Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2025

Thơ Của Tô Đông Pha - Bài 38, 39, 40, 41 Và 42

 


THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA - BÀI 38, 39, 40, 41 VÀ 42
Thầy Dương Anh Sơn

THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA

Bài 38

MAI HOA (KỲ NHẤT)                                                             梅花 (期㇐)

Xuân lai u cốc thuỷ sàn sàn,                                                       春來幽谷水潺潺,
Đích lạc mai hoa thảo cức gian.                                                 的落梅花草棘間。
Nhất dạ đông phong xuy thạch liệt,                                           ㇐夜東風吹石裂,
Bán tuỳ phi tuyết độ quan san.                                                   半隨飛雪度關山。

Dịch nghĩa:

Mùa xuân đến nơi hang sâu tối tăm, nước chảy rì rào, róc rách - Thấy hoa mai đã rụng xuống giữa đám cỏ gai. – Một đêm ngọn gió xuân thổi xé toạc đá! - Phân nửa (những cánh hoa) đã bay theo tuyết đi qua chốn quan ải núi non

Tạm chuyển lục bát:

HOA MAI (Bài một)

Xuân về hang tối rì rào,
Thấy mai rơi rụng lẫn vào cỏ gai!
Đêm xuân gió chẻ đá kia,
Nửa hoa theo tuyết bay về ải non.

Chú thích:

- u cốc 幽谷: hang sâu tối tăm, nơi ở đơn sơ ...
- thủy sàn sàn 水潺潺: nước chảy rì rào, róc rách...
- đích 的: đích thực, đúng thật, thật là, mục đích, thuộc về, thấy rõ, lộ ra ngoài, trắng, đích để bắn tên...
- gian 間: khoảng giữa, bên trong, xen lẫn, cách khoảng, khác biệt, thừa cơ, thừa dịp....
- đông phong 東風: gió từ hướng đông thổi đến báo hiệu mùa xuân đến nên cũng gọi là gió xuân (xuân phong).
- xuy thạch liệt 吹石裂: gió thổi (mạnh) làm cho đá bị xé toạc, vỡ ra (liệt)...
- tùy 隨: đi theo, thuận theo, lập tức, ngay tức khắc, bèn, gống như...
- độ 度: đi qua, trải qua, đi đến, dáng dấp, độ lượng, khí độ (sự rộng rãi, bao dung), mức độ...

Bài 39

MAI HOA (KỲ NHỊ)                                                                 梅花 (期二)

Hà nhân bả tửu uý thâm u,                                                         何人把酒慰深幽,
Khai tự vô liêu lạc cánh sầu.                                                      開自無聊落更愁。
Hạnh hữu thanh khê tam bách khúc,                                          幸有清溪三百曲,
Bất từ tương tống đáo Hoàng Châu.                                          不辭相送到黃州。

Dịch nghĩa:

Ai là người nâng chén rượu để an ủi (ta) nơi chốn thâm sâu tối tăm? – Từ đó mở ra cho nỗi buồn bã lọt vào, đã buồn lại càng buồn hơn! - Cũng may đã có khe suối trong lắng với ba trăm khúc uốn quanh! - Không có lời nào để tiễn đưa nhau đến (đất trích) Hoàng Châu.

Tạm chuyển lục bát:

HOA MAI (Bài hai)

Ai người mời rượu chốn sâu?
Mở ra lọt nỗi buồn sầu vấn vương.
May ba trăm khúc suối trong!
Không lời đưa tiễn đến vùng Hoàng Châu.

Chú thích:

- bả tửu 把酒: nâng chén mời rượu, cầm chén uống rượu...
- úy 慰: an ủi, vỗ về...
- thâm u 深幽: nơi tối tăm và sâu vào trong xa...
- khai tự 開自: từ đó đã mở ra, đặt ra, mở bày ra...
- vô liệu 無聊: buồn tẻ, buồn bã, buồn chán, sầu muộn, không nơi nương dựa...
- lạc 落: rơi rụng, lọt vào, rơi vào, để lại, ở đậu, chỗ dừng chân, chỗ ở, sót, bỏ lại phía sau...
- tam bách khúc 三百曲: ba trăm khúc ngoặt uốn quanh. Đây chỉ là cách nói đoạn suối có rất nhiều đoạn uốn quanh co, đồng thời nói đến sự gian nan trắc trở của Tô Thức trên bước đường lưu đày...
- Hoàng Châu 黃州: Đó là một thị trấn nhỏ bên bờ sông Dương Tử. Năm 1080 , Tô Đông Pha bị bọn đàn em của tể tướng Vương An Thạch, triều Tống bên Trung Hoa là Lý Định và Thư Đản tâu lên vua đòi xử tử ông và hai người bạn là Trương Phương Bình, Tư Mã Quang vẫn thường chống đối phe Tân đảng của họ Vương,buộc tội các vị này luôn nuôi ý làm phản. Vua Tống Thần Tôn bác bỏ luận điệu dèm pha của bọn này nhưng vì áp lực cũng phải giáng chức Tô Thức cho đi đày ở Hoàng Châu. Đây là thời kỳ khốn khó của gia đình
ông phải ra sức làm ruộng ở đồi Đông Pha cách thị trấn khoảng nửa cây số do một người thân tín là Mã Động Đắc xin quan trên cấp cho .Biệt hiệu Tô Đông Pha hay Đông Pha cư sĩ được ông thêm cho mình. Gia đình đông con phải ăn tiêu dè sẻn vì không được cấp lương bổng. Sau này, khi đang ở Dĩnh Châu (1091) được Tuyên Nhân Hậu triệu về kinh giữ chức Binh bộ thượng thư kiêm Hàn lâm viện thị độc,rồi Lễ bộ thượng thư nhưng phe bọn Chương Đôn trong triều vẫn chưa để yên, khép tội ông bài xích tiên đế. Nhờ Tuyên Nhân Hậu che chở nên ông thoát tội cho đến khi bà mất (1093), Chương Đôn làm tể tướng, ông xin ra trấn nhậm ở Định Châu vẫn bị bọn Chương Đôn đeo đuổi cách chức đày qua Anh Châu rồi an trí ở Huệ Châu ,Quỳnh Châu (đảo Hải Nam)....[1]

Bài 40

SƠ NHẬP LÔ SƠN                                                                   初入盧山

Thanh sơn nhược vô tố,                                                             青山若無素,
Yển kiển bất tương thân.                                                            偃蹇不相親。
Yếu thức Lô Sơn diện,                                                               要識盧山面,
Tha niên thị cố nhân.                                                                  他年是故人。

Dịch nghĩa:

Đi đến ngọn núi xanh vốn không phải là chỗ quen cũ, - Đứng trên cao cũng không gần gũi thân thiết gì lắm! – Mong ước thấy khuôn mặt núi Lô, - Sang năm đã là người bạn cũ!

Tạm chuyển lục bát:

MỚI ĐẾN NÚI LÔ.

Núi xanh vốn chẳng quen rồi!
Cũng không thân thiết trông vời đứng cao.
Lô Sơn mong biết mặt nao,
Đến năm sau sẽ bạn bầu cũ xưa.

Chú thích:

- nhược 若: đạt đến, đến nơi, dường như, giống như, thuận theo, đến đâu, bao nhiêu, kịp đến...
- tố 素: vốn là, chỗ quen biết cũ, yếu tố ban sơ mộc mạc, giản dị, cao khiết, rau dưa, đồ chay, tơ thô trắng nõn...
- yển kiển 偃蹇: đứng trên cao, vẻ cao ngạo, nằm yên, uốn khúc, quanh co, trắc trở...
- yếu thức 要識: mong muốn hiểu biết, cần phải hiểu biết...
- diện 面: vẻ mặt, khuôn mặt, gặp mặt, khuôn mặt, vẻ mặt, bề mặt, ngoảnh mặt....
- thị cố nhân 是故人: đã là, đúng là người bạn quen cũ, đã là tình nhân xưa...

Nài 41

LÔ SƠN                                                                                     盧 山

Lô sơn yên tỏa, Chiết giang triều,                                              盧山煙鎖浙江潮,
Vị chí sinh bình hận bất tiêu.                                                     未至生平恨不消。
Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự,                                                       到得還來無別事,
Lô sơn yên tỏa, Chiết giang triều.                                              盧山煙鎖浙江潮。

Dịch nghĩa:

Núi Lô khói giăng phủ, sóng nước dâng lên ở sông Chiết, - Suốt đời chưa đến (nơi này) lòng hối tiếc không nguôi! – Khi đã đến được quay trở về chẳng có việc gì khác lạ, - Khói núi Lô (vẫn) khói giăng phủ, sóng (vẫn) dâng nước lên ở sông Chiết.

Tạm chuyển lục bát:

NÚI LÔ.

Khói Lô Sơn,sóng Triết Giang,
Suốt đời chưa đến chẳng tan hận này!
Đến về không lạ gì đây ,
Lô Sơn khói phủ, sóng bày Triết Giang!

Chú thích:

** Đây là một bài thơ được truyền tụng nhiều trong giới Thiền tông nói rằng Tô Đông Pha là tác giả. Ở đây, cái mong muốn “được thấy” cảnh sắc của Lô Sơn và Triết Giang và khi “đã thấy” là “không có gì khác biệt”(vô biệt sự). Chất thiền ở đây chính là chỗ một khi đã giác ngộ ,đã thấy và cái “đã thấy” này chỉ những ai từng trải qua mới có thể biết và cũng không thể nào nói được về nó. Đó cũng là tinh thần bát nhã (prajñā) của tuệ nghiệp .Đạt đến sự thấu hiểu “chân diện mục” và buông bỏ nó để đi đến “chân đế” mới thực sự giải thoát. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay, chỉ những ai có tu, có chứng mới ngộ, mới thấy mà thôi ! Cái chưa thấy và sau khi đã thấy “không có việc gì khác lạ” (vô biệt sự) vì đã ở trạng thái của cái tâm bình thường sau khi đã thấy, đã giác ngộ vì “bình thường tâm là đạo 平常心是道” .Đó là một quá trình trải nghiệm để nhận ra “sự khác biệt” thật sự....
- Lô Sơn 盧 山: còn gọi là Lô Nhạc 盧 岳 một ngọn núi ở vùng Chư Thành, Sơn Đông, Trung Hoa. Lô Sơn còn có tên là Khuông Sơn hay Khuông Lư. (Chữ “Lô” có khi đọc là “Lư”).
- yên tỏa: khói mây, hơi núi, hơi sương...v.v... giăng phủ, che lấp. Có bản ghi là “yên vụ 煙雨”nghĩa là mưa rơi xuống từ trên cao tạo ra sương khói. (vụ hay là vũ nghĩa là mưa rơi...)
- Triết Giang 浙江: hay còn đọc là Chiết Giang, một con sông lớn ở tỉnh Chiết Giang, T.H. Sông Tiền Đường là một đoạn sông dài của Chiết Giang và có Tây Hồ nổi tiếng với nước phẳng lặng và ba mặt núi non thấp thoáng in bóng mặt hồ...
- sinh bình 生平: cũng viết là bình sinh, có nghĩa là suốt cuộc đời, cả đời... Có bản ghi là: “Vị đáo thiên bàn hận bất tiêu 未至千般恨不消”. Chữ “thiên bàn” (thay cho chữ “sinh bình”) nghĩa là quanh co ngàn lối có lẽ không hợp với ý cả bài thơ.
- vô biệt sự 無別事: không có việc gì khác lạ.

Bài 42

ĐỀ ĐÔNG LÂM BÍCH                                                             題 東林壁

Hoành khan thành lĩnh trắc thành phong,                                  橫看成嶺側成峰,
Viễn cận cao đê các bất đồng.                                                    遠近高低各不同。
Bất thức Lư Sơn chân diện mục,                                                不識廬山真面目,
Chỉ duyên thân tại thử sơn trung.                                               只緣身在此山中。

Dịch nghĩa:

Khi nhìn ngang thành một dãy núi , nhìn nghiêng thành ngọn núi cao! – Xa hay gần, cao hay thấp đều không giống nhau! – Không thể biết mặt mũi, diện mạo đích thực của núi Lô, - Chỉ vì tấm thân đang ở trong núi này.

Tạm chuyển lục bát:

ĐỀ LÊN VÁCH CỦA CHÙA ĐÔNG LÂM.

Thấp cao chẳng giống gần xa,
Nhìn ngang: dãy núi, nghiêng là non cao!
Núi Lô mặt thật thấy đâu?!
Chỉ vì thân phải ở vào trong non!

Chú thích:

** Đây là bài thứ ba Tô Thức nói đến Lô Sơn. Đó là ngôi chùa, ở vùng núi Lô Sơn từng ghi dấu của Lý Bạch nơi họ Lý đã làm nhiều bài thơ về Lô Sơn và có lưu một bài thơ ở chùa. Còn Tô Đông Pha, trên bước đường lưu đày, ông đã ghé Đông Lâm và cũng đã đề bài thơ này lên vách chùa [2]. Ông cũng có nhiều bài thơ vịnh phong cảnh của Lô Sơn. (Có bản ghi là chùa Tây Lâm- xem: thivien.net/ Đề Tây Lâm Bích)
- lĩnh (lãnh) 嶺: dãy núi, đường đi trong núi, các ngọn núi nối nhau...
- phong 峰: đỉnh núi cao, ngọn núi cao...
- chân diện mục 真面目: là một thuật ngữ thường được dùng trong Thiền tông để chỉ sự giác ngộ thấu đáo, rốt ráo chân như tức lẽ đạo. Nhiều công án Thiền bên Trung Hoa và Nhật Bản, Việt Nam...v.v... thường được các thiền sư nói đến tương tự khái niệm “chân diện mục“ là “bản lai diện mục 本來面目“ (diện mạo vốn có xưa nay)
- chỉ duyên thân 只緣身: chỉ vì cái thân mình, chỉ vì tấm thân này... ( duyên: duyên cớ, nguyên do, bởi vì, nhờ, noi theo, bám theo, quấn quanh)...
- Hai câu 3 và 4 cũng mang đậm nét tư tưởng Thiền tông: muốn biết chân diện mục hay gương mặt ,diện mạo đích thực của Lô Sơn,của cái tâm thưc sự của mình (bản lai diện mục) là gì sẽ cần phải trải qua và chứng nghiệm .Đó là một quá trình tất yếu để giác ngộ và giải thoát: phải đi, phải đến và phải thấy.Thấy được lẽ đạo là đến bến giác dù ở mức độ “tục đế” và cần phải bước đi để đến “chân đế” cao hơn, rộng hơn......

[1] xem thêm: Nguyễn Hiến Lê, Tô Đông Pha bản in 1969 hoặc bản in lại NXB Văn hóa&thông tin, Saigon 2003]
[2] Xem thêm: Tuệ Sỹ, “Tô Đông Pha,Những Phương Trời Viễn Mộng”, NXB Ca Dao, Saigon, 1973 hoặc bản in lại của NXB Văn Hóa Sài Gòn, tr. 67 và 69, 2008

(Lần đến: THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA - bài 43, 44 và 45)

Dương Anh Sơn


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét