ỨC TRAI THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI - BÀI 10, 11 VÀ 12
Thầy Dương Anh Sơn
ỨC TRAI THI TẬP CỦA NGUYỄNTRÃI
THỜI KỲ LƯU LẠC KHI GIẶC MINH XÂM LƯỢC
(Khoảng 1407 – 1417)
Bài 10
HỌA TÂN TRAI VẬN 和 新 齋 韻
Phong lưu quận thú văn chương bá, 風流郡守文章伯,
Kiều mộc năng linh ngã cố gia. 喬木能忴我故家o
Tín mỹ giang sơn thi dị tựu, 信美江山詩易就,
Vô tình tuế nguyệt nhãn tương hoa. 無情歲月眼將花o
Can qua thập tải thân bằng thiểu, 干戈十載親朋少,
Vũ trụ thiên niên biến cố đa. 宇宙千年變故多o
Khách xá hương trần xuân trú vĩnh, 客舍香塵春晝永,
Đằng đằng thanh mộng nhiễu yên ba 騰騰清夢繞煙波o
Nguyễn Trãi 阮廌
DỊCH NGHĨA:
Quận thú là đàn anh phong lưu nơi chốn văn chương – Ví ngài như cây cao to lớn khiến ta nhớ đến gia thế cũ của mình – Non sông bày ra cái đẹp khiến hứng thơ dễ dàng làm xong – Năm tháng thì hững hờ, mắt trông sắp lòa rồi (c.1-4)- Mười năm đao binh khiến người thân và bạn bè ít đi – Nghìn năm của vũ trụ rất nhiều những việc lớn
lao xảy ra - Bụi thơm nơi quán khách , mùa xuân ở lại mãi – Lâng lâng trong giấc mộng trong lành có khói sóng vờn quanh (c.5-8).
DỊCH THƠ:
HỌA THƠ MỪNG PHÒNG ĐỌC SÁCH MỚI
Văn chương quận thú đứng đầu,
Khiến ta quê cũ cây cao thấu lòng,
Đẹp bày sông núi: thơ xong,
Vô tình năm tháng mắt trông sắp mờ.
Mười năm loạn, bạn còn sơ,
Ngàn năm bao chuyện đâu ngờ lắm thôi!
Mùa xuân quán khách hương đời,
Lâng lâng mộng nhẹ, khói vời sóng quanh.
CHÚ THÍCH:
- trai齋: phòng hoặc nhà yên tĩnh để tu tập, làm văn, đọc sách, nghỉ dưỡng tinh thần...
Ở đây tạm dịch là phòng đọc sách cho phù hợp với ý “văn chương bá”.
- quận thú 郡守: người coi giữ một quận hoặc một phủ.
- kiều mộc 喬木: cây cao to lớn. Đây chỉ những bậc trưởng thượng tài giỏi: cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh đậu Thái học sinh (năm 1374 đời Trần Duệ Tông), sau ra giúp Hồ Quí Ly ,làm chức Quốc Tử Giám tư nghiệp. Nhà Hồ thua, cha con nhà Hồ bị giặc Minh bắt giải sang tàu và mất bên ấy. Ông ngoại Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Đán (1320-1390) thuộc hoàng tộc nhà Trần là một danh tướng văn võ song toàn.
- linh 忴: hiểu thấu tấm lòng, lênh đênh...
- tín mỹ 信美: cái đẹp phơi bày ra.
- thi dị tựu 詩易就: thơ dễ dàng làm xong.
- nhãn tương hoa 眼將花: mắt nhìn mờ mờ không rõ (mắt đốm hoa), sắp mờ.
- biến cố 變故: những rủi ro, tai nạn, những việc xảy ra tạo nên bất ổn.
- hương trần 塵春: bụi thơm. Đây chỉ đời sống với nhiều bụi bám (lục trần trong đó có mùi hương (hương trần, sắc, xúc, thanh, vị, pháp, thanh) tạo nên hệ lụy.
- đằng đằng 騰騰: hứng khởi, lâng lâng.
Bài 11
LÂM CẢNG DẠ BẠC 淋 港 夜泊
Cảng khẩu thính triều tạm hệ đạo, 港口聽潮暫繫舠 ,
Am am cách ngạn hưởng bồ lao. 韽韽隔岸響蒲牢 o
Thuyền song khách dạ tam canh vũ, 船窗客夜三更雨 ,
Hải khúc thu phong thập trượng đào. 海曲秋風十丈濤 o
Mạc ngoại hư danh thân thị huyễn, 膜外虛名身是幻 ,
Mộng trung phù tục sự kham phao. 夢中浮俗事堪拋 o
Nhất sinh khí tập hồn như tạc, 一生氣習渾如昨 ,
Bất vị ky sầu tổn cựu hào . 不為羈愁損舊豪 o
Nguyễn Trãi 阮廌
DỊCH THƠ:
ĐÊM GHÉ THUYỀN Ở LÂM CẢNG
Nghe triều, cửa cảng neo thuyền,
Cách bờ vang tiếng chuông rền vẳng lơi.
Ba canh thuyền khách mưa rơi,
Gió thu biển vắng, sóng mười trượng dâng.
Để ngoài danh hão, giả thân,
Mộng quen trôi nổi việc cần bỏ thôi!
Một đời nếp trước quen rồi,
Không vì sống gửi sầu vơi chí hào.
DỊCH NGHĨA:
Tạm thời neo buộc chiếc thuyền con, khi nghe tiếng thủy triều lên xuống – Cách bờ văng vẳng tiếng chuông ngân – Ban đêm bên song cửa thuyền khách, mưa rơi suốt ba canh - Bờ biển vắng vẻ, gió thu thổi làm sóng dâng lên mười trượng(c.1-4) – Danh suông để bên ngoài, thân này là hư huyễn không có thật - Cuộc sống trôi nổi chỉ là giấc mộng là việc đáng bỏ đi - Một đời vẫn giữ thói quen thuở trước – Không vì cuộc sống buồn sầu mà giảm sút cái hào khí của mình(c.5-8).
CHÚ THÍCH:
- triều 潮: con nước dâng lên hay hạ xuống, ẩm ướt, thấp kém...
- Lâm cảng 淋 港: vũng tàu neo thuyền ở cửa sông Thần Phù chảy qua xã Lâm Ngọc.
- bạc 泊: đỗ lại, ghé thuyền, đậu neo thuyền.
- tạm hệ đao 暫繫舠: tam thời cột, buộc chiến thuyền nhỏ lại.
- am am 韽韽: âm thanh còn rất nhỏ, chưa phát thành tiếng rõ ràng.
- bồ lao 蒲牢: giống thú ở biển to giống như loài hải cẩu hoặc hải mã nhưng thấy cá kình (cá voi) lại hoảng kinh kêu lớn vì sợ làm mồi cho nó. Đây chỉ tiếng chày kình gõ vào chuông kêu vang.
- thân thị huyễn 身是幻: khái niệm giả thân, vô thường trong đạo Phật cho rằng thân
xác con người cùng muôn vật đều là giả tạo, có đó và không có đó nữa...
- phù tục 浮俗: thói quen bấp bênh, không có gì chắc chắn cả.
- phao 拋: bỏ đi, ném đi.
- tập 習: thói quen, nề nếp.
- tạc 昨: hôm qua, cách trước, nhớ lại chuyện cũ.
- ky 羈: giữ lại, kiềm chế.
- tổn 損: hao hụt, vơi đi, hao hớt.
- hào 豪: vẻ phóng khoáng, sự hơn người.
Bài 12
LOẠN HẬU CẢM TÁC 亂 後 感 作
Thần Châu nhất tự khởi can qua, 神州一自起干戈,
Vạn tánh ngao ngao khả nại hà. 萬姓嗷嗷可奈何o
Tử Mỹ cô trung Đường nhật nguyệt, 子美孤忠唐日月,
Bá Nhân song lệ Tấn sơn hà. 伯仁雙淚晉山河o
Niên lai biến cố xâm nhân lão, 年來變故侵人老,
Thu việt tha hương cảm khách đa. 秋越他鄉感客多o
Táp tải hư danh an dụng xứ, 卅載虛名安用處,
Hồi đầu vạn sự phó Nam Kha. 回頭萬書付南柯o
Nguyễn Trãi 阮廌
DỊCH NGHĨA:
Quê hương đất tổ (Thần Châu) từ khi nổi binh đao – Muôn dân dậy tiếng kêu gào biết làm sao đây - Tử Mỹ (Đỗ Phủ) làm người tôi trung đơn độc theo nhà Đường trải qua bao ngày tháng – Bá Nhân (Chu Khởi) đôi dòng lệ tuôn vì núi sông nhà Tấn(c.1-4) Những sự việc xảy ra mấy năm nay làm người ta già đi – Qua mấy mùa thu nơi quê người khiến lòng khách có nhiều mối cảm xúc – Danh suông ba chục năm trời dùng để yên ổn, làm gì được – Quay đầu muôn việc đều phó
cho giấc mộng Nam Kha (c.5-8).
DỊCH THƠ:
CẢM TÁC SAU LOẠN
Thần Châu từ đạo binh đao,
Muôn dân rên xiết làm sao được này.
Theo Đường, Tử Mỹ đêm ngày,
Nước non nhà Tấn lệ vầy Bá Nhân.
Mấy năm xảy việc già dần,
Thu qua, khách mãi bâng khuâng quê người.
Danh suông ba chục năm rồi,
Quay đầu muôn việc mộng vời Nam Kha.
CHÚ THÍCH:
- Thần Châu 神州: chỉ chung cả vùng đất Trung Hoa. Xu Diên thời Chiến Quốc gọi Trung Hoa là Xích huyện Thần Châu. Đây tác giả dùng để nói về quê nhà thời quân Minh xâm lấn.
- ngao ngao 嗷嗷: om sòm, ồn ào,rên la..., âm thanh do tiếng kêu của nhiều người...
- Tử Mỹ 子美: tức Đỗ Phủ, nhà thơ lớn thời Đường, bạn của Lý Bạch.
- cô trung 孤忠: người tôi thần trung với vua một cách đơn độc.
- Bá Nhân 伯仁: tức Thu Khởi đời Tấn. Khi Tấn mất, chạy qua Giang Đông cứ ứa lệ khóc khi nhìn về quê cũ.
- biến cố 變故: cũ.sự thay đổi lớn lao bất ngờ, thình lình không dự kiến trước; sửa đổi khí chất có từ trước .
- táp tải 卅載: ba mươi năm.
- an dụng xứ 安用處: nơi ,chỗ để nương náu, dùng cho được yên ổn
- Nam Kha 南柯: xem bài “Ký cữu trai Trần Công” (Hòe quốc mộng) bên trên.
(Lần đến: Ư.T.T.T bài 13,14 và 15)
Dương Anh Sơn

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét