THƠ CỦA ĐỖ PHỦ - BÀI 117, 118 VÀ 119
Thầy Dương Anh Sơn
THƠ CỦA ĐỖ PHỦ
Bài 117
PHÒNG BINH TÀO 房兵曹
HỒ MÃ 胡馬
Hồ mã Đại Uyển danh, 胡馬大宛名,
Phong lăng sấu cốt thành. 鋒稜瘦骨成。
Trúc phê song nhĩ tuấn 竹批雙耳峻,
Phong nhập tứ đề khinh. 風入四蹄輕。
Sở hướng vô không khoát, 所向無空闊,
Chân kham thác tử sinh. 真堪托死生。
Kiêu đằng hữu như thử, 驍騰有如此,
Vạn lý khả hoành hành. 萬里可橫行。
(năm 741)
Dịch nghĩa:
Con ngựa Hồ vùng Đại Uyên, - Làm thành từ bộ xương gầy nhưng khí thế mạnh mẽ. – Đôi tai như chẻ bằng tre vểnh cao lên, - Bốn vó ngựa (chạy) nhẹ nhàng như gió lùa! (c.1-4)
Chẳng có khoảng rộng lớn nào là không hướng đến! - Thật đáng để giao phó việc sống chết! - Có được (một con ngựa) phi nhanh dũng mãnh như thế, - Muôn dặm có thể ngang dọc được! (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
CON NGỰA HỒ
CỦA QUAN BINH HỌ PHÒNG.
Ngựa Hồ Đại Uyển nổi danh,
Xương gầy dũng mãnh làm thành dáng oai!
Vểnh cao trúc chẻ đôi tai!
Nhẹ nhàng bốn vó gió cài chạy bay.
Nơi nào cao rộng hướng ngay,
Việc giao sống chết quả đây đúng là.
Phi nhanh mạnh mẽ, thế kia!
Dọc ngang có thể sải qua dặm ngàn.
Chú thích:
Đây là một bài thơ Đỗ Phủ làm để ca ngợi con tuấn mã giỏi giang và mạnh mẽ của viên quan binh họ Phòng (4 câu đầu). Đồng thời, Đỗ Phủ mượn việc mô tả những dáng dấp oai phong dũng mãnh của con ngưa để nói lên chí khí và khát vọng tự do của con người. Cái chết và cuộc sống là chuyện lớn lao của đời người có thể giao phó cho những ai cầm nắm vận mệnh xã hội tài giỏi, mạnh mẽ như con ngựa kia dẫn dắt đi qua bao nhiêu khó khăn dọc ngang trong đời (4 câu sau). Cũng qua bài thơ, chúng ta thấy được chí khí và tài năng lớn lao của Đỗ Phủ sinh ra không gặp thời phải long đong mãi đến khi mất đi trong sự thiếu thốn và đói nghèo.....
- binh tào 兵曹: chức quan (tào) lo một bộ phận trong quan binh. Viên quan lo việc binh trong bài này chỉ biết vắn tắt là họ Phòng tên Quản...
- Hồ mã Đại Uyển (Uyên) 胡馬大宛: nước Hồ là một nước nằm về phía tây của Trung Hoa (Tây Vực) là nơi sản sinh giống ngựa nổi tiếng [nay là vùng Uzbekistan ( người Trung Hoa đặt tên là Đại Uyên hay Đại Uyển)] thường được nhiều nơi ưa chuộng khi chọn mua để trang bị binh mã quân đội. Người Trung Hoa xưa vẫn thường gọi các nước phía tây là các nước Hồ...
- phong lăng 鋒稜: dáng vẻ oai phong, mạnh mẽ và khí thế...
- trúc phê 竹批: chẻ vót (phê) cây trúc... Đây chỉ đôi tai vểnh cao dựng đứng như trúc chẻ của loài ngựa được xem là tuấn mã...
- tuấn 峻: cao lớn, nghiêm khắc, sâu dài....
- Phong nhập tứ đề khinh 風入四蹄輕: gió lùa (phong nhập) vào bốn vó ngựa (tứ đề) chạy như bay nhẹ nhàng.... Đỗ Phủ đã dùng cụm từ “phong nhập”rất sắc và nêu bật khả năng lướt gió của con ngưa: gió lùa vào làm cho bốn vó càng chạy càng nhẹ nhàng bay bổng...
- sở hướng 所向: phía mà mình hướng đến (hướng 向: cái nhìn về một phía nào đó, tầm nhìn hay hướng nhìn...)
- vô không khoát 無空闊: không có (vô) khoảng không gian (không) rộng lớn nào (khoát). Đây chỉ con tuấn mã có sức vóc và ý chí mạnh mẽ sẵn sàng lao đến những vùng bao la, bát ngát... Đó là khát vọng của Đỗ Phủ mơ ước bầu trời tự do rông mở cho tài năng của mình...
- kiêu đằng 驍騰: phi nhanh (đằng) và dũng mãnh (kiêu)...
- hoành hành 橫行: hoành hành không phải hiểu theo lối nói hiện nay là ngang ngược, gây rối loạn hay thái độ ngang nhiên...v.v... Theo nghĩa thời xưa của Đỗ Phủ đó là hành động tung hoành ngang dọc của những kẻ trượng phu hay dũng sĩ. Con ngựa ở đây có khả năng lao đi khắp chốn một cách mạnhmẽ. Câu cuối của bài thơ này cũng cho thấy niềm mong mỏi và khát vọng nung nấu trong lòng nhà thơ là được thi thố tài năng ở cuộc sống bay nhảy khoáng đạt vượt qua “vạn lý”, vượt qua muôn dặm, muôn ngàn trở ngại trong cuộc đời để đến một vùng trời bao la bát ngát của tự do....
Bài 118
ĐẢO Y 捣衣
Diệc tri thú bất phản, 亦知戍不返,
Thu chí thức thanh châm. 秋至拭清砧。
Dĩ cận khổ hàn nguyệt, 已近苦寒月,
Huống kinh trường biệt tâm. 況經長別心。
Ninh từ đảo y quyện, 寧辭搗衣倦,
Nhất ký tái viên thâm. 一寄塞垣深。
Dụng tận khuê trung lực, 用盡閨中力,
Quân thính không ngoại âm. 君聽空外音。
Dịch nghĩa:
(Thiếp) cũng biết người đi lính thú chưa trở về ! – Thu đến, lau sạch cái chày và phiến đá giặt giũ. – Đã gần đến những ngày tháng (của mùa đông) giá lạnh khổ sở, - Huống chi lòng người đã trải qua cuộc chia ly lâu dài! (c.1-4)
(Thiếp) nào có ngại chi việc giặt giũ mệt nhọc, - Chỉ mong gởi (một bộ áo quần) đến nơi biên tái xa xôi sâu hút! – (Thiếp đã) dùng hết sức mình trong phòng khuê (để lo cho việc này), - Chàng hãy nghe âm thanh từ vùng không gian rộng lớn bên ngoài và xa xôi (vọng đến)!
Tạm chuyển lục bát:
ĐẬP ÁO.
Biết đi lính chẳng về đâu!
Mùa thu đã đến chày lau sạch rồi .
Gần ngày tháng lạnh khổ thôi!
Huống lòng đã trải chia phôi lâu dài.
Ngại gì giặt giũ mệt nhoài,
Gởi nơi biên ải thành trì xa xôi.
Phòng khuê ráng hết sức người,
Tiếng vang: chàng có nghe nơi cõi ngoài?!
Chú thích:
Bài thơ luật thi này được ghi trong Đỗ Phủ Thi Toàn Tập 杜甫詩全集 nói lên tâm trạng và công việc người vợ chàng lính thú đang phải trấn đóng ở biên ải xa xôi. Thời nhà Đường và những thời trước nữa, các triều đại của nước Trung Hoa phải luôn đối phó với các bộ tộc người Hồ hay Tây Vực thường tràn qua biên giới phía bắc và phía tây để quấy nhiễu hay cướp phá. Những chàng trai trẻ và cả những người lớn tuổi cũng bị huy động làm lính để đối phó với quân bên ngoài. Cám cảnh trước sự chia ly cách biệt ấy, Đỗ Phủ đã sáng tác bài thơ này...
- Diệc tri thú bất phản 亦知戍不返: bài thơ mở đầu bằng nỗi cam chịu đau đớn khi bao bà vợ cũng (diệc) biết rất rõ (tri) người chồng ra đi khó lòng quay về hoặc chẳng thể trở về (bất phản) vì chiến trận ác liệt và có khi phải hy sinh nơi trận mạc... Chữ “diệc tri” (cũng biết rằng) nghe như bình thản nhưng chất chứa biết bao xót xa đau đớn...
- Thu chí thức thanh châm 秋至拭清砧: “châm” là cái chày để đập sợi vải hay giặt giũ kết hợp cùng phiến đá phẳng để giặt. Nàng chinh phụ ở nhà đến mùa thu chớm lạnh lại nghĩ đến người chồng chưa trở về và có khi không về nữa nơi chốn biên ải khắc nghiệt lạnh giá vẫn đem nỗi nhớ mong bằng việc lau chùi rửa sạch (thức thanh) chày và phiến đá (châm) để chuẩn bị giặt áo sạch sẽ gởi ra biên tái. Công việc ấy được làm với nỗi mong nhớ yêu thương chung thủy cao đẹp của nàng...
- Dĩ cận hàn khổ nguyệt 已近苦寒月: Đã gần đến (dĩ cận) những ngày tháng (nguyệt) lạnh lẽo và khổ sở (hàn khổ) của mùa thu sang đông sắp đến. Nàng chinh phụ cảm nhận cái lạnh ở quê nhà và không thể không nghĩ đến cái lạnh ở chốn quan ải đầy hiểm nguy phía bắc hay phía tây Trung Hoa đầy buốt giá thấu xương phả vào thân thể và tâm hồn cùng với nỗi chia ly của chàng và nàng...
- Huống kinh trường biệt tâm 況經長別心: huống chi (huống) lòng người (tâm) đã trải qua (kinh) cuộc chia ly lâu dài (trường biệt). Câu này tiếp nối với câu trên làm nổi bật cái lạnh không chỉ của thiên nhiên mà còn phả vào tâm hồn con người. Đang là đầu mùa thu nhưng cái giá lạnh của mùa đông đang rót vào lòng (tâm) của người vợ lính thú với nỗi xót xa của sự chia lìa chồng vợ.....
- Ninh từ đảo y quyện 寧辭搗衣倦: Há nào ngại (ninh từ) việc giặt giũ (đảo y) khiến cho thân mình mệt mỏi (quyện). Người vợ chẳng hề sợ mệt nhọc khi giặt giũ với cái lạnh đang đến ở đầu mùa thu vì chàng nơi xa xôi rất cần quần áo để chống lạnh. Dù mệt nhọc và cái lạnh đang đến nhưng niềm ấm áp từ chiếc áo và tình yêu thương của người vợ gởi ra biên tái giúp nàng chinh phụ vượt lên bao nỗi nhọc nhằn...
- Nhất ký tái viên thâm ㇐寄塞垣深: Chỉ mong một lần gởi (nhất ký) một bộ áo quần đến thành lũy (viên) nơi biên giới (tái) mà chàng cùng quân binh đang trấn giữ. Bộ quần áo ấy (y) chất chứa bao nhiêu thương nhớ và tình yêu của người vợ lính phải xa chồng đang ở nơi xa xôi. Chữ “thâm” với nhiều ngụ nghĩa: vừa là chốn xa xăm nơi chàng đồn trú lại vừa là tình cảm sâu lắng trong tâm hồn người vợ luôn nhớ nhung người chồng xa vắng!
- Dụng tận khuê trung lực 用盡閨中力: Dùng hết sức của người đàn bà trong chốn khuê phòng vào việc giặc giũ áo quần (để gởi ra biên tái cho chồng).
“Lực” trong câu này không chỉ là sức lực của thân xác tập trung vào chuyện giặc giũ mà còn là dành mọi suy nghĩ hay tưởng nhớ hướng về người chồng thân yêu nơi biên thùy. Bộ áo quần (y) chỉ là phương tiện để mang tình cảm thương nhớ sâu sắc trong tâm hồn người vợ thủy chung....
- Quân thính không ngoại âm 君聽空外音: Chàng hãy nghe tiếng vang vọng từ chốn xa xôi đang gởi đến chàng. Chữ “ÂM” trong câu cuối này gói trọn tiếng lòng của nàng chinh phụ gởi đến người chồng vì thời cuộc, vì chiến chinh buộc phải ra biên giới khổ ải phải xa vợ con. Đó là tiếng vọng gởi đến những kẻ đương quyền hay kẻ gây ra chiến tranh từ hai phía. Đó còn là thanh âm vang vọng của tiếng chày đập áo, của tình yêu và nỗi thương nhớ xa cách đang đi đến hình bóng yêu dấu của người chồng xa vắng.....
* *
Câu kết này đã cho thấy sự tài tình của bậc thi thánh Đỗ Phủ khi khái
quát hóa những thực trạng đau thương của một giai đoạn lịch sử của Trung Hoa !
Nhà thơ lớn không cần đến hình ảnh chiến trận máu đổ, thây rơi, thành quách hay nhà cửa dân chúng lửa cháy tan hoang...v.v... để lên án chiến tranh. Đỗ Phủ rất tài tình khi chỉ dùng hình ảnh đời thường như mùa thu đến sắp qua đông lạnh giá, hình ảnh của cái chày và phiến đá giặt (châm), tấm lòng nhớ thương do xa cách,chẳng ngại dùng hết sức lực khi giặt giũ mệt nhọc để kịp gởi cho chồng bộ quần áo cho mùa lạnh giá ở biên tái với biết bao niềm yêu thương vô bờ bến của nàng chinh phụ! Những hình ảnh ấy cùng tiếng vọng trong câu cuối đã là góp phần lên án chiến tranh sâu sắc và tràn đầy tình người (mà ngày nay chúng ta vẫn gọi là TÍNH NHÂN BẢN) của bậc “thi thánh” trước bao đau thương và chia ly trong thời tao loạn(騷亂) sau vụ An Lộc Sơn chiếm kinh đô Trường An của nhà Đường...
Bài 119
HỌA ƯNG 畫鷹
Tố luyện phong sương khởi, 素練風霜起,
Thương ưng hoạ tác thù. 蒼鷹畫作殊 .
Tủng thân tư giảo thố, 㩳身思狡兔,
Trắc mục tự sầu Hồ. 側目似愁胡.
Thao tuyền quang kham trích, 絛鏇光堪摘,
Hiên doanh thế khả hô. 軒楹勢可呼.
Hà đương kích phàm điểu, 何當擊凡鳥,
Mao huyết sái bình vu. 毛血灑平蕪.
(năm 741)
Dịch nghĩa:
Trên tấm lụa trắng (dùng để vẽ), gió và sương như đang nổi lên, - Con chim ưng xanh được vẽ ra rất khác thường! – Đứng thẳng thân mình, nghĩ đến con thỏ ranh mãnh, - Mắt nhìn nghiêng tựa như mắt người Hồ đang u sầu! (c.1-4)
Con chim ưng chịu sự quấy rầy do dây tơ buộc chiếc khoen kim loại
(cột chân chim) đang sáng lên, - Lúc gọi có uy thế ,chim từ mái hiên hay cột nhà sẽ sẵn sàng (bay đi). – Bao giờ sẽ đi đánh các loài chim tầm thường? –
Để lông và máu (của chúng) rải xuống đồng bằng cỏ dại um tùm!
Tạm chuyển lục bát:
BỨC HỌA CHIM ƯNG.
Nổi lên tơ lụa gió sương,
Vẽ vời bức họa khác thường ưng xanh.
Dựng thân, nghĩ đến thỏ ranh,
Người Hồ sầu muộn: nghiêng nhìn giống thay!
Chịu dây khoen ánh quấy rầy,
Đậu hiên trụ cột gọi ngay sẵn sàng.
Bao giờ đi đánh chim phàm?
Vấy tuôn lông máu cỏ hoang đồng bằng!
Chú thích:
Tương tự như bài thơ 117 (“Phòng binh tào Hồ mã”) ca ngợi sự dũng mãnh và khả năng tuyệt vời của con tuấn mã luôn khao khát chân trời rộng mở và tự do, trong bài thơ này, Đỗ Phủ dùng bức tranh họa con chim ưng xanh để thể hiện chí hướng của mình đợi chờ có dịp sẽ tung cánh thi thố tài năng. Cả hai bài thơ đều được làm ở thời kỳ còn trẻ của Đỗ Phủ luôn nung nấu khát vọng tiến thủ và thi thố tài năng....
- Tố luyện phong sương khởi 素練風霜起: khung vẽ làm bằng tơ (tố) và lụa trắng nõn (luyện) như đang nổi lên gió sương. Hình ảnh vẽ con chim ưng (mà chúng ta vẫn quen gọi là con diều hâu hay chim cắt) trong bức tranh, đã mở đầu bằng việc đề cập đến cái khí thế và sức mạnh dữ dội của con chim làm nổi lên gió sương...
- Thương ưng họa tác thù 蒼鷹畫作殊: con chim ưng màu xanh (thương) được vẽ ra trông thật khác biệt (thù). Loại chim này không hề giống loại chim tầm thường vì chẳng gây được sự chú ý...
- Tủng thân tư giảo thố 㩳身思狡兔: đứng thẳng thân mình (tủng thân) mà nghĩ đến những con thỏ ranh mãnh . Con chim ưng dành mọi đầu óc tập trung cho việc săn con mồi để khi được tháo dây thả ra sẽ lập tức bay đến con mồi dù nhanh nhẹn ranh mãnh (giảo) đến đâu như con thỏ. Ý chí của nó rất mạnh mẽ....
- Trắc mục tự sầu Hồ 側目似愁胡: mắt nhìn nghiêng hay liếc nhìn (trắc mục) giống như mắt u sầu của người Hồ. Người Hồ hay người phía tây và tây bắc của Trung Hoa thường có đôi mắt sâu và mang vẻ u sầu. Tôn Sở trong Ưng Phú có câu: “Thâm mục nga mi trạng như sầu Hồ 深目蛾眉,狀如愁胡” (Mắt sâu thẳm và lông mày hình dáng tựa như người Hồ u sầu).(Có bản ghi chữ hồ 猢.
(bộ khuyển). Đây là loài khỉ bên Trung Hoa còn gọi là hồ tôn 猢猻. Nếu sầu như con khỉ hồ tôn chắc chắn chẳng hợp với ý tứ của thơ Đỗ Phủ được!) Nhà thơ đang diễn tả đôi mắt chim ưng có một chiều sâu của tâm trạng vừa sắc bén lại vừa lạnh lùng chất chứa ưu tư! Ông không chỉ nhìn thấy con chim ưng xanh được vẽ trên khung tranh bằng tơ lụa, với trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ, ông hình dung một con người đang ẩn mình đằng sau con chim ưng ấy!
- Thao tuyền quang kham trích 絛鏇光堪摘: chim ưng xanh lại chịu đựng (kham) sự phiền toái (trích) do sợi dây tơ (thao) cột chiếc khoen (tuyền) óng ánh (quang) nơi chân chim... Nhưng không vì thế mà không sẵn sàng làm công việc bắt mồi của nó!
- Hiên doanh thế khả hô 軒楹勢可呼: chỉ cần tiếng gọi (hô) có uy thế (thế) ra lệnh, chim ưng sẽ rời chiếc cột (doanh) nơi mái hiên nhà (hiên) bay đi săn mồi... Bức tranh họa là vật chết nhưng cách diễn đạt của Đỗ Phủ sinh động khiến con chim ưng của bức họa thành vật sống!
- Hà đương kích phàm điểu 何當擊凡鳥: bao giờ mới được tung cánh đánh những loại chim tầm thường? Và nói rộng ra bao giờ con người có tài năng như Đỗ Phủ mới có dịp đem khả năng của mình để giúp đời, dẹp bỏ bọn “giá áo túi cơm” tầm thường trong triểu đình hay ngoài xã hội ??!. Chí khí của một nhà thơ lớn còn trẻ tuổi tràn đầy nhiệt huyết nhưng cơ hội để thi thố chưa bao giờ đến cho đến lúc già yếu và chết đi trên một con thuyền nhỏ lênh đênh....
- Mao huyết sái bình vu 毛血灑平蕪: cú đánh những loại “phàm điểu” hay loại chim tầm thường này đã làm cho “lông cánh và máu của chúng phải đổ vấy xuống đồng cỏ hoang”. Phải chăng đó cũng là cơ hội gạt bỏ những kẻ “giá áo túi cơm” tầm thường đang len lỏi trong triều đình và xã hội làm cho thời đại đi xuống?
Từ những phân tích này chúng ta thấy một nhà thơ lớn như Đỗ Phủ không bao giờ làm công việc làm thơ chỉ để miêu tả sự vật thoáng qua bên ngoài.
Chắc chắn nhà thơ lớn như ông được người đương thời và hậu sinh tôn xưng là “thi thánh” không phải ngẫu nhiên. Đó là một quá trình sống và tiếp xúc với bao tầng lớp xã hội và trui rèn trí não cùng ngòi bút càng ngày càng điêu luyện. Người xưa khi nhận xét về thơ của Đỗ Phủ vẫn nói : “Mỗi vịnh nhất vật, tất dĩ toàn phức tinh thần nhập chi 每詠㇐物,必以全副精神入之”. (Mỗi lần vịnh một vật, ắt hẳn dùng toàn bộ tinh thần vào đó). Qua các bài thơ đã trích dịch, chúng ta đều thấy cách làm thơ của bậc thi thánh quả không ngoa!
Saigon, 1/2005
Dương Anh Sơn
(Lần đến: THƠ CỦA ĐỖ PHỦ - Bài 120, 121 và 122)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét