Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2021

Vẻ Đẹp Của Châu Á

VẺ ĐẸP CỦA CHÂU Á - THE BEAUTY OF ASIA
Các video tuyệt tác chuyên nghiệp vừa mang tính giải trí vừa cung cấp thông tin về các nền văn hóa, lịch sử, v.v. của Châu Á, châu lục đẹp nhất, thú vị và hấp dẫn nhất.

Thân mời bạn viếng thăm, Vẻ đẹp của Châu Á .

Xin cám ơn anh Xuân Nguyễn chia sẻ

Trân trọng
NHHN

Xin mời quý vị thưởng lãm 



Một Hướng Đi

 


Truyện ngắn MỘT HƯỚNG ĐI
Điệp Mỹ Linh

Thời gian gia đình còn kẹt lại Việt Nam, tuy tuổi đời còn non dại, Nga đã nhìn đời bằng tâm thức của một thiếu nữ trưởng thành. Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, Phong được nuông chiều, cho nên, Phong rất vô tư. Thấy Nga không tỏ vẻ háo hức về tin chàng có xe mới, Phong hỏi lơ chuyện khác:

- Sáng nay ai đưa Nga đến trường?
- Ông xe “bus”.
- Từ nay có xe mới, anh sẽ đưa và đón em thường xuyên.
- Cảm ơn anh.
- Đi, đi với anh ra xem xe mới.
- Thôi, anh lấy xe vào đón Nga đi!
- Ok, “sir”!

Nhìn theo dáng người dong dỏng cao của Phong, Nga thở dài, nghĩ đến Huân – người anh xa vắng của nàng.

Hình ảnh Huân đang chờn vờn trong tâm tưởng của Nga thì chiếc xe thể thao màu đỏ dừng sát lề đường. Phong chồm ra, cười. Đối với một sinh viên vừa thoát khỏi “đáy địa ngục” của cộng sản Việt Nam (csVN) vào thời bao cấp – như Nga – thì chiếc xe này phải là một giấc mơ không tưởng! Thế mà Phong không hiểu tại sao Nga vẫn tỏ vẻ dững dưng.

Xe ra khỏi khuôn viên trường đại học Houston. Phong hỏi:

- Ngân muốn ghé phố Tàu mua gì không?
- Anh ghé cho Nga mua ít Salompas.
- Nga bị gì mà phải dùng Salompas?
- Nga mua cho Ba. Hồi đó, Ba bị csVN nhốt tù “cải tạo”, phải phá rừng, kéo gỗ, làm rẫy. Sang đây, vừa làm việc cực nhọc vừa thương nhớ anh Huân, cho nên, lúc nào tinh thần và thể xác của Ba cũng hành hạ Ba!
- Chuyện của anh Huân quả là một chuyện ngoài sự tưởng tượng của anh. Có phải vì chuyện của anh Huân mà Ba của Nga trở nên quá nghiêm khắc hay không?
- Đối với Ba, thanh niên sống phải có định hướng. Đừng để những đam mê vật chất làm tàn úa tâm hồn.

Im lặng.

Xe vào bãi đậu của tiệm thực phẩm Á Đông. Vừa mở cửa, Nga vội quay lại, bảo:

- Anh khỏi vào. Em trở ra ngay.
- Okay!

Vì hôm qua lái xe mới đi khoe với bạn, về khuya, bây giờ Phong cảm thấy mệt, buồn ngủ. Phong chỉ khép mắt được một chốc, Nga trở ra, gõ cửa xe.

Kéo “seat belt” xong, Nga khoe:

- Lâu lắm mới thấy lại trái xoài; Nga mua cho anh đó.

Nhìn trái xoài, Phong chu môi như muốn hôn trái xoài rồi nói.

- Anh có một câu chuyện rất vui về xoài. Khi anh khoảng 5, 6 tuổi, Mẹ thường đưa gia đình về thăm Ngoại. Anh thấy mấy cây xoài trong sân của Ngoại sai trái lắm; mà trái xoài mọc lạ lắm, em!
- Sao mà lạ?
- Nó mọc cách nhánh cây cả đoạn dài bằng “sợi dây” nhỏ xíu, trông xinh lắm!
- Hồi đó gia đình em ở Saigon, em chẳng biết cây cỏ gì cả. Sau khi csVN chiếm miền Nam, tịch thu nhà, đuổi Má và tụi em đi kinh tế mới, ai cũng phải tự túc trồng rau và hoa quả để có thức ăn. Lúc đó em mới thấy cây xoài. Lần đầu tiên thấy cây xoài ra trái, em tự hỏi, tại sao “sợi giây” nhỏ xíu, chỉ “dính” vào cành cây có tí ti mà lại nuôi và giữ được trái xoài?
- Anh chả suy nghĩ gì cả, thấy nó lủng lẳng trông xinh quá, anh nhón gót cắn ngay nơi phần nhòn nhọn, cong cong của trái xoài; cắn hết trái này đến trái khác. Cả nhà không ai biết con gì cắn. Một hôm ông Ngoại rình mà anh không biết. Anh bị bắt tại trận. Đến bây giờ gia đình cũng còn nhắc chuyện ăn cắn xoài.
- Kỷ niệm thời thơ ấu ở quê mình sao mà đẹp và dễ thương quá! Có bao giờ anh nghĩ rằng anh sẽ trở về hay không?
- Về làm gì? Nghe mấy đứa bạn mới theo gia đình vượt biển sang, bảo rằng quê mình bây giờ nghèo lắm, bo bo và củ mì cũng không đủ ăn. Mình về, làm sao sống được?
- Chính vì csVN đưa dân tộc Việt Nam vào giai đoạn “bao cấp” như hiện tại, cho nên, mọi người rất cần người trẻ trở về để “làm một chút gì” cho Quê Hương!
- Khó lắm, Nga ơi! Ở đây, vật chất làm cho con người lệ thuộc vào sản phẩm nhân tạo. Ăn thức ăn nguội, anh bị đau bụng. Muổi chích, anh bị nhiễm độc. Sáng thiếu ly cam tươi, anh cảm thấy thiếu sinh lực. Tối không có “dental floss” anh ngại hư răng. Anh không thể sống mà không có máy lạnh, máy sưởi!
- Anh từ đâu tới? Xã hội này có chấp nhận anh như một người da trắng mắt xanh hay không? Cuộc sống cho anh nhiều tiện ích. Nhưng, làm thế nào anh có thể tìm được kỷ niệm ngọc ngà như bên vườn xoài của Ngoại? Nơi đây chỉ như một buổi dạ vũ sang trọng, mình vui chơi rồi về. Vùng đất nghèo nàn, cằn cỗi, thấm nhiều máu, nước mắt và vết tích của bom đạn – nơi anh đã chào đời – chính là nhà, cần anh chăm nom, vun xới.
- Anh biết Nga suy luận đúng. Nhưng từ ngày lớn lên cho đến khi quen em, chưa một lần anh nghe ai đề cập đến những điều cao cả như em thường nói với anh. Chưa bao giờ anh nghe Bố Mẹ đề cập đến trách nhiệm và bổn phận của người trai trong thời loạn. Bố Mẹ chỉ muốn anh học giỏi, ra trường, kiếm được việc làm tốt. Riêng em, em muốn hướng anh theo con đường cao cả của anh Huân, đúng không?
- Chỉ đúng một phần. Ngày ở kinh tế mới, anh Huân còn quá trẻ và anh Huân không có bất cứ điều kiện tối thiểu nào để thực hiện lý tưởng cao cả của anh ấy. Anh Huân cùng một nhóm thanh niên trong ấp phải gia nhập tổ chức Phục Quốc của Hải Quân thiếu tá Đặng Hữu Thân. Sau khi thiếu tá Thân bị csVN xử tử tại trại tù A-30, không ai biết được số phận của anh Huân và những người hùng trẻ tuổi đó!
- Nhóm thanh niên đó quả là người hùng!
- Mỗi người mỗi hoàn cảnh. Với năng khiếu của anh, anh không cần phải dấn thân vào con đường khổ hạnh, đầy chông gai và bất trắc như anh Huân. Từ vùng đất phồn hoa này, anh vẫn có thể khơi động và cổ xúy tinh thần yêu nước trong lớp người trẻ hôm nay.

Im lặng. Một chốc sau, Nga tiếp:

- Từ nay, những lúc rảnh rỗi, anh nên nghe nhạc của miền Nam Việt Nam, trước 1975. Nghe những bản dân ca, những câu hát ru em, những điệu hò lơi lả, những tình khúc về Lính, anh sẽ thấy hồn tính của dân tộc trong ấy; rồi anh sẽ nhận biết, từ ngõ ngách sâu thẳm trong tiềm thức, mối tình cảm thiêng liêng, thánh thiện được nẩy sinh và vun bồi. Tình cảm ấy chính là tình Quê Hương, tình dân tộc.
- Anh chỉ tiếc rằng từ nhỏ đến giờ, Bố Mẹ anh chưa bao giờ đề cập đến những điều cao cả như em nói.
- Bố Mẹ anh, Ba Má em và đa số người miền Nam Việt Nam – dù đã bị csVN cướp đoạt tất cả rồi đày đi Kinh tế mới – cũng chưa bao giờ dạy con nuôi căm thù. Ngược lại, lúc nào người csVN cũng nuôi và truyền căm thù bằng cách giáo dục học trò như thế này: “Một anh bộ đội bắn chết 5 lính Ngụy. Hai du kích gái hạ sát 9 tên Mỹ. Hỏi có bao nhiêu Mỹ Ngụy bị quân cụ Hồ giết?”
- Làm gì có thứ giáo dục quái đảng như thế?
- Lối giáo dục quái đảng ấy do người csVN “nhồi” vào đầu dân Việt đó!

Nga dứt câu vừa khi Phong dừng xe cách nhà của Nga một khoảng ngắn – để gia đình của Nga không biết được sự liên hệ mật thiết giữa Nga và chàng. Nga tiếp:

- Anh nhớ cho ban hợp ca dợt kỹ lại bài Việt Nam Việt Nam và anh cũng nhớ tập bài Kỷ Vật Cho Em để sẵn sàng cho buổi Đại Hội Liên Trường, nha!
- Yes, “sir”!

Nga cười. Phong chu môi, nhìn Nga đóng cửa xe. Bất ngờ Nga nói lớn:

- Chết! Anh chạy đi! Xe Ba em sau xe anh kìa!

Phong chưa kịp phản ứng, Ba của Nga mở cửa xe, bước nhanh đến bên Nga, gằn giọng:

- Đi về ngay!

Xoay sang Phong, Ba tiếp:

- Cấm cậu giao thiệp với con tôi. Cậu nghe rõ chưa?

Phong uất, nhấn “chân ga”, chiếc xe lao nhanh về phía trước. Về đến nhà, Phong lạc tay lái, xe “ủi” sập cổng sắt và trụ gạch nơi “driveway” của Bố Mẹ.

Trong những lời đay nghiếng của Bố Mẹ, Phong chỉ nhớ một câu của Bố:

- Mày là một thằng vô trách nhiệm. Mày chỉ biết vui chơi, đua đòi với bạn bè, không giúp ích gì cho gia đình. Từ cái sân, cọng cỏ, tấm thảm, phòng ngủ, v.v… đều do ông bà già này dọn dẹp. Tao rất buồn và thất vọng! Ngày trước, thanh niên miền Nam Việt Nam, đỗ Trung Học hoặc tú tài I xong là vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức; đỗ tú tài II, vào Hải Quân, Không Quân hoặc Trường Võ Bị Dalat. Sau vài năm, họ ra trường, trách nhiệm đè nặng vai. Ngày đêm họ đối mặt với csVN để bảo vệ miền Nam chứ đâu có “nhong nhong” như mày. Những chuyện nhỏ trong nhà mày còn vô tâm như thế, làm thế nào mày làm được việc lớn?

Phong vùng vằng đi về phòng.

Vùi mặt vào gối, Phong cảm thấy hoang mang và tức giận. Những lời của Bố – cũng như những lời của Nga lúc chiều – đã giáng những nhát rất nặng vào tự ái của Phong. Phong biết Bố và Nga nói đúng. Nhưng, tại sao Bố không nói những điều đó khi Phong và các em còn bé? Tại sao không ai vạch cho chàng một hướng đi? Bố Mẹ chỉ biết lo làm “đầu tắt mặt tối” để Phong và các em có cuộc sống phủ phê về vật chất; nhưng về tinh thần thì… tâm hồn của Phong và các em chỉ là những khoảng trống mênh mông! Đã ai vẽ vào những khoảng trống ấy một hướng đi – dù bằng nét vẽ đơn sơ, lập dị hoặc cầu kỳ? Những việc lớn mà Bố nói là việc gì? Phong chỉ hiểu lờ mờ về chiến tranh Việt Nam. Phong cũng nghe loáng thoáng về Kháng Chiến Việt Nam vừa được thành lập. Nhưng, Phong nghĩ, đó là trách nhiệm của… ai đó chứ đâu phải của chàng!

Đang buồn nản, Phong chợt nghe giọng đầy lo âu của Mẹ:

- Ơ, Phong! Sao lại nằm vùi như thế, con? Đi tắm rồi ra ăn cơm! Bố giận thì Bố nói thế chứ có gì đâu mà con buồn!

Biết lỗi của mình, Phong ngồi dậy, lăng lẽ đi vào nhà tắm.

Tắm xong, khi chải tóc trước gương, Phong chợt nghe tiếng Guitar từ sân sau. Phong thở dài. Khi nào cũng vậy, có điều gì buồn, khó nghĩ, Bố cũng ôm Guitar “từng tưng” để tìm sự tĩnh lặng cho tâm hồn. Lắng nghe một chốc, Phong nhận ra Bố không đàn nhạc tình cảm như mọi khi mà Bố đang đàn một nhạc khúc vui. Ô, Bố lại hát nữa! Phong muốn nhân lúc Bố vui, chàng sẽ xin lỗi Bố về tai nạn do chàng gây ra.

Đẩy cửa “patio”, bước ra, Phong nhận được nụ cười tha thứ của Bố và Mẹ. Phong ngồi cạnh Mẹ, lắng nghe Bố hát.

Hát xong, Bố hỏi:

- Sao, Phong? Bài Việt Nam Việt Nam, ban hợp ca “của con” thuộc lời và hát đúng nhịp, sẵn sàng để trình diễn chưa?
- Dạ, xong cả rồi.
- Tốt!
- Bố à! Lúc nãy Bố hát bài gì lạ quá, con chưa bao giờ được nghe.
- Bài này – tựa là Nhân Dân Cách Mạng Việt Nam của Hùng Lân – Bố đang tập theo “cassette” Bố mượn của người bạn.
- Sao hôm trước Bố không dạy chúng con bài này mà Bố lại dạy bài Việt Nam Việt Nam?
- A! Bài này, vì lâu quá, Bố quên; còn bài Việt Nam Việt Nam, Bố thuộc.
- Bố à! Tuy không hiểu rõ lời ca, con vẫn thích bài này hơn; vì âm hưởng của bài này có vẻ thôi thúc, khích động nhiều đó, Bố?
- Thật ra, khi nghe lại bài Nhân Dân Cách Mạng Việt Nam, Bố nhận thấy lời ca của bài này thể hiện được tất cả niềm kỳ vọng của người miền Nam Việt Nam. Bố nghĩ con nên tập cho các bạn bài này thay cho bài Việt Nam Việt Nam.
- Đây là đêm văn nghệ liên trường – gồm nhiều trường đại học tại Texas – chúng con phải cố gắng để có những tiết mục khác lạ, thích hợp phần nào với thời sự, Bố ạ!
-Rồi, tý nữa, ăn cơm xong, Bố chép bài ấy ra “notes” cho con.

* * * * * *
Màn vừa kéo lên, Ban Hợp Ca và Phong đều cúi đầu chào quan khách trong tiếng vỗ tay vang dội . Tiếng vỗ tay vừa dịu xuống, Phong nói vào “micro”:

- Kính thưa quý khán giả, Ban Hợp Ca trường Đại Học Houston xin trân trọng kính chào quý vị.

Tiếng vỗ tay lại vang lên. Phong tiếp:

- Kính thưa quý vị, lúc nãy, khi quý vị vào cửa, ban tổ chức đã trao tận tay mỗi vị một tờ giấy màu vàng. Trên tờ giấy đó là lời ca của nhạc khúc Nhân Dân Cách Mạng Việt Nam. Nơi đoạn điệp khúc, có bốn dòng được tô màu đỏ. Xin trân trọng kính mời cả hội trường cùng ca với chúng tôi khi chúng tôi hát đến bốn câu được tô màu. Được không ạ?

Cả hội trường đưa cao tay, reo: “Yeah!”.

Quay mặt lại với ban hợp ca, Phong nhìn ban nhạc. Một thoáng im lặng. Phong đưa tay phải lên rồi “gặt” mạnh xuống, toàn ban nhạc đồng tấu nhạc khúc Nhân Dân Cách Mạng Việt Nam. Tay trái của Phong hòa vào. Khi âm thanh của ban nhạc đến cuối phân đoạn đầu, Phong phất tay trái về phía ban hợp ca, tức thì, ban hợp ca “bắt” vào:

“Nhân dân cách mạng Việt Nam
Vùng đứng lên cùng thế giới,
Vai chen vai bên nhau
Mưu cuộc giải phóng giống nòi.
Hận thù bọn Việt cộng,
Đã cướp mất lẽ sống
Và đày đọa dày xéo non sông.
Đồng bào Việt Nam!
Đứng lên cùng thế giới. (Cả hội trường đáp)
Đồng bào Việt Nam!
Đấu tranh và kiến quốc! (Cả hội trường đáp)
Núi sông sẽ trở về tay nhân dân,
Bắc Nam Trung đồng lòng kết đoàn…
… Tự quyết lấy đi thôi!
Đường sống tiến lên đi!
Tiến lên, dân tộc Việt Nam!”

Phong dừng tay, cùng ban hợp ca cúi chào trong khi cả hội trường đứng lên. Tiếng vỗ tay vang dội cả hội trường.

Màn khép lại. Nga bước vội ra sân khấu. Vừa đưa hai tay về phía trước – trong tư thế sẵn sàng “hug” Phong – Nga vừa reo vui:

- Phong! I love you. I’m so proud of you!

Phong xúc động tột cùng, dang rộng vòng tay. Nga và Phong tựa đầu lên vai nhau trong ánh nhìn trìu mến của các bạn cùng thế hệ di tản…

ĐIỆP MỸ LINH
https://www.diepmylinh.com/

*.- Truyện ngắn này được viết từ cuối thập niên 70 – thời computer chưa có tiếng Việt – vừa được đánh máy lại. 

Phân Ưu Đồng Môn Đặng Thị Bạch Hạc

 



Ảnh Hưởng Của Đạo Phật Trong Đoạn Trường Tân Thanh - Nguyễn Du Và Tác Phẩm

 

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
Thầy Dương Anh Sơn

"Xin gửi tiếp Mục II: Các tác phẩm chữ Nôm và ảnh hưởng đạo Phật... Chúc toàn thể BBT và các anh chị em CHS Nguyễn Huệ Hải Ngoại luôn đoàn kết vững vàng .Thân chào."

                       

PHẦN MỘT - VỀ NGUYỄN DU  

CHƯƠNG I        

NGUYỄN DU VÀ TÁC PHẨM 

MỤC II:       

VĂN NGHIỆP CỦA NGUYỄN DU 

TIẾT 2: TÁC PHẨM CHỮ NÔM VÀ ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT 

Cũng như các tác phẩm chữ Hán của Nguyễn Du, các tác phẩm chữ Nôm của tiên sinh có lẽ cũng rất nhiều, song đã thất lạc, tản mác chưa tìm lại đủ. Đại để người ta chỉ công nhận những tác phẩm chữ Nôm sau đây là của Nguyễn Du mà thôi:  

1. Thác Lời Trai Phường Nón

2. Văn Tế Sống Trường Lưu Nhi Nữ

3. Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (tức Chiêu Hồn Ca)

4. Đoạn Trường Tân Thanh (tức Truyện Kiều)

Một vài phát hiện gần đây trên báo Văn Học (số phát hành ngày 10.11.74) về một bài thơ Nôm của Tố Như là bài “Tiều phu khổ khiếu ca” không có gì chắc chắn và xác thực cả. Vả lại, đây là một bài thơ sao lục lại nên chúng ta hãy chờ đợi một thời gian sau khi nó đã được nhiều nhà nghiên cứu xác minh công nhận.

Những bài thơ Nôm hoặc những bài văn tế rải rác của Nguyễn Du phần lớn làm lúc còn tuổi thanh niên nên văn từ có vẻ non nớt và chưa được tinh thuần. Tuy nhiên, nó đã đánh dấu một giai đoạn tình cảm của Tố Như.

1./- THÁC LỜI TRAI PHƯỜNG NÓN (48 câu): Đây là một bài thơ Nguyễn Du làm trả lời bài thơ của một cô gái làng Trường Lưu đã nhờ một số anh em làng này làm hộ để trách Nguyễn Du hờ hững với cô ta. Lời thơ rất bình dân và thực tế đã phát lộ con người trẻ Nguyễn Du rất giản dị và gần gũi với đời sống thôn quê.

2./- VĂN TẾ SỐNG TRƯỜNG LƯU NHI NỮ  (gồm 98 câu): Là bài văn tế trách khéo hai nàng con gái Trường Lưu (làng kế bên làng Tiên Điền) đã bỏ mình (Nguyễn Du) đi lấy chồng [1]. Lời văn rất dí dỏm và có vẻ đùa cợt. Bài văn tế sống này cũng như bài trên cũng chỉ đánh dấu một đoạn phong tình của chàng trai trẻ Nguyễn Du mà thôi.

3./- VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH: Thường vẫn được gọi là “Chiêu Hồn Ca”[2], là một tác phẩm được viết bằng chữ Nôm theo thể song thất lục bát và gồm có 184 câu. Cho đến nay, về thời điểm sáng tác, người ta vẫn chưa thể xác định rõ “Chiêu Hồn Ca” được Nguyễn Du tiên sinh hoàn thành vào khoảng thời gian nào trong cuộc đời. Thêm vào đó, người ta cũng không biết rõ lý do nào tiên sinh khiến tiên sinh cho ra đời một áng văn chương mang tính chất bình dân đó. Chỉ biết rằng bài văn tế này được lưu truyền và sử dụng trong giới thầy cúng hoặc trong các lễ trai đàn chẩn tế tại các chùa chiền, nhất là trong “tiết tháng bảy” vào ngày rằm. Thường cứ mỗi năm đến rằm tháng bảy, các chùa chiền nước ta thường có những buổi lễ cúng tế trai đàn, gọi là lễ “xá tội vong nhân, hay còn được gọi là lễ “Vu Lan” (Ullambhana) để cầu nguyện cho vong hồn người chết sớm được về miền Tây phương cực lạc của Phật A Di Đà. Có lẽ rằng cám cảnh trước bao nhiêu sự thay đổi tang thương, bao nhiêu cái chết tức tưởi của một xã hội loạn lạc, giặc giã nhiễu nhương, tranh quyền, đoạt lợi xảy ra khắp nơi sinh cảnh chém giết, đổi thay đã khiến tiên sinh viết lên bài này. Phải “trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Tố Như mới có thể xuất nguồn cảm hứng để viết ra “Chiêu Hồn Ca”, cũng như soạn truyện Đoạn Trường Tân Thanh. Nói khác hơn, kinh nghiệm đau thương trước những bãi biển nương dâu, loạn lạc của thời kỳ các nhà Lê, Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn đang tranh chấp quyền hành đã là động lực thúc đẩy việc cho ra đời tác phẩm bất hủ này. Nhưng kinh nghiệm về sự khổ đau nơi cuộc sống cũng chính là cơ hội để tiên sinh một lần nhìn lại và tìm thấy nguyên nhân của sự khổ đau, của sự vô thường nơi con người và cuộc đời (tương tự như giai đoạn khổ đế rồi tập đế của nhà Phật). Do đó, việc tìm đến với Phật giáo, thấm nhuần nguồn suối của đạo giác ngộ, chứng nghiệm được ít nhiều căn cội của lẽ sống đã là chất liệu thiết cần để viết bài “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh”.

Mặt khác, chúng ta cũng nhận thấy rằng giữa “Chiêu Hồn Ca” và “Đoạn Trường Tân Thanh” đã có nhiều điểm tương hợp với những ý tưởng, những thuật ngữ mang màu sắc Phật giáo trên quan niệm bình dân, cũng như trên quan điểm thiền đạo. Những phần sau đây, chúng ta sẽ xét đến “Chiêu Hồn Ca” qua hai tiêu điểm: ảnh hưởng tư tưởng đạo Phật trong “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh”, sự tương hợp giữa tư tưởng đạo Phật trong “Chiêu Hồn Ca” và “Đoạn Trường Tân Thanh”.

3A.- Ảnh hưởng tư tưởng đạo Phật trong “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh”

Như đã trình bày, nguyên nhân thúc đẩy để Tố Như tiên sinh cho ra đời bài văn tế này chắc là cám cảnh trước bao nhiêu thay đổi trước thời kỳ Lê mạt, Trịnh – Nguyễn phân tranh, Tây Sơn quật khởi cho đến thời Nguyễn sơ là những thời kỳ xảy ra bao nhiêu sự chém giết, mưu toan tranh quyền đoạt lợi, gây ra những cảnh thê thảm người mất của tan khôn xiết. Bên cạnh đó, kinh nghiệm của tiên sinh trước sự vô thường của cuộc đời hòa lẫn với kinh nghiệm của chính tiên sinh đã từng trải là điều quan yếu để phác họa cảnh tang thương này.

3A.-1 Trước hết, đối tượng mà bài văn tế hướng đến như nhan đề mệnh danh là “Thập loại chúng sinh”, nghĩa là mười loại sinh vật theo nhà Phật, vẫn còn biến chuyển của nghiệp, dù là nghiệp thành Phật đi chăng nữa. Phật giáo thường chủ trương tất cả chúng sinh đều có Phật tính và đều có khả năng thành Phật, dầu vậy, tùy theo chỗ mê ngộ cao thấp khác nhau, Phật giáo chia thành 10 loại chúng sinh, hay còn được gọi là Pháp giới:

1.     Phật (bậc đã giác ngộ hoàn toàn)

2.  Bồ tát (bậc giác ngộ còn thấp hơn Phật)

3.  Duyên giác (bậc giác ngộ còn thấp hơn Bồ tát)

4. Thanh văn (bậc giác ngộ ưu hưởng niết bàn, có thể tương đương với Duyên giác, song trí tuệ còn thấp kém)

5. Thiên (trời)

6. Nhân (người)

7. A tu la (quỉ thần)

8. Địa ngục (chúng sinh ở cõi địa ngục đầy sự đau khổ)

9.  Ngạ quỉ (ma đói)

10.  Súc sinh (các loại súc vật) 

Tuy nhiên, trong bài văn tế này, đối tượng được Tố Như hướng đến là con người lúc còn sống cũng như khi đã chết:

…“Cõi dương còn thế, nữa là cõi âm” (câu 8) 

Và một khi con người đã chết, hồn phách không được giải thoát sẽ vất vưởng đơn chiếc trong cõi “trường dạ” “u minh”. Thêm vào đó, cái chết đến với tất cả mọi người không phân biệt thấp hèn, sang quí, ngu hoặc trí, nếu không được tái sinh vào kiếp khác sẽ vẫn còn “lênh đênh quê người”. 

Thương thay thập loại chúng sinh (câu 11-16)

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

Hương lửa đã không nơi nương tựa,

Hồn mồ côi lần lữa bấy niên

Còn chi ai khá ai hèn,

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát, (câu 17-20)

Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi,

Mượn nhờ đức Phật từ bi,

Giải oan cứu khổ, độ về Tây phương.  (câu 23) 

Thực ra, đạo Phật ít chú trọng về “hồn”, hiểu “hồn” như là một thực tại còn lại sau khi đã khuất. Trước những câu hỏi về “hồn” (như Vacchagotta và Màlunikyaputta), đức Phật luôn giữ thái độ im lặng hoàn toàn [3]. Thành thử, sau này các người tin Phật đã suy diễn thái độ im lặng đó để cho rằng con người sau khi chết, vong hồn nếu chưa được đầu thai, tái sinh vào kiếp khác sẽ còn đó hoặc đọa đày vào địa ngục như trong quan điểm của giới bình dân. Đối tượng của bài văn tế nhắm đến tuy là cầu kinh giải thoát cho những oan hồn đã khuất còn vất vưởng, nhưng lại còn có mục đích sâu xa hơn hướng đến người còn sống, thức tỉnh tâm hồn của họ đang mải miết chốn u mê: 

Nhờ phép Phật uy linh dõng mãnh,  (câu 165-166)

Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao 

Tố Như tiên sinh là con người đã thấm nhuần sâu đậm tư tưởng và con đường của đạo Phật chắc chắn không thể nào hướng bài văn tế đến những vong hồn kẻ chết theo quan điểm bình dân được. Hoặc giả, tiên sinh chỉ mượn quan điểm Phật giáo bình dân về việc thờ cúng các cô hồn chưa được siêu thoát xem như một thứ phương tiện, tùy duyên hóa độ đúng theo tinh thần khế cơ, khế hợp của đạo Phật trong việc khai mở tâm hồn của lớp bình dân mà thôi. Thêm vào đó, việc Phật giáo tổ chức các lễ trai đàn cúng kiến các vong hồn thực ra không đúng với con đường của đức Phật chủ trương, song các phương tiện phù hợp với lớp bình dân, như thờ cúng kẻ đã khuất sẽ là thứ phương tiện để tỉnh thức họ một cách gần gũi hơn. Cúng kiến người chết chỉ là cách thức làm yên lòng kẻ còn sống, hầu dần dần đưa họ đến con đường chân chính (chính đạo). Trên chiều hướng ấy, Nguyễn Du đã vẽ lại những hình ảnh đau thương của kiếp người với bao nhiêu sự tranh chấp, bao nhiêu mưu toan lừa đảo, bao nhiêu sự sắp đặt danh lợi, bao nhiêu nỗi nhọc nhằn gian lao…để rồi tất cả trả về cho cát bụi, đôi tay buông xuôi, chỉ còn lại nấm cỏ khâu đầu sông bãi nọ. Tất cả đều vô thường, tất cả đều là không, từ không mà có và từ có mà đi. 

Kiếp phù sinh như hình như ảnh  (câu 169-170)

Có chữ rằng “vạn cảnh giai không” 

Bên trong cái vỏ có tính cách bình dân đó, Tố Như đã lồng vào các quan niệm có tính cách tri thức, thể hiện đúng đắn tinh thần nhà Phật hơn. Mỗi người đều chứng đắc được cái tâm, tức là thấy được Phật tính (tức tâm tức Phật 即心即佛) nằm ở cõi lòng của mình sẽ đạt đến cảnh giới giải thoát khỏi vòng luân hồi, tái sinh: 

Ai ơi lấy Phật làm lòng  (câu 171-172)

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi 

Chữ “ai ai” (có bản viết là “ai ơi”) nhắm đến đối tượng chính yếu là con người, người chết cũng như kẻ sống. Thành thử, xét một cách chung, tuy đối tượng của bài văn tế là nhắm đến việc giải oan cho những oan hồn uổng tử, song cũng nhằm khuyến dụ và thức tỉnh những người còn sống nữa. 

3A-2. Thứ đến, Nguyễn Du tiên sinh cũng đưa ra nhiều chi tiết trình bày cuộc đời của những kiếp người khác nhau. Đại để, trừ đoạn đầu (1-12) và đoạn cuối (137-184), chúng ta có thể phân thành 14 tiểu đoạn phác họa về người đời và đời người: 

1. Câu 22-32:                        Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh …

                                             Mà cô hồn biết bao giờ cho tan.

 

2. Câu 33-44:                       Cũng có kẻ màn lan trướng huệ …

                                             Càng năm càng héo, một đêm một dài.

 

3. Câu 45-56:                       Kìa những kẻ lâu đài phượng các …

                                             Nặng oan khôn lẽ tìm đường hóa sinh.

 

4. Câu 57-68:                       Kìa những kẻ bài binh bố trận …

                                             Nào đâu điếu tế nào đâu chưng thường.

 

5. Câu 69-80:                       Cũng có kẻ tính đường trí phú …

                                             Tuần hương giọt nước biết tìm vào đâu.

 

6. Câu 81-92:                       Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý …

                                             Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

 

7. Câu 93-96:                       Cũng có kẻ ra vào sông bể …

                                             Đem thân chôn giấp vào lòng kình nghê

 

8. Câu 97-100:                    Cũng có kẻ đi về buôn bán …

                                            Hồn đường phách xá lạc loài nơi nao.

 

9. Câu 101-108:                  Cũng có kẻ mắc vào khóa lính …

                                            Tiếng oan văng vẳng tới trời càng thương

 

10.  Câu 109-116:                 Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp …

                                              Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu

 

11.  Câu 117-120:                 Cũng có kẻ nằm đầu gối đất …

                                              Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

 

12.  Câu 121-124:                 Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc …

                                              Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.

 

13.  Câu 125-128:                 Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé …

                                             U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

 

14. Câu 129-136:                Kìa những kẻ chìm sông lạc lối…

                                           Có người sa sẩy, có người khốn thương … 

Mỗi một tiểu đoạn trên biểu trưng cho một thân phận con người, và cũng chính mỗi đoạn trên cho thấy trạng huống đau thương của kiếp người, dù sang hèn, lầu cao cửa rộng hay đầu đường xó chợ, bãi bể hay góc núi... rốt cùng “mỗi người một nghiệp khác nhau” (câu 139) nhưng đều bị chi phối bởi sự tang thương, đổi thay, trắc trở để rồi nhận lấy cái chết thảm thương, oan hồn không siêu thoát được. Tất cả những hình ảnh khổ đau đầy rẫy cảnh bể nương dâu đó, Tố Như đã thu tóm lại trong câu: 

“Kiếp phù sinh như hình như ảnh,  (câu 169-170)

Có chữ rằng “vạn cảnh giai không”. 

Nói khác đi, tất cả những hoàn cảnh ấy đã trình bày những khía cạnh vô thường như quan niệm của nhà Phật nơi mỗi kiếp người. Đời người như trong bài văn tế phác họa cũng chính là quan niệm về Khổ đế (Dukkha) của đạo Phật: Sinh, Lão, Bệnh, Tử là Khổ, vì vẫn còn trong vòng sinh hóa của luật vô thường. Còn Vô Thường là còn khổ đau, vì vẫn còn trong chốn u mê, vô minh của kiếp người (nhân giới). 

3A-3. Mặt khác, chúng ta rất đồng ý với nhiều nhà phê bình khi họ cho rằng bài “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” đã phản ánh toàn vẹn thời kỳ tang tóc, ly loạn từ đời Lê mạt đến thời Nguyễn sơ, mà Tố Như tiên sinh đã từng sống, từng trải qua và chứng kiến. Điều này phải chăng đã được tiên sinh biểu lộ trong câu thơ mở đầu Truyện Kiều: 

"Trăm năm trong cõi người ta… (câu 1)

Và

Trải qua một cuộc bể dâu,  (câu 3)

 Những điều trông thấy mà đau đớn lòng  (câu 4) 

“Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” hay “Chiêu Hồn Ca” của Nguyễn Du hơn bất cứ tác phẩm nào khác của tiên sinh đã biểu lộ rõ rệt tinh thần Từ Bi của nhà Phật. Tâm hồn cảm xúc chân thành của một thi sĩ hòa với cảm quan đạo Phật đã khiến tiên sinh có những lời lẽ thống thiết, thương xót thân phận làm người. Và lồng trong những ngôn từ đó, tấm lòng từ bi của tiên sinh được thể hiện và những lời lẽ, những hình ảnh đưa ra ngầm chứa sự khuyên răn, muốn ra tay tế độ, thức tỉnh kẻ còn sống u mê bằng hình thức văn tế dành cho kẻ chết vậy. 

Ngoài ra, trong một loạt bài đăng trên “Văn Hóa Nguyệt San” (số 54, 55, 56 – 1960) Giáo sư Phạm Văn Diêu đã cho rằng các yếu tố Phật giáo chỉ là thứ yếu trong bài “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” khi ông viết: 

“Nhưng chung qui, trong bài văn có bao nhiêu yếu tố Phật giáo thì đó không phải là trọng tâm hứng thú của cả bài ca, mà trái lại phần quyến rũ, phần tinh ba của văn chương Chiêu Hồn Ca là cảm nghĩ về tình trạng chiến loạn liên miên, nỗi đau khổ bi thương kinh niên của bao lớp người trong xã hội Lê mạt – Nguyễn sơ lên tiếng hát ai oán não nùng, cũng là cái nguồn thương vô bờ bến của thi nhân chen pha trong khí vị của mùi thiền từ bi … Nói cách khác, Nguyễn Du làm Chiêu Hồn Ca không phải do niềm tin Phật giáo, mà Chiêu Hồn Ca xét trong cốt tủy lại là sản phẩm của một thời  đại đau khổ là thời cuối Lê đầu Nguyễn!” [4] 

Theo thiển ý, yếu tố Phật giáo trong “Chiêu Hồn Ca” mà Nguyễn Du đưa vào, thật ra là yếu tố quan yếu chứ không phải là “thứ yếu” hoặc “không phải do niềm tin Phật giáo” như Giáo sư Phạm Văn Diêu đã viết. Xét bài văn tế một cách rộng rãi hơn, dù nó chỉ phản ánh trạng huống đau thương của thời loạn ly từ Lê mạt đến Nguyễn sơ, song đau thương với bao sự đổi thay cũng chính là kinh nghiệm về sự khổ mà Nguyễn Du chứng ngộ được. Nói khác đi, đau khổ hay tang thương, nếu xét rộng ra, lại là những trạng huống mà Tố Như tiên sinh đã rút tỉa, dung hợp giữa kinh nghiệm sống với quan niệm về sự khổ đau nơi thời kỳ này và yếu tố Phật giáo là một không thể chia cách, khu biệt ra cái nào là chính, cái nào là phụ được. Đạo không thể xa đời và đời không thể không cần đến đạo, phủ nhận niềm tin Phật giáo nơi Nguyễn Du tiên sinh tức là phủ nhận cuộc đời. Bất cứ ai thấm nhuần tư tưởng đạo Phật đều có thể xác nhận điều đó, vì nền tảng căn bản của đạo Phật được đặt trên quan niệm Khổ đế. Vả lại nếu đọc các thơ văn chữ Hán, cũng như xét kỹ Đoạn Trường Tân Thanh, chúng ta lại càng chân nhận niềm tin tưởng nơi đạo Phật của Nguyễn Du. Ở đó, quan niệm hoặc niềm tin của tiên sinh nơi đạo Phật không phải là niềm tin một cách sơ sài hoặc giản dị theo lối bình dân, nhưng lại chất chứa một tâm thiền mà chỉ dưới lối nhìn cởi mở và bao quát chúng ta mới dễ dàng nhận thấy được. 

3B.- Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh và Đoạn Trường Tân Thanh: 

Giữa Chiêu Hồn Ca và Đoạn Trường Tân Thanh cũng có ít nhiều điểm tương đồng, nhất là trong những quan niệm của đạo Phật về kiếp nhân sinh. Nếu Chiêu Hồn Ca xét ra bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau của đời người và người đời, thì Đoạn Trường Tân Thanh lại nhằm khai triển một số ít trong những khía cạnh đó.  

3B-1. Trước hết, chúng ta nhận thấy rằng trong Chiêu Hồn Ca, Tố Như đã nói đến nghiệp kiếp của những khách má hồng (c. 109-166): 

“Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp

Liều tuổi xanh, buôn nguyệt bán hoa

Ngẩn ngơ khi trở về già

Ai chồng con đó, biết là cậy ai

Sống đã chịu một đời phiền não

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa

Đau đớn thay phận đàn bà

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu”. 

Và một cách tương tự trong Đoạn Trường Tân Thanh chúng ta cũng thấy phảng phất ý tưởng này khi tiên sinh viết về thân phận của “người phượng chạ loan chung” là Đạm Tiên: 

“Phận hồng nhan có mong manh     (c. 65)

Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương”

Hoặc:

....... “Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa     (c.78)

Trải bao thỏ lặn ác tà

Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm !”

Hoặc là:

“Đau đớn thay phận đàn bà,     (câu 83)

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Phũ phàng chi bấy hóa công,

Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha.

Sống làm vợ khắp người ta,

Hại thay thác xuống làm ma không chồng.

Nào người phượng chạ loan chung,

Nào người tích lục, tham hồng là ai.

Đã không kẻ đoái người hoài …” 

Khi hạ bút viết “Đau đớn thay phận đàn bà ” trong Chiêu Hồn Ca và Đoạn Trường Tân Thanh, cũng như khi phác họa cuộc đời của kẻ “làm vợ khắp người ta” nói một cách riêng, Nguyễn Du đã ít nhiều đề cập đến điều mà đạo Phật gọi là Nghiệp hoặc Kiếp dành cho đàn bà, nhất là người ấy lại “nổi danh tài sắc một thì”. Đó cũng chính là chủ đề mà Tố Như viết về thuyết “tài mệnh tương đố” trong Đoạn Trường Tân Thanh sẽ được chúng ta xét kỹ hơn về sau. 

3B-2. Tiếp đến, Tố Như tiên sinh đã viết những lời khuyến tu trong Chiêu Hồn Ca: 

“Ai lấy Phật làm lòng        (câu 171-172)

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi” 

Đó cũng là cách biểu lộ giống như tiên sinh viết trong Đoạn Trường Tân Thanh khuyên lấy cõi lòng (Tâm) làm nguồn cội để tu tập. Tâm tức Phật, Phật tức tâm, hoặc tức tâm tức Phật. “Tâm tức tánh”, “ngoài tâm, rốt không có Phật nào khác”, Tự tâm là Phật” [5]: 

“Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra”  (c. 2656)

hoặc:

“Thiện căn ở tại lòng ta,   (c.3251)

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài." 

Nhìn một cách tổng quát giữa Chiêu Hồn Ca và Đoạn Trường Tân Thanh đều được xây dựng trên những yếu tố, những chất liệu, thuật ngữ rút tỉa từ đạo Phật bằng chính kinh nghiệm “trải qua”, kinh nghiệm sống của Nguyễn Du tiên sinh. Nàng Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh là một biểu tượng với nhiều khía cạnh khác nhau về thân phận con người của bài văn tế này. Tâm thức và kinh nghiệm của tiên sinh trong Đoạn Trường Tân Thanh và Chiêu Hồn Ca rốt cùng cũng chỉ là một, vì rằng cả hai đều nhắc nhở chúng ta thức tỉnh quay về với cội nguồn của mọi khổ đau là chữ Tâm nơi cõi lòng mỗi người mà thôi. 

Tóm lại, bài Văn Tế Thập Loại chúng Sinh đã có một giá trị thật đặc biệt. Kinh nghiệm mà Tố Như tiên sinh chân nhận được từ cuộc đời xuyên qua bài văn tế là một bài học thiết cần cho sự đào luyện con người của tiên sinh. Vấn đề thời điểm sáng tác trước hoặc sau Đoạn Trường Tân Thanh không quan hệ, điều trọng yếu là tiên sinh đã viết tất cả hai tác phẩm bất hủ ấy bằng cả kinh nghiệm bản thân với cuộc sống. Và kinh nghiệm đó cũng chính là thứ kinh nghiệm mà đạo Phật, nói một cách chung và Thiền đạo, nói một cách riêng, đòi hỏi phải từng trải. 

Dương Anh Sơn 

[1] Lãng Nhân, Giai thoại làng nho toàn tập, Nam Chi Tùng Thư, 1966, trang 241-259, Sài Gòn.

[2] Nguyễn Du , Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh , Đàm Quang Thiện hiệu chú , Nam Chi Tùng Thư, 1965 , Sài Gòn

[3] Rahula, Con đường thoát khổ, bản dịch Thích Nữ Trí Hải, Sài Gòn, Đại học Vạn Hạnh XB, 1968, trang 93, 94 và 95.

[4] Phạm Văn Diêu, Một phương diện của thiên tài Nguyễn Du, Văn tế thập loại chúng sinh, Văn Hóa Nguyệt San số 54/9 – 1960, Sài Gòn tr. 1035.

[5] Bồ Đề Đạt Ma, Sáu cửa vào động thiếu thất. Bản dịch Trúc Thiên, Sài Gòn, An Tiêm x.b. 1971, tr. 122.