THƠ CỦA LÝ BẠCH - BÀI 143, 144 VÀ 145
Thầy Dương Anh Sơn
THƠ CỦA LÝ BẠCH
BÀI 143
KẾT MIỆT TỬ 結襪子
Yên nam tráng sĩ Ngô môn hào, 燕南壯士吳門豪,
Trúc trung trí duyên ngư ẩn đao. 築中置鉛魚隱刀。
Cảm quân ân trọng hứa quân mệnh, 感君恩重許君命,
Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao. 太山㇐擲輕鴻毛。
Dịch nghĩa:
Tráng sĩ miền nam nước Yên và bậc hào kiệt nước Ngô, - (Người) giấu thanh chì trong cây đàn trúc, (kẻ) giấu dao nơi (bụng) cá! – Mang trong lòng ơn nặng vua ban, đem tính mệnh để đền đáp, - Gieo núi Thái nhẹ như lông chim hồng.
Tạm chuyển lục bát:
KIẾT MIỆT TỬ.
Yên, Ngô kẻ tráng người hào,
Chì trong đàn trúc, cá dao ẩn tàng.
Đáp đền ơn nặng vua ban,
Lông hồng núi Thái một lần nhẹ gieo.
Chú thích:
Kiết Miệt Tử trong bài thơ của Lý Bạch 李白 (701-762) là một thể thơ thuộc loại “nhạc phủ 樂府” của Trung Hoa. Nhan đề của bài thơ thoạt nhìn có vẻ không liên quan gì đến hai nhân vật thích khách trong bài thơ. [“Kết Miệt Tử” tạm dịch là:
buộc dây lại (kết) nơi đôi tất mang dưới chân (miệt). Còn chữ tử là tiếng đệm cho nhan đề theo lối cổ xưa chứ không hẳn chỉ là kẻ ấy, người ấy hay con cái...]. Quách Mậu Thiến 郭茂倩 trong “Nhạc Phủ Thi Tập 樂府詩集” đã chú giải: Sách Đế vương thế kỷ 帝王世紀 kể chuyện Chu Văn vương đi đánh Sùng Hầu Hổ, dây tất của vua bị tuột. Không có ai bên cạnh nên nhà vua bèn tự cúi xuống buộc dây lại. Còn Chu Vũ vương chuẩn bị đánh quân vua Trụ ở Mục Dã, dây tất cũng bị tuột, không ai buộc giúp nên nhà vua đặt binh khí xuống tự mình cột dây lại. Bậc quân vương khi ra trận mạc phải tự lo bản thân vì quân sĩ hầu cận cũng đang bận rộn đối phó quân thù chứ không như khi ở triều đình. Câu chuyện thứ hai có điển tích quan trọng hơn được chép trong Hán Thư 漢書: Vương Sinh 王生, một vị cao sĩ tuổi già yếu được mời vào triều đình. Trong lúc các quan đang bàn luận, dây tất của ông bị tuột. Ông nhờ quan Đình úy Trương Thích Chi 張釋之 giúp cột lại. Trương Thích Chi là một danh thần không lấy địa vị của mình để từ chối mà quỳ xuống buộc tất cho ông già cao sĩ họ Vương. Sau này Vương Sinh giải thích là mình tuổi già không cúi người xuống được và hành động giúp đỡ của quan Đình úy cho thấy tư cách biết kính trọng người già của Trương Thích Chi để cả triều kính nể vị danh thần này hơn. Từ hai câu chuyện ấy, nhan đề cho chúng ta thấy sự đền ơn của những người được người trên giúp đỡ trong một ý nghĩa mới mẻ hơn mang tinh thần hiệp nghĩa rộng hơn!
- Câu 1: Yên nam tráng sĩ Ngô môn hào 燕南壯士吳門豪: Tráng sĩ nước Yên ở phía nam và bậc hào kiệt nước Ngô. Lý Bạch mở đầu bài thơ theo thể Nhạc phủ khi đề cập hai nhân vật lịch sử là bậc tráng sĩ nước Yên là Cao Tiệm Ly và Chuyên Chư của nước Ngô đã đáp lại ơn tri ngộ của người trọng đãi mình bằng hành động của người “thích khách” giết những ông vua hay kẻ bạo tàn.
Lý Bạch không cần nêu tên hai nhân vật này vì danh tiếng của họ đã là huyền thoại trong tâm trí của người Trung Hoa bao thời đại! Như chúng ta đã biết về lịch sử Trung Hoa nhà Tần nhất là đời Tần Thủy hoàng sau khi thống nhất Trung Hoa trở nên bạo tàn, đàn áp dân chúng, cưỡng bách dân đi xây Vạn Lý Trường Thành... v.v... khiến những dũng sĩ trong thiên hạ luôn tìm cách hành thích trừ bạo. Theo “Thích khách liệt truyện 刺客列傳” trong Sử Ký 史記, Cao Tiệm Ly 高漸離 là bạn của Kinh Kha thời Chiến quốc từng sang Tần tìm cách giết Tần Thủy hoàng nhưng không thành và bị giết! Chịu ơn thái tử Đan nước Yên và để trả thù cho bạn là Kinh Kha, sau khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa, Cao Tiệm Ly đổi tên ẩn giấu thân phận, mắt bị mù nhưng họ Cao là một người đàn rất giỏi được nhiều người biết đến. Vì danh tiếng đó, dù bị mù vẫn được Tần Thủy hoàng cho mời để nghe đàn. Nhân cơ hội này, Cao Tiệm Ly đã làm thanh chì nặng giấu vào trong thân đàn trúc như một vũ khí để giết vua Tần nhưng thất bại và bị giết. Còn Chuyên Chư 專諸, một tráng sĩ khác người nước Ngô thời Xuân Thu, được công tử Quang đãi trọng hậu và nhờ giết Ngô vương Liêu. Trong bữa tiệc trong cung, ông giấu dao găm trong bụng con cá nướng và xẻ ra lấy dao đâm chết nhà vua nhưng bị các vệ sĩ giết chết ngay sau đó. Lý Bạch không cần nêu tên nhưng tên tuổi và cách hành thích của hai bậc hào kiệt, hai tráng sĩ dũng mãnh này đều được người Trung Hoa luôn nhớ tên và ca ngợi!
- tráng sĩ 壯士: người có sức mạnh, có ý chí thường ra tay làm việc nghĩa (xem HIỆP KHÁCH HÀNH của Lý Bạch đã dịch)
- hào 豪: tức những kẻ anh hào, những hào kiệt có sức mạnh và mưu trí. Hào cũng dùng để chỉ người có tài, có ý chí và sáng suốt hơn người hay người đứng đầu một làng...
- trúc 築: trúc trong thơ của Lý Bạch dùng để chỉ cây đàn trúc cổ xưa, một nhạc khí để gõ hay vỗ khi ca hát (chứ không phải theo nghĩa thông thường hiện nay là kiến trúc hay xây dựng....)
- trí 置: bài trí, sắp đặt ,đặt để vào vị trí...
- duyên (diên) 鉛: chì một kim loại dùng làm phấn hay bút chì để tô vẽ khi pha trộn. [Trong câu chuyện về Cao Tiệm Ly, ông đã đúc nguyên thanh chì lớn rất nặng...]; nghĩa khác: noi theo, thuận theo...
- trọng hứa quân mệnh 重許君命: hứa: lời hứa, đồng ý, trông chờ, kỳ vọng, tin tưởng, phụng hiến, đền đáp..v..v.. Trọng hứa quân mệnh: đền đáp ơn vua sâu nặng nên đem tính mạng để báo đền. Trong câu này, tráng sĩ Cao Tiệm Ly cũng như Kinh Kha từng được thái tử Đan nước Yên đãi ngộ trọng hậu và tin tưởng nên sau cái chết của Kinh Kha khi sang Tần tìm cách giết Tần Thủy hoàng thất bại, Cao Tiệm Ly dù mù mắt ẩn giấu thân phận, khi có cơ hội lại tìm cách trả thù cho bạn là Kinh Kha và trả ơn nghĩa sâu nặng của thái tử Đan. Hào kiệt Chuyên Chư cũng thế, tìm cách giấu dao vào bụng cá nướng và giết được Ngô vương trả ơn cho công tử Quang dầu biết ra đi không bao giờ trở về...
- nhất trịch ㇐擲: một lần gieo xuống, một lần ném bỏ... Đây là hình ảnh của Kinh Kha, Cao Tiệm Ly và Chuyên Chư... v.v... xem tính mệnh của mình nhẹ nhàng như lông chim hồng. Một lần ra đi hành thích là có đi, không trở lại. Họ xem tính mệnh rất nhẹ vì ân tình nghĩa nặng! Cách ví von của Lý Bạch trong câu cuối cũng rất tinh tế: tính mệnh và nghĩa khí một con người tựa như Thái Sơn, một hòn núi cao nhất Trung Hoa. “Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao 泰山㇐擲輕鴻毛”, câu thơ được Đặng Trần Côn 鄧陳琨 của nước ta dùng nguyên văn trong “Chinh Phụ Ngâm 征婦吟” đã lấy từ bài thơ này của Lý Bạch. Đồng thời, câu thơ cũng cho thấy cách dùng chữ của Lý Bạch quả xứng đáng là một “thi tiên” trác việt đã ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ nước ta, Cao Ly và Nhật Bản....(xem bản dịch tài hoa sang chữ nôm tác phẩm Chinh Phụ Ngâm do Đoàn Thị Điểm biên dịch từ câu 22 :”Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. Giã nhà đeo bức chiến bào, Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu...”)
Bài 144
HỒ BIÊN THÁI LIÊN PHỤ 湖邊採蓮婦
Tiểu cô chức bạch trữ, 小姑織白紵,
Vị giải tương nhân ngữ. 未解將人語。
Đại tẩu thái phù dung, 大嫂采芙蓉,
Khê hồ thiên vạn trùng. 溪湖千萬重。
Trưởng huynh hành bất tại, 長兄行不在,
Mạc sử ngoại nhân phùng. 莫使外人逢。
Nguyện học Thu Hồ phụ, 願學秋胡婦,
Trinh tâm bỉ cổ tùng. 貞心比古松。
Dịch nghĩa:
Cô em nhỏ dệt vải gai trắng, - Chưa biết nói chuyện với người ta. – Chị dâu cả hái sen, - Nơi khe và hồ (có) ngàn vạn (cây và hoa sen). (c.1-4)
Anh cả ra đi không về, - Chớ để người ngoài gặp gỡ. – Nguyện học theo bà vợ (của ông) Thu Hồ, - Tấm lòng trinh bạch (của bà) sánh ngang với cây tùng lâu đời. (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
NGƯỜI ĐÀN BÀ HÁI SEN BÊN HỒ.
Cô em nhỏ dệt vải gai,
Chuyện trò chưa biết với ai thế nào!
Hái sen người chị dâu đầu,
Khe hồ ngàn vạn sen đâu tràn trề!
Ra đi anh cả chẳng về,
Chớ nên gặp gỡ làm chi người ngoài!
Vợ Thu Hồ nguyện học hoài,
Lòng trinh, tùng mọc lâu dài sánh ngang!
Chú thích:
Nhà thơ Lý Bạch làm bài thơ này để ca ngợi tấm lòng trinh bạch, trong trắng của “người vợ của ông Thu Hồ”. Sử sách không ghi lại tên tuổi và lai lịch của bà vợ ấy, chỉ biết tên người chồng của bà là ông Thu Hồ nên gọi là “Vợ ông Thu Hồ” (Thu Hồ phụ 秋胡婦), người nước Lỗ thời Xuân Thu bên Trung Hoa. Theo Liệt Nữ Truyện của Lưu Hướng đời Tây Hán, ông lấy bà vợ này nhưng chỉ năm ngày sau khi làm lễ cưới đã rời nước Trần đi làm quan. Năm năm sau, ông trở về quê nhà. Trên đường về, Thu Hồ đã bắt gặp một người đàn bà đang hái dâu bên đường. Thấy nàng xinh xắn, ông liền ngỏ lời ve vãn và đem vàng bạc ra để dụ dỗ nữa! Nhưng người đàn bà này không hề động lòng trước sự lời cám dỗ hay vàng bạc. Nàng nói rằng mình chỉ biết chăm chỉ hái dâu nuôi tằm, dệt vải nuôi gia đình.
Ông quan Thu Hồ đành bỏ đi. Khi về đến nhà, ông đem vàng bạc dâng cho mẹ. Mẹ ông gọi vợ ra chào đón. Lúc đó Thu Hồ mới ngỡ ngàng nhận ra người đàn bà ôngđã trêu ghẹo trên đường về ngang qua ruộng dâu chính là người vợ ông từng cưới hỏi. Người vợ vô cùng đau đớn trách chồng đi xa đã năm năm không trở về lại có hành vi không mấy tốt đẹp với người đàn bà bên đường. Cuối cùng, theo bản cổ xưa của Liệt Nữ Truyện, bà vợ Thu Hồ đã gieo người xuống sông tự trầm. Đời nhà Nguyên do người Mông Cổ cai trị Trung Hoa đã có vở kịch mang nha đề “Lỗ đại phu Thu Hồ hí thê 魯大夫秋胡戱妻” để diễn kịch câu chuyện này!
- tiểu cô 小姑: cô em của chồng, cô em nhỏ.
- bạch trữ 白紵: vải trắng dệt từ sợi gai, vải mặc mùa hè, vải còn thô chưa nhuộm màu...
- vị giải 未解: chưa hiểu, chưa biết cách, chưa am hiểu, chưa hiểu rõ...
- tương nhân ngữ 將人語 : nói chuyện hay chuyện trò với ai, nói với người khác...
- đại tẩu 大嫂: người chị dâu là vợ người anh cả hay anh lớn trong gia đình...
- phù dung 芙蓉: cách gọi khác của cây sen hay hoa sen...
- trùng 重: nhiều, rất nhiều, dày dặc, khắp nơi, nhiều tầng lớp, đậm đà, quá lắm...
- bất tại 不在: không ở đó, không ở chỗ này, không về....
- mạc sử 莫使: chớ nên, đừng nên, chớ sai khiến....
- Câu 7 và 8: Nhà thơ Lý Bạch khuyên những phụ nữ nên học theo sự đoan trinh 端貞 của người vợ ông Thu Hồ. Nàng là biểu tượng của tấm lòng chung thủy và trong trắng (trinh tâm 貞心) dầu xinh đẹp nhưng khi chồng đi xa vẫn vẹn lòng luôn giữ được tiết hạnh cao đẹp ấy! Đọc câu chuyện về “bà vợ Thu Hồ” chúng ta cũng nhận thấy khi ông quan đại phu Thu Hồ đi về ngang qua chỗ bà đang hái dâu, chắc chắn bà đã không hề nhìn người khác nên chẳng nhận ra ông chồng của mình. Điều này càng tỏ rõ tấm lòng chung thủy nghiêm cẩn của một người đàn bà chân chánh, son sắt đợi chờ dù đã năm năm dài! Đó là phẩm hạnh cao quý của đạo phu thê. Những lời ve vãn hay dụ dỗ bằng vàng bạc không có sức lôi cuốn sự đoan trinh bền vững trong lòng người đàn bà này! Cái chết của bà cũng là cách xử sự vẹn toàn cho một con người tự trọng, biết gìn giữ phẩm giá và nhân cách của mình.
Qua đó, những “Người đàn bà hái sen bên hồ” mà Lý Bạch đang trông thấy và làm thơ mô tả đã được nhà thơ dùng hình ảnh và biểu tượng của “Người vợ của Thu Hồ” xưa kia để đưa ra một bài học đạo lý về tấm lòng trong trắng và đoan trinh của đàn bà con gái. Nhà thơ chỉ nêu tên “Thu Hồ phụ” nhưng một cách gián tiếp, Lý Bạch đã gợi ý câu chuyện về nàng và sự tuẫn tiết của nàng cũng là bài học nhắc nhở người chồng của mình phải biết gìn giữ tư cách và đạo nghĩa làm
người. Con người đoan trinh nghiêm cẩn như nàng không thể chấp nhận hành vi xấu xa và sai trái của chồng! Vì thế, nàng quả xứng đáng để ngòi bút của Lý Bạch ca ngợi. Nhà thơ đã ví phẩm hạnh và cuộc đời của bà sánh ngang (bỉ 比) với cây tùng rất xưa, sống dài lâu (cổ tùng) làm bài học ngàn đời cho biết bao người phụ nữ theo lối giáo dục của Nho gia ngày xưa. Ngày nay chúng ta nhìn lại cái “trinh tâm” ấy tưởng như cổ hủ nhưng ngẫm nghĩ cho kỹ vẫn thấy nó có giá trị đạo lý làm người muôn đời cho dù thế nào đi chăng nữa, ảnh hưởng của Nho giáo vẫn còn ăn sâu trong nền văn hóa và văn minh của nhiều nước Á đông.....
Bài 145
U GIẢN TUYỀN 幽澗泉
Phất bỉ bạch thạch, đàn ngô tố cầm. 拂彼白石, 彈吾素琴。
U giản thiểu hề lưu tuyền thâm. 幽澗愀兮流泉深。
Thiện thủ minh huy, cao trương thanh tâm. 善手明徽,高張清心。
Tịch lịch tự thiên cổ, tùng sưu lưu hề vạn tầm. 寂歷似千古,松颼飀兮萬尋。
Trung kiến sầu viên điếu ảnh nhi nguy xử hề, khiếu thu mộc nhi trường ngâm .
中見愁猿吊影而危處兮,叫秋木而長吟。
Khách hữu ai thì thất chí nhi thính giả, lệ lâm lãng dĩ triêm khâm,
客有哀時失志而聽者,淚淋浪以沾襟。
Nãi tập thương chuyết vũ, sàn viên thành âm. 乃緝商綴羽,潺湲成音。
Ngô đãn tả thanh phát tình ư diệu chỉ, thù bất tri thử khúc chi cổ kim.
吾但寫聲發情於妙指,殊不知此曲之古今。
U giản tuyền, minh thâm lâm. 幽澗泉,鳴深林。
Dịch nghĩa:
Phủi phiến đá trắng kia, ta gảy cây đàn cầm mộc mạc của mình. (c.1)
Khe núi sâu mang vẻ sầu buồn -hề- con suối chảy sâu thẳm. (c.2)
Ngón đàn khéo léo, phím đàn sáng rõ, gảy đàn âm điệu cao vút, khơi lòng trong trẻo. (c.3)
(Âm thanh) Trải qua sự vắng lặng (như vọng về) từ ngàn xưa, tiếng tùng reo vi vu -hề- vút lên (cao) vạn thước. (c.4)
Giữa chốn này, nghe thấy tiếng vượn não nùng, bóng treo ngược cheo leo cao ngất – hề- ,hú vang nơi cây cối mùa thu, tiếng ngân kéo dài. (c.5)
Có người khách thương cảm cho thời thế, không thỏa chí, nghe tiếng đàn, nước mắt dầm dề thấm đẫm vạt áo. (c.6)
Bèn nối thêm âm thương, điểm thêm âm vũ, (khiến) tiếng đàn rì rào rách tuôn chảy thành âm thanh. (c.7)
Ta chỉ cần dốc hết ngón tay khéo léo lúc đó để âm thanh phát ra tình cảm, không biết đã (đàn) xong khúc này nối liền xưa đến nay.(c.8)
Suối khe vắng lặng, vang chốn rừng sâu! (c.9)
Tạm chuyển lục bát:
SUỐI KHE VẮNG LẶNG.
Phủi viên đá trắng kìa nơi!
Cây đàn mộc mạc, ta chơi đàn cầm.
Suối sâu khe vắng lặng thầm,
Lòng trong, phím sáng khéo nâng nhịp đàn.
Ngàn xưa lặng lẽ vô vàn,
Gió tùng vù thổi ngút ngàn vút cao.
Cheo leo treo bóng vượn sầu,
Rừng thu vượn hú dãi dầu dài hơi.
Khách buồn thất chí lỡ thời,
Ướt dầm vạt áo, lệ rơi tuôn ào.
Chắp “thương”, nối “vũ”: rì rào,
Ta cần khéo ngón tình trào tiếng hay.
Khúc này chẳng biết xưa nay,
Suối khe, rừng thẳm sâu dày vẫn vang!
Chú thích:
** Bài U Giản Tuyền thuộc loại “Nhạc phủ cổ từ 樂府古辭” mang hình thức loại thơ “Cầm khúc ca từ 琴曲歌辭 “cổ thể tự do có từ lâu đời và không phải loại thơ theo luật Đường.Bài thơ viết theo thể “Tạp ngôn cổ thi 雜言古詩” của truyền thống xa xưa bên Trung Hoa. Chúng ta có thể nhận thấy qua các đặc điểm sau đây:
+ Câu thơ dài ngắn không đồng đều. Ví dụ bài thơ này của Lý Bạch xen kẽ những 6 chữ (c.9) ,7 chữ (c.2) hoặc 8 chữ (c.1, 3), 9 chữ (c.7)11 chữ (c.4) , 15 chữ (c.6) hay 16 (c.5), 17 chữ (c.8) như trong bài này:
1 拂彼白石,彈吾素琴。2 幽澗愀兮流泉深。3 善手明徽,高張清心。4 寂歷似千古,松颼飀兮萬尋。5 中見愁猿吊影而危處兮,叫秋木而長吟。6 客有哀時失志而聽者,淚淋浪以沾襟。7 客有哀時失志而聽者,淚淋浪以沾襟。8 吾但寫聲發情於妙指,殊不知此曲之古今。9 幽澗泉,鳴深林。 [Toàn Đường Thi 全唐詩, quyển 163.]
+ Mỗi tác giả, câu thơ dài ngắn tùy vào cách diễn đạt và âm điệu mang sắc thái ngâm xướng có nguồn gốc “nhạc từ” và ngâm vịnh hay ngâm xướng. Chữ “hề 兮” được dùng nhiều lần như tiếng đệm trong ngâm xướng mang dáng dấp như trong “Sở Từ” của Khuất Nguyên nước Sở cả ngàn năm!
+ Không theo niêm luật của thơ Đường nên số chữ mỗi câu, cách phối thanh và gieo vần không cần tuân thủ nghiêm ngặt khuôn mẫu của luật làm thơ Đường.
Cho nên, chúng ta có thể phân loại về hình thức bài thơ của Lý Bạch trên đây là thơ cổ thể thuộc hệ thống nhạc phủ với câu thơ linh hoạt và giàu tính nhạc. Lý Bạch tuy sinh ra vào thời Thịnh Đường nhưng với tinh thần yêu chuộng sự tự do trong cốt cách và con người phóng khoáng của ông nên rất nhiều bài thơ được sáng tác theo thể loại này. Bài chuyển lục bát đành không thể bám đúng câu nên trở thành bài có 14 câu.
- Câu 1: Phất bỉ bạch thạch, đàn ngô tố cầm 拂彼白石,彈吾素琴: Phủi sạch (phất) phiến đá trắng kia, ta gảy cây đàn mộc. Ở đây “tố cầm” với chữ tố hiểu theo nghĩa là mộc mạc, giản dị, cây đàn cầm không khảm ngọc hay xà cừ lộng lẫy vì trên bước đường phiêu du, hành trang của Lý Bạch chắc chắn phải đơn sơ gọn gàng...
- Câu 2: U giản thiểu hề lưu tuyền thâm 幽澗愀兮流泉深: khe núi sâu vắng lặng mang vẻ sầu, nước suối chảy vào chốn sâu thẳm.
+ giản 澗: khe núi, khe suối hay chỗ nước chảy giữa hai vách núi...
+ thiểu 愀: vẻ buồn, nét mặt lộ vẻ sầu. Ở đây là bầu khí đượm vẻ buồn man mác nối ý với câu 5 bên dưới tả dáng vẻ sầu buồn của con vượn treo mình trên cao trong khung cảnh núi rừng tối tăm...
+ hề 兮: tiếng đệm trong ngâm xướng tạo nhịp điệu cổ kính.
+ thâm 深: sâu thẳm, rất sâu , sâu sắc...
- Câu 3: Thiện thủ minh huy, cao trương thanh tâm 善手明徽,高張清心 : Ngón đàn khéo léo, phím đàn sáng ngời, dây dàn trương cao với tấm lòng thanh thản, trong sạch...
+ thiện thủ 善手: đây chỉ ngón tay gảy đàn rất điêu luyện và khéo léo ...
+ huy 徽: dấu hiệu, huy hiệu ... Ở đây chỉ phím đàn bằng kim loại làm dấu để phân chia các cung bậc của cây đàn cầm lóa ánh sáng (minh 明)...
+ trương 張 : căng dây đàn, giương dây cung, mở ra, phô bày, căng ra, thay đổi...
+ thanh tâm 清心: tâm hồn trong sạch, thanh thản...
- Câu 4: Tịch lịch tự thiên cổ, tùng sưu lưu hề vạn tầm 寂歷似千古,松颼飀兮萬尋 : âm thanh như vọng về trải qua từ ngàn xưa, tiếng tùng vi vu như vút cao cả vạn thước...
+ tịch lịch 寂歷: sự vắng lặng (tịch) đã trải qua (lịch)
+ sưu lưu 颼飀: tiếng gió thổi vù vù hay tiếng reo vi vu khi gió thổi qua lá cây...
+ tầm 尋: thước tấc thời xưa bên Trung Hoa, nghĩa khác: tìm kiếm, dựa vào, vẫn, bỗng, sắp, dần dần, lại... Ở đây tiếng đàn như bay vút lên cao cả vạn thước...
- Câu 5: Trung kiến sầu viên điếu ảnh nhi nguy xử hề, khiếu thu mộc nhi trường ngâm 中見愁猿吊影而危處兮,叫秋木而長吟: Ở giữa chốn này, thấy con vượn sầu buồn treo ngược cheo leo hình bóng của nó rồi cất tiếng hú ngân vang kéo dài nơi rừng nơi cây mùa thu.
+ điếu 吊: treo ngược, treo lên, lấy ra, phúng viếng...
+ ảnh 影: hình ảnh hay bóng hình...
+ nguy 危: cheo leo, chênh vênh, ở chỗ cao mà không vững, nguy khốn, cao ngất, lo sợ...
+ thu mộc 秋木: cây cối mùa thu...
+ tràng ngâm 長吟: ngân nga kéo dài ra...
- Câu 6: Khách hữu ai thì thất chí nhi thính giả, lệ lâm lãng dĩ triêm khâm 客有哀時失志而聽者,淚淋浪以沾襟: Có người khách buồn thời thế, không thỏa lòng mong muốn lắng nghe, nước mắt ướt nhòe tuôn chảy tùy tiện làm thấm đẫm vạt áo. Người khách nghe đàn(thính giả) hay cả người khách đang đàn có thể là một, có thể là hai khi nghe chính tiếng đàn của mình. Lý Bạch khi bị thất sủng đã xin vua từ nhiệm để vân du nhiều danh lam thắng cảnh như mong muốn. Nhưng con người của Lý Bạch chưa phải đã bỏ quên một thời từng sinh hoạt trong triều Đường Minh hoàng tráng lệ, huy hoàng. Ít nhiều ông vẫn chưa vượt thoát khoản thời gian và thời thế ấy. Thật sự cái “chí ” của ông là gì: bám vào công danh, ra vào ràng buộc chốn triều đình hay rong chơi tự do thỏa chí nơi rừng núi hồ, sông, khe suối... v.v...v. Đó là hai con đường đã giằng co, mang dấu ấn trong thơ văn và cuộc đời của một nhà thơ tài hoa giữa “thất chí” và “thỏa chí”...
+ ai 哀: thương cảm, buồn sầu, tưởng nhớ, thương tâm ,thương xót...
+ thất chí 失志: không thỏa lòng mong muốn, không đạt được ý đinh
hay mong muốn của mình...
+ lệ lâm lãng 淚淋浪: nước mắt (lệ) ướt đẫm (lâm) chảy tùy tiện (lãng) dầm dề...
+ triêm khâm 沾襟: thấm đẫm (triêm) vạt áo (khâm)...
- Câu 7: Nãi tập thương chuyết vũ, sàn viên thành âm 乃緝商綴羽,潺湲成音: Bèn chắp nối âm “thương” với âm “vũ”, thành âm thanh của tiếng nước chảy rì rào.
+ thương, vũ 商羽: hai trong 5 âm (ngũ âm) trong âm nhạc cổ điển của Trung Hoa gồm : cung, thương, giốc, chủy, vũ (宮, 商, 角, 徵, 羽)
+ chuyết 綴: chắp nối, nối liền, bó buộc, khâu lại, chắp vá, ngăn cấm...
+ sàn viên 潺湲: tiếng nước chảy chậm tạo ra âm thanh rì rào, róc
rách... v.v... Cũng chỉ nước mắt chảy ròng ròng khi xúc động...
- Câu 8: Ngô đãn tả thanh phát tình ư diệu chỉ, thù bất tri thử khúc chi cổ kim 吾但寫聲發情於妙指,殊不知此曲之古今: Ta chỉ cần dốc hết thanh âm của ngón tay khéo léo để phát ra tình cảm vào lúc ấy. Có biết đâu khúc đàn này đã nối liền xưa và nay! Trong âm nhạc, sự khéo léo của ngón tay chơi đàn mỗi người sẽ tạo nên những âm thanh, những cung bậc cho thấy nghệ thuật chơi đàn của mỗi người. Lý Bạch, có niềm vui trong khúc đàn cao hứng khinh khoái này đã tưởng như nối lại ngàn xưa với ngàn sau vượt lên những ngăn cách của không gian và thời gian. Ít nhiều, nhà thơ cũng rất tự hào sự khéo
léo và tuyệt kỹ của ngón đàn do mình tạo ra...
+ đãn 但: chỉ, chỉ cần đến, nếu, song, hễ, nếu như, nhưng mà...
+ tả 寫: dốc hết ra, bộc lộ, viết, mô tả, phỏng theo, tránh ra, đặt để...
+ phát tình 發情: phát lộ tình cảm, phát tiết tâm tư...
+ diệu chỉ 妙指: ngón tay khéo léo tài hoa của người chơi đàn, làm thơ hay vẽ tranh, điêu khắc... v.v...
+ thù bất tri 殊不知: có biết chăng là, không biết đã xong, biết đâu là...
+ chi cổ kim 之古今: nối liền (chi) xưa và nay...
- Câu 9: U giản tuyền, minh thâm lâm 幽澗泉,鳴深林: Suối khe vắng lặng vang tiếng đàn chốn thâm sâu. Tiếng suối chảy róc rách, tiếng vượn hú, tiếng gió thổi vi vu qua rừng tùng và tiếng rì rào qua muôn cây lá cùng với tiếng đàn cũng rì rào, vi vu, róc rách đó tao thành một hợp âm vang vọng trong chốn rừng sâu thâm u vắng vẻ.
Cách chơi đàn của Lý Bạch như để phát tiết tâm tư với những mối buồn sầu từ thời thế và những mong muốn không thể thực hiện được. Không thấy rõ người nghe hay “thính giả 聽者” đang nghe Lý Bạch chơi đàn nhưng những người bạn thiên nhiên như vượn, suối khe, rừng cây đã thật sự hòa âm cùng tiếng đàn của Lý Bạch. Những người bạn ấy đã lắng nghe nhịp đàn và cùng Lý Bạch hòa tấu khúc nhạc thiên nhiên vắng lặng để cho nỗi lòng và tâm hồn nhà thơ như được giải tỏa vút cao và tiếng vang của thanh âm hòa quyện trong chốn thâm u.
Dương Anh Sơn
Saigon, 2006
(Lần đến: THƠ CỦA LÝ BẠCH – Bài 146, 147 và 148)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét