Từ lâu nay, có nhiều tranh luận về chữ Tài Khoản khi nói đến những dịch vụ trên liên mạng. Ví dụ: Tài Khoản Yahoo, Tài Khoản Youtube, Tài Khoản cell phone, Tài Khoản Bảo hiểm Y tế, vân vân.
Nhiều người không đồng ý chữ Tài Khoản trong các dịch vụ trên vì chữ ‘TÀI’ có nghĩa là của cải, tiền bạc; không thể dùng cho những dịch vụ không liên quan đến “tài.”
Trước 1975, chữ "Trương mục" được dùng phổ biến hơn chữ Tài Khoản,
1.- Khoản, hay Mục, trong tiếng Việt hay Hán có nghĩa là từng điều, từng khoản, từng mục.
Khoản: Tờ hợp đồng chia làm nhiều mục (Tín Đức Trang 281)
Khoản 款 : liệt khoản 列款 chia rành ra từng khoản. (Hán Việt Thiều Chửu).
Từng điều, từng khoản (Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh, trang 373)
Trong quyển sách chia làm nhiều mục.
Mục lục, trên đầu sách liệt kê các mục trong sách gọi là mục lục 目錄.
Hán Việt Tự Điển thì ghi rằng: Mục lục: bản chép những chương, tiết trong sách.
Khoản, Mục có nghĩa như nhau, là những chi tiết được liệt kê trong một hồ sơ, danh sách. mà theo chúng tôi có thể ví với chữ ‘item’ trong Anh ngữ.
2.- Trương 賬 có nghĩa là: Sổ sách. Theo Hán Việt Tự Điển, Trương còn đọc là trướng 帳: cái tấm trướng bằng vải mà người thời xưa ghi chép các mục, các khoản kế toán tiền, khoản ghi nợ. Nghĩa rộng của nó là các khoản kế toán. Trương mục 賬目là ‘mục ghi số tiền căn bản và lần lượt ghi thêm hoặc bớt ra để biết số căn bản ấy tăng hay giảm’ Tự Điển Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ, (trang 1717)
3. "Tài khoản" 財款 (bank account) là khoản tiền, hồ sơ tài chánh mà cá nhân hay một tập thể thỏa thuận lập ra với các cơ sở tài chánh như tổ hợp tín dụng, ngân hàng; với mục đích giao dịch như ký gửi tiền để chi dùng (checking account) hay có thể vừa sinh lời (saving account) hay các dịch vụ khác như đầu tư vào CD, IRA.... Người có tài khoản có thể rút hay chuyển tiền bất cứ lúc nào, có thể vay nợ, xin thẻ nợ (credit hay debit card). Khi mở tài khoản ngân hàng, các cá nhân và đơn vị này sẽ được cấp một mã số riêng gọi là số tài khoản; các sự di chuyển tiền vào và tiền ra sẽ được ghi vào bản hồ sơ hay báo cáo tài chánh (bank statement).
Các chữ Trương Mục và Tài Khoản là dịch từ chữ Bank Account
Riêng chữ Account cũng có rất nhiều nghĩa. Chúng tôi chỉ chọn những nghĩa chính mà thôi.
Account là một thỏa thuận chính thức trong doanh nghiệp nhằm giải quyết những dịch vụ thông thường (như trong ngành ngân hàng, quảng cáo, tín dụng của các cửa hàng) và cũng liên quan đến việc tạo ra một “trương mục hay tài khoản” cùng cách thức duy trì nó. (a formal business arrangement providing for regular dealings or services (such as banking, advertising, or store credit) and involving the establishment and maintenance of an account)
Với định nghĩa chữ ‘account’ như trên, Tài Khoản hay Trương Mục là hồ sơ, sổ sách về tài chánh, dùng rất chính xác để dịch chữ ‘Bank Account.’
Tiếng Việt cũng đã dịch chữ ‘account’ là kế toán; tức là việc lập hồ sơ, sổ sách ghi những chi thu hay việc liên quan đến tiền bạc. Trong hồ sơ đó, cũng có những ‘khoản, mục.’
Nhưng Account còn nhiều nghĩa khác mà nghĩa chúng ta muốn đề cập trong bài là::
Account là một sự thỏa thuận để một người được sử dụng internet và những dịch vụ điện thư của những công ty nào đó. (arrangement in which a person uses the Internet or email services of a particular company".
Theo định nghĩa thứ hai này, dùng hai chữ Tài Khoản và Trương Mục để dịch chắc chắn là không đúng.
Không thể dịch Account trong internet là Tài Khoản
Người Việt Nam chỉ mới tiếp xúc với sinh hoạt kinh tế tư bản Tây Phương từ khi Pháp đặt nền đô hộ vào cuối thế kỷ thứ 19. Ban đầu, khi vài ngân hàng được mở ra ở Hà Nội, Sài Gòn, chỉ có những viên chức Pháp và rất hiếm hoi những nhà doanh nghiệp Việt Nam mới có giao dịch với ngân hàng - là một dịch vụ hoàn toàn mới lạ đối với xã hội nông nghiệp. Việc vay tiền, gửi tiền, chuyển tiền đòi hỏi những người này phải mở một Bank Account, mà tiếng Việt gọi rất chính xác là “Tài Khoản” hay “Trương Mục.”
Nhưng qua những thập niên cuối thế kỷ 20, khi ngành điện toán phát triển; đã đẻ ra hàng trăm dịch vụ liên mạng của đủ mọi ngành sinh hoạt chứ không riêng gì ngân hàng, tài chánh.
Người dân các nước tiên tiến phải giao dịch với cơ quan công quyền, doanh nghiệp, truyền thông qua liên mạng (internet) thay vì đến tận văn phòng ngồi chờ được gặp mặt mặt các nhân viên. Mỗi người phải biết sử dụng máy điện toán và tạo cho mình một account riêng với những cơ quan nói trên. Như giao dịch với Sở An Sinh Xã Hội về hồ sơ công dân; như nộp đơn lên sở Lộ Vận xin cấp thông hành, bằng lái xe; như liên lạc khai bệnh, lấy hẹn với các bệnh viện, bác sĩ. Về sinh hoạt cá nhân như dùng cell phone, gắn wifi, mua chương trình truyền hình, gửi điện thư thăm hỏi bạn bè, gửi hình ảnh, phim, ca khúc của mình lên liên mạng phổ biến, cũng phải mở một account riêng với Verizon, AT&T, Yahoo, Google, Youtube, Facebook...
Những loại account dịch vụ internet này không thể gọi là ‘Tài Khoản” hay “Trương Mục” được. Vì xét theo nguyên từ, thì rõ ràng là không thích ứng. Vì các dịch vụ vừa nói ở trên có dính gì tới tiền bạc, tài sản đâu!
Chữ ‘account’ cũng có nhiều nghĩa khác như: (1) Một sự giải thích, ‘She was asked to give an account for her action’ (Cô ta phải giải thích về hành vi của cô ta), (2) ‘Keep account of all you do (theo dõi hết những gì anh làm), (3) a reason for an action (lý do xảy ra hành vi nào đó). Trong các thí dụ vừa nói, không thể dịch bừa ‘acount’ là ‘tài khoản’ được. Cách dịch của những kẻ ‘biết một mà không biết hai’ này làm tôi nhớ rằng bên VN ngày nay, bất cứ việc gì đã hoàn tất, họ đều dùng chữ ‘phi vụ.’ Đánh ghen cũng phi vụ; trộm cướp cũng phi vụ, mà không biết rằng ‘phi vụ’(flight) chỉ dùng cho các chuyến bay mà thôi.
Vậy Account nên dịch là gì? Có nên Việt Hóa những thuật ngữ mới hay không? Nếu không, thì nên dịch thế nào cho ổn thỏa?
Ngày trước, khi tiếp xúc lần đầu với Tây Phương, cha ông chúng ta cũng đã gặp khó khăn khi gặp những thứ rất mới lạ, những thuật ngữ mà trong tiếng Việt chưa hề có. Các vị đã làm thế nào? Xin thưa, họ đã Việt hóa những chữ xa lạ đó thành chữ Việt Nam mà ngày nay chúng ta vẫn dùng hàng ngày. Ví dụ: bơ, phô mai, ga ra, ‘ga’ xe lửa, áo ‘sơ mi,’ giày ‘bốt,’ cà vạt, ghi đông, xi nê, đèn ‘ne-on,’ vân vân.
Rồi chúng ta sẽ phải Việt hóa rất nhiều thuật ngữ mới trong lĩnh vực điện toán mà việc dịch ra tiếng Việt sẽ dài dòng, khó nghe; càng gây thêm tranh cãi. Các chữ ‘enter, save, scan, spam, keyword, scan...” dịch sang tiếng Việt sao cho gọn và đủ nghĩa? Ngày nay, thế giới đã xem Anh ngữ là ngôn ngữ thông dụng, thì cứ dùng nguyên từ hay Việt hóa những chữ đó, bảo đảm ai cũng hiểu.
Còn vị nào khó tính, muốn chỉ dùng tiếng Việt, thì xin đề nghị tạm dùng chữ “mở một hồ sơ/dịch vụ với Yahoo.” Hay nói “mở một danh mục với Yahoo” hay “tạo một danh khoản với Youtube” cũng được. Hay nói gọn hơn nữa: “mở một mục với Yahoo” hay “tạo một khoản với Youtube.”
Nghe có vẻ cộc lốc! Nhưng nói riết sẽ nghe quen tai. Sinh ngữ là thế! Khi cần chữ mới thì phải sáng tạo thêm, miễn là dễ nghe và đúng ý nghĩa.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét