Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2025

Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du - Tập 3 - Bắc Hành Tạp Lục - Bài 26, 27 Và 28

 


THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU - TẬP 3 - BẮC HÀNH TẠP LỤC - BÀI 26, 27 VÀ 28
Thầy Dương Anh Sơn

THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU
TẬP 3 : BẮC HÀNH TẠP LỤC

Bài 26

NGŨ NGUYỆT QUAN CẠNH ĐỘ                                          五月観竸渡

Hoài Vương qui táng,Trương Nghi tử,                                      懷王歸葬張儀死,
Sở quốc từ nhân ký bội lan,                                                       楚國詞人記佩蘭。
Thiên cổ chiêu hô chung bất phản,                                            千古招呼終不返,
Mãn giang tranh cạnh thái vô đoan.                                           滿江爭競太無端。
Yên ba diểu diểu không bi oán,                                                 煙波渺渺空悲怨,
La cổ niên niên niên tự tiếu hoan.                                              鑼鼓年年自笑歡。
Hồn nhược quy lai dã vô thác,                                                   魂若歸來也無托,
Long xà quỷ vực biến nhân gian.                                               龍蛇鬼蜮徧人間。

Dịch nghĩa:

Hoài Vương được đem trở về chôn cất, Trương Nghi cũng mất rồi, - Vẫn còn nhớ người làm từ với hoa bội lan. – Cả ngàn năm đã gọi hồn trở về nhưng hồn vẫn không trở lại, - Khắp sông là các con thuyền đang đua tranh chẳng do nguyên nhân nào cả! (c.1-4)
Khói sóng trên sông mịt mù với nỗi sầu oán lặng lẽ, - Thế mà hằng năm phèn la cùng tiếng trống cười đùa vui vẻ. – Nếu hồn ông có quay về cũng không có chỗ nào để nương dựa gửi gắm! – Cõi người khắp nơi đếu đầy rồng rắn và loài quỷ hiểm quái ác. (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

THÁNG NĂM XEM ĐUA THUYỀN TRÊN SÔNG.

Chôn Hoài Vương ,mất Trương Nghi,
Bội lan nước Sở thơ ghi nhớ người.
Gọi về chẳng lại ngàn đời,
Khắp sông đua trải nơi nơi làm gì!
Mịt mù khói sóng sầu bi,
Hằng năm chiên trống được khi vui vầy,
Hồn về gửi chốn nào đây?
Rắn rồng ,quỷ quái tràn đầy nhân gian!

Chú thích:

- Câu 1: Sở Hoài Vương 楚懷王(355-296 TCN) là vị vua thứ 40 của nước Sở, chư hầu nhà Chu trong lịch sử bên Trung Hoa. Hoài Vương vì không nghe lời Khuất Nguyên, một trung thần và là một nhà thơ nổi tiếng, đi qua Tần rồi bị Tần Vương khống chế giữ lại rồi mất ở Tần. Sau hài cốt được đưa về Sở chôn cất. Còn Trương Nghi là mưu sĩ nhà Tần bày ra thuyết liên hoành lấy nước Tần nối kết với các đồng
minh để chống lại kế hợp tung của Tô Tần nhằm liên kết sáu nước thời Chiến Quốc chống lại nhà Tần. Vua Sở xem Trương Nghi là kẻ thù và từng giam giữ người này ở nước Sở...
- Câu 2: “Sở Quốc từ nhân” tức người làm “từ” nước Sở (từ: một thể thơ thời cổ), chỉ Khuất Nguyên 屈原(340-278 TCN), biệt hiệu Linh Quân 霛均, là một chính trị gia yêu nước và là nhà thơ nổi tiếng thời Chiến Quốc. Ông có tác phẩm Ly Tao nổi tiếng cùng với Sở Từ và bài thơ “Thiên Vấn”. Khuất Nguyên can gián vua không được, lại bị nhiều kẻ trong triều ghét ghen nên bị biếm trích. Trên đường đi, ông buồn bã và trầm uất đã nhảy xuống sông Mịch La tự trầm để lại bài phú Hoài Sa. Ông luôn đề cao cái đẹp thanh cao và hương thơm tinh khiết của hoa “bội lan”, ”đỗ nhược “ hay “tiêu lan”.......
- chiêu hô 招: vẫy gọi, gọi mời. Mỗi năm vào ngày 5 tháng 5 âm lịch hay còn gọi là Tết Đoan Ngọ ,người Trung Hoa thường làm văn “Chiêu Hồn 招魂” để mời hồn Khuất Nguyên trở về.....
- thái vô đoan 太無端: chẳng có mục đích ,chẳng có nguyên nhân nào,chẳng hề có đầu mối nào... v.v...
- diểu diểu 渺渺: xa xăm, mù mịt...
- không bi oán 空悲怨: lặng lẽ sầu buồn oán than...
- Câu 6: Bên Trung Hoa, hằng năm vẫn thường kỷ niệm ngày Khuất Nguyên mất như là một dịp đề cao người trung nghĩa. Nhưng nhiều nơi và nhất là ở các bến sông thường tổ chức vui chơi ,đua thuyền ồn ào ,ăn uống vui vẻ... v.v... không còn ý nghĩa tưởng niệm đối với người chuộng thanh cao như Khuất Nguyên .Bên nước ta, do trên một ngàn năm bị Trung Hoa chèn ép, đô hộ, người Việt nhiều nơi chịu ảnh hưởng, cũng bày biện ăn uống vui chơi vào ngày mồng 5 tháng 5 va nhất là cũng “thái vô đoan” như cách Nguyễn Du phê phán!
- Câu 7 và 8: xem thêm chú thích bài 41 và 42 phía sau (bài “Tương Đàm Điếu Tam Lư Đại Phu” và”Phản Chiêu Hồn”)

Bài 27

BẤT TIẾN HÀNH                                                                     不進行

Vũ sư thế khấp Bằng di nộ,                                                        羽師涕泣憑夷怒,
Ngũ chỉ sơn tiền thủy bạo chú.                                                  五指山前水暴注。
Bạch ba chung nhật tẩu xà long,                                                白波終日走蛇龍,
Thanh sơn lưỡng ngạn giai sài hổ.                                             青山兩岸皆豺虎。
Chu tiếp phân phân đồng nhất lưu,                                            舟楫紛紛同㇐流,
Há than nhân hỉ thướng than sầu.                                              下灘人喜上灘愁。
Bách trượng trường thằng vãn bất tiến,                                     百丈長繩挽不進,
Chu trung niên thiếu giai bạch đầu.                                           舟中年少皆白頭。

Dịch nghĩa:

Thần mưa khóc đầm đìa, còn thần nước lại giận dữ điên cuồng, - Trước mặt núi Ngũ Chỉ, nước tuôn mạnh vào một chỗ. - Sóng bạc cuồn cuộn suốt cả ngày như rồng rắn uốn lượn, - Hai bên bờ của ngọn núi xanh đều có loài hổ, loài sói . (c.1-4)
Thuyền chèo xuôi dòng rộn ràng cùng nhau, - Khi thuyền xuống ghềnh thì hớn hở vui mừng và khi ngược dòng thì sầu lo canh cánh bên lòng. – Dùng dây thừng trăm thước kéo thuyền mà vẫn không tiến lên được, - Những càng trai trẻ trong thuyền mái tóc cũng đều bạc cả đầu đi! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

ĐƯỜNG ĐI KHÔNG TIẾN ĐƯỢC.

Thần mưa khóc ,nước giận cuồng,
Trước non Ngũ Chỉ nước tuôn mạnh dày.
Rắn rồng, sóng bạc suốt ngày,
Hai bờ xanh thẳm núi đầy hùm lang.
Thuyền theo dòng chảy rộn ràng,
Xuống ghềnh hớn hở, sầu dâng ngược ghềnh!
Thừng trăm thước, kéo chẳng lên!
Mái đầu trai trẻ trong thuyền bạc theo!

Chú thích:

- hành 行: bước đi, cuộc hành trình, trôi chảy, trải qua, con đường... v.v... Cũng là tên thể loại thơ theo lối “nhạc phủ “ xưa như bài “Trường ca hành” của Lý Bạch, “Hạo ca hành “ của Bạch Cư Dị, hay “Sở Kiến hành “ của Nguyễn Du... v.v... thường gồm nhiều liên khúc vài chục câu trở đi....
- Vũ sư 羽師: chỉ thần mưa
- thế khấp 涕泣: nước mắt tuôn chảy như mưa
- Bằng Di 憑夷: chỉ thần nước hay còn gọi là Hà Bá...
- Ngũ Chỉ Sơn: núi có dáng hình năm ngón tay, còn gọi là Lê Sơn 黎山. ở huyện Châu Bình, Quảng Tây, Trung Hoa. nay là Quỳnh Trung, Quảng Đông)
- thủy bạo chú 水暴注: nước chảy tuôn mạnh mẽ vào một chỗ....
- phân phân 紛紛: rộn ràng, rối rít, rối loạn...
- thằng 繩: sợi dây thừng gồm nhiều sợi nhỏ xe lại với nhau...

Bài 28

QUẾ LÂM CÔNG QUÁN                                                         桂林公館

Hoang thảo nhạ lưu huỳnh,                                                        荒草惹流螢,
Nhàn giai dạ khí thanh.                                                              閒階夜氣清。
Hàn đăng lưu quỷ ảnh,                                                               寒燈留鬼影,
Hư trướng tụ văn thanh.                                                             虛帳聚蚊聲。
Lao lạc xuân vô phận,                                                                牢落春無分,
Tha đà lão tự kinh.                                                                     蹉跎老自驚。
Thành đầu văn hoạ giác,                                                            城頭聞畫角,
Tự ngữ đáo thiên minh.                                                              自語到天明。

Dịch nghĩa:

Nơi đám cỏ hoang những con đom đóm lập lòe bay rối loạn, - Bậc thềm yên tĩnh cùng với bầu không khí trong lành mát mẻ. – Ngọn đèn lạnh lẽo giữ lại những bóng mờ của loài quỉ, - Bức màn thưa có những tiếng của loài muỗi vo ve. (c.1-4)
Chốn xa xôi chẳng có duyên phận gì với mùa xuân đi qua! – Cứ lần lữa mãi (theo thời gian) sợ cho tuổi già đến. – Đầu thành nghe tiếng tù và thổi (điểm canh đêm), - Niềm riêng bao nỗi trong lòng kéo dài mãi cho đến khi trời sáng. (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

NHÀ KHÁCH CÔNG Ở QUẾ LÂM.

Cỏ hoang đom đóm lập lòe,
Thềm đêm vắng lặng,khí nghe mát lành.
Đèn soi bóng quỉ lạnh tạnh,
Vo ve tiếng muỗi tụ quanh bức màn.
Xa buồn chẳng thiết xuân sang,
Cứ lần lữa mãi sợ mang tuổi già!
Đầu thành nghe tiếng tù và,
Niềm riêng bao nỗi sáng ra kia rồi!

Chú thích:

** Sứ bộ Việt Nam do vua Gia Long xuống mệnh giao cho Nguyễn Du dẫn đầu sang Trung Hoa vào đầu năm 1813 (năm Quý Dậu). Tháng 6 năm đó, phái bộ đến vùng Quế Lâm và Nguyễn Du theo từng đoạn hành trình ghi nhận và bình phẩm về tình hình sứ đoàn cũng như làm thơ về các địa danh, danh nhân, văn hóa...v.v... ở Trung Hoa.
- nhạ 惹: hỗn loạn, loạn xạ, dẫn dắt...
- nhàn 閒: rảnh rỗi, nhàn hạ, vắng vẻ, yên ắng....
- hư trướng 虛帳: bức màn thưa, trống trải..
- lao lạc 牢落: xa xăm, xa xôi, buồn bã, rơi rụng...
- tha đà (sa đà) 蹉跎: kéo dài, lần lữa, sai lầm, lầm lỡ...
- họa giác 畫角: tiếng tù-và làm từ sừng trâu thổi điểm sang canh đêm (họa: mốc dừng lại chuyển sang mốc tiếp theo.)
- tự ngữ 自語: những lời riêng tư ,nỗi niềm hay mối tâm tư của rein bản thân mình.

(Lần đến: BẮC HÀNH TẠP LỤC – Bài 29, 30 và 31)

Dương Anh Sơn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét