THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU - TẬP 3 - BẮC HÀNH TẠP LỤC BÀI 23, 24
Thầy Dương Anh Sơn
THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU
TẬP 3 : BẮC HÀNH TẠP LỤC
Bài 23
THƯƠNG NGÔ TỨC SỰ 蒼梧即事
Ngu đế nam tuần cánh bất hoàn, 虞帝南巡更不還,
Nhị phi sái lệ trúc thành ban. 二妃洒淚竹成班.
Du du trần tích thiên niên thượng, 悠悠陳跡千年上,
Lịch lịch quần thư nhất vọng gian. 歷歷群書一望間.
Tân lạo sơ thiêm tam xích thuỷ, 新潦初添三尺水,
Phù vân bất biện Cửu Nghi san, 浮雲不辨九疑山.
Tầm thanh dao tạ tỳ bà ngữ. 尋聲遙謝琵琶語,
Thiên lý thanh sam bất nại hàn. 千里青衫不耐寒.
Dịch nghĩa:
Vua nhà Ngu đi tuần thú phương nam không trở về; - Hai người phi lệ trào vẩy vào những khóm trúc thành những đốm loang lổ. - Ngàn năm dấu vết xưa cũ, - Vẫn còn ghi trong sách vở nên hé nhìn thấy rõ ràng (c.1-4)
Nước lũ lại dâng thêm ba thước nước, - Những đám mây trôi giăng giăng khiến không thấy rõ được núi Cửu Nghi. - Bỗng tiếng tỳ bà xa xôi văng vẳng nhưng phải tạ từ thôi, - Chiếc áo xanh ở nơi ngàn dặm đến đây không chịu được cái rét lạnh căm. (c.5-8)
Tãm chuyển lục bát:
TỨC CẢNH THƯƠNG NGÔ
Không về, Ngu đế tuần nam,
Hai phi lệ vẩy đốm loang trúc rồi!
Ngàn năm dấu cũ xa xôi,
Trải bao sách vở hé vời rõ hơn.
Lũ thêm ba thước mới dâng,
Cửu Nghi không thấy, mây vần giăng trôi.
Tì bà tạ tiếng vẳng lơi,
Áo xanh ngàn dặm rét trời chẳng kham!
Chú thích:
- tức sự 即事:những sự việc xảy ra tức thời, ngay trước mắt. Đó là cách các nhà thơ xưa hay dùng khi có hứng làm thơ trước cảnh vật ,sự việc nào đó. Có thể tạm dịch là “tức cảnh”, “ngẫu hứng”, “cám cảnh”...v.v...
- Thương Ngô 蒼梧: ở miền nam Trung Hoa có hai địa danh này: một ở Quảng Tây và một ở Hà Nam. Theo sách Sử Ký của Trung Hoa có chép chuyện vua Thuấn nước Ngu là một trong những vị vua hiền giỏi của thời cổ sử T.H đi tuần thú, xem xét dân tình ở phía nam và bị bệnh mất chôn ở Thương Ngô. Đây là một địa danh cổ xưa ở vùng Quảng Tây gắn liền truyền thuyết vua Nghiêu ,vua Thuấn nhà Ngu là hai vị vua hiền được chọn từ đức tính hiền tài chứ không phải lối truyền ngôi “cha truyền con nối” về sau. Đồng thời, địa danh Thương
Ngô cũng gắn liền vời hình ảnh hai bà vợ của vua Thuấn là Nga Hoàng 娥皇 và Nữ Anh 女英 (hai người con gái của vua Nghiêu gả cho vua Thuấn) đã khóc như mưa thành dòng Lệ Giang và làm cho trúc vùng Thương Ngô loang lổ... Còn từ “Thương Ngô 湘吳” là cách gọi các nhà thơ nhà văn cổ điển Trung Hoa gợi nhớ về một vùng đất xa xôi nào đó đem lại cảm hứng cho thơ ca và văn chương...
- nhị phi 二妃: tức Nga Hoàng và Nữ Anh vợ vua Thuấn nước Ngu (nay thuộc tỉnh Sơn Tây-T.H) nghe tin chồng mất khóc lóc thảm thiết, nước mắt vẩy ra làm loang lổ các khóm trúc....
- sái 洒: vẩy ra, bắn ra, lạnh run...
- ban 班: loang lổ, khắp nơi, ban phát, trở về, ngay ngắn...
- du du 悠悠: xa xôi, xa tít, xa thẳm.
- trần tích 陳跡: dấu vết cũ.
- lịch lịch 歷歷: rành rẽ, rõ ràng, trải qua, tiếng thú kêu.
- gian 間: ở giữa, khoảng giữa, hé thấy, vào khoảng.
- thiêm 添: thêm vào, thêm nhiều.
- bất biện 不辨: không nhận ra rõ ràng, không phân biệt được...
- Cửu Nghi San 九嶷山: chín ngọn núi cao chót vót (nghi) rất giống nhau ở vùng Thương Ngô rất nổi tiếng bên Trung Hoa (nay nằm ở phía nam tỉnh Hồ Nam 湖南, gần ranh giới tỉnh Quảng Tây...) Theo truyền thuyết Đế Thuấn hay còn gọi vua Thuấn đã qua đời trong một chuyến đi tuần du phương Nam và được an táng tại núi Cửu Nghi. Hai người con gái của Đế Nghiêu , được gả làm vợ cho Đế Thuấn là bà Nga Hoàng 娥皇 và Nữ Anh 女英 nghe tin chồng mất, ra đi viếng mộ chồng và khóc than bên sông Tương 湘, nước mắt rơi xuống thành những vết loang lổ trên bãi sỏi và những cây trúc mọc quanh đó nên gọi là “Tương Phi trúc 湘妃竹”
- tầm thanh dao 尋聲遙: (tầm: bỗng, tìm kiếm, dần dà, gần , sắp, tầm tầm thường...v.v...). Bỗng tiếng (tỳ bà) xa xăm (dao) vọng lại...
- tỳ bà 琵琶: loại đàn cổ điển phát xuất từ thời xa xưa của nước Trung Hoa trước thời nhà Tần , nhà Hán. Đàn có 4 dây và từ 12 đến 30 phím tùy loại...
- tạ 謝: tạ từ, giã biệt, từ biệt, cảm ơn, nói cho biết, thay đổi, nhận lỗi...
Bài 24
THƯƠNG NGÔ MỘ VŨ 蒼梧暮雨
Vũ trệ Tầm giang hiểu phát trì, 雨滯潯江曉發遲,
Ngô thành bạc mộ thượng phi phi. 梧城薄暮尚霏霏.
Nhất giang tân lạo bình Tam Sở, 一江新潦平三楚,
Ðại bán phù vân trú Cửu Nghi. 大半浮雲駐九疑.
Trách trách tiểu chu nan quá Hạ, 窄窄小舟難過夏,
Tam tam trường phát tự tri Di. 鬖鬖長髮自知夷.
Bình ba nhật mộ Tương Đàm viễn, 平波日暮湘潭遠,
Bôi tửu bằng lan điếu nhị phi. 杯酒憑欄吊二妃.
Dịch nghĩa:
Cơn mưa sớm ở sông Tầm làm chậm lại chuyến đi, - Buổi chiều sắp tối, mưa vẫn còn tuôn tầm tả ở thành Ngô. - Nước lũ tràn về từ dòng sông làm ngập khắp vùng Tam Sở, - Hơn nửa đám mây trời dừng lại ở núi Cửu Nghi. (c.1-4)
Chiếc thuyền nhỏ chật hẹp nên rất khó đến được vùng Hoa Hạ, - Mái
tóc đã buông rủ dài thượt cho biết đây là người Man Di xa đến. - Sóng êm nhưng trời đã tối nên Tương Đàm hãy còn xa lắm, - Dựa vào lan can thuyền, rót ly rượu viếng hai bà phi thôi! (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
MƯA LÚC CHIỀU TỐI Ở THƯƠNG NGÔ
Sông Tầm mưa sớm chậm đi,
Thành Ngô sắp tối dầm dề mưa tuôn.
Dòng sông Tam Sở lũ dâng,
Cửu Nghi hơn nửa mây dừng giăng giăng.
Thuyền con đất Hạ khó sang,
Tóc dài thườn thượt biết rằng người Man.
Chiều hôm xa lắm Tương Đàm,
Tựa thuyền rượu viếng hai nàng phi thôi.
Chú thích:
- Tầm giang 潯江 : sông chảy qua Thương Ngô (Quế Bình, Quảng Tây, T.H).
- hiểu 曉: sáng sớm, lúc trời mới sáng...
- trì 遲: chậm chạp, đi chậm rãi.
- bạc mộ 薄暮: trời sắp tối, chạng vạng tối...
- phi phi 霏霏: mưa dầm dề, mưa lớn kéo dài, mưa lả tả.
- Tam Sở 三楚: bao gồm Tây Sở, Đông Sở và Nam Sở nay thuộc vùng Hồ Nam, Hồ Bắc T.H.
- trú 駐: xe ngựa dừng lại, dừng lại nghỉ ngơi, giữ lại, lưu lại...
- trách trách 窄窄: chật chội, chật hẹp, nhỏ nhoi.
- Hạ 夏: còn gọi là vùng Hoa Hạ gồm Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông ở T.H.
- Di 夷: dân tộc ít người ở phương đông. Kinh Lễ 禮記 được xếp vào Ngũ Kinh là quyển sách ghi chép về lễ nghi trong xã hội Trung Hoa có trước khi Khổng Tử ra đời và được họ Khổng san định lại sau này đã viết: “Đông phương viết di, phi phát tả nhậm, ngôn ngữ bất thông, ẩm thực bất tiết 東方曰夷 , 披髮左衽, 言語不通, 飲食不節. Nghĩa là: Vùng phía đông gọi là “Di”, tóc xõa, mặc áo cài bên trái, tiếng nói khác biệt, ăn uống không theo lễ tiết. Họ còn gọi người vùng phía bắc là “Địch”. Man Di, Nhung Địch đều là cách gọi của người Trung Hoa từ thuở xa xưa thời cổ đại và sau này từ thời Hán vẫn tự tôn cho mình là trung tâm, là tinh hoa của văn minh hơn hẳn các dân tộc khác và gọi các nước chung quanh.
Các bộ tộc Bách Việt cổ xưa đều bị người Hoa Hạ gọi là “Di” hoặc “Man Di Nhung Địch 蠻夷戎狄 hoặc “Nam phương viết Man 南方曰蠻” với thái độ khinh thị, coi thường xem như dân tộc mọi rợ vì phong tục, trang phục, ngôn ngữ và lối sống khác với người Trung Nguyên (Trung Hoa cổ). Cho nên khi người Trung Hoa đồng hóa các nước bị họ xâm lăng, họ luôn chú trọng bắt dân tộc nước đó phải thay đổi trang phục, phong tục, chữ viết theo họ... Ở đây, Nguyễn Du tự cho mình là người từ nước “Di” (người Hán vẫn xem là nơi xa xôi, hoang dã... v.v...) đến Trung Hoa chứ không phải tự hạ mình trước nước lớn. Dẫu sao, đây vẫn là những ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Trung Hoa cả trong ngôn từ thường ngày cũng như trong văn chương. Một người như Nguyễn Du trong vai trò sứ giả sang Trung Hoa vẫn còn mang nặng mặc cảm tự ti thay vì nói mình là người nước Việt! Không ai dám phủ nhận lòng yêu nước ,ghét giặc xâm lược phương bắc nơi Tố Như thể hiện qua nhiều bài thơ trong B.H.T.L này. Nhưng ít nhiều những ảnh hưởng từ phương bắc do hơn một ngàn năm lệ thuộc các nho sĩ do tiếp cận dách vở chữ Hán từ nhiều đời, phải gánh chịu những làn sóng văn học, văn hóa và văn minh từ kẻ xâm lược! Đó là hậu quả không tránh khỏi của một đất nước phải chịu đựng cả một thời gian lịch sử quá dài, một nước nhỏ do địa lý phải chịu làm lân bang của một nước lớn đầy tham vọng như Trung Hoa. Đồng thời, cũng như phải gánh lấy biết bao áp lực cùng dã tâm xâm lấn của bọn cầm quyền thống trị phía bắc.
- tam tam(sam sam)鬖鬖: dáng rủ xuống, tóc buông rủ...
- Tương Đàm 湘潭: là vùng đất nằm ở tỉnh Hồ Nam 湖南,Trung Hoa, ở kế bên sông Tương 湘江 chảy ngang qua Hồ Nam. Nay đổi thành thành phố Trường Sa tỉnh Hồ Nam bên T.H.
(Lần đến: BẮC HÀNH TẠP LỤC- Bài 25: gồm 15 bài tứ tuyệt)
Dương Anh Sơn

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét