Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2025

Thơ Của Tô Đông Pha - Bài 33 Và 34

 


THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA - BÀI 33 VÀ 34
Thầy Dương Anh Sơn 

THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA

Bài 33

THỨ VẬN KHỔNG NGHỊ PHỦ CỬU HẠN DĨ NHI THẬM VŨ(Kỳ nhất)                                                                              次韻孔毅甫久旱已而甚雨 (期 ㇐)

Cơ nhân hốt mộng phạn tắng dật,                                              飢人忽夢飯甑溢,
Mộng trung nhất bão bách ưu thất.                                            夢中㇐飽百憂失。
Chỉ tri mộng bão bản lai không,                                                只知夢飽本來空,
Vị ngộ chân cơ định hà vật.                                                       未悟真饑定何物。
Ngã sinh vô điền thực phá nghiễn,                                            我生無田食破硯,
Nhĩ lai nghiễn khô ma bất xuất.                                                 爾來硯枯磨不出。
Khứ niên thái tuế không tại dậu,                                                去年太歲空在酉,
Bàng xá hồ tương bất dung khất.                                               傍舍壺漿不容乞。
Kim niên hạn thế phục như thử,                                                今年旱勢復如此,
Tuế vãn hà dĩ kiềm ngô đột.                                                      歲晚何以黔吾突。
Thanh thiên đãng đãng hô bất văn,                                            青天蕩蕩呼不聞,
Huống dục khể thủ hào nê Phật.                                                況欲稽首號泥佛。
Úng trung tích dịch vưu khả tiếu,                                              甕中蜥蜴尤可笑,
Kỳ kỳ mạch mạch hà đẳng trật.                                                 跂跂脈脈何等秩。
Âm dương hữu thì vũ hữu số,                                                    陰陽有時雨有數,
Dân thị thiên dân thiên tự tuất.                                                  民是天民天自卹。
Ngã tuy cùng khổ bất như nhân,                                                我雖窮苦不如人,
Yếu diệc tự thị dân chi nhất.                                                      要亦自是民之㇐。
Hình dung khả tự táng gia cẩu,                                                  形容可似喪家狗,
Vị khẳng nhị nhĩ tranh đầu cốt.                                                未肯 弭耳爭投骨。
Đảo quán lạc trách tạ bằng hữu,                                                倒冠落幘謝朋友,
Độc dữ văn lôi cộng khuê tất.                                                    獨與蚊雷共圭蓽。
Cố nhân sân ngã bất khai môn,                                                  故人嗔我不開門,
Quân thị ngã môn thuỳ khẳng khuất.                                         君視我門誰肯屈。
Khả liên minh nguyệt như bát thuỷ,                                          可憐明月如潑水,
Dạ bán thanh quang phiên ngã thất.                                          夜半清光翻我室。
Phong tùng nam lai phi vũ hậu,                                                 風從南來非雨候,
Thả vị bì nhân tẩy chưng uất.                                                    且為疲人洗蒸鬱。
Khiên thường nhất hoạ khoái tai dao,                                        褰裳㇐和快哉謠,
Vị hạ cơ hàn niệm minh nhật.                                                    未暇飢寒念明日。

Dịch nghĩa:

Người đói, chợt nằm mộng thấy nồi nấu cơm đầy tràn! – Một lần được ăn no trong giấc mộng,trăm nỗi lo phiền đều mất đi! – Chỉ biết rằng bữa cơm trong giấc mộng vốn dĩ chẳng có! – Chưa ngộ ra rõ ràng cái đói thực sự là cái gì! (c.1-4)
Ta sinh ra chẳng có ruộng vườn, kiếm ăn bằng nghiên mài mực bị vỡ! – Nghiên mực nó đã khô queo, mài không ra (mực) nữa! – Năm ngoái, sao thái tuế trơ trọi, cầm tinh con gà! – Nhà bên cạnh, lọ tương cũng chẳng cần xin. (c.5-8)
Năm nay lại bị hạn như thế này! – Cuối năm, lấy gì cho ống khói của ta được đen đây? – Trời xanh bao la kêu lên chẳng nghe thấy. – Rất muốn cúi lạy sát đầu gào lớn ông Phật (làm bằng) đất bùn nữa! (c.9-12)
Con thằn lằn trong vò nước rất đáng cười, - Bò lui tới ngoằn ngoèo, đăm đăm nhìn có thứ tự nào đâu! – Âm dương ,đêm ngày có lúc, mưa rơi cũng có số của nó, - Dân là dân của trời nên trời phải thương xót! (c.13-16)
Ta dầu chịu khổ cùng cưc chẳng bằng người ta, - Rốt cuộc cũng chỉ là một người dân trong (đám người) đó! – Dáng hình thể như là con chó mất nhà ở , - Tai cũng chưa bằng lòng ngừng nghỉ chuyện tranh giành khúc xương đã quăng vứt đi! (c.17-20)
Lật ngược chiếc mũ ,thả rơi giải khăn bao tóc để tạ lỗi với bạn bè, - Một mình với đàn muỗi vo ve ào ào như sấm, cùng chung với ngọc khuê đẹp đẽ và loài cỏ sài. – Giận ta, bạn bè cũ cài then không mở cửa! – Anh nhìn kỹ xem nơi cổng nhà ta ,ai là người chịu oan khuất ?! (c.21-24)
Khá thương thay vầng trăng sáng như nước tuôn ra! – Nửa đêm ánh sáng trong trẻo vượt qua nhà của ta. – Gió từ phương nam thổi đến, chẳng phải lúc khí hậu không có mưa! – Cũng vì con người mệt nhọc nên (cần) tẩy sạch khí nóng ứ đọng! (c.25-28)
Xăn quần,vén áo họa một bài thơ bằng bài ca dao : vui sướng thay! – Chưa (kịp) rảnh rỗi phải nghĩ đến cái đói lạnh của ngày mai! (c.29-30)

Tạm chuyển lục bát:

HỌA VẦN THƠ CỦA KHỔNG NGHỊ PHỦ:
“HẠN ĐÃ LÂU, RỒI MƯA RẤT LỚN” (Bài 1)

Nồi đầy người đói bỗng mơ!
Một lần no mộng, trăm lo chẳng còn.
Biết rằng cơm mộng vốn không,
Vẫn chưa thực rõ đói lòng gì chăng!
Ruộng không ,nghiên mẻ kiếm ăn,
Chừng như nghiên cạn mài vần chẳng ra!
Năm rồi sao Thái, cung gà,
Hủ tương nhà cạnh chẳng là xin đây.
Năm nay lại hạn thế này !
Sao cho ống khói đen bày cuối năm?
Kêu gào chẳng thấu trời xanh,
Muốn thêm Phật đất cúi xin réo người!
Thằn lằn vò nước đáng cười!
Ngoằn ngèo lui tới, mắt vời đăm đăm!
Số mưa,có lúc dương âm!
Dân trời ,trời phải thương dân của trời.
Ta dầu khổ chẳng bằng người,
Một người trong đám dân thôi chỉ là!
Dáng hình như chó mất nhà!
Tranh xương vất bỏ, tai đà chịu đâu.
Rơi giải tóc, tạ bạn bầu,
Sấm vang cùng muỗi,đẹp sao cỏ sài!
Giận ta, bạn cũ then cài,
Bọn ta, anh xét xem ai “co” người?
Thương trăng, nước tóe sáng ngời,
Nửa đêm đã vượt trong vời nhà ta.
Gió nam đến, chẳng mưa sa!
Giúp bao nóng mệt rửa cho sạch người.
Hát dao, vén áo vui thôi!
Chưa nhàn, đói lạnh nhớ rồi ngày mai!

Chú thích:

- cửu hạn 久旱: nắng hạn lâu ngày làm khô kiệt đất đai, nguồn
nước .
- thậm vũ 甚雨: mưa rất lớn, mưa quá to...
- phạn tắng dật 飯甑溢 : cơm nấu đầy tràn(dật) trong nồi đất
(tắng)...
- bản lai không 本來空: vốn không có gì. Danh từ nhà Phật dùng chỉ
sự vô thường, vô tướng, vô sinh... của muôn vật.
- câu 4: có hai ý: một ý thiên về vật chất do cái đói tác động đến
cuộc sống của con người và một ý nói đến cái khao khát đích thực
(định: xác định, liệu định, sắp xếp...) xác định đó là gì.
- phá nghiễn 破硯: nghiên đựng mực để viết đã bị mẻ hay vỡ.
- ma bất xuất 磨不出: mài cho ra mực.
- câu 7: theo sách cổ của người Trung Hoa có 12 cung hoàng
đạo, riêng sao Thái tuế đóng ở cung Dậu tức là cầm tinh con gà...
- bàng xá 傍舍: căn phòng hay căn nhà bên cạnh.
- kiềm 黔: màu đen, chất có màu đen...
- đột 突: xuyên qua, đột ngột, chọc thủng, ống khói...
- đãng đãng 蕩蕩: bao la, rộng lớn vô cùng...
- khể thủ 稽首: quỳ mọp xuống, cúi đầu sát đất...
- hào 號: gào thét, réo gọi, kêu lớn, gào lớn...
- nê Phật 泥佛: tượng Phật làm bằng đất bùn...
- úng 甕: vò chứa nước hoặc đựng rượu...
- tích dịch 蜥蜴: con thằn lằn.
- kỳ kỳ 跂跂: bò ngoằn ngoèo lui tới...
- mạch mạch 脈脈: nhìn chăm chú, nhìn đăm đăm...
- hà đẳng trật 何等秩: sao không có thứ tự, thứ tự trên dưới nào
đâu...
- âm dương 陰陽: chỉ sự thay đổi của ngày và đêm, của tối và sáng.
- tuất 卹: giúp đỡ, lo buồn, thương xót...
- táng gia cẩu 喪家狗: con chó mất nhà, người đi quanh năm không
có chỗ ở nhất định...
- yếu diệc: rốt cuộc, nói chung cũng chỉ là...
- vị khẳng 未肯: chưa bằng lòng, chưa chịu, chưa đồng ý.
- nhị 弭: chuôi cung, nghỉ, thôi, bỏ đi, ngừng lại, quên đi...
- tranh đầu cốt 爭投骨: tranh nhau khúc xương (cốt) đã ném đi
(đầu)....
- đảo quán 倒冠: lật lại chiếc mũ đội đầu.
- lạc trách 落幘: thả rơi chiếc khăn quấn tóc hay bao tóc...
- văn lôi 蚊雷: con muỗi vo ve lớn nhu tiếng sấm.
- câu 22 : tuy chỉ có riêng mình với đàn muỗi vo ve như sấm động
vẫn chung nhau trong mái nhà với cửa nhà làm bằng cây sài (cây
kinh tất) giữ cho sạch đẹp (khuê) cùng nhau (cộng khuê tất 共圭
蓽).
- thị 視: xem xét, xem kỹ, noi theo, sửa trị, bắt chước...
- thùy khẳng khuất 誰肯屈: ai là người phải chấp nhận,phải chịu co
lại (vì sợ hãi hay vạ lây)
- minh nguyệt như bát thủy 明月如潑水: ánh trăng sáng như tóe
nước...
- phiên ngã thất 翻我室: bay vượt qua nhà của ta...
- phi vũ hậu 非雨候: không có cơn mưa do thời tiết, khí hậu (thay
đổi)
- bì nhân tẩy chưng uất 疲人洗蒸鬱: con người mêt mỏi, khó nhọc
được tẩy rửa đi cái nóng bức đang tích tụ chưa tan đi...
- họa (hòa) 和: họa lại thơ người khác, nghĩa khác là hòa hợp, thuận
hòa...
- khoái tai 快哉: khoái chí, thích thú hay sướng (khoái) lắm thay
(tai)...
- dao 謠: ca dao, bài hát lưu hành trong dân gian...
- hạ 暇: an nhàn, rảnh rỗi...
- cơ hàn niệm minh nhật 飢寒念明日: nghĩ đến, nhớ đến (niệm) đói
rét (cơ hàn) của ngày mai(minh nhật)...

Bài 34

THỨ VẪN KHỔNG NGHỊ PHỦ CỬU HẠN DĨ NHI THẬM VŨ (Kỳ nhị)                                                                                      次韻孔毅甫久旱已而甚雨 (期二)

Khứ niên đông pha thập ngoã lịch,                                            去年東坡拾瓦礫,
Tự chủng hoàng tang tam bách xích.                                         自種黃桑三百尺。
Kim niên ngải thảo cái Tuyết đường,                                        今年刈草蓋雪堂,
Nhật chích phong xuy diện như mặc.                                        日炙風吹面如墨。
Bình sinh lãn đoạ kim thuỷ hối,                                                 平生懶惰今始悔,
Lão đại khuyến nông thiên sở trực.                                           老大勸農天所直。
Phái nhiên lệ tứ tam xích vũ,                                                     沛然例賜三尺雨,
Tạo vật vô tâm hoảng nan trắc.                                                  造物無心怳難測。
Tứ phương thượng hạ đồng nhất vân,                                        四方上下同㇐雲,
Cam chú bất vi long sở cách.                                                    甘 澍不為龍所隔。
Bồng hao hạ thấp nghinh hiểu lỗi,                                             蓬蒿下濕迎曉耒,
Đăng hoả tân lương thôi dạ chức.                                              燈火新涼催夜織。
Lão phu tác bãi đắc cam tẩm,                                                    老夫作罷得甘寢,
Ngoạ thính tường đông nhân hưởng kịch.                                 臥聽牆東人響屐。
Bôn lưu vị dĩ khanh cốc bình,                                                    奔流未已坑谷平,
Chiết vi khô hà tứ phiêu nịch.                                                    折葦枯荷恣漂溺。
Hủ nho thô lệ chi bách niên,                                                      腐儒麤糲支百年,
Lực canh bất thọ chúng mục liên.                                              力耕不受眾目憐。
Phá pha lậu thuỷ bất nại hạn,                                                     破陂漏水不耐旱,
Nhân lực vị chí cầu thiên toàn.                                                  人力未至求天全。
Hội đương tác đường kính thiên bộ,                                          會當作塘徑千步,
Hoành đoạn tây bắc già sơn tuyền.                                            橫斷西北遮山泉。
Tứ lân tương suất trợ cử chử,                                                    四鄰相率助舉杵,
Nhân nhân tri ngã nang vô tiền.                                                 人人知我囊無錢。
Minh niên cộng khan quyết cừ vũ,                                            明年共看決渠雨,
Cơ bão tại ngã ninh quan thiên.                                                 飢飽在我寧關天。
Thuỳ năng bạn ngã điền gian ẩm,                                              誰能伴我田間飲,
Tuý đảo duy hữu chi đầu chuyên.                                              醉倒惟有支頭磚。

Dịch nghĩa:

Năm ngoái, thu dọn ngói gạch vụn nát ở sườn đồi phía đông, - Tự mình trồng ba trăm thước đất loại dâu vàng. – Năm nay cắt cỏ để lợp che mái nhà chính của Tuyết Đường, - Mặt trời như thiêu đốt, gió thổi rát làm mặt bị xạm đen như mực! (c.1-4)
Suốt đời lười nhác nay mới hối hận, - Tuổi cao chăm chỉ làm nông nên trời cũng soi thẳng lại. – Mưa tầm tả như thường lệ, ơn ban xuống cho mưa xuống cao ba thước!, - Ông tạo không có lòng lại ngông cuồng khó lường được. (c.5-8)
Bốn phương trời trên dưới cùng chung một đám mây! – Mưa đúng lúc không ngớt khiến rồng phải rời xa! – Cây cỏ bồng hay loài thanh hao ở nơi ẩm thấp bên dưới chờ đón lưỡi cày vào lúc trời sáng, - Đèn được đốt lên, không khí mới mát mẻ thúc dục người ta dệt vải về đêm. (c.9-12)
Ông lão này làm xong việc được nằm ngủ ngon giấc, - Nằm nghe phía tường đông tiếng guốc người đi vang vọng. – Nước chảy xiết chưa ngừng mà cái hố của lũng nước đã tràn ngang mặt! – Lau sậy bị gãy ,cây sen khô héo buông mặc cho chìm nổi. (c.13-16)
Nhà nho quê mùa (này) giã gạo không kỹ ,còn thô chắc phải trăm năm (mới xong)! – Cày hết sức nhưng chẳng kham nổi, mắt của mọi người nhìn thấy mà thương xót! – Sườn đồi (ngăn nước) bị phá vỡ ,nước ngấm vào không chiụ đựng nổi do khô hạn. - Sức người không lớn nên phải cầu xin ông trời cho trọn vẹn. (c.17-20)
Tụ họp nhau lại để gánh vác việc làm bờ đê thẳng dài ngàn bước chân đi, - Cắt ngang phía tây bắc để chắn con suối trên núi đổ về . – Bốn bên hàng xóm cùng theo giúp để nhấc chày vồ (đóng cừ ngăn nước làm đê) – Mọi người đều biết túi của ta không có tiền! (c.21-24)
Năm đến cùng nhìn xem con đê chắn nước bị vỡ do cơn mưa to! - Đói no là bởi ở ta, lẽ nào dính dáng với ông trời! – Ai là bạn bè để uống với ta giữa ruộng đồng? – Say nghiêng ngã (cùng ta) chỉ có viên gạch nung phía đầu xóm chịu đựng được thôi! (c.25-28)

Tạm chuyển lục bát:

HỌA VẦN THƠ CỦA KHỔNG NGHỊ PHỦ:
“HẠN ĐÃ LÂU,RỒI MƯA RẤT LỚN” (Bài 2)

Năm qua dọn gạch sườn đông,
Ba trăm thước đất trồng cây dâu vàng.
Năm nay mái Tuyết lợp tranh,
Gió lùa ,nắng nướng mặt tràn đen thui!
Sống lười ,nay mới hối rồi!
Già nông chăm chỉ nên trời thẳng soi.
Mưa ào ba thước tơi bời,
Trơ lòng ông tạo cuồng khơi khó lường!
Mây giăng trên dưới bốn phương,
Mưa tuôn đúng lúc khiến rồng lìa đây.
Bồng, hao đất trũng sáng cày,
Châm đèn mát mẻ muốn bày dệt đêm.
Lão đây xong việc ngủ êm,
Nằm nghe tiếng guốc khua rền tường đông.
Nước tuôn ngang hố chưa ngừng,
Sen khô, lau gãy chìm buông theo dòng.
Trăm năm nho giã chưa xong!
Người nhìn thương sức cày không nổi rồi!
Nước ngâm khô hạn vỡ đồi!
Sức người không lớn cầu trời giúp thôi.
Họp làm ngàn bước đê bồi,
Cắt ngang tây bắc chắn nơi suối ngàn.
Bốn bên theo giúp chày nâng,
Túi ta, người biết tiền không có nào!
Nhìn đê ,mưa lớn năm sau...!
Tại ta no đói há đâu do trời!
Giữa đồng ai uống với tôi ?
Nghiêng say đầu ngõ chịu rồi gạch nung!

Chú thích:

- đông pha 東坡: sườn đồi hay sườn núi ở phía đông nơi Tô Thức 蘇軾 mua rẻ để làm ruộng khi bị biếm trích xa kinh đô. Về sau trở thành một địa danh và cũng là tự hiệu của nhà thơ [Tô Đông Pha 蘇東坡– xem thêm loat bài trước (Đông Pha bát thủ)]
- thập ngõa lịch 拾瓦礫: thu dọn ngói gạch vụn nát.
- ngải thảo cái 刈草蓋: cắt cỏ tranh để lợp mái nhà (cái).
- đường 堂: gian nhà chính của căn nhà. Tên gọi Tuyết đường 雪堂 hay là căn nhà Tuyết là căn nhà mái cỏ được Đông Pha xây dựng vào mùa tuyết đổ.
- chích 炙: nướng chín, đốt cháy...
- diện như mặc 面如墨 : mặt đen như mực
- lãn đọa 懶惰: biếng nhác, uể oải.
- thiên sở trực 天所直: trời soi thẳng lại, trời nhìn lại...
- phái nhiên 沛然: mưa tầm tả, mưa ào ạt, mưa ầm ầm...
- lệ 例: lệ thường, lệ luật, so sánh....
- tứ 賜: ban xuống, ban ơn, rót xuống, hết (bất tứ: muốn nói chẳng hết lời)...
- xích 尺: thước cổ của Trung Hoa.mười tấc là một thước (bằng 1/3 mét)
- hoảng 怳: ngông cuồng, ngạo mạn, không vừa ý, chán nản...
- cam chú 甘 澍: mưa đúng lúc, trận mưa tốt lành, tươi mát, thấm nhuần...
- long sở cách 龍所隔: rồng phải lìa xa chỗ này (sở cách). Truyền thuyết Trung Hoa cho rằng những năm hạn hán kéo dài, trời cử rồng xuống phun mưa cho nhân thế .Tô Thức muốn nói đến trận mưa dai dẳng và nhiều nước nên không cần đến rồng phun nước
nữa!
- bồng hao 蓬蒿: cây cỏ bồng và cây thanh hao thường mọc nơi hoang dã hay đất đai gò trũng.
- thấp 濕: ẩm ướt, ẩm thấp...
- hiểu lỗi 曉耒: cày bừa (lỗi) lúc sáng sớm (hiểu)
- tân lương 新涼: bầu không khí mới mát mẻ trong lành.
- lão phu 老夫: tiếng tự xưng của người già...
- chức 織: dệt may, thêu thùa.
- tác bãi 作罷: làm xong rồi nghỉ ngơi....
- cam tẩm 甘寢: ngủ ngon giấc, ngủ say...
- hưởng kịch 響屐: âm vang (hưởng) của tiếng guốc (kịch) kéo lê hay
gõ vào đường đi...
- bôn lưu 奔流: nước chảy nhanh, chảy xiết, chảy cuồn cuộn...
- khanh 坑: cái hố
- cốc 谷: khe hay lũng giữa hai sườn núi có nước chảy....
- tứ phiêu nịch 恣漂溺: buông thả, mặc cho (tứ) việc nổi (phiêu) hay chìm (nịch)...
- hủ nho 腐儒: nhà nho quê mùa, theo lối cũ. Cách nói khiêm nhường của Tô Thức.
- thô lệ 麤糲: gạo giã không kỹ còn thô thiển chưa thành gạo thuần vì bị lẫn trấu cám...
- chi 支: mchịu đựng, chống đỡ, giữ, cành, nhánh, chia rẽ, sai khiến, chi tiền....
- chúng mục liên 眾目憐: mọi người nhìn thương xót...
- phá pha 破陂: sườn đồi hay sườn núi bị vỡ (phá)
- lậu thủy 漏水: chỗ hở nước thoát ra, nhỏ ra, thấm ra, dột nước, lỗ hổng để nước thấm ra..
- vị chí 未至: chưa lớn...
- cầu thiên toàn 求天全: nhờ trời làm cho trọn vẹn...
- hội đương 會當: họp nhau lại để đảm đương việc chung...
- đường kính 塘徑: con đê nhỏ, bờ đê nhỏ...
- già sơn tuyền 遮山泉: chặn, ngăn trở, che lấp (già) con suối chảy từ núi xuống...
- tương suất 相率: cùng noi theo ,cùng theo nhau ,dựa nhau..
- trợ cử chử 助舉杵: giúp nâng(cử) chày vồ (để đóng cọc ngăn nước của bờ đê)
- cộng khan quyết cừ vũ 共看決渠雨: cùng nhìn xem sự ngăn chặn của con đê (quyết) trước cơn mưa lớn (cừ vũ).
- ninh 寧: lẽ nào ,há đâu,thà nên,yên ổn,thăm hỏi...
- túy đảo 醉倒: say túy lúy, say nghiêng ngã...
- duy hữu chi đầu chuyên 惟有支頭磚: chỉ có viên gạch nung chín (chuyên) đầu ngõ (đầu) chịu đựng (chi) được thôi...

(Lần đến: THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA – Bài 35 và 36 )

Dương Anh Sơn 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét