Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

Thơ Của Lý Bạch - Bài 140, 141 Và 142

 


THƠ CỦA LÝ BẠCH - BÀI 140, 141 và 142 
Thầy Dương Anh Sơn

THƠ CỦA LÝ BẠCH

Bài 140

BÌNH LỖ TƯỚNG QUÂN THÊ                                               平虜將軍妻

Bình Lỗ tướng quân phụ,                                                           平虜將軍婦,
Nhập môn nhị thập niên.                                                            入門二十年。
Quân tâm tự hữu duyệt,                                                              君心自有悅,
Thiếp sủng khởi năng chuyên?                                                  妾寵豈能專。
Xuất giải sàng tiền trướng,                                                         出解床前帳,
Hành ngâm đạo thượng thiên.                                                    行吟道上篇。
Cổ nhân bất thoá tỉnh,                                                                古人不唾井,
Mạc vong tích triền miên.                                                          莫忘昔纏綿。

Dịch nghĩa:

Vợ của Bình Lỗ tướng quân, - Vào cửa (nhà chàng) đã hai mươi năm! – Lòng chàng từ đây có niềm yêu thích (khác), - Thiếp được chàng yêu mến há có thể chiếm riêng cho mình sao ?(c.1-4)
Ra khỏi nhà, tháo tấm màn trước giường , - Trên đường ra đi, ngâm một bài thơ. – Người xưa không nhổ xuống giếng, - Chớ quên xưa kia đã ràng buộc vấn vương lâu dài (bên nhau) (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

NGƯỜI VỢ CẢ CỦA TƯỚNG QUÂN BÌNH LỖ.

Vợ chàng Bình lỗ tướng quân,
Vào nhà chàng đã trải ròng hai mươi!
Lòng chàng: từ đó vui tươi,
Chàng yêu, há thiếp là người riêng mang!
Rời nhà, rèm tháo trước sàng,
Một bài thơ đã trên đàng ngâm nga.
Người xưa chẳng nhổ giếng nhà,
Trước từng ràng buộc thiết tha lâu dài!

Chú thích:

Bình lỗ tướng quân [là danh hiệu của “Tướng quân đánh dẹp (bình 平) và giỏi bắt quân giặc (lỗ 虜 )”] tên thực là Lưu Huân 劉勛. Lưu Huân lấy vợ là Vương thị tên Tống 宋 đã được hai mươi năm nhưng chẳng có con nên đem lòng lấy người vợ khác có họ Tư Mã 司馬 ở Sơn Dương, Trung Hoa. Cảm khái trước cuộc đời phận bạc của nàng Vương, Lý Bạch đã sáng tác bài này.
- Bình lỗ tướng quân 平虜將軍: viên tướng có tài đánh dẹp (bình) và bắt sống giặc (lỗ) được tặng danh hiệu này.
- thê 妻: người vợ cả hay người vợ đầu...
- nhập môn 入門: bước vào cửa trường học, bước vào môn phái hay bước vào nhà...v.v... Ở đây, nàng họ Vương tên Tống đã bước vào nhà của gia đình chồng và làm vợ một chặng đường dài ngót ngét hai mươi năm. Chữ “nhập môn“được Lý Bạch nối liền với “nhị thập niên” như là một sự gắn bó với nhau lâu năm, dài tháng tưởng chừng như son sắt khó chia lìa.....
- duyệt 悅: đẹp lòng, lòng vui sướng hớn hở, lòng yêu thích vui vẻ...
- khởi năng chuyên 豈能專: há (khởi) có thể chỉ có một (chuyên: duy nhất, chiếm riêng,nắm trọn, một mình, nhỏ hẹp, chú ý hay tập trung vào một công việc...). Trong câu 4 của bài thơ, nàng Vương thị tên Tống khi biết chồng mình có niềm vui mới với cô nàng họ Tư Mã, đã thấy ngay thân phận người phụ nữ tuy đươc chồng yêu thương (sủng ái) một khoảng đời 20 năm nhưng không thể mãi mãi giữ riêng chồng cho mình được! Quan niệm ngày xưa ở Trung Hoa rất chú trọng việc sinh con đẻ cái nối dõi tông đường nên chuyện của chàng ngoài niềm vui mới cũng trói buộc với quan niệm cũ xưa này! Nàng Vương thị tủi thân nhưng không oán hận trước số phận hẫm hiu của mình khi chồng thay lòng đổi dạ. Ngày xưa ở các triều đại cũ, người vợ vẫn thường biết rõ dù chồng có yêu thương, sủng ái rất mực nhưng họ cũng sẽ thay đổi khi chuyện phải có con nhất là con trai để nối dõi như là một truyền thống cố hữu . Cho nên ,Vương thị qua lời Lý Bạch mới thốt lên: ” Chớ nắm trọn hay chiếm riêng” (khởi năng chuyên) người chồng dù từng được yêu thương...
- Xuất giải sàng tiền trướng 出解床前帳: tháo bức rèm che trước chiếc giường của chồng và vợ. Đây là việc rút lui vì nơi chiếc giường xưa kia là hình ảnh tượng trưng của tình yêu vợ chồng nay phải rời đi. Việc tháo rèm (hay màn - giải trướng) và rời đi (xuất) chắc chắn gây ra sự đau đớn và xót xa nơi Vương thị!
- Hành ngâm đạo thượng thiên 行吟道上篇: “thiên” là một bài thơ hay là đoạn văn thơ có đầu đuôi. Trên con đường (đạo thượng) ra đi (hành) rời khỏi nhà chồng – nơi từng có hai mươi năm mặn nồng - nàng Vương đã đi và ngâm nga (hành ngâm) một bài thơ chứ không than khóc . Đó là tính cách của Lý Bạch khi vẽ ra chân dung đẹp đẽ của Vương thị : nỗi đau đã biến thành bài thơ ngâm nga trên con đường về quê cũ.....
- Cổ nhân bất thóa tỉnh 古人不唾井: người xưa không nhổ nước bọt vào giếng. Đó là một câu của tục ngữ của Trung Hoa. Nước giếng cần giữ luôn trong lành huống chi đây là cái giếng chàng và nàng từng cùng nhau uống trong sinh hoạt thường ngày hay nói rộng ra là ngôi nhà một thuở nào ấm cúng bên nhau! Dù tình thế thay đổi, nàng không vì vậy mà làm ô uế biết bao tình nghĩa qua lại cùng nhau. Nàng ra đi nhưng vẹn giữ mối tình trong sạch với chàng và không hề trách móc hay hờn giận...Đó là đức hạnh tốt đẹp của người phụ nữ đáng để cho Lý Bạch ca ngợi!
- Mạc vong tích triền miên 莫忘昔纏綿: Chớ bao giờ quên đi những ràng buộc và vương vấn (triền miên) một thuở nào (tích).... Trong câu này, Lý Bạch đã mô tả tình cảm của nàng họ Vương khi ra đi vẫn đằm thắm đẹp đẽ nhưng không hề van xin oán hờn. Đó là một trong những bài thơ giàu tính nghệ thuật và cảm xúc của Lý Bạch khi nói đến những người phụ nữ đẹp đẽ trong lịch sử Trung Hoa xưa trước!

Bài 141

ĐĂNG TÂN BÌNH LÂU                                                           登新平樓

Khứ quốc đăng tư lâu,                                                                去國登茲樓,
Hoài quy thương mộ thu.                                                           懷歸傷暮秋。
Thiên trường lạc nhật viễn,                                                        天長落日遠,
Thuỷ tịnh hàn ba lưu.                                                                 水淨寒波流。
Tần vân khởi lĩnh thụ,                                                                秦雲起嶺樹,
Hồ nhạn phi sa châu.                                                                  胡雁飛沙洲。
Thương thương kỷ vạn lý,                                                         蒼蒼幾萬里,
Mục cực linh nhân sầu.                                                              目極令人愁。

Dịch nghĩa:

Bỏ quê nhà , bữa nay ghé lên lầu, - Sầu đau và nhớ quê hương lúc chiều thu muốn quay về ! – Bầu trời cao rộng, mặt trời đã lặn ở xa xa. - Nước sông trong lắng lạnh lẽo, con sóng nhỏ chảy xuôi dòng (c.1-4)
Đám mây Tần khởi tụ trên đỉnh núi nhiều cây rừng, - Chim nhạn đất Hồ (từ phương bắc) bay lượn nơi bãi cát của con sông. – Biết bao nhiêu màu xanh ngắt (của bầu trời và núi rừng) trải ra cả muôn dặm! – Dõi nhìn hết sức khiến cho người sầu thương! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

LÊN LẦU Ở TÂN BÌNH.

Bỏ quê, hãy ghé lên lầu,
Chiều thu cùng nỗi buồn đau nhớ nhà!
Trời cao, mặt nhật lặn xa,
Dòng sông trong lạnh, sóng va nhẹ vần.
Cây ngàn, đỉnh núi mây Tần,
Nhạn Hồ bay lượn bãi sông cát bồi.
Biết bao muôn dặm xanh ngời,
Dõi nhìn hết sức khiến người sầu thương!

Chú thích:

Nhờ tài làm thơ, biết ngôn ngữ của người Tây Vực (từ người mẹ gốc xứ này) và sự tiến cử của Hạ Tri chương, Lý Bạch được Đường Huyền Tông tức Đường Minh Hoàng cho mời vào triều để thảo văn thư (như bản “Đáp Phiên thư” bằng tiếng Tây Vực) được Huyền Tông yêu mến phong chức hàn lâm chuyên lo việc mật bên vua. Đó là thời kỳ hiển đạt nhất khi ra làm quan triều Đường của Lý Bạch. Nhưng chốn triều đình cũng là nơi tranh quyền đoạt lợi và nhiều đố kỵ. Bị sự dèm pha của Dương Quý phi, của Cao lực sĩ, của Trương Ký..v..v... lại thấy ở kinh đô Trường An không như ý, năm 745 Lý Bạch đã xin vua cho về để đi ngao du và làm quen với nhiều bậc tao nhân đáng quí như Đỗ Phủ, Cao Thích, Quách Tử Nghi, Sầm Than...v.v... Bài thơ ngũ ngôn tiêu biểu này được làm trong thời gian này khi ông rời bỏ kinh thành đến chơi lầu Tân Bình ở huyện Vu Sơn, Tứ Xuyên bên Trung Hoa với nhiều trăn trở, sầu buồn về thời cuộc và thân phận người khách lữ xa triều đình và quê nhà...
- khứ quốc 去國: rời bỏ quê nhà, rời bỏ nơi chốn từng gắn bó...
- hoài quy 懷歸: mang nỗi nhớ về quê hương...
- thương mộ thu 傷暮秋: đau lòng (thương) khi chiều thu; buổi chiều của mùa thu với không gian lắng đọng u buồn làm cho người đau đớn (thương)...
- thiên trường 天長: bầu trời rộng lớn mênh mang. Nhà thơ cảm nhận rõ sự nhỏ nhoi trước vũ trụ bao la!
- lạc nhật viễn 落日遠: mặt trời đang lặn ở nơi xa tắp....
- ba lưu 波流: con sóng nhỏ (ba) vỗ nhẹ nơi dòng sông xuôi chảy...
- Tần vân 秦雲: mây xứ Tần. Hàn Dũ 韓愈 (768–824),một danh sĩ Trung Hoa trong bài thơ “Tả thiên chí Lam Quan thị điệt tôn Tương 左遷至藍關示姪孫湘”
- (Bị giáng chức đi ải Lam dặn dò cháu Tương) có câu 5 và 6 nổi tiếng: “Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại ?! Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiền 雲橫秦嶺家何在, 雪擁藍關馬不前。“ (Mây giăng ngang đỉnh núi Tần, nhà ta ở nơi đâu?!
Tuyết bao phủ Lam Quan, ngựa không tiến lên được!).Tâm trạng của Hàn Dũ, người cùng thời với Lý Bạch, đang bị biếm trích xa nhà, nhớ quê (vì làm sớ lên Đường Hiến Tông khuyên vua không nên đón xương Phật trấn chùa), cũng không khác mấy với tâm trạng Lý Bạch khi rời bỏ triều Đường vì sự đố kỵ làm kẻ lữ khách đường xa lẻ loi và cũng thương nhớ quê nhà cùng một tương lai mịt mờ....
- Hồ nhạn 胡雁: chim nhạn ở đất người Hồ phía bắc Trung Hoa đến mùa thu lại di cư về phía nam ấm áp hơn để tránh lạnh. Tuy nhiên, chim nhạn được trở về chốn cũ khi ghé qua cồn bãi để trú ngụ, khác với Lý Bạch làm kẻ lữ khách lang thang ở vùng phía nam Trung Hoa cho có ấm áp, tránh cái lạnh và nhất là “hoài quy” nhớ nhà muốn quay về!
- thương thương 蒼蒼: trùng điệp màu xanh biếc không chỉ của bầu trời xanh ngắt mà tiếp nối với màu xanh những dải núi non, rừng cây bên dưới...
- kỷ vạn lý 幾萬里: muôn ngàn dặm biết bao nhiêu (kỷ)...Câu thứ 7 cũng cho thấy nỗi chơ vơ của con người trước thiên nhiên rộng lớn bao la....
- Mục cực lịnh nhân sầu 目極令人愁 : cố gắng mở nhìn hết tầm mắt nhưng cũng không thấy đâu là quê nhà khiến cho (lệnh) cõi lòng người chất chứa nỗi u sầu...

Bài 142

BỒ TÁT MAN                                                                           菩薩蠻
Bình lâm mạc mạc yên như chức,                                              平林漠漠煙如織,
Hàn san nhất đới thương tâm bích.                                            寒山㇐帶傷心碧。
Minh sắc nhập cao lâu,                                                               暝色入高樓,
Hữu nhân lâu thượng sầu.                                                          有人樓上愁。
Ngọc giai không trữ lập,                                                            玉階空佇立,
Túc điểu quy phi cấp.                                                                 宿鳥歸飛急。
Hà xứ thị quy trình,                                                                    何處是歸程,
Trường đình cánh đoản đình.                                                     長亭更短亭。

Dịch nghĩa:

Rừng cây bằng phẳng mênh mông, làn khói (bốc lên) như đang dệt,-Một dải núi lạnh lẽo xanh biếc làm cho nỗi lòng đau thương! – Màu sắc của bóng đêm đã len vào lầu cao, - Có người trên lầu đang buồn sầu. – Uổng công đứng chờ đã lâu nơi thềm ngọc, - Đến lúc nghỉ, chim bay về vội vàng! – Nơi đâu là đoạn đường trở về? – Đi qua trạm nghỉ lớn thay nhau đến trạm nghỉ nhỏ!

Tạm chuyển lục bát:

BỒ TÁT MAN.
(BÀI TỪ THEO ĐIỆU BỒ TÁT MAN)

Rừng cây khói dệt mênh mông,
Dải non biếc lạnh nỗi lòng thương đau.
Sắc đêm len lỏi lầu cao,
Trên lầu có kẻ buồn sầu thảm thương.
Đứng lâu thềm ngọc uổng công,
Bay về ngơi nghỉ, chim muông vội nào!
Đường về, nơi chốn là đâu?
Đi qua trạm nhỏ thay nhau trạm dài!

Chú thích:

** “Bồ Tát Man 菩薩蠻” là bài “từ” nổi tiếng gắn liền với tên tuổi của Lý Bạch. ”Bồ Tát 菩薩” trong đạo Phật ,âm từ chữ Hán của chữ Bodhisattva, thường dùng để chỉ những bậc tu hành đã giác ngộ nguyện ở lại thế gian để cứu độ chúng sinh. Nhưng trong bài “từ” này không mang nghĩa của đạo Phật mà là một “điệu từ” hay “từ bài 詞牌” (bài từ), “từ khúc 詞曲” thường được các nhà thơ tiếng tăm soạn ra có thể hát theo làn điệu chọn lựa. Câu chuyện có nguồn gốc từ các đoàn sứ giả của một nước phía nam có các người phái nữ trang phục rất đẹp qua thăm nhà Đường khiến dân chúng liên tưởng như những Bồ Tát đẹp đẽ rồi hình thành làn điệu ca hát mới ảnh hưởng việc làm từ phú. Còn chữ “Man 蠻” là cách người Trung Hoa thường nói các dân tộc ở xa phía nam và chung quanh là “Man di 蠻夷” (mọi rợ,chưa văn minh như họ). Tóm lại, đây chỉ là một bài từ có làn điệu riêng không liên quan đến đạo Phật dù dùng chữ “Bồ Tát”. Thường làn điêu của bài từ loại này lại mang nhiều tình cảm sâu sắc! Bài “Bồ Tát Man“ và bài “Ức Tần Nga 憶秦娥” của Lý Bạch được xem là hai bài nổi bật của từ khúc và được tôn xưng là “Bách đại từ tông” (tổ trăm đời của từ khúc).
- bình lâm 平林: là rừng cây trải rộng ra trên mặt đất bằng phẳng. Trong câu đầu này rừng cây ấy lại nằm trong một không gian đặc biệt (xem C.T mạc mạc)
- mac mac 漠漠: chỉ không gian mênh mông, bát ngát nhưng lại xa mờ (không thấy rõ rừng cây)
- chức 織: dệt vải, dệt tơ lụa... Cũng trong câu 1 này, không gian bát ngát mờ xa còn điểm thêm những làn khói như đang thêu dệt tơ lụa mang một dáng vẻ đẹp đẽ gợi cảm...
- thương tâm bích 傷心碧: nỗi lòng thương đau gắn liền với màu xanh biếc (bích) của một dải rừng cây và bầu trời lạnh lẽo (hàn san nhất đới 寒山㇐帶). Không gian đã nối liền với cõi lòng con người đau xót!
- minh sắc 暝色: màu sắc của chiều tối.... Trong câu này, sắc chiều tối đã đi vào lầu cao hay là nỗi sầu từ cảnh vật đã đi vào lòng người.[Nguyễn Du trong ĐTTT có câu “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”( câu 1243,1244 ) cũng cùng một cách diễn đạt nỗi sầu với cảnh vật chung quanh...]
- hữu nhân 有人: có người, có kẻ, có ai đó... Lý Bạch không nói “ngã sầu 我愁 (ta sầu)” mà phiếm chỉ mơ hồ một con người nào đó hay một lữ khách xa quê nào đó trong nỗi nhớ nhà với buồn sầu ray rức! Cách dùng chữ của nhà thơ quả là tài tình!
- không 空: trống rỗng, uổng công, phí công, không có gì...
- trữ lập 佇立: đứng chờ đợi đã lâu, đứng trông ngóng rất lâu.... Trong câu 5 này cho chúng ta thấy hình ảnh kẻ đứng chờ mong vô vọng về một quê hương xa xôi mờ mịt...
- túc điểu 宿鳥: chim chóc đã đến lúc chiều tối quay về chỗ quen thuộc để nghỉ đêm hay trú đêm... Câu 6 này Lý Bạch đã so sánh loài chim còn có nơi, có tổ để trở về còn riêng mình vẫn bơ vơ nơi chốn lữ thứ...
- hà xứ thị quy trình 何處是歸程: chốn nào (hà xứ) là (thị) con đường để quay về (quy trình)? Lý Bạch đang đứng trước con đường vô định,phân vân trước cảnh vật và bơ vơ trên con đường lữ thứ xa quê... Chữ “quy” đã được Lý Bạch dùng đến hai lần ở câu 6 và 7 với nhiều dấu hỏi là “về đâu” “về chốn nào đây” cho thấy nỗi lênh đênh và tâm trạng sầu muộn của nhà thơ...
- trường đình cánh đoản đình 長亭更短亭: Đi qua (cánh) hết trạm nghỉ lớn bên đường (trường đình) lại thay đổi (cánh) trạm nhỏ (đoản đình)... Trong thơ cổ của Trung Hoa, “trường đình” hay “đoản đình” là những trạm nghỉ chân bên đường gắn liền với những cảnh chia tay ,tiễn đưa...Còn “đình” trong văn hóa người Việt lại là cái “đình làng” theo một nghĩa khác! Câu thứ 8 này gắn kết với câu thứ 7 phía trước đã cho thấy rõ mối sầu của Lý Bạch đang đứng trước con đường không định cùng tâm trang bơ vơ ở quê người. Mở rộng ra là thân
phận con người giữa cuộc đời và thiên nhiên vũ trụ bao la....

Dương Anh Sơn

(Lần đến: THƠ LÝ BẠCH – Bài 143, 144 và 145)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét