân sự từng báo cáo với Tòa Bạch Ốc đều nói một điều tương tự trong các cuộc họp kín. Đừng gây chiến với Iran. Ở đây, tổng thống nào cũng thế. Bush đã nghe thấy điều đó. Obama đã nghe thấy điều đó. Biden đã nghe điều đó hai lần trong cùng một năm khi áp lực gia tăng năm 2024. Lập trường của Ngũ Giác Đài không hề thay đổi. Lý do là vì kích thước nó rộng gấp bốn lần Iraq trong khi dân số gấp ba lần. Đó là chưa kể vị trí địa lý của Iran là một cơn ác mộng đối với quân xâm lược. Và điều quan trọng nhất là, nó có khả năng làm tê liệt hành lang năng lượng quan trọng nhất trên toàn cầu. 

Dựa theo nhiều báo cáo và được xác nhận bởi một số cựu quan chức Mỹ, đã có những hoạt động vận động hành lang liên tục và mạnh mẽ nhằm lôi kéo Mỹ vào một cuộc đối đầu quân sự trực tiếp với Iran. Lý luận đưa ra luôn luôn giống nhau. Chế độ Iran rất mong manh. Một đòn giáng mạnh vào cấp cao nhất sẽ khiến cho nó sụp đổ, đánh vào giới lãnh đạo, phá huỷ các cơ sở hạt nhân, và một chính phủ mới thân thiện với lợi ích của phương Tây sẽ nổi lên từ đống đổ nát. Thế nhưng, trong quá khứ, giới lãnh đạo Hoa Kỳ chưa bao giờ nghe theo. Không phải vì họ yếu đuối, mà vì họ đã nghiên cứu kỹ vấn đề. Diễn tập chiến tranh giả định xung đột với Iran là điều mà Ngũ Giác Đài thường xuyên thực hiện, và mọi cuộc mô phỏng đều dẫn đến cùng một kết luận. Đó là bạn có thể ném bom Iran. Bạn có thể tấn công mọi cơ sở hạt nhân đã biết. Bạn có thể phá huỷ mọi tòa nhà chính phủ quan trọng ở Tehran. Và khi mọi chuyện lắng xuống, bạn vẫn sẽ phải đối mặt với một quốc gia với 90 triệu dân trải rộng trên địa hình khiến A Phú Hản nhỏ bé giống như một bãi đậu xe. Đó là chưa kể Iran sở hữu kho vũ khí gốm các hoả tiễn liên lục địa tầm ngắn và tầm trung có thể thiêu rụi toàn bộ vùng Vịnh. Đánh giá đó không bao giờ thay đổi. Cái mà thay đổi là đối tượng người nghe. Và đây mới chính là điểm khiến bức tranh chiến lược trở nên thực sự đáng báo động. 

Trong cuộc chiến hiện nay giữa Hoa Kỳ và Iran, Iran đã không phản ứng theo cách mà bất kỳ ai ở Washington mong đợi. Hoa Kỳ khi quyết định nhảy vào cuộc chiến thì Washington nghĩ rằng Iran sẽ tìm cách tấn công trực tiếp vào các mục tiêu quân sự của Mỹ, các nhóm tàu sân bay, căn cứ không quân, những loại mục tiêu mà quân đội Mỹ đã xây dựng để bảo vệ. Thay vào đó, Iran đã theo đuổi cái mà các nhà chiến lược gọi là chiến lược chiến tranh kinh tế bất đối xứng. Thay vì nhắm vào các tàu chiến, Iran lại nhắm vào tiền bạc. Cơ sở hạ tầng năng lượng trên khắp vùng Vịnh trở thành mục tiêu hàng đầu. Các kho chứa dầu, nhà máy lọc dầu, các giàn khoan dầu, các đường dẫn dầu, và quan trọng nhất là nhà máy lọc muối là nguồn nước uống quan trọng đối với cả một quốc gia. Đây không phải là các mục tiêu quân sự kiên cố. Chúng trải rộng, lộ thiên và gần như không thể nào phòng thủ hoàn toàn.

Eo biển Hormuz nằm ở trung tâm của chiến lược này. Khoảng 20% lượng dầu mỏ của thế giới đi qua tuyến đường thuỷ hẹp này mỗi ngày. Iran kiểm soát bờ biển phía Bắc. Dựa theo các nhà phân tích hải quân, Iran có khả năng rải thủy lôi ở eo biển, triển khai các tàu tấn công tốc độ cao và phóng hoả tiễn chống hạm từ các vị trí ven biển được giấu kín, điều này sẽ khiến bất kỳ nỗ lực nào nhằm giữ cho eo biển mở cửa đều phải trả giá cực kỳ đắt. Các báo cáo cho thấy Iran đã nhanh chóng đe doạ điểm nghẽn giao thông này. Giá dầu toàn cầu tăng vọt. Và điều này khiến các nhà phân tích cho rằng Iran không cần phải giành chiến thắng trong một trận chiến quân sự thông thường để đạt được mục tiêu của mình. Họ chỉ cần duy trì áp lực đủ lâu để nỗi đau kinh tế trở nên không thể chịu đựng được về mặt chính trị ở Washington.

Hoa Kỳ hiện giờ là cường quốc số một về sức mạnh quân sự cho nên khi tham gia cuộc chiến, Hoa Kỳ ban đầu nghĩ rằng chỉ cần tăng và tăng ném bom thì chế độ Iran sẽ sụp đổ. Lịch sử đã chứng minh không kích đơn thuần chưa bao giờ tạo ra sự thay đổi chế độ. Bằng chứng:

1)Hoa Kỳ đã ném bom lửa vào Tokyo vào đêm ngày 10 tháng 3 năm 1945, khiến nhiều người thiệt mạng trong một đêm hơn cả số người chết ở Hiroshima và Nagasaki cộng lại. Có trên 279 đến 330 phi vụ B-29 đã thả 1665 tấn bom giết chết trên 100 ngàn người Nhật Bản, và có lẽ nó đã trở thành không kích chết người nhất của Thế chiến II. 

Người Nhật không đầu hàng. Sau đó, Mỹ đã kiên tục ném bom cháy vào mọi thành phố lớn của Nhật bản trong suốt 5 tháng tiếp theo. Người Nhật Bản vẫn chưa đầu hàng. Cuối cùng phải cần đến hai trái bom nguyên tử và cuộc xâm lược đảo Sakhalin của Liên Xô thì chiến tranh mới chấm dứt. Và ngay cả khi đó, theo các nhà sử học, chính sự tham chiến của Liên Xô mới là yếu tố làm thay đổi cục diện hơn là bản thân của hai trái bom hạt nhân. 

2)Tại Hàn quốc, Hoa Kỳ về cơ bản đã san bằng Triều Tiên từ trên không. Mọi công trình kiến trúc quan trọng đều bị phá huỷ. Dân cư nơi đây đã phải chịu đựng sự tàn phá mà ngay cả ngày nay cũng khó có thể hình dung nỗi. Chế độ đó không sụp đổ. 

3)Tại Việt Nam, Mỹ đã thả lượng bom lớn hơn tổng lượng bom mà nước này sử dụng trong toàn bộ thế chiến thứ hai. Chế độ Hà Nội không sụp đổ.

Trong mọi trường hợp, người dân đều ủng hộ chính phủ chứ không hề chống lại chính phủ của họ. Vì vậy, khi các nhà phân tích nghe nói về việc ném bom Iran để buộc nước này khuất phục hoặc phá huỷ đủ các cơ sở hạ tầng để buộc chế độ phải thay đổi chỉ bằng sức mạnh không quân, phản ứng lịch sử là không thể bàn cãi. Nó không có kết quả, không thành công được. Cách đó chưa bao giờ có hiệu quả. Và không có lý do đáng tin cậy nào để tin nó sẽ có hiệu quả hiện nay đối với Iran, một quốc gia lớn hơn, phân tán hơn về mặt địa lỳ và có sự thống nhất về tư tưởng hơn hầu hết các vị dụ nêu trên. Đây chính là cái bẫy mà một số chiến lược gia đã cảnh báo trước khi cuộc xung đột bắt đầu.

Hoa Kỳ bắt đầu ném bom vì tin rằng điều đó sẽ nhanh chóng và dứt điểm. Khi không phải vậy, Hoa Kỳ sẽ tấn công mạnh hơn. Nếu cách đó cũng không hiệu quả, Hoa Kỳ sẽ leo thang ném bom  lên một nấc nữa. Mỗi bước tiến lên đều mang đến những hệ quả mới. Và mỗi hệ quả lại tạo ra áp lực thúc đẩy tiến lên bước tiếp theo. Theo các nhà phân tích, nếu Mỹ hoặc các đồng minh nhắm mục tiêu vào các cơ sở hạ tầng năng lượng của Iran, Iran sẽ trả đũa bằng cách nhắm vào cơ sở hạ tầng năng lượng vùng Vịnh. Các nhà máy khử muối sẽ bị tấn công và dựa theo các báo cáo cho thấy Iran sẽ nhắm mục tiêu vào các cơ sở lọc muối ở Ả Rập Xê Út, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất và có thể cả Do thái. Một số quốc gia trong số này gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nước lọc muối. Việc phá huỷ những nhà máy đó không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, mà còn tạo ra một thảm họa nhân đạo chỉ trong vòng vài ngày. Và đây chính là bức tranh kinh tế toàn cầu trở nên thực sự đáng sợ. 

Thế giới vận hành nhờ dầu hoả. Đây không phải là phóng đại và cũng không phải là một tuyên bố chính trị. Đây là một thực tế vật chất và kinh tế cơ bản. Dầu mỏ không chỉ dùng để cung cấp năng lượng cho xe hơi, nó còn cung cấp năng lượng cho sản xuất công nghiệp, phát điện, vận tải biển, nông nghiệp, sản xuất hoá chất và hầu như mọi chuỗi cung ứng trên toàn thế giới. Khi nguồn cung dầu bị gián đoạn ở quy mô như vùng Vịnh Ba Tư, ảnh hưởng của nó không chỉ giới hạn ở một khu vực. Chúng xếp chống lên nhau. Theo các nhà phân tích kinh tế, Châu Âu đang đối mặt với nguy cơ tổn thương nghiêm trọng nhất. Các quốc gia châu Âu đã mất quyền tiếp cận nguồn năng lượng giá rẻ của Nga sau cuộc chiến ở Ukraine. Họ chuyển hướng sang tăng cường dựa vào các nguồn cung từ Trung Đông và Mỹ. Nếu nguồn cung dầu mỏ vùng Vịnh bị gián đoạn nghiêm trọng, cộng thêm tình trạng thiếu hụt hiện có từ Nga, một số nền kinh tế châu Âu vốn đã trì trệ có thể phải đối đầu với khủng hoảng thực sự. Giá năng lượng sẽ tăng vọt. Sản lượng nông nghiệp sẽ giảm. Lạm phát, vốn chỉ mới được kiểm soát một phần gần đây sẽ lại tăng vọt. Nhật bản và Hàn quốc đang ở trong tình thế dễ bị tổn thương hơn. Cả hai quốc gia đểu phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu dầu mỏ từ vùng vịnh và có trữ lượng dự trữ chiến lược hạn chế so với mức tiêu thụ. Mọi sự gián đoạn sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế của họ trong vòng vài tuần, chứ không phải vài tháng. 

Nhưng quan trọng nhất là bức tranh chiến lược bị thay đổi hoàn toàn từ mọi góc độ. Trong nhiều thập kỷ , Hoa Kỳ thiết lập rất nhiều căn cứ quân sự tại những quốc gia vùng Vịnh với mục đích là để bảo vệ họ chống lại Iran. Hoa Kỳ thiết lập căn cứ hải quân, không quan và giàn hoả tiễn vòm trời sắt…Tất cả những công trình này chỉ với một mục đích duy nhất là bảo vệ Iran không thể tấn công họ được. Nhưng khi cuộc chiến xảy ra thì các nhà phân tích lại đặt câu hỏi ngược lại. Dựa theo nhiều nguồn thì các quốc  gia vùng vịnh không được tham khảo khi Hoa Kỳ khởi cuộc chiến. Họ hoàn toàn không có tiếng nói nào trong quyết định của Washington và bây giờ họ phải gánh chịu hậu quả của cuộc chiến mà họ không quyết định. Và câu hỏi bây giờ là với sự hiện diện của Hoa Kỳ thì có lợi hay bất lợi cho nền an ninh hay tồn vong của họ? Trước cuộc chiến thì dĩ nhiên câu trả lời là có lợi. Thế mà bây giờ câu trả lời lại khác. Những căn cứ quân sự của Hoa Kỳ chính là mục tiêu chiến tranh của Iran. Vì sự hiện diện của các căn cứ quân sự Hoa Kỳ, đã khiến cho nó là mục tiêu chiến lược của Iran kèm theo là các cuộc tàn phá vào các kho dự trữ dầu và các giếng dầu. Vì thế đây là thế cờ không có lời giải đáp cho Hoa Kỳ. 

Vậy làm thế nào để chấm dứt cuộc chiến? Hoa Kỳ và Do thái hiện nay dựa vào các mục tiêu chính đối với Iran như sau: thay đổi chế độ, đầu hàng vô điều kiện hay là chiến thắng quyết định. Nhưng các nhà phân tích cho rằng bất chấp Hoa Kỳ đưa ra yêu sách gì thì nó cần phải có sự chấp thuận của Iran. Với tình hình và đòi hỏi của Hoa Kỳ hiện này thì Iran bác bỏ tất cả. 

Đối với Iran, dựa theo các nhà phân tích, thì họ có 3 điều kiện:

1)Giải tỏa các phong tỏa kinh tế, điều đã làm tê liệt nền kinh tế Iran trong nhiều thập niên qua. 

2)Bảo đảm nền an ninh: Iran đã bị Do thái và Hoa Kỳ tấn công hai lần dưới một năm vì thế bất cứ thỏa ước nào không bảo đảm Hoa Kỳ hay Do thái không tấn công họ nữa trong tương lai thì rất khó mà thành đạt.

3)Điều thứ ba rất ảo tưởng nhưng thực tế đối với họ. Đó là Hoa Kỳ sẽ phải chịu trách nhiệm đền bù sự thiệt hại về chiến tranh. 

Đối với Washington, nếu chấp thuận những đòi hỏi của Iran thì chẳng khác nào nhượng bộ. Và sự nhượng bộ cho Iran trong lúc bầu cử bán kỳ sắp đến là điều không thể chấp nhận đối với TT Trump. Nhưng tiếp tục cuộc chiến đang đẩy nền kinh tế toàn cầu vào khủng hoảng, làm xói mòn các liên minh và cho thấy những giới hạn của sức mạnh Mỹ, cũng mang đến những tổn thất chính trị nặng nề không kém. Một số nhà phân tích đã so sánh tình hình hiện nay với những năm cuối cùng của chiến tranh Việt Nam. Khi các nhà lãnh đạo Mỹ hiểu rõ ràng rằng cuộc chiến không thể thắng, nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu bởi vì không ai muốn trở thành vị tổng thống thua cuộc. Hậu quả của sự chậm trễ đó được tính bằng nhiều năm tàn phá thêm và hàng ngàn sinh mạng bị mất đi. 

Thêm nữa, nếu Iran bước ra khỏi cuộc xung đột này thì họ sẽ quyết tâm mạnh mẽ hơn trong việc theo đuổi khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân và điều này sẽ tạo ra phản ứng dây chuyền trên khắp khu vực. Những quốc gia như Saudi, Thổ nhĩ Kỳ, Ai Cập. Các quốc gia vốn dựa vào sự bảo đảm an ninh của Mỹ sẽ phải đối mặt với áp lực rất lớn để theo đuổi khả năng làm chủ vũ khí hạt nhân cho riêng mình. 

Kết luận:

Những gì chúng ta chứng kiến không chỉ là một cuộc xung đột quân sự mà đây có thể là một bước ngoặt quan trọng trong trật tự toàn cầu. Kết quả sẽ không chỉ quyết định ai kiểm soát lãnh thổ ở Trung Đông, mà còn xem xét liệu cấu trúc an ninh đã chi phối quan hệ quốc tế trong nhiều thập niên qua có thể chịu đựng được áp lực đang đè nặng lên nó hay không. Hậu quả kinh tế đã bắt đầu được cảm nhận. Giá năng lượng đang tăng cao. Chuỗi cung ứng đang chịu áp lực. Thị trường tài chính đang phản ánh sự bất ổn chưa từng thấy trong nhiều thập niên. Và mỗi tuần trôi qua mà cuộc xung đột vẫn chưa có giải pháp ngoại giao, chi phí càng tăng thêm. 

Quyết định của Washington chấm dứt hay leo thang cuộc chiến sẽ là điểm then chốt có thể làm thay đổi cục diện của Hoa Kỳ không những tại Trung Đông mà còn ảnh hưởng cho cả toàn thế giới. Cái nhìn của thế giới đối với Hoa kỳ cũng sẽ thay đổi vì sức mạnh quân sự không nhất thiết là sức mạnh để kiểm soát thế giới ngày hôm nay. 

Linda Nguyễn


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét