THƠ CỦA ĐỖ PHỦ - Bài 120, 121 VÀ 122
Thầy Dương Anh Sơn
THƠ CỦA ĐỖ PHỦ
Bài 120
TỴ THƯỢNG NHÂN MAO TRAI 巳 上人茅齋
Tỵ công mao ốc hạ, 巳公茅屋下,
Khả dĩ phú tân thi. 可以賦新詩。
Chẩm điệm nhập lâm tích, 枕簟入林僻,
Trà qua lưu khách trì. 茶瓜留客遲。
Giang liên dao bạch vũ, 江蓮搖白羽,
Thiên cức mạn thanh ti. 天棘蔓青絲。
Không thiểm Hứa Tuân bối, 空忝許詢輩,
Nan thù Chi Độn từ. 難酬支遁詞。
Dịch nghĩa:
Dưới mái nhà tranh của cụ ông Tỵ, - Có thể làm bài thơ mới.
– Cái gối và chiếc chiếu (như) nhập vào khu rừng vắng vẻ, - Trà và dưa sẽ giữ khách được lâu hơn! (c.1-4)
Sen trên dòng sông lay động đám lông trắng, - Bầu trời rộng, cây gai bò lan ra (như có) những sợi tơ xanh. – Chỉ kém so với hàng Hứa Tuân, - Khó đáp lại lời luận bàn (văn chương uyên bác) của Chi Độn. (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
MÁI NHÀ TRANH TU HÀNH
CỦA TỴ THƯỢNG NHÂN
Dưới nhà cụ Tỵ lợp tranh,
Bài thơ mới có thể thành được nao!
Rừng yên gối chiếu nhập vào,
Dưa trà giữ khách sẽ lâu hơn rày!
Dòng sông lông trắng sen lay,
Tơ xanh trời rộng đám gai giăng màn.
Hứa Tuân chỉ kém vào hàng,
Đáp lời Chi Độn khó bàn luận sao!
Chú thích:
- Tỵ thượng nhân 巳 上人: rất nhiều tư liệu thường ghi là KỶ THƯỢNG NHÂN 己上人 nhưng nhiều tư liệu lại ghi rõ là TỴ THƯỢNG NHÂN 巳 上人. Tỵ và Kỷ đều nằm trong ngôi thứ 6 cùa thập nhị chi (12 chi) thường đề gọi tuổi nhân vật thuộc can nào. Đây là vị “thượng nhân” thuộc can Tỵ chăng ? Thượng nhân 上人 là cách tôn xưng một người tu hành có phẩm hạnh, đạo hạnh và kiến thức về nhiều mặt như tôn giáo, văn chương, địa lý, lịch sử..v.v.. Trong bài này, nhân vật Tỵ thượng nhân cho đến nay chưa tìm thấy tên tuổi hay lai lịch trong bất cứ tư liệu nào. Danh từ “Thượng nhân” trong văn học Trung Hoa từ thời Nam Bắc triều trở đi thường để nói về các nhà sư dáng kính, có đạo hạnh và kiến thức rộng rãi. Nhưng hai danh xưng “Thượng nhân 上人” và “Hòa thượng 和尚” khác nhau vì hòa thượng là bậc cao tăng có địa vị và uy tín trong tăng đoàn. Cho nên, chúng ta tạm thời nghiêng về nghĩa bên trên. Rất tiếc nhà thơ Đỗ Phủ không nêu rõ danh tính của bậc thượng nhân này...
- mao trai 茅齋: mao: cỏ tranh thường dùng để lợp mái nhà; trai: nhà học hay nhà cho người tu hành, cũng chỉ việc ăn chay rau dưa đạm bạc... Mao trai là nhà nhỏ lợp mái tranh cho người tu hành thường của đạo Phật hay đạo Lão...
- công 公: cụ ông, cha chồng, tước công ngày xưa, của công, cân bằng...
- phú tân thi 賦新詩: làm bài thơ mới. Làm thơ thường gọi là “phú thi”.
- lâm tích 林僻: khu rừng nhỏ và vắng lặng
- dao 搖: lay động, rung lắc, dao động, xua vẫy...
- cức 棘: cây có gai sắc nhọn, chỉ sự nguy hiểm hay khó khăn,chức quan to (tam hòe, cửu cức 三槐九棘 , quan to là cức khanh 棘卿, dinh của quan là cức thự 棘署...)
- mạn 蔓: cỏ bò dưới đất, cỏ bò lan, lan rộng...
- không thiểm 空忝: luống thẹn, cảm thấy mình không xứng đáng, lời khiêm tốn...
- Hứa Tuân 許詢 và Chi Độn 支遁: hai nhân vật Hứa Tuân và Chi Độn đều là hai danh sĩ nổi tiếng thời Đông Tấn(東晉, 317–420) bên Trung Hoa. Họ là những người có liên hệ và ảnh hưởng đến văn chương, triết học, huyền học và tư tưởng đạo Phật đương thời.
+ Hứa Tuân 許詢: sống vào khoảng thế kỷ thứ 4 SCN thời Đông Tấn. Ông là một danh sĩ, một nhà thơ nổi tiếng và là một người có sở trường để bàn luận các vấn đề văn chương, triết học, đạo gia hay huyền học. Ông cũng được biết đến như là một người có phong thái thanh nhã, tư tưởng phóng khoáng, không ham danh lợi như những danh sĩ hay các cao tăng đương thời. Ông thường giao du với Chi Đạo Lâm tức sư Chi Độn để bàn luận nhiều vấn đề về văn chương, về đạo Phật hay huyền học...
+ Chi Độn 支遁: sống vào thời Đông Tấn (314-366) là bậc cao tăng có pháp danh Đạo Lâm 道林 vẫn thường gọi là Chi Độn. Nhà sư là người có kiến thức uyên bác về Phật học và cũng am hiểu sâu rộng về văn chương và huyền học. Sư là một nhà văn hóa rất có ảnh hưởng đáng kể trong giới văn nhân và trí thức bấy giờ...
Theo Tấn Thư và Thế Thuyết Tân Ngữ ghi chép, Hứa Tuân thường giao tiếp, đàm luận Phật pháp và huyền học với Chi Đôn. Trong giao tiếp hay đối thoại, ông thường xưng là đệ tử với Chi Độn, thể hiện sự kính trọng về đạo hạnh cũng như kiến thức hay tư tưởng của vị cao tăng này. Một cách nào đó, nhà thơ Đỗ Phủ gián tiếp sánh mình vào hàng của Hứa Tuân để có thể bàn luận văn chương, huyền học, Phật học... v.v... cùng với Tỵ thượng nhân cũng uyên bác không kém gì Chi Độn ngày trước của thời Đông Tấn.
- Hứa Tuân bối 許詢輩: những người thuộc hàng (bối) Hứa Tuân hay giới tinh hoa am hiểu rộng rãi về văn chương, triết học, đạo Phật, huyền học... v.v...
- nan thù 難酬: khó báo đáp, khó khăn để đáp trả....
- Chi Độn từ 支遁詞: lời bàn luận văn chương, triết học, huyền học, Phật pháp... v.v... rấtuyên bác của sư Chi Độn (nguồn; Wikiwand.Vn và thuvien.net)
Bài 121
KÝ ĐỖ VỊ (Kỳ nhất) 寄杜位 (其–)
Hàn nhật kinh thiềm đoản, 寒日經檐短,
Cùng viên thất mộc bi. 窮猿失木悲。
Hiệp trung vi khách hận, 峽中為客久,
Giang thượng ức quân thì. 江上憶君時。
Thiên địa thân hà tại. 天地身何在,
Phong trần bệnh cảm từ. 風塵病敢辭。
Phong thư lưỡng hàng lệ, 封書兩行淚,
Triêm sái ấp tân thi. 沾灑裛新詩。
Dịch nghĩa:
Mặt trời mùa lạnh (ánh nắng) ít ỏi lướt qua mái hiên, - Con vượn khốn cùng mất chỗ (trú thân) trên cây (kêu lên) đau buồn. – Giữa vùng Tam Hiệp, làm khách lâu dài, - Trên sông, bây giờ là lúc nhớ bạn. (c.1-4)
Tấm thân giữa trời đất (biết nương dựa) ở nơi nào?! – Trong cơn gió bụi, bị bệnh tật dám đâu từ bỏ! – Đóng tờ thư lại, hai hàng lệ tuôn trào, - Vẩy thấm ướt cả bài thơ mới làm. (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
GỬI ĐỖ VỊ (Bài 1)
Ánh trời kém, lạnh qua hiên,
Khốn cùng cây mất, vượn rên thảm sầu.
Khách vùng Tam Hiệp đã lâu,
Trên sông là lúc nao nao nhớ người.
Chốn nào, thân ở đất trời?!
Trải cơn gió bụi dám rời, bệnh đau!
Xếp thư, dòng lệ tuôn trào,
Bài thơ mới cũng vấy vào ướt nhem.
Chú thích:
Nhà thơ Đỗ Phủ 杜甫 có hai bài thơ cùng một đề tài mang nhan đề KÝ ĐỖ VỊ làm ra ở hai thời điểm khác nhau. Bài thứ nhất là bài này theo luật ngũ ngôn bát cú.
Còn bài sau bên dưới theo luật thất ngôn bát cú. Nhân vật Đỗ Vị 杜位 là em họ của Đỗ Phủ cũng là người thân thiết và là chỗ bạn bè đã cùng Đỗ Phủ làm việc trong phủ của cố Thượng thư Nghiêm 故嚴尚書 nên là đồng sự và có mối quen biết thân tình (Đỗ Phủ đã ghi chú: 頃者與位同在故嚴尚書幕 Khuynh giả dữ vị đồng cố Thượng thư Nghiêm mạc). Sau biến động An Lộc Sơn, gia đình ông phải phiêu bạt nhiều nơi, sống nhờ ở đậu ở nhựng chỗ quen biết trên đường chạy loạn. Xa quê nhà, ông gởi gắm nỗi nhớ đến người bạn đồng sự cũ là Đỗ Vị với tình cảm xúc động dâng trào....
- Câu 1: Hàn nhật kinh thiềm đoản 寒日經檐短: Mặt trời lạnh lẽo với ánh nắng ít ỏi (đoản) lướt qua mái hiên nhà. Đó là hình ảnh buồn bã đầu tiên của bài thơ về một khung cảnh thiên nhiên lạnh giá cùng với những tia nắng yếu ớt đi qua ngắn ngủi và chóng vánh trong ngày.
+ kinh : lướt qua, trải qua, vượt qua, kinh sách, chịu đựng, chí vạch địa giới...
+ thiềm: mái tranh, mái lá, mái nhà, mái hiên, vành nón...
- Câu 2: Cùng viên thất mộc bi 窮猿失木悲: con vượn trong cảnh khốn cùng vì cây cối bị mất đi kêu tiếng thương đau buồn bã... Cái hay của thơ ngũ ngôn không dài dòng nhưng cô đọng. Chỉ một chữ “bi” cuối câu khiến người đọc hình dung ra là nó phải đi đôi với tiếng kêu, tiếng hú của con vượn! Chỉ có tiếng hú của nó mới giúp người nghe thấy được hơi hướng của sự sầu thương.... Cũng vậy, chúng ta cũng hình dung thêm về hoàn cảnh của Đỗ Phủ cũng “thất mộc”, cũng mất đi nhà cửa ở quê nhà phải đem gia đình phiêu bạt ở đậu nhà người quen chốn tha hương với biết bao nỗi khó khăn và tình cảm cũng sầu bi đồng cảm với con vượn kia!
- Câu 3: Hiệp trung vi khách cửu 峽中為客久: Vùng Tam Hiệp phải làm người khách ở lâu ngày. ( Có bản ghi là : Giáp trung vi khách hận 峽中為客恨: Vùng Ba giáp phải làm khách oán hận.) Con người của Đỗ Phủ có thể giận thời thế nhưng việc chờ đợi hay ở nhờ lâu ngày một nơi là chuyện bình thường trong thời ly loạn. Thư gửi Đỗ Vị tả hoàn cảnh phải ở lâu nơi này, hơn là nói về nỗi oán hận.
+ hiệp (giáp, hạp) 峽: hiệp hay giáp và hạp đều là những từ dùng để nói về eo núi nhô ra ở vùng Tam Hiệp 三峽( còn có tên gọi là Tam Giáp, Tam Hạp hay eo Tam Môn 三門峽). Eo núi (hiêp) này nhô ra dòng Hoàng Hà bên Trung Hoa là nơi kết hợp của ba dòng sông tại đây. Đây là vùng sông núi hòa nhau có tiếng bên Trung Hoa
- Câu 4: Giang thượng ức quân thì 江上憶君時: Trên dòng sông là lúc nhớ đến bạn...
- Câu 5: Thiên địa thân hà tại 天地身何在 : Tấm thân ở chốn nào trong trong cuộc đời ? Nếu câu 2 nhà thơ đã mô tả hình ảnh con vượn không còn chỗ trú thân trên cây, ở câu này nhà thơ lại nhấn mạnh tình cảnh bơ vơ không nơi lưu trú ổn định trong thời gian phiêu bạt và rồi sẽ kéo dài mãi cho đến khi chấm dứt cuộc đời của nhà thơ Đỗ Phủ từ cơn đao binh loạn lạc...
- Câu 6: Phong trần bệnh cảm từ 風塵病敢辭 : Chốn gió bụi lại bị bệnh đau nên đâu dám rời bỏ. Nhà thơ buộc lòng phải bám vào chỗ ở tạm mới trên con đường phiêu bạt vùng Tam Hiệp một phần do đau yếu đâu dám rời đi...
+ phong trần: gió và bụi bặm dùng chỉ cuộc đời phải chịu phiêu bạt , rày đây mai đó không ổn định...
+ cảm: can đảm, sao dám, dám đâu...
+ từ: rời bỏ, chia tay, từ biệt, từ chối, giã từ...
- Câu 7: Phong thư lưỡng hàng lệ 封書兩行淚: Đóng tờ thư lại, hai hàng lệ chảy ròng...
- + phong thư : thư viết xong sẽ gấp lại và đóng dấu niêm phong để gởi đi.
- Câu 8: Triêm sái ấp tân thi 沾灑裛新詩: Thấm đẫm và vẩy ướt cả bài thơ mới làm.Tình cảnh tha hương phải sống nhờ người khác lại đau ốm khiến nhà thơ dâng trào cảm xúc và nước mắt khi viết thư cho bạn và cả khi đang làm bài thơ mới.
+ triêm sái : nước mắt ướt đẫm hắt nước ra...
+ ấp : thấm ướt, áo may dày, buộc, thắt lại...
Cuộc đời gian khó của nhà thơ tài hoa được thiên hạ sau này tôn xưng là thi thánh, qua bài thơ này cho thấy một phần nào những khó khăn trên con đường phiêu bạt do loạn ly gây ra. Về nghệ thuật, với lối thơ theo luật ngũ ngôn bát cú, câu thơ sẽ ngắn gọn và súc tích đòi hỏi người xem sự cảm nhận và phân tích sâu hơn để thấy rõ nội dung cốt yếu.
Bài 122
KÝ ĐỖ VỊ (Kỳ nhị) 寄杜位 (其 二)
Cận văn khoan pháp ly Tân Châu, 近聞寬法離新州,
Tưởng kiến hoài quy thượng bách ưu. 想見懷歸尚百憂。
Trục khách tuy giai vạn lý khứ, 逐客雖皆萬里去,
Bi quân dĩ thị thập niên lưu. 悲君已是十年流。
Can qua huống phục trần tùy nhãn, 干戈況復塵隨眼 ,
Mấn phát hoàn ưng tuyết mãn đầu. 鬢髮還應雪滿頭。
Ngọc Lũy đề thư tâm tự loạn, 玉壘題書心緒亂,
Hà thời cánh đắc Khúc Giang du? 何時更得曲江遊。
(Thành Đô, 761)
Dịch nghĩa:
Gần đây nghe tin (Đỗ Vị) được giảm án rời khỏi (nơi lưu đày) Tân Châu, - Tưởng như thấy được trở về nhưng vẫn còn trăm nỗi lo âu. - Làm khách bị đày, đi khắp vạn dặm, - Cảm thương cho bạn đã phải mười năm lưu chuyển đi đày (c.1-4)
Buổi đao binh tình hình vẫn lập lại, bụi bặm cuốn theo tầm mắt, - Mái tóc đã bạc phơ (như tuyết) đầy khắp mái đầu. - Vùng Ngọc Lũy viết thư, lòng rối bời, - Biết lúc nào lại được đi đến Khúc Giang?! (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
GỬI ĐỖ VỊ (Bài 2)
Nghe dời, án giảm Tân Châu,
Nghĩ trông về lại, lo âu trăm phần!
Khách đày muôn dặm khắp vùng,
Mười năm đày chuyển cảm thương cho người!
Đao binh mắt bụi mãi thôi!
Tuyết pha mái tóc, bạc phơi mái đầu.
Viết thư Ngọc Lũy rối nhào,
Khúc Giang đi đến lúc nào được đây?!
Chú thích:
Bài thứ hai cùng nhan đề gửi cho người em họ hàng là Đỗ Vị được Đỗ Phủ làm theo luật thất ngôn bát cú. Với lối thơ bảy chữ, việc chuyển tải nội dung bài thơ được trình bày rông hơn. Nhân vật Đỗ Vị là con rể của Lý Lâm Phủ 李林甫, một quyền thần đương thời của nhà Đường. Khi Lý Lâm Phủ bị kết tội, vì có quan hệ với nhà họ Lý nên Đỗ Vị cũng bị án đi lưu đày nhiều nơi trong đó có vùng Tân Châu 新州 (nay thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa). Nghe tin sau mười năm Đỗ Vị được giảm án và rời khỏi nơi lưu đày ở Tân Châu, nhà thơ Đỗ Phủ trong tâm trạng rối bời đã viết bức thư này từ vùng Ngọc Lũy nơi ông đang phiêu dạt để mong có ngày gặp lại người em họ cũng là người bạn thân ở Khúc Giang....
- cận văn 近聞: gần đây nghe nói rằng...
- khoan pháp 寬法: án phạt tội được xét giảm và được rời khỏi nơi lưu đày trở về...
- ly 離: chia tay, ly biệt, chia ly, rời đi, dời bỏ...
- tưởng kiến 想見: nghĩ như, tưởng như trông thấy...
- hoài quy 懷歸: quay trở về...
- thượng bách ưu 尚百憂: vẫn còn (thượng) trăm mối lo âu...
- trục khách 逐客: khách bị phóng trục hay là khách phải chịu đi đày đi xa quê hương...
- lưu 流: dòng nước chảy, trôi chảy, di chuyển, chuyển đi dày từ chỗ này đến giam chỗ khác (phóng trục 放逐, phóng lưu 放流: đày đi phương xa...)
- huống phục 況復: lại càng, càng thêm trở lại, huống chi còn xảy ra ,còn tiếp diễn. Chỉ việc đao binh thời Đỗ Phủ do loạn An Lộc Sơn đời Đường Huyền tông, Trung Hoa gây nên cứ mãi xảy ra chưa dứt...
- mấn phát 鬢髮: tóc mai, tóc hai bên mái đầu, mái tóc...
- Ngọc Lũy 玉壘: núi Ngọc Lũy ở vùng Thành Đô, Trung Hoa là nơi nhà thơ Đỗ Phủ viết thư gửi cho Đỗ Vị...
- tâm tự loạn 心緒亂: lòng ngỗn ngang nhiều mối (tự) rối bời, tâm hồn rối loạn, nỗi lòng rối rắm do nhiều suy nghĩ đan chen...
- cánh đắc: được theo nhau....
- Khúc Giang du 曲江遊: đi đến (du) vùng Khúc Giang. Khúc Giang : thắng cảnh nổi tiếng gần nhà của Đỗ Vị ở Trường An là kinh đô nhà Đường... Đỗ Phủ bày tỏ mong muốn có một dịp nào đó sẽ cùng gặp gỡ với nhau ở Khúc Giang sau bao năm tháng cách biệt vì loạn ly do biến cố An Lộc Sơn và những án đày do bị liên lụy của Đỗ Vị.
Hai bài thơ tuy khác nhau về hoàn cảnh sáng tác nhưng đều thể hiện một nhân cách rất đẹp của Đỗ Phủ: nhà thơ có tấm lòng rất cảm thương bạn hữu trong hoàn cảnh bị đi đày.
Ông đã chia sẻ nỗi đau của người khác và không quên họ trong tâm tưởng trong những năm tháng họ bị gian truân. Bản thân nhà thơ không phải chịu làm “trục khách” hay kẻ bị “phóng trục” do mang tội của triều đình nhưng ông cũng phải chịu rày đây mai đó do can qua - theo một cách nào đó - cũng đầy gian khổ không khác chi đi đày từ nhà người quen này hay chỗ thân tình khác mãi đến cuối đời trên một con thuyền phiêu dạt trên sông...
Dương Anh Sơn
Saigon, 2005
(Lần đến : THƠ CỦA ĐỖ PHỦ- Bài 123, 124 và 125)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét