Người Việt Nam thường gắn bó với quê cha đất tổ. Ngày xưa, ít ai rời bỏ làng quê của mình để đi xa trừ phi hoàn cảnh quá ngặt nghèo, không còn lựa chọn nào khác để sinh tồn. Dù đi xa bao nhiêu ngàn dặm, cách biệt bao năm trời, người Việt Nam vẫn mang tình tự dân tộc trong mình, vẫn tự hào mình là người Việt Nam có lịch sử hàng ngàn năm oai hùng, văn hiến.
Biến cố 1975 đã đưa hàng triệu người Việt phải bỏ nước ra đi, hoặc vượt qua biên giới đầy mìn bẫy và lính biên phòng hung ác, bị đe dọa ‘cáp duồn’ bởi người Campuchia ngàn đời thù hận; hoặc bấp bênh trên con thuyền mong manh, vừa vật lộn với sóng gió đại dương, vừa bị cướp, hiếp và thảm sát bởi hải tặc. Ra đi là sự lựa chọn dứt khoát tìm một quê hương mới, tránh nạn kỳ thị, khủng bố của nhà cầm quyền Cộng Sản.
Đó là một sự mặc nhiên phủ nhận, từ bỏ căn cước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa.
Rồi đến những đợt ra đi trong trật tự gồm thành phần quân cán chính từng bị Cộng Sản giam tù nhiều năm, cùng chương trình đoàn tụ dành cho những người đã sống ở nước ngoài nay bảo lãnh cho thân nhân. Những người này cũng đã có sự lựa chọn dứt khoát và cũng phủ nhận thẩm quyền của nhà nước Cộng Sản Việt Nam.
Họ trở thành người thường trú và sau đó nhập quốc tịch các nước sở tại một khi hội đủ điều kiện. Họ là công dân của nước mà họ cư trú, chịu quyền tài phán của chính phủ đó mà không dính líu gì tới nhà nước Việt Nam.
Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam thường cố tình đánh đồng tình yêu tổ quốc với tình yêu đối với nhà nước, chế độ; họ nhập chung đảng và nhà nước làm một, nên hể ai yêu nước thì phải trung thành với đảng; ai chống đối chính quyền là phản bội tổ quốc! Để chống lại lý luận này, chúng ta cần phân biệt hai phạm trù Tổ Quốc và Quốc Gia. Hai phạm trù không thể đồng hóa vào nhau. Tổ Quốc là một lãnh thổ, một dân tộc sống trên đó với đủ truyền thống đặc thù về văn hóa, lịch sử. Còn Quốc Gia hay nhà nước là một cơ chế cầm quyền gồm chính thể và chế độ chính trị. Chính thể có thể là quân chủ, cộng hòa... chế độ có thể là dân chủ, độc tài, phát xít hay cộng sản. Tổ quốc thì trường tồn, còn nhà nước có thể tồn tại lâu dài hay ngắn ngủi. Một người vẫn yêu tổ quốc nhưng không chấp nhận nhà nước đương quyền. Đó là một trong những quyền căn bản của con người. Nhân quyền cho phép họ đấu tranh lật đổ nhà nước này để thiết lập nhà nước khác mà họ chọn.
Kiều Dân, Kiều Bào là ai?
Kiều Bào là nói theo cách của người Việt dẫn từ huyền thoại khởi nguyên của dân tộc Việt do một trăm trứng từ trong bụng bà Âu Cơ đẻ ra. Những dân tộc khác không có khái niệm này.
Kiều, theo nguyên từ là ở nhờ, ở đậu. Kiều dân là dân của nước này đi ở nhờ, ở đậu một nước khác. Họ có thể tạm trú thời gian ngắn hay thường trú thời gian dài, có khi hết cả đời này sang đời kia, nhưng vẫn không nhập quốc tịch nước sở tại mà vẫn là công dân của nước gốc. Ví dụ: hàng triệu người Trung Hoa ở Việt Nam sinh sống làm ăn nhiều đời ở nước ta nhưng vẫn không có quốc tịch Việt. Đến thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải ban hành nhiều biện pháp hạn chế khắt khe về kinh tế để buộc họ phải nhập quốc tịch và chịu sự chi phối của luật pháp Việt Nam.
Kiều Dân là những ai?
Họ là những người đến nước ngoài bằng visa làm việc, du học, thăm viếng và xin ở lại trong thời hạn nào đó. Họ cũng có thể là dân đã thường trú, nhưng chưa hay không chịu nhập quốc tịch nước sở tại. Họ vẫn là công dân của nước gốc, do đó vẫn dưới thẩm quyền tài phán của nước gốc. Tuy về mặt pháp luật thì phải tuân thủ và chịu sự cưỡng chế của luật pháp nước sở tại, kiều dân vẫn được nước gốc quản lý và chăm sóc về các phương diện khác. Khi có tranh chấp pháp lý hay kinh tế, họ được các tòa đại sứ, các tòa lãnh sự can thiệp để bảo đảm quyền lợi của họ. Dù khi nước này chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với nước kia, thì họ cũng phải tìm cách bảo vệ kiều dân mình qua các tòa lãnh sự mà họ có thể thuê mướn một công dân nước sở tại làm đại diện để giải quyết những vấn đề khó khăn của kiều dân.
Những công dân Mỹ gốc Việt có thể vì hoàn cảnh khó khăn, già nua, tìm về Việt Nam sinh sống nhưng vẫn lãnh tiền hưu, tiền an sinh xã hội của Hoa Kỳ. Họ vẫn được sự che chở, can thiệp của tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội hay các Tòa Lãnh Sự ở các thành phố lớn của Việt Nam. Nhà nước Việt Nam không có quyền gì với họ trừ phi họ vi phạm pháp luật sở tại.
Còn người gốc Việt ở Hoa Kỳ, Úc, các nước khác mà đã có quốc tịch nước sở tại thì hoàn toàn nằm ngoài vòng cương tỏa của nhà nước Việt Nam.
Sau nhiều năm kiêu căng nhục mạ những người Việt bỏ nước ra đi là thành phần rác rến, đĩ điếm, ma cô, nhà nước Việt Nam ngày nay đổi giọng, gọi họ là Việt Kiều, là ‘khúc ruột xa ngàn dặm,’ tìm cách ve vuốt để lôi kéo họ, khuyến dụ họ đóng góp tài chánh hay trí tuệ để củng cố chế độ độc tài. Trong thập niên 1980, khi Việt Nam sa vào tình trạng suy sụp kinh tế, bị cô lập, bị quan thầy Liên Sô, Trung Hoa bỏ rơi, nếu không có hàng tỷ đô la do người Việt tị nạn ở Mỹ, Úc gửi về thì chắc chế độ Cộng Sản đã sụp đổ như ở Nga và Đông Âu.
Có người nhắc chuyện ngày trước, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng dùng hai chữ Kiều Bào khi đón tiếp những người Việt tha hương từ Pháp trở về thăm quê hương. Chúng ta không biết rõ những người này đã có quốc tịch các nước ngoài hay vẫn là công dân Việt Nam. Nhưng phải nhìn trên khía cạnh tuyên truyền chính trị mà chính phủ VNCH đã gọi thân mật họ là kiều bào nhằm lấy cảm tình họ.
Vì thế, người Việt tị nạn phải ý thức rõ căn cước của mình mà không bị sa vào bẫy ngọt ngào của Cộng Sản. Chúng ta không phải là Việt Kiều, là Kiều Bào của nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa.
Chúng ta là người Mỹ, người Úc, người Canada... gốc Việt, là công dân của các nước này, không phải là Việt Kiều, chẳng dính líu gì tới nhà nước Việt Nam Cộng Sản.
Đỗ Văn Phúc


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét