Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2025

Thơ Đỗ Phủ - Bài 101 Và 102

 


THƠ ĐỖ PHỦ - BÀI 101 VÀ 102
Thầy Dương Anh Sơn 

THƠ CỦA ĐỖ PHỦ

Bài 101

BINH XA HÀNH                                                                       兵車行

Xa lân lân, mã tiêu tiêu,                                                             車轔轔,馬蕭蕭,
Hành nhân cung tiễn các tại yêu.                                               行人弓箭各在腰。
Gia nương thê tử tẩu tương tống,                                               耶孃妻子走相送,
Trần ai bất kiến Hàm Dương kiều.                                             塵埃不見咸陽橋。
Khiên y đốn túc lan đạo khốc,                                                   牽衣頓足攔道哭,                                   
Khốc thanh trực thướng can vân tiêu.                                        哭聲直上干雲霄。
Đạo bàng quá giả vấn hành nhân,                                              道旁過者問行人,
Hành nhân đãn vân: điểm hành tần.                                           行人但云點行頻。
Hoặc tòng thập ngũ bắc phòng Hà,                                            或 從 十五北防河,
Tiện chí tứ thập tây doanh điền.                                                 便至四十西營田。
Khứ thời lý chính dữ khoả đầu,                                                 去時里正與裹頭,
Quy lai đầu bạch hoàn thú biên.                                                 歸來頭白還戍邊。
Biên đình lưu huyết thành hải thuỷ,                                           邊亭流血成海水,
Vũ Hoàng khai biên ý vị dĩ.                                                       武皇開邊意未已。
Quân bất văn:                                                                             君不聞:
Hán gia Sơn Đông nhị bách châu,                                              漢家山東二百州,
Thiên thôn vạn lạc sinh kinh kỷ?                                               千村萬落生荊杞。
Túng hữu kiện phụ bả sừ lê,                                                       縱有健婦把鋤犁,
Hoà sinh lũng mẫu vô đông tê (tây).                                          禾生隴畝無東西。
Huống phục Tần binh nại khổ chiến,                                         況復秦兵耐苦戰,
Bị khu bất dị khuyển dữ kê!                                                       被驅不異犬與雞。
Trưởng giả tuy hữu vấn,                                                             長者雖有問,
Dịch phu cảm thân hận!                                                             役夫敢申恨。
Thả như kim niên đông                                                              且如今年冬,
Vị hưu quan tây tốt.                                                                   未休關西卒。
Huyện quan cấp sách tô,                                                            縣官急索租,
Tô thuế tòng hà xuất?                                                                 租稅從何出。
Tín tri sinh nam ác,                                                                    信知生男惡,
Phản thị sinh nữ hảo.                                                                  反是生女好。
Sinh nữ do đắc giá tị lân,                                                           生女猶得嫁比鄰,
Sinh nam mai một tuỳ bách thảo.                                               生男埋沒隨百草。
Quân bất kiến Thanh Hải đầu,                                                   君不見青海頭,
Cổ lai bạch cốt vô nhân thu?                                                      古來白骨無人收。
Tân quỷ phiền oan, cựu quỷ khốc,                                             新鬼煩冤舊鬼哭,
Thiên âm vũ thấp, thanh thu thu.                                               天陰雨濕聲啾啾。

Dịch nghĩa:

Tiếng xe chạy rầm rầm, tiếng ngựa hí vang, - Người ra đi cung tên đều (mang) trên lưng . - Cha mẹ vợ con đi đến cùng tiễn đưa, - Cát bụi (bay khắp) che không thấy cầu Hàm Dương. (c.1-4)
Kéo áo, dừng chân ngăn lại, khóc to trên đường đi! – Tiếng khóc thẳng đến tận tầng mây của khoảng không. – Bên đường đã hỏi người qua đường về (chuyện) người ra đi, - Người đi chỉ đáp: “Phải tra xét (trai tráng) luôn”! (c.5-8)
Năm mười lăm tuổi, đi theo ngăn giữ (đê) phía bắc sông Hoàng Hà, - Ngay khi bốn mươi tuổi , đi khai khẩn đất ở miền tây. – Khi ra đi, ông lý của làng đã giúp cho (chiếc khăn vải) quấn đầu, - Trở về đầu đã trắng xóa,lại đi làm lính thú ở biên giới! (c.9-12)
Chốn biên đình, máu (đổ) thành dòng chảy trôi ra biển! – “Ông vua (thích) chiến tranh” vẫn chưa thôi ý định mở mang vùng biên giới! – Anh không nghe sao: “Hai trăm châu nhà Hán ở Sơn Đông, - Ngàn thôn muôn xóm gai góc mọc khắp. (c.13-16)
Nếu có người đàn bà khỏe mạnh vác nổi cái bừa, cái cày, - Lúa mọc lên nơi gò đống của khu ruộng không ra đông tây gì cả! - Huống chi quân Tần lại chịu được gian khổ khi đánh nhau! – (Quân ta) bị lùa chạy không khác gì chó với gà! (c.17-20)
Tuy ông có hỏi thăm qua, - Kẻ thừa hành (này) bạo dạn nói lên nỗi oán hận. – Lại còn như mùa đông năm nay, - Vẫn chưa thôi việc đi lính ở cửa ải phía tây! (c.21-24)
Quan huyện thắt chặt đòi nộp thuế gấp! - Tô thuế lấy từ đâu ra đây? –
Giờ mới tin và biết rằng sinh con trai là lầm lẫn!! - Ngược lại, đúng là sinh con gái tốt hơn!! (c.25-28)
Sinh con gái vẫn còn được gã chồng cho hàng xóm gần, - Sinh ra con trai bị vùi lấp theo bao cây cỏ! – Anh có thấy chăng: Ở đầu Thanh Hải, - Xưa nay xương trắng không có người lấy về. (c.29-32)
Quỷ mới oán phiền, quỷ cũ khóc lóc, - Trời u ám tối tăm, mưa ẩm ướt
(giữa) những âm thanh rên rỉ (của những oan hồn)! (c.33-34)

Tạm chuyển lục bát:

BÀI HÀNH VỀ XE CỘ VIỆC BINH.

Rầm rầm xe ngựa ầm vang!
Người đi đều đã mang làn tên cung.
Vợ con, cha mẹ đưa cùng,
Cầu Hàm Dương bụi mù tung thấy nào!
Dậm chân ,níu áo khóc trào,
Ngất trời tiếng khóc chạm vào tầng không!
Hỏi người đi, ở bên đường,
Người đi chỉ nói: “Vẫn thường xét tra”.
Mười lăm- đi giữ đê Hà,
Phía tây mở đất khi đà bốn mươi.
Khăn đầu ông Lý cho thôi,
Trở về đầu bạc, rồi làm lính biên.
Máu thành nước biển ngoài biên,
Vũ hoàng ý mở biên cương chưa dừng!
Hai trăm châu Hán, Sơn Đông,
Thấy không! Muôn xóm ,ngàn thôn gai đầy?!
Nếu đàn bà khỏe bừa cày,
Ruộng gò cây lúa đông tây không chừng!
Đánh ta- chịu khổ quân Tần,
Xua gà, đuổi chó chạy rân khác là!
Tuy ông có hỏi thăm qua,
Dịch phu đâu dám kể mà hận thay!
Mùa đông lại đến năm nay,
Phải làm lính ải phía tây nữa rồi!
Thuế tô quan huyện siết thôi,
Những tô cùng thuế đòi đâu ra này!
Sinh trai mới biết lầm thay!
Sinh ra con gái lại hay hơn rồi.
Gả chồng giềng xóm gần nơi,
Sinh trai vùi lấp theo đời cỏ cây.
Thấy chăng Thanh Hải đầu này?
Không người xương trắng xưa nay nhặt nào?!
Oán than cũ mới quỷ gào!
Tối trời rên rỉ ,rì rào tiếng mưa!

Chú thích:

** Bài thơ này được làm theo thể “Hành 行”, một thể thơ rất thịnh hành thời Thịnh Đường. Các bài thơ theo thể Hành nổi tiếng như Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, hai bài Trường Can Hành và bài Hiệp Khách Hành của Lý Bạch, bài Binh Xa Hành của Đỗ Phủ... v.v... Bài theo thể “Hành” có khi ngũ ngôn (ví dụ Trường Can Hành của Lý Bạch) hay thất ngôn chen lẫn ngũ ngôn (ví dụ như bài Binh Xa Hành của Đỗ Phủ). Cũng có khi thuần thất ngôn liên tiếp. (như Cổ Bách Hành của Đỗ Phủ với 24 câu, Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị với 88 câu. Có một só bài làm ra trên 100 câu nữa...). Tuy vẫn theo thể loại ngũ ngôn,thất ngôn với niêm luật của Luật Thi 律詩 Đường luật nhưng không đến nổi gò bó ,chặt chẽ quá mức nên vẫn có nhiều biến tấu linh hoạt như trong bài Binh Xa Hành này.Nước ta cũng có một số nhà thơ làm thơ theo thể “hành” như Nguyễn Du với “Trở binh hành”, “Sở kiến hành”, “Dự Nhượng chủy thủ hành”(Trong Bắc Hành Tạp Lục)... v.v...
Trước hết, thể “Hành” thường nói về việc ra đi như đi chinh chiến làm cho biết bao trai tráng phải gian khổ và vùi thân chiến trường hoặc nói về những chuyến du hành hay hành trình đây đó (VD: Binh Xa Hành). Và những cuộc chinh chiến hay ra đi nơi xa đã để lại cho người vợ trẻ ở nhà biết bao sầu khổ,lo lắng ,khắc khoải nhớ thương (Trường Can Hành của Lý Bạch), hoặc cách hành xử của nhân vật làm chuyện hiệp nghĩa.(như trong Hiệp Khách Hành).
Kế đến, nhiều bài thể “Hành” cũng đi sâu vào việc mô tả tâm tư, cuộc đời và tính cách của nhân vật đậm tính trữ tình thể hiện qua việc làm (như nhân vật ca kỹ thành thạo ngón đàn tỳ bà trong Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị). Có khi bài thơ cũng chứa đựng những suy nghĩ của tác giả về con người và cuộc sống (bài Phụ Tân Hành của Đỗ Phủ) hay mượn hình ảnh của sự vật để nói lên tâm tư ,ý nguyện và hình tượng một con người trong đời (Cổ Bách Hành của Đỗ Phủ)....
Nói chung, nội dung các bài thơ loại này rất đa dạng mang đậm tính cách của loại thơ cổ phong cũng rất thịnh hành thời nhà Đường với ngôn ngữ súc tích nhưng gần gũi với những hình ảnh từ thực tế cuộc sống mà người ta gọi là phản ánh hiện thực và mang tính kể chuyện (tự sự)
Bài Binh Xa Hành của Đỗ Phủ đã mô tả ,ghi nhận “những điều trông thấy” (c.4-Truyện Kiều – Nguyễn Du) về giai đoạn quân của của Đường Minh Hoàng (năm 752) do Dương Quốc Trung chỉ đạo đi dánh quân Nam Chiếu ở gần đất Vân Nam do Tiết độ sứ Kiếm Nam là Tiên vu Trọng Thông cầm quân đã bị thua mất sáu vạn quân. Dương Quốc Trung lại dấu vua, ra lệnh mộ thêm và bắt lính bổ sung để tiếp tục gửi quân đi Kiếm Nam chinh chiến gây ra biết bao đau khổ cho những người phải ra đi và nỗi đau mất mát và thương nhớ của người thân ở lại. Mặt khác, Binh Xa Hành đã được nhà thơ Đỗ Phủ cho thấy được hiện thực cuộc sống của người dân trong hoàn cảnh loạn lạc lẫn việc chinh chiến tạo nên biết bao nỗi bất an và đau thương trong cuộc sống của người dân Trung Hoa ở một giai đoạn của lịch sử.....
- lân lân 轔轔: tiếng xe chạy rầm rầm, rầm rập...
- tiêu tiêu 蕭蕭: tiếng ngựa hí the thé, tiếng lá rụng ào ạt...
- gia nương 耶孃: cùng nghĩa với chữ 爺娘 chỉ cha và mẹ
- tẩu tương tống 走相送: chạy ra để cùng đưa tiễn người đi...
- khiên: níu kéo, dắt đi, co kéo , liền tức thời,câu chấp...
- Hàm Dương kiều 咸陽橋: cầu nằm ngoài thành Hàm Dương cách Thiểm Tây 10 dặm...
- can vân tiêu 干雲霄: chạm đến (can ) tận tầng mây, tận khoảng trời
không, tận trời...
- đãn 但: chỉ, song, nhưng mà, hễ, nếu như... (lời để chuyển câu)
- điểm hành tần 點行頻: xét tra (điểm) người sẽ ra lính đi thú hay tòng quân (hành) thường luôn (tần)...
- phòng Hà 防河: phòng giữ đê điều nơi sông Hoàng Hà, con sông lớn chảy dài từ tây về đông bên Trung Hoa.
- tiện chí 便至: ngay khi đến, đúng lúc đến, liền khi đến....
- doanh điền 營田: nơi khai khẩn đất hoang để làm ruộng hay trồng trọt (cũng có khi kêu là “dinh điền”)...
- lý chính 里正: người cầm nắm, điều hành làng xã ở thôn quê thời xưa...
- khỏa đầu 裹頭: quấn trên đầu, bọc đầu...
- thú biên 戍邊: làm lính thú đóng đồn nơi biên ải, biên đình... v...v... ngăn giữ giặc nước khác bên ngoài xâm lấn...
- vũ hoàng 武皇: đây là từ Đỗ Phủ dùng để chỉ ông vua ham chuộng chinh chiến binh (vũ), tránh nói đến Đường Minh Hoàng. Câu tiếp theo cũng mượn nhà Hán (Hán gia 漢家 để nói về nhà Đường, tránh những liên lụy với nhà đương quyền)
- lũng mẫu 隴畝: những phần ruộng (mẫu) nằm ở những chỗ đất ở gò hay đồi núi (lũng)
- vô đông tây 無東西: cách nói chỉ việc không có thứ tự hay hàng lớp rõ ràng. Đây chỉ người đàn bà dầu khỏe mạnh nhưng khi cấy lúa gieo mạ không ngay hàng thẳng lối...
- huống phục 況復: lại thêm, huống chi lại...
- nại khổ chiến 耐苦戰: chịu đựng (nại) gian khổ trong việc chinh chiến...
- bị khu bất dị 被驅不異: bị lùa hay xua đuổi đi(khu) không khác gì, không khác với viêc(bất dị)... (xua đuổi chó, gà)
- trưởng giả 長者: chỉ bậc lớn tuổi, bậc trên có địa vị cao cũng như có đức hạnh và học vấn...
- dịch phu 役夫: người làm việc nặng nhọc theo sự sai khiến của kẻ có quyền hành...
- cảm thân hận 敢申恨: dám, bạo dạn (cảm) nói ra hay thuật chuyện, trình bày (thân) nỗi oán hận (hận)...
- thả 且: lại còn, sắp đến, vả chăng, sắp sửa...
- vị hưu 未休: chưa được nghỉ ngơi, chưa dừng lại, chưa thôi...
- quan tây 關西: cửa ải ở phía tây Trung Hoa...
- cấp sách tô 急索租: gấp gáp, vội vàng (cấp) siết chặt, đòi hỏi (sách) việc tu thuế nông nghiệp, thuế làm ruộng (tô)...
- tòng hà xuất 從何出: từ đâu mà ra ( vd: tòng hà thuyết khởi? 從何說 起 nghĩa là từ đâu mà nói lên)
- tín tri 信知: tin và biết là...
- ác 惡: lầm lẫn, lầm lỗi, sai trái....
- phản thị 反是: ngược lại, trái lại (phản) đúng là (thị)...
- do đắc giá tị lân 猶得嫁比鄰: vẫn còn (do) được (đắc) gả chồng (giá) nơi hàng xóm (lân) gần (tỵ)
- Thanh Hải 青海: một địa danh xa xôi từng là nơi xảy ra nhiều trận chiến đối phó với các bộ tộc ở biên giới phía trung tây Trung Hoa nay thuộc vùng cao nguyên Thanh Hải, Tây Tạng
- phiền oan 煩冤: buồn phiền uất ức, không nói ra được...
- thiên âm vũ thấp 天陰雨濕: trời tối âm u, mưa ẩm ướt...
- thanh thu thu 聲啾啾: tiếng rên rỉ, than van, tiếng kêu líu lo...

Bài 102

BẤT KIẾN                                                                                 不見
(CẬN VÔ LÝ BẠCH TIÊU TỨC)                                            (近無李白消息)

Bất kiến Lý sinh cửu,                                                                 不見李生久,
Dương cuồng chân khả ai.                                                         佯狂真可哀!
Thế nhân giai dục sát,                                                                世人皆欲殺,
Ngô ý độc lân tài.                                                                       吾意獨憐才。
Mẫn tiệp thi thiên thủ,                                                                敏捷詩千首,
Phiêu linh tửu nhất bôi.                                                              飄零酒㇐杯。
Khuông sơn độc thư xứ,                                                             匡山讀書處,
Đầu bạch hảo quy lai.                                                                 頭白好歸來。
(Năm 761)

Dịch nghĩa:

Không gặp chàng Lý đã lâu! – Phải giả vờ cuồng ngông thật là đáng thương cảm! – Người đời đều muốn (bạn) phải chết đi, - Ý riêng của tôi là yêu mến tài năng (của bạn) (c.1-4)
Thơ hay và làm nhanh cả ngàn bài!, - Lênh đênh phiêu bạt với một rượu. – Núi Khuông là nơi vẫn ở để đọc sách. – Đầu đã bạc rồi, tốt hơn là nên quay về (nơi đây) thôi!

Tạm chuyển lục bát:

KHÔNG GẶP
(GẦN ĐÂY KHÔNG CÓ TIN TỨC CỦA LÝ BẠCH)

Thấy đâu chàng Lý lâu ngày!
Đáng thương xót thật, giả ngây ngông cuồng!
Hại người bao kẻ đều mong,
Riêng ta vẫn nghĩ mến thương cái tài.
Thơ hay nhanh chóng ngàn bài!
Lênh đênh một chén rượu say phiêu bồng.
Nơi đây đọc sách – núi Khuông,
Về thôi tốt đẹp pha sương mái đầu!

Chú thích:

** Trong bài thơ này, Đỗ Phủ nhắc đến Lý Bạch – một người bạn vong niên của Đỗ Phủ.
Lý Bạch lớn hơn Đỗ Phủ 11 tuổi. Sau khi làm việc trong triều đình Đường Minh Hoàng được ba năm như một người bạn bầu cùng nhà vua và thi thố tài làm thơ, Lý Bạch chán ngán không khí trong triều và xin từ chức để đi ngao du khắp chốn. Khi đến Lạc Dương, hai nhà thơ kỳ tài kết bạn vong niên dù tâm tính và chí hướng rất khác nhau, cùng với Cao Thích ngắm hoa thưởng nguyệt được nửa năm rồi chia tay. Lý Bạch xuôi về phương nam ngao du thiên hạ và về Lư Sơn ẩn cư những năm cuối đời. Bài thơ này được Đỗ Phủ làm trong niềm thương nhớ người bạn thân của mình...
- dương cuồng 佯狂: giả cách ngông cuồng hay điên dại.Đó là nhận xét của Đỗ Phủ về Lý Bạch nhất là khi ông cùng rượu say khướt và sau những cơn say ấy, biết bao bài thơ hay đã được làm ra mang một phong cách riêng độc đáo có một không hai trong nền thơ ca của Trung Hoa!
- chân khả ai 真可哀: thật sự đáng thương xót...
- giai dục sát 欲殺: đều mong muốn (lý Bạch) chết đi...
- lân tài 憐才: yêu mến người có tài năng thực sự....
- mẫn tiệp 敏捷: lanh lẹ, nhanh nhẹn lại siêng năng sáng suốt...
- thi thiên thủ 詩千首: một bài thơ hay, ý tứ sâu sắc khi làm ra được nhiều thích gọi là nhất thủ 一首 thủ. Ở đây, Đỗ Phủ ca ngợi Lý Bạch có tài làm thơ trên ngàn bài rất mau lại rất hay nữa...
- phiêu linh: lênh đênh, trôi dạt, điêu linh, tơi tả...
- Khuông Sơn 匡山: tức núi Lư Sơn (Lô Sơn)廬山 ở Cửu Giang, Giang Tây, Trung Hoa . Nơi Khuông Hành 匡衡 đời Tây Hán thường được Hán Nguyên đế của Trung Hoa hỏi về việc nước cũng đã chọn nơi này để ẩn cư. Về sau, nhiều người tài giỏi và các vị sư cao đạo cũng chọn nơi này để ẩn dật hay làm chùa tu trì...
- đầu bạch hảo quy lai 頭白好歸來: khi đã già, đã bạc đầu, việc quay về là tốt đẹp...

(Lần đến: THƠ CỦA ĐỖ PHỦ - Bài 103, 104 và 105)

Dương Anh Sơn


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét