Thứ Năm, 18 tháng 12, 2025

Tiếng Việt Trong Sáng Kỳ 12 - ‘Giải Mã, Giải Ảo' Hay ‘Giải thích’?



Tiếng Việt Trong Sáng Kỳ 12 - 'GIẢI MÃ, GIẢI ẢO' HAY 'GIẢI THÍCH'?
Đỗ Văn Phúc

‘Giải mã, Giải Ảo” hay ‘Giải thích’? 

Ngày nay, phương tiện internet đã giúp cho nhiều người tham gia vào việc truyền thông. Nhiều người dễ dàng trở thành các nhà văn, nhà báo, nhà thơ, vân vân. Có những người làm video về tin tức post lên internet. Tuy nhiên số người viết đúng văn phạm, chính tả lại rất hiếm hoi. Một vài người lại ưa nói chữ. Thay vì sử dụng những chữ giản dị, dễ hiểu; họ đã dùng chữ đao to búa lớn nhằm lôi kéo thính giả. Chúng tôi không phải là có dư thì giờ ngồi chẻ sợi tóc làm tư để phân tích những từ ngữ trong các bài viết. Nhưng “đừng im tiếng, mà phải lên tiếng…” Lúc này, thấy có quá nhiều bài, nhiều câu tiếng Việt mà đọc xong cứ ngẩn ngơ, chẳng biết người viết muốn nói gì.

Những lúc về sau này, chúng tôi đọc thấy nhiều tựa đề các bài bình luận phân tích thời sự thường bắt đầu bằng hai chữ ‘giải mã, giải ảo’. Trên nhiều trang web hay các diễn đàn, thấy có các bài: Giải mã cuộc chiến giữa Thái Lan và Campuchia,” Giải mã việc dân Somali gian lận tiền phúc lợi ở Minnesota, MC Quyền Linh giải mã các hiện tượng, Giải mã giấc mơ thấy quan tài, Giải ảo thời sự” vân vân.

Lạ quá, các tin tức thì có đủ chi tiết, có gì che đậy bằng mã số, ký hiệu như  bản tin tình báo đâu mà  phải cần người giải mã mới đọc được, hiểu được. Các anh chị nhà báo cứ loan tin và cho vài lời bình luận là đủ.

 

Giải Mã là gì?

Vì sao chữ giải mã trong các bài trên không đúng? Lẽ nào các tác giả có đủ khả năng viết những bài bình luận mà lại không hiểu đúng nghĩa của hai chữ này? Hay là vì họ quá thờ ơ, nghe quen tai sau khi đọc nhiều bài ‘giải mã’ và đã áp dụng một cách vô ý thức vào bài của mình? Tôi đoán có thể tác giả muốn nói đến việc ‘giải độc’ những bản tin do người viết tin bóp méo vì mục tiêu chính trị của người đưa tin. Đúng thế, nếu có nhiều tin làm cho người đọc hiểu sai lạc bản chất của vấn đề, nên coi tin đó là đầu độc, cần phải ‘giải độc’ chứ không giải mã.

 

Vậy, xin phép trước hết, tìm hiểu ý nghĩa của hai chữ ‘giải mã’.

Chúng tôi tin rằng rất nhiều quý vị từng nghe quen các chữ ‘mã số’, ‘mật mã’. Nguyên từ ‘mã’ là chữ Hán , theo Từ điển Thiều Chửu, có nghĩa “một thứ chữ riêng để biên số cho tiện” 

 

 mã (15n) •  Mã hiệu, một thứ chữ riêng để biên số cho tiện. Như chữ mã Tàu 〡〢〣〤〥〦〧〨〩, chữ mã A-lạp-bá 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10, chữ mã La Mã I II II IV V VI VII VIII IX X.

 

Từ điển Hán Việt của ông Đào Duy Anh, do nhà xuất bản Minh Tâm ấn hành năm 1931 tại Paris, trang 538 định nghĩa MÃ là “dấu để ghi số”.

Từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức trang 330 cũng có định nghĩa tương tự:  Mã là “thứ chữ số của người Trung Hoa dùng để biên sổ”.

Còn chữ ‘giải’ đơn giản là mở ra.

Như thế, ‘mã’ trước hết, là những ký hiệu dùng thay cho các chữ.  

Giải mã là tìm cách mở cái ‘ký hiệu’ ra để đọc các chữ.


 Hiệu Morse:

Giữa thế kỷ thứ 19 (năm 1836), ông Samuel F.B. Morse đã có sáng kiến soạn ra các ký hiệu bằng dấu hiệu ‘tích, tè’ tức là các dấu chấm (dot .) và dấu ngang (dash -). Mục đích là để chuyển đi những tin tức qua viễn thông bằng các phương tiện mà không thể chuyển các chữ được. Qua dòng điện hay qua ánh đèn pin thì khi bấm nhanh là dấu ‘tích’, giữ lâu gấp ba lần thì đó là dấu ‘tè’. Nếu dùng cờ hiệu, thì đưa một tay lên là ‘tích’, dang cả hai tay là ‘tè’. Giữa hai chữ cái (letters) là một khoảng im lặng ngắn bằng dấu ‘tích’; giữa hai chữ (words) thì khoảng cách dài bằng ba dấu ‘tè’. 

Quý vị nhớ chữ SOS là tín hiệu cấp cứu. Nó được truyền đi bằng ba ‘tích’ (ngưng), ba ‘tè’ (ngưng) rồi ba ‘tích’ (… — …).

Ký hiệu Morse này trở thành vô cùng thông dụng trong ngành hàng hải, nhưng nó không mang tính chất bảo mật.


image.png

 

Việc bảo mật tin tình báo

Trong quân đội hay tình báo, với mục đích chỉ cho phe bạn nhận hiểu bản tin của mình mà kẻ địch không thể đọc hiểu, trước khi chuyển đi, người ta ‘mã hoá’ (encode, encoding) bản văn bằng cách thay các chữ cái hay con số bằng những chữ khác hay dãy số khác.  Những người phe bạn sẽ có một cái khóa (key) để lần mò theo từng ‘mã tự’ hay ‘mã số’ (code) thì mới đọc được. Chính việc dùng khóa để đọc bản văn đã được ‘mã hoá’ này, người ta gọi là ‘giải mã’ (decode, decoding). 

Thời Thế Chiến 2, quân đội Đức Quốc Xã đã thành công phần lớn là do các hình thức mã hoá tinh vi mà quân Anh và Mỹ không thể đọc được các lệnh truyền tin của Đức. Trong một trận hải chiến trên Đại Tây Dương, Hải quân Hoa Kỳ đã bắn chìm một chiến hạm Đức (dường như là một tiềm thủy đỉnh) và đã tịch thu được một máy giải mã. Máy này được đưa về đại bản doanh ở London để các nhà tình báo chiến lược và các nhà toán học siêu việt nghiên cứu. Từ đó, đã tìm ra các khóa để giải mã tất cả những tin tức của phe địch. 

Một cách mã hóa đơn giản là dùng các chữ ‘Alpha’ thay cho chữ A, Bravo thay cho chữ B, Charlie thay chữ C… X-ray thay chữ X, Yankee thay chữ Y, Zulu thay chữ Z; tương đương với ‘Anh dũng, Bắc bình, Cải cách… Xung phong, Yên Bái, Zulu’ dùng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Ngoài ra còn cách mã hoá khác như khi báo cáo năm quân nhân tử trận, họ nói là ‘năm im lặng’, 10 người bị thương thì gọi là ‘muời kiến cắn’; Pháo binh thì gọi là phổi bò, xe tăng thì gọi là con cua. Những cách này cũng không có tính cách bảo mật nữa vì quá đơn giản. Về sau, dường như bắt đầu từ khoảng năm 1970, các đơn vị được phát một tập Khoá Đối Chứng dày gồm nhiều trang. Mỗi trang gồm những cột dọc với nhiều hàng chữ cái hay con số gọi là ‘khoá’, và chỉ dùng cho một ngày được ấn định. Qua hôm sau, phải xé bỏ, hủy trang đó đi. Nếu tập này rơi vào tay địch, sẽ có lệnh cấp tốc cho ngưng sử dụng và tập mới được phát ngay. Chỉ có đơn vị trưởng và những người hiệu thính viên mới được biết đến tập sách này mà chúng tôi biết với tên gọi là ‘Khoá Đối Chứng’ (KĐC). 

Mã Hóa– Giải Mã trong Điện Toán.

Trong ngành Khoa Học Điện Toán, người ta dùng các loại ngôn ngữ riêng bằng dãy tám con số gồm 0 và 1 gọi là binary code. Đó là khi chuyển đi chữ hay số, các chữ hay số đánh trên bàn phím đi qua các transistors, sẽ trở thành các tín hiệu điện đóng hoặc mở dòng điện (1 hoặc 0). Khi truyền đến máy người nhận, nó sẽ được chuyển trở lại thành các dòng chữ hay số hiện trên màn hình để đọc. Ví dụ: con số 25 khi mã hóa theo binary code sẽ là dãy số 0001 1001. Qua các transistors trong mày nó là những tín hiệu của dòng điện  'mở-mở-mở-đóng đóng-mở-mở-đóng" để được truyền đi. Tất cả hình ảnh, âm thanh cũng được ‘mã hoá’ bằng binary code khi được dòng điện chuyển qua những cái gọi là ‘processors” trong máy computer. Với kỹ thuật 'nano' ngày nay, mỗi cái processor nhỏ xíu trong máy chứa hàng trăm triệu, hàng ngàn triệu cái transistors để làm việc mã hóa và giải mã này theo tốc độ của điện (gần bằng tốc độ ánh sáng). Microprocessor M3-Ultra cùa Apple chứa 184 tỷ transistors!   

Như thế, khi viết lên tựa để “Giải mã Mỹ rút quân khỏi Syria” hay “Giải mã việc Đại Tướng James Mattis từ chức”, chắc các tác giả có ý muốn nói về sự ‘giải thích’, ‘phân tích’…về các diễn biến trên mà không hề có chút nào ý nghĩa ‘giải mã.’ 

Hết Giải Mã, Nay Lại Giải Ảo

Năm ngoái, sau vài bài góp ý, hai chữ “giải mã” đã bớt nghe trên những chương trình thời sự thực hiện qua hệ thống Youtube và trang truyền thông xã hội. Xin cám ơn và hoan nghênh tinh thần phục thiện của các vị.

Nhưng hiện nay vẫn còn hai chữ “Giảo Ảo” xuất hiện thường xuyên trên một channel thời sự thế giới trên Facebook hay YouTube.

Trước hết, Ảo là gì?

Ảo (mirage) là thứ không có thật (false), là thứ do tưởng tượng ra (imaginary), hay do hiện tượng vật lý; hoặc dùng các xảo thuật, kỹ thuật âm thanh, ánh sáng tạo ra để làm cho người khác tưởng là thật (magic).

Có những chữ thường nghe như: ảo ảnh, ảo tưởng, ảo tượng, ảo giác, ảo mộng vân vân.

Trong toán học có số ảo (imagery number) viết ký hiệu là “i” (I ngắn) mà bình phương của nó là -1 (một số âm):  i2= -1.  Đó là một số số hư cấu, không có thật. Vì bình phương của hai số, dù âm hay dương, thì kết quả luôn là một số dương.  Ví dụ:  22 = 4, -32 = 9.

Ban đầu, số ảo được đặt ra, có vẻ vô dụng. Về sau, các nhà toán học áp dụng được vào các công thức tính toán dòng điện xoay chiều.

image.png

Các ví dụ về ảo:

1.- Những người lữ hành trên sa mạc, do sức nóng nung người và do khát nước quá độ; tâm lý bị ảnh hưởng, vào lúc tuyệt vọng nhất có khi nhìn thấy phía trước một hồ nước xanh mát. Thực ra đó chỉ là ảo ảnh; không có hồ nào, mà chỉ là các đồi cát trùng điệp.

2.- Khi lái xe trên xa lộ dưới cơn nóng trên 100 độ, chúng ta bị ảo giác, thấy những phong cảnh phía trước như lay động trong làn hơi nóng dày đặc.

3.- Khi đi xem nhà ảo thuật David Copperfield, chúng ta thấy một cô gái đẹp bị cưa làm hai hay cảnh chiếc xe hiện ra rồi biến mất trong tích tắc trên sân khấuĐó là do ảo thuật.

4.- Vì thương yêu và tương tư qua mức, anh X. đêm nào cũng bị ảo mộng; hề chợp mắt cũng mơ thấy cô Y đến bên mình.

5.- Karl Marx và những người Cộng Sản nuôi ảo tưởng xây dựng ‘Thế giới Đại đồng’ là xã hội hoàn toàn bình đẳng, không ai cai trị, không ai bóc lột ai!

VậyGiảo Ảo là dùng khoa học, lý luận để giải thích những hiện tượng trên, cho người ta biết rằng những thứ đó không hề là sự thật.

Còn khi nói về những biến cố xảy ra trên thế giới, là những việc xảy ra thật chứ không phải tạo ra ảo giác, ảo tưởng để phải cần giải ảo!

Đúng ra, chỉ là loan tin, bình luận và giải thích để thính giả, độc giả hiểu tường tận nguyên nhân, diễn biến và thêm phần nhận định mà thôi. Không có gì là giải ảo. 






Trân trọng 
NHHN               

Kính mời quý vị theo dõi 



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét