THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA - BÀI 66, 67 VÀ 68
Thầy Dương Annh Sơn
THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA
Bài 66
HOA ẢNH 花影
Trùng trùng điệp điệp thướng dao đài, 重重疊疊上瑤臺,
Kỷ độ hô đồng tảo bất khai. 幾度呼童掃不開。
Cương bị thái dương thu thập khứ, 剛被太陽收拾去,
Khước giao minh nguyệt tống tương lai. 卻教明月送將來。
Dịch nghĩa:
Lớp lớp chồng chất trên đài ngọc, - Mấy lần gọi trẻ quét dọn nhưng không bỏ đi được! – Lại vừa bị mặt trời gom nhặt đi! – Nào đâu vầng trăng sáng khiến đưa lại.
Tạm chuyển lục bát:
BÓNG HOA.
Tầng tầng đài ngọc chập chùng,
Mấy lần gọi trẻ quét không được gì!
Mặt trời vừa lại gom đi,
Nào đâu trăng sáng lại đưa về rồi!
Chú thích:
Bài thơ “Hoa ảnh” được Tô Đông Pha sáng tác ở thời kỳ trung niên khi ông đang làm việc trong triều với nhiều biến động chính trị giữa phe bảo thủ đứng đầu là Tư Mã Quang, Âu Dương Tu và phe cải cách “biến pháp 變法”(thay đổi pháp luật) hay “tân pháp 新法” (pháp luật mới) của tể tướng Vương An Thạch. Tô Đông Pha là nhà thơ rất am tường sâu sắc những tư tưởng của đạo Phật, ông chú trọng học hỏi tinh thần Thiền tông mang dấu ấn của tư tưởng Bát Nhã. Cho nên, tuy bài thơ mang nhan đề là “Hoa ảnh” nhưng nội dung bài thơ lại rất đặc sắc.
Nhà thơ không hề đề cập đến “hoa” cũng như “ảnh” (cái bóng) của nó nhưng người đọc sẽ phải tinh ý để hiểu nhà thơ đang muốn nói đến mối tương quan qua lại giữa hoa và bóng hay giữa vầng trăng và mặt trời, sự vần xoay của ngày và đêm, của thời gian và không gian, giữa hư và thực, giữa có và không và ngược lại. Đó là tinh thần của “Bát Nhã Tâm kinh” của Thiền tông:
“Sắc tức thị không, không tức thị sắc 色即是空,空即是色. Và rộng ra bài thơ đã cho thấy tính chất Vô Thường, huyễn hóa của cuộc đời mà đức Phật ngàn xưa đã giác ngộ trao lại cho đời sau....
- Trùng trùng điệp điệp thướng dao đài 重重疊疊上瑤臺: bài luật thi tứ tuyệt trong câu đầu tiên không nói đến bông hoa nhưng không nói vẫn có thể nghiệm ra nhà thơ đang miêu tả bóng của nhiều loài hoa chập chùng nhiều tầng, nhiều lớp đang nằm quanh chiếc đài ngọc. Đồng thời nhà thơ cũng không hề nói đâu là nguyên do tạo nên những cái bóng chập chùng của loài hoa kia! Câu trả lời của nhà thơ để dành trong câu 4 khi nói đến vầng trăng là nguyên khởi của bóng hoa...
- Kỷ độ hô đồng tảo bất khai 幾度呼童掃不開: bao lần gọi bọn trẻ quét dọn nhưng không quét bỏ đi được, bóng hoa vẫn nhảy múa chập chùng trên sân hay nơi đài ngọc. Chú tiểu đồng có thể quét hoa tàn rụng xuống sân nhưng làm sao quét bóng hoa đi được?!
- Cương bị thái dương thu thập khứ 剛被太陽收拾去: lại vừa mới bị mặt trời gom nhặt mang đi. Nếu ban đêm khi có trăng sáng sẽ soi trên hoa để tạo ra cái bóng hoa “trùng trùng điệp điệp”, khi mặt trời với ánh dương ló dạng sẽ làm cho bóng hoa biến mất. Tô Đông Pha đã thi vị hóa khi dùng chữ “thu thập khứ” – gom nhặt mang đi - chứ không hề biến mất đi khi trời bắt đầu ban ngày! “Thái dương” đã được nhân hóa để làm công việc thu nhặt đó! Chữ “cương bị” (vừa mới bị) là chữ dùng rất đặc sắc của Tô Thức khi ông miêu tả sự chuyển vần, giao thoa giữa ban đêm và khi bắt đầu ngày mới. Đồng thời, qua đó, là cái hay trong cách dùng chữ để diễn đạt một cách nào đó về lẽ VÔ THƯỜNG của vạn vật và chúng sinh!
- Khước giao minh nguyêt tống tương lai 卻教明月送將來: khước: nào đâu, sao lại, lui về...Sao lại khiến (giao) vầng trăng sáng đưa (tống: đưa tiễn, đưa đi, đưa đến...) về lại (tương lai).[ Chữ “tương lai” theo cách cổ xưa có nghĩa “mang về lại, đưa đến, đưa trở lại...”. Về sau này có thêm nghĩa là mai sau, sắp đến, sẽ đến]... Cái hay trong hai câu cuối này ở chỗ: bóng hoa bị mặt trời thu nhặt đem đi lúc ánh dương ló dạng, bước vào đêm trăng sáng “lại được ánh trăng đưa về lại “. Một lần nữa, “minh nguyệt” hay vầng trăng sáng cũng được nhân cách hóa để mang bóng hoa trở lại soi bóng chập chùng trong sân có chiếc đài ngọc...Nếu câu 3 kết thúc là “khứ 去”, câu 4 lại là “lai 來” tạo nên sự đối xứng rất cân đối và làm cho nội dung bài thơ nổi bật...
Cách chọn chữ của Tô Đông Pha rất đặc sắc gây ấn tượng khi đọc thơ của ông.
Cả bốn câu tứ tuyệt được nhan đề “Hoa ảnh” soi rọi nên chúng ta không thấy một chữ nào trong 4 câu thơ bên dưới đề cập đến “hoa” nhưng vẫn hình dung được bóng hoa đang chiếu xuống đài ngọc, tiểu đồng được gọi đi quét hoa rơi nhưng mấy lần đều chẳng được. Nhà thơ không tả “hoa” mà chỉ tả “bóng hoa”. Rồi bóng hoa bị mặt trời ban ngày lấy đi nhưng vầng trăng sáng ban đêm lại mang trở lại. Cách miêu tả hư hư, thực thực, có có nhưng lại không không chập chùng ... Từ đó, chúng ta mới thấy rõ cách làm thơ của môt người hiểu sâu sắc đạo Phật theo tinh thần Thiền tông và chất chứa tư tưởng Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh như ĐÔNG PHA CƯ SĨ 東坡居士 người đã được nhiều thiền sư xác tín là từng tham ngộ về lẽ đạo.....
Bài 67
THỰC LỆ CHI 食荔枝
La Phù sơn hạ tứ thì xuân, 羅浮山下四時春,
Lô quất dương mai thứ đệ tân. 蘆橘楊梅次第新。
Nhật đạm lệ chi tam bách khoả, 日啖荔枝三百顆,
Bất từ trường tác Lĩnh Nam nhân. 不辭長作嶺南人。
Dịch nghĩa:
Dưới chân núi La Phù, bốn mùa là mùa xuân! – Lô quất, dương mai lần lượt tươi mới. – Mỗi ngày ăn ba trăm trái vải! - Chẳng từ chối làm người dân Lĩnh Nam lâu dài.
Tạm chuyển lục bát:
ĂN TRÁI VẢI.
Dưới La Phù bốn mùa xuân,
Mới tươi lô quất kế lần dương mai.
Ăn ba trăm trái mỗi ngày!
Làm người đất Lĩnh lâu dài ngại đâu!
Chú thích:
Cuộc đời làm quan của Tô Thức hay nhà thơ Tô Đông Pha đời Tống bên Trung Hoa đã gặp nhiều trở ngại khi ông và em là Tô Triệt tham gia trong phái của Âu Dương Tu, Tư Mã Quang chống lại phe cải cách hay còn gọi là phe “tân pháp 新法” hay “biến pháp 變法” của Vương An Thạch . Vì thế, ông và nhiều người đã bị phe cải cách tìm cách gián chức và bị biếm trích đi vùng xa xôi. Ông đã đi nhiều chỗ và lần này từ phía bắc ông bị đổi xuống vùng Lĩnh Nam 嶺南. Đây là vùng đất ở phía nam các dãy núi chủ yếu là Ngũ Lĩnh 五嶺 bao gồm Quảng Đông 廣東, Quảng Tây 廣西 và phần lớn bán đảo Hải Nam 海南 cùng các vùng phụ cận ở phía nam Hồ Nam, Giang Tây và Phúc Kiến. Trong không gian văn hóa và địa lý, các vùng như Quảng Châu, Thiều Quan, Quế Lâm, Ngô Châu hay Nam Ninh của Trung Hoa...v.v... cũng được xếp chung vào Lĩnh Nam. Đồng thời, với không gian văn hóa và địa lý như thế, Lĩnh Nam được xem là nơi xa xôi, khí hậu khắc nghiệt,nhiều chướng khí thường gắn liền với hình ảnh của những người bị biếm trích, bị lưu đày như Hàn Dũ 韓愈(768-824) [làm quan đời Đường Hiến tông (806-820)] hay Tô Đông Pha 蘇東坡 [làm quan triều Nhân tông rồi Thần Tông nhà Tống]. Hàn Dũ từng bị biếm trích đến Triều Châu 朝州 ở Quảng Đông; Tô Đông Pha từng bị đày đi nhiều nơi trong đó có Huệ Châu 惠州, Đam Châu 儋州, Hải Nam 海南...v.v... mang theo nỗi nhớ của kẻ xa xứ về
quê hương phía bắc! Cho nên, cuộc đời của Tô Đông Pha đã trải qua nhiều nơi và trong bài này, ông đã thể hiện sự gắn bó lâu dài với vùng đất Lĩnh Nam với nhiều địa phương khác nhau...
- La Phù sơn hạ tứ thì xuân 羅浮山下四時春: Dưới chân núi La Phù bốn mùa đếu là mùa xuân. La Phù ở vùng Quảng Đông nổi tiếng có nhiều sản vật đặc sắc và nhiều cảnh đẹp. Núi La Phù được xem là “đệ nhất Ngũ Lĩnh”. Họ Tô ngay câu thơ đầu đã nêu lên cảm nhận của mình: đây là vùng đất có bốn mùa là mùa xuân! Khi ca ngợi vùng đất có bốn mùa xuân như thế, Tô Đông Pha đã nhận ra đây là một vùng có khí hậu thoáng mát dễ chịu như mùa xuân. Đồng thời, đó là một vùng đất trù phú nhiều cây trái ngon tươi tốt...v.v...
Ông mở đầu bài thơ với hình ảnh như thế đã phả vào tâm hồn của mình như một sự cảm nhận về địa danh để bước sang việc dùng sản vật nổi tiếng của địa phương để diễn ý...
- Lô quất dương mai thứ đệ tân 蘆橘楊梅次第新: Trái cây “lô quất” rồi “dương mai” [xem phụ chú bên dưới] lần lượt (thứ đệ: thứ bậc trên dưới, thứ bậc kế tiếp...) đến lúc chín và tươi mới theo thứ tự vụ mùa. Trong bài thơ này, ông không dành ngọn bút để ca ngợi hay bàn về cảnh vật thiên nhiên! Ông dùng vụ mùa cây trái rất đời thường để tìm thấy niềm vui sống ở vùng đất mình bị lưu đày! Nhà thơ không phải lúc nào cũng dùng phong cảnh thiên nhiên rộng lớn để chuyên chở ý tưởng. Ông chỉ dùng những loại trái cây gần gũi và là đặc sản địa phương là trái vải (lệ chi) để biểu cảm tâm tư của mình.
- Nhật đạm lệ chi tam bách khoả 日啖荔枝三百顆 : Mỗi ngày ăn ba trăm trái vải! Quả thật, trái vải ăn vào rất ngọt ngào và hấp dẫn nên Tô Đông Pha hơi phóng đại là ăn mỗi ngày hết ba trăm trái! Chính sự phóng đại hóm hỉnh và trào phúng ấy cho thấy ông rất an vui trong tâm hồn mặc dù đang chịu cảnh biếm trích chốn xa xôi. Ông tìm thấy niềm vui thật sự nơi bị lưu đày chứ không than thân trách phận!
- Bất từ trường tác Lĩnh Nam nhân 不辭長作嶺南人: Không ngại, không từ chối (bất từ) làm (tác) người Lĩnh Nam lâu dài! Ông hòa mình với vùng đất mới, cười đùa trước nghịch cảnh với việc ăn trái “lệ chi” mỗi ngày. Giờ đây Lĩnh Nam không còn là một nơi bị lưu đày. Lĩnh Nam đã là nơi có thể sống lâu dài bằng tâm hồn khoáng đạt và nụ cười vui vẻ trước việc thưởng thức “ba trăm trái vải”! Đó là thái độ “tùy ngộ nhi an”, tùy vào hoàn cảnh tiếp xúc để luôn giữ tâm hồn an lạc của một con người được người đời vẫn gọi là “cư sĩ Đông Pha” (Đông Pha Cư sĩ 東坡居士)!. Và đã là một “cư sĩ”, ông luôn giữ được chân tính ở bất cứ hoàn cảnh nào! Mặt khác, nhà thơ khi viết “trường tác” cho thấy tư thế sẵn sàng hòa mình sống và làm người dân vùng Lĩnh Nam (Lĩnh Nam Nhân) lâu dài (trường) và có thể mãi mãi. Phải chăng đó là một nghệ thuật sống của một người từng am tường về lẽ đạo? Ngoài ra, nếu bài thơ mở đầu bằng mùa xuân với chữ XUÂN (cuối câu) của thiên nhiên, của sự giao mùa của trời đất và vũ trụ, câu cuối bài thơ lại kết thúc bằng chữ NHÂN đã cho thấy sự tinh tế của nhà thơ luôn gắn liền thiên nhiên và con người. Tách rời thiên nhiên ra khỏi con người thì cuộc sống sẽ trở nên trống trải vì đó là chỗ dựa to lớn của con người....
Phụ chú:
- Lô quất 蘆橘: còn gọi là cây hay trái của cây “tì bà 枇杷”, với tên khoa học là Eriobotrya japonica. Tiếng Anh dịch giữ nguyên âm là “loquat” âm theo tiếng Quảng Đông,Trung Hoa. Chữ Lô quất là tên cổ xưa của cây tì bà 枇杷 (Eriobotrya japonica). Còn chữ để chỉ cây đàn “tỳ bà”琵琶 “ dùng trong âm nhạc lại khác! Do hình dạng trái lô quất hình hơi bầu giống như cây đàn tỳ bà nên gọi như thế nhưng viết chữ Hán lại khác! Nếu tách ra chỉ dịch chữ “quất 橘” (trái quýt – citrus ) sẽ không tả chính xác trái lô quất hay tì bà. Trái tì bà khi chín có màu vàng nghệ là đặc sản của vùng Lĩnh Nam. (nguồn: Wikipedia)
- Dương mai 楊梅: nếu chỉ dịch “mai 梅” sẽ chỉ nói đến trái mơ, trái mai (Prunus mume). Dương mai là cây và trái có tên khoa học là Myrica rubra thuộc họ dương mai (Myricaceae). Cây có vân gỗ màu xanh, trái chín màu đỏ sẩm hay đỏ tím mọng nước có vị chua ngọt. Người Trung Hoa thời nay quen gọi là bayberry, khác nhiều với quả mơ xanh.(nguồn: Wikipedia)
- Lệ chi 荔枝: nước ta phía bắc cũng có trồng nhiều cây cho trái ngọt gọi là vải.
Tên La tinh là (chinensis)
Bài 68
KIỀN CHÂU BÁT CẢNH ĐỒ 虔州八境圖
(BÁT THỦ - Kỳ lục) (八首 其六)
Khước tòng trần ngoại vọng trần trung, 卻從塵外望塵中,
Vô hạn lâu đài yên vũ mông. 無限樓臺煙雨蒙。
Sơn thuỷ chiếu nhân mê hướng bối, 山水照人迷向背,
Chỉ bằng cô tháp nhận tây đông. 只憑孤塔認西東。
Dịch nghĩa:
Lại từ bên ngoài cõi bụi bặm nhìn vào trong cõi bụi bặm! – Không biết bao nhiêu lâu đài (chìm khuất giữa) khói mưa mịt mù. – Núi sông chiếu soi con người (khiến họ) mơ hồ, mê muội phương hướng sau trước! – Chỉ nhờ vào tòa tháp lẻ loi để (giúp họ) nhận ra hướng tây hay hướng đông!
Tạm chuyển lục bát:
TÁM BỨC TRANH VẼ KIỀN CHÂU.
Cõi ngoài nhìn cõi bụi trong,
Lầu đài vô số mưa giăng khói mờ.
Núi sông soi hướng người mê,
Tây đông giúp nhận ra nhờ tháp đơn.
Chú thích:
Bài thơ này là bài thứ 6 trong chùm thơ Kiền Châu bát cảnh đồ 虔州八境圖 (tám bức tranh vẽ phong cảnh đẹp ở Kiền Châu) của Tô Đông Pha dựa vào bộ tranh gồm 8 bức do Khổng Tông Hàn (cháu chắt của Khổng Tử) làm Thái thú Kiền Châu thực hiện. Kiền Châu là địa danh thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Hoa. Thời nhà Tống có tên là Kiền Châu. Đến thời Nam Tống (1153), triều đình đổi tên thành Cám Châu 赣州 ghép từ hai dòng sông Chương Giang 章江 và Cống Giang 贡江 hợp lưu tại đây.
- Khước tòng trần ngoại vọng trần trung 卻從塵外望塵中: Lại từ bên ngoài cõi trần tục để nhìn vào bên trong cõi trần tục ! Cõi trần, cõi bụi, cõi tục hay trần gian...v.v... là chốn đua tranh của những con người chưa thoát tục vẫn bị trói buộc vào với cuộc sống trần ai nhiều khổ lụy! Tô Đông Pha vẫn là con người thế tục nhưng ít nhiều ông đã không còn vướng mắc vào vòng tục lụy của người đời. Ông cũng không phải là một Thiền sư thoát tục, đứng ngoài cuộc đời nhưng với tư thế là một người “cư sĩ” có nhiều học hỏi và tu chứng về lẽ đạo nên vẫn sống trong cuộc đời để nhìn về cuộc đời đang xoay vần bụi bặm. Đó là sự thấu rõ hay giác ngộ về cuộc đời ở một cấp độ nào đó! Vị thế “trần ngoại” không phải là vượt thoát hay là “đại giác” mà là một tâm thức đã thức tỉnh và vượt lên trên để tỉnh táo nhìn về cõi tục hay cõi bụi thế gian!
- Vô hạn lâu đài yên vũ mông 無限樓臺煙雨蒙: Vô số lầu đài chìm khuất mịt mờ (mông) trong khói và mưa (yên vũ) giăng khắp! Một cách nào đó, Tô Đông Pha chỉ mô tả những gì ông thấy từ bức họa rõ nét nhất là không biết bao nhiêu (vô hạn) lầu đài của sự giàu sang phú quý (chứ không có hình ảnh của nhà dân)! Và lầu hay đài ấy bị che khuất, bị bao trùm (mông) bởi khói tỏa và mưa giăng trở mịt mờ (mông) hết tất cả.... Mọi sự đều là không (vạn sự giai không) vì bị chìm lấp mờ mịt giữa khói mưa! Đó là ảo mộng hay là hư không mà thôi!
- Sơn thuỷ chiếu nhân mê hướng bối 山水照人迷向背: Núi sông soi chiếu con người khiến họ bị mê muội phương hướng! Đông Pha không nói con người nhìn núi sông! Ông nói “núi sông” đang nhìn, đang soi (chiếu) con người. Hay nói khác hơn cảnh vật thiên nhiên đang phản chiếu vào tâm hồn con người làm cho họ phải mê muội, mơ hồ về phương hướng. Đâu là hướng đi đúng trước hay sau (hướng bối) không phải chỉ của địa lý mà là của tâm hồn và cuộc đời của họ! Đó là câu hỏi lớn lao cho một đời người....
- Chỉ bằng cô tháp nhận tây đông 只憑孤塔認西東: chỉ cần nhờ hay dựa vào tòa tháp đơn độc, lẻ loi mới nhận ra (nhận) được hướng tây hay hướng đông.
Giữa làn khói mờ mịt hay mưa giăng tối tăm để nhận ra phương hướng phải dựa vào tòa tháp cao sừng sửng. Và trong cuộc sống, những lúc lạc đường lạc nẻo, tâm hồn bất an cũng phải có cái tháp đơn độc trong tâm của chính mình như một điểm sáng dẫn đường chỉ lối. Đó là bản tâm vững vàng, thần trí sáng suốt để soi dường chỉ nẻo....
Cho nên, đọc thơ của Đông Pha cư sĩ không đơn giản là việc thưởng ngoạn cảnh sắc hay sự thay đổi của thiên nhiên vạn vật. Thơ của Tô Đông Pha luôn chứa đựng những suy tưởng hay những trải nghiệm của tâm thức trước các sự việc trong cõi trần gian này. Nhà thơ từng đặt vấn đề thế gian qui lại chỉ là một, đời người cũng chỉ là một cho từng thân phận con người. Cớ sao phải phân chia làm tám cảnh (bát cảnh đồ) của giấc mộng Nam Khang!
Như Lý Bạch 李白 từng viết: ” Xử thế nhược đại mộng, Hồ vi lao kỳ sinh 處世若大夢,胡為勞其生。(Xuân nhật túy khởi ngôn chí (春日醉起言志) ” (Đời là một giấc mộng lớn, Sao phải sống vất vả làm gì cuộc đời mình !). Thế giới quan của Tô Đông Pha khác hơn với Lý Bạch- một người thấm sâu tư tưởng Lão Trang. Tô Thức đã chỉ rõ cho chúng ta phải biết nương dựa vào “cô tháp”,dựa vào trải nghiệm bản thân cùng với sự thấu ngộ của tư tưởng Thiền tông để vững bước trên con đường bị biếm trích......
Dương Anh Sơn
(Lần đến: THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA – Bài: 69, 70 và 71)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét