THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA - BÀI 43, 44, 45 VÀ 46
Thầy Dương Anh Sơn
THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA
Bài 43
THỤ KINH ĐÀI 授經臺
Kiếm vũ hữu thần thông thảo thánh, 劍舞有神通草聖,
Hải sơn vô sự hoá cầm công. 海山無事化琴工。
Thử đài nhất lãm Tần Xuyên tiểu, 此臺㇐覽秦川小,
Bất đãi truyện kinh ý dĩ không. 不待傳經意已空。
Dịch nghĩa:
Những ngọn cỏ (trông như) các bậc thánh có phép thần thông biến hóa đang múa gươm, - Biển và núi chẳng có việc gì làm đã thành những người chơi đàn. – Một lần ngắm đài này thấy cả vùng đất Tần Xuyên (trở nên) bé nhỏ! – Không cần phải chờ đợi truyền dạy kinh mà ý đã là không!
Tạm chuyển lục bát:
ĐÀI TRAO KINH.
Gươm thần cỏ thánh múa may!
Rảnh rang, non biển thành tay chơi đàn.
Ngắm đài thấy nhỏ đất Tần,
Truyền kinh chẳng đợi ,ý không đã là!
Chú thích:
** Bài đã đăng (bài 12) nay bổ sung các chú thích...
- Thụ Kinh Đài 授經臺: Đài Trao Kinh là tên một đài ở vùng Tần Lĩnh, Thiểm Tây trong dãy núi Chung Nam(Nam Sơn), Trung Hoa thường được phái đạo gia cho là nơi Lão Tử giảng kinh.
- thần thông 神通: sự biến hóa kỳ diệu như có phép thần...
- thảo thánh 草聖: cỏ thánh là cách Tô Đông Pha mô tả những ngọn cỏ uốn lượn, múa may biến hóa tuyệt vời như những thanh kiếm trước gió! Mặt khác, ”thảo thánh” cũng để chỉ những bậc tài hoa khi viết chữ Hán theo lối chữ thảo...
- cầm công 琴工: người chơi đàn trong một ban nhạc, người có khả năng khéo léo để chơi được đàn hòa nhịp cùng ban nhạc nhưng chưa phải là một nghệ sĩ thành thục ,điêu luyện, có khả năng sáng tác và sử dụng đàn, tạo ra những bản nhạc hay phối nhạc....... (công: người khéo léo trong một công việc nào đó, người thợ...)
- Tần Xuyên 秦川: vùng đất nằm giữa Thiểm Tây và Cam Túc bên Trung Hoa. Đồng thời cũng là tên con sông chảy qua tỉnh Cam Túc...
- truyền kinh: trao truyền và giảng dạy những ý nghĩa sâu xa trong kinh (Kinh: những lời dạy còn lại của các bậc chân sư hay hiền nhân cao quí được ghi chép qua các bản văn lưu truyền để làm khuôn mẫu cho đời sau....
- Không 空: Đây là một khái niệm về Tính Không(không tính 空性) trong tư tưởng đạo Phật khi nói đến bản tính 本性 của cuộc sống (Vd: “Vạn sự giai không” (Tất cả sự việc đều là KHÔNG; Và nói theo Kinh Bát Nhã Ba La Mật: “Sắc tức thị không,không tức thị sắc” để rồi “Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn”... Trong Đạo Đức Kinh 道徳 經, chương II, Lão Tử 老子 đã viết: “Thị dĩ thánh nhân, xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo” ( Vậy nên bậc thánh nhân dùng “vô vi 無為” để xử sự ,dùng “bất ngôn 不言” để dạy dỗ) .Khái niệm “vô vi”
và “bất ngôn” rất gần gũi với “không tính” trong Đại thừa của Phật
giáo...v...v... (xem thêm: Lão Tử Đạo Đức Kinh, Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch và bình chú, Khai Trí XB, Saigon, 1961, tr.44)
Bài 44
THUYỀN THƯỢNG TIỂU THI 船 上 小 詩
Oa minh thanh thảo bạc, 蛙 鳴 青 草 泊,
Thiền táo thùy dương phố. 蟬 噪 垂 楊 浦.
Ngô hành diệc ngẫu nhiên, 吾 行 亦 偶 然,
Cập thử tân vũ quá. 及 此 新 雨 過.
Dịch nghĩa:
Con ếch kêu trong đám cỏ xanh chỗ thuyền đậu lại, - Tiếng ve kêu rả rích nơi bến sông có hàng thùy dương. – Ta đi với sự tình cờ, - Kịp khi đến nơi đó, cơn mưa vừa mới đi qua.
Tạm chuyển lục bát:
BÀI THƠ NHỎ LÀM TRÊN THUYỀN.
Ếch kêu trong đám cỏ xanh,
Thùy dương rả rích ve quanh bến bờ!
Ta đi là cũng tình cờ,
Kịp khi đến đó mưa vừa mới qua.
Chú thích:
- bạc 泊: chỗ nghỉ lại, đậu thuyền nghỉ ngơi, lặng lẽ, bạc bẻo, mong
manh...
- táo 噪: tiếng chim kêu ríu rít, tiếng côn trùng rả rích...
- phố 浦: bến sông, bờ sông, bãi đậu thuyền...
- ngẫu nhiên 偶 然: tình cờ ,bất chợt, không dự tính trước...
- tân vũ quá 新 雨 過: cơn mưa vừa mới đi qua, cơn mưa vừa xong...
Bài 45
BỐC TOÁN TỬ 卜算子
Khuyết nguyệt quải sơ đồng, 缺月挂疏桐,
Lậu tận nhân sơ tĩnh. 漏盡人初 靜。
Thuỳ kiến u nhân độc vãng lai, 誰見幽人獨往來,
Phiêu diểu cô hồng ảnh. 飄渺孤鴻影。
Kinh khởi khước hồi đầu, 驚起卻回頭,
Hữu hận vô nhân tỉnh. 有恨無人省。
Giản tận hàn chi bất khẳng thê, 揀盡寒枝不肯棲,
Tịch mịch sa châu lãnh. 寂寞沙洲冷。
Dịch nghĩa:
Trăng non (mới nhú) treo trên cây ngô đồng thưa lá, - Đồng hồ đã cạn hết, những con người bắt đầu yên tĩnh. – Nào ai thấy người ở ẩn lẻ loi qua lại, đi lui đi tới! – Bóng con chim hồng đơn độc cao vút. (c.1-4)
Giật mình đứng dậy lùi lại quay đầu, - Có nỗi oán hận nhưng không có người hiểu được và lĩnh ngộ! - Lựa chọn hết những cành lạnh lẽo nhưng không chịu đậu nghỉ ngơi! - Hiu quạnh ,trống vắng nơi cồn cát lạnh lẽo! (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
NGƯỜI BÓI TOÁN.
Trăng non treo lá đồng thưa,
Đồng hồ cạn nước ,người vừa lặng yên.
Tới lui kẻ ẩn cõi riêng,
Cánh hồng lẻ bóng vút miền xa cao.
Giật mình lùi lại quay đầu,
Giận hờn chẳng có người nào hiểu cho.
Không cành nghỉ lại lựa dò,
Quạnh hiu cồn cát trống trơ lạnh lùng!
Chú thích:
** Đây là một bài làm theo thể “từ 詞” (có khi viết 辭 hay 辞) của Tô Đông Pha làm vào năm 1080 lúc đã 44 tuổi đang tạm ngụ tại chùa Định Huệ bị biếm trích làm Đoàn luyện phó sứ ở Hàng Châu. Thể “Từ” là một thể loại thơ ca hình thành từ thời nhà Đường rồi nở rộ vào thời nhà Tống bên Trung Hoa. Số câu, số chữ trong các bài “Từ” thường cố định và sắp xếp dài ngắn theo một trật tự nhất định và nhất là có thể sử dụng để ca hát hay hòa quyện với nhạc cụ khi diễn tấu. Trong bài từ này, chúng ta thấy câu 1, 2, 4 có 4 chữ hoặc 6 chữ (VD; “bốc toán tử” (bài 45) hay Tây giang nguyệt” (bài 46) nhưng câu 3 lại có 7 chữ ở cả 2 vế trên dướí.
1/ So với thể thơ “Đường luật 唐律”, “từ” có câu ngắn chen với câu dài.
2/ So với thơ “cổ phong 古風” với niêm luật chặt chẽ, số chữ nhất định, còn thể ”từ” dài ngắn thay đổi nhưng các vế luôn có số chữ như nhau (xem thêm: ”Tây giang nguyệt”, ”Niệm nô kiều”, ”Điệp luyến hoa.”...v.v... của Tô Đông Pha). So với “nhạc phủ 樂府” luôn có niêm luật chặt chẽ, ”từ” lại phóng khoáng hơn. Thời Bắc Tống và Nam Tống, các đại biểu theo phái “hào phóng 毫放” như Tô Đông Pha hay Tân Khí Tật, câu chữ dùng dài ngắn thay đổi theo chuyển biến của âm nhạc và đề tài cũng rộng rãi hơn thể hiện được những tâm tư, tình cảm hay cá tính của người làm bài “từ”. Về sau, Tô Đông Pha, Hoàng
Đình Kiên...v.v... chủ trương không cần theo niêm luật hay theo tiết tấu của âm nhạc mà chỉ cần nội dung có lời “từ” hay ho, hùng hồn là được. Mãi đến khi vua Tống Huy Tông nhận thấy thể “từ” trở thành quá phóng túng nên can thiệp bắt lời của từ phải đi theo âm nhạc.... Bài từ “Bốc toán tử” là một bài ca con chim hồng cô độc lang thang tìm kiếm một nơi để đậu lại trên cành cây lạnh giá nhưng chốn nghỉ ngơi của loài hồng là các cồn cát ven sông nước hay đầm phá mang chính thân phận bị đày ải, biếm trích từ châu này sang châu khác của Tô Đông Pha. Cánh chim hồng trong Đoạn trường Tân Thanh của Nguyễn Du là nỗi khát khao một bầu trời cao rộng phóng khoáng: ”Cánh hồng bay bổng tuyệt vời, Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm” (câu 2247,2248)....
- bốc toán tử 卜算子: người chuyện việc xem bói, tính toán cho đường đời, công danh, sự nghiệp... v.v... Ở bài từ này, Tô Đông Pha đã mượn hình ảnh con chim hồng cô quạnh để nói lên nỗi u uẩn của chính thân phân mình bị biếm trích lưu lạc rày nay mai đó ở nhiều phương trời và không tìm được môt nơi để nghỉ lại.... Thêm vào đó,bói toán thường để đoán vận mệnh trong tương lai.Tô Đông Pha cũng hình dung ra được con đường đi của mình như con chim hồng không bến nghỉ....
- khuyết nguyệt 缺月: trăng bị khuyết nghĩa là trăng non, trăng mới nhú (sơ nguyệt) để dần dần đi đến điểm trăng tròn đầy, lúc rằm mỗi tháng.
- sơ đồng 疏桐: cây ngô đồng 梧桐 thưa thớt, ít ỏi (sơ), cũng có nghĩa cành lá của cây ngô đồng lưa thưa...
- lậu tận 漏盡: đồng hồ nước (thời xưa) đã cạn hết nước (tận). Ngày xưa để đo thời gian, con người đã chế ra “khắc lậu 刻漏”. Họ dùng cái gáo dùi một lỗ nhỏ, đổ nước vào, cách khoảng lậu lại nhỏ xuống một giọt. Khi nước giọt xuống đã đầy, cái thẻ khắc giờ bằng gỗ lại nổi lên. Nhìn chỗ khắc ở mực nước biết được giờ còn sớm hay đã muộn.
- u nhân 幽人: người ở ẩn tránh xa cuộc đời...
- độc vãng lai 獨往來: đi qua đi lại hay đi tới đi lui (vãng lai) chỉ riêng một mình (độc)...
- phiêu diểu (miểu) 飄渺: cao xa, cao vút, ẩn hiện, thấp thoáng...
- cô hồng ảnh 孤鴻影: bóng của con chim hồng cô độc, lẻ loi... Hồng là một loại ngỗng trời sống nơi các đầm nước, cánh đen bụng trắng, mỏ dẹp, chân ngắn, bay rất cao.
- kinh khởi 驚起: giật mình, hoảng hốt (kinh) và đứng dậy (khởi)
- khước hồi đầu 卻回頭: lùi lại (khước) và quay đầu (hồi đầu)...
- giản tận hàn chi 揀盡寒枝: lựa chọn (giản) hết cả (tận) các cành cây lạnh giá (hàn chi)...
- bất khẳng thê 不肯棲: không bằng lòng, không chịu được (bất khẳng) nơi sẽ nghỉ lại trú đêm (thê)...
- tịch mịch 寂寞: trống vắng, quạnh vắng, quạnh hiu, hiu quạnh...
- sa châu lãnh 沙洲冷: bãi hay cồn cát lạnh lẽo...
Bài 46
TÂY GIANG NGUYỆT 西江月
Ngọc cốt na sầu chướng vụ, 玉骨那愁瘴 霧,
Băng cơ tự hữu tiên phong. 冰肌自有仙風.
Hải tiên thời khiển thám phương tùng, 海仙 時遣 探 芳 叢,
Đảo quải lục y yêu phượng. 倒 掛 綠依幺鳳.
Tố diện thường hiềm phấn uyển, 素 面 常 嫌 粉 婉,
Tẩy trang bất thốn tàn hồng. 洗妝不褪 殘 紅.
Cao tình dĩ trục hiểu vân không, 高 情已逐 曉雲空,
Bát dữ lê hoa đồng mộng. 不與 棃花同 夢.
Dịch nghĩa:
Cốt cách (của Triêu Vân) như ngọc, lắm sầu như sương mù khí chướng! – Da dẻ như băng tuyết trắng nuốt có được từ làn gió tiên thổi qua! – Bấy giờ biển của chư tiên khiến hương thơm tìm đến tập họp nơi loài cỏ thơm, - Con chim phượng nhỏ bé có bộ lông màu lục.
Gương mặt trắng trẻo vẫn thường ghét bỏ việc thoa phấn (cho da mặt) xinh đẹp, mềm mại, - Rửa sạch trang điểm không cần đến màu hồng đã tàn phai. - Mối tình cao đẹp này (như) đi theo đám mây trời những buổi sáng mai, - Chẳng cùng chung mộng với loài hoa của cây lê đâu!
Tạm chuyển lục bát:
TÂY GIANG NGUYỆT.
Sầu nhiều, cốt ngọc mù sương,
Làn da trắng nuốt từ luồng gió tiên.
Biển tiên giờ ngát hương nhiều,
Con chim phượng nhỏ ngược treo xanh màu.
Ghét son, mặt trắng xinh sao!
Rửa trang điểm chẳng giảm màu hồng phai.
Mây trời tình đẹp sáng mai,
Chẳng cùng chung mộng với loài hoa lê.
Chú thích:
** Đây là bài từ được Tô Thức làm theo điệu Tây Giang Nguyệt của thời nhà Tống, để tưởng nhớ người thị thiếp tên là Vương Triêu Vân mất tại Huệ Châu (1096)
- ngọc cốt 玉骨: cốt cách hay hình dáng, tính tình của một người phụ nữ trong sáng đẹp đẽ và đáng quý như ngọc...
- na 那: nhiều, an nhàn, câu hỏi: sao thế, nào, gì?...
- chướng vụ 瘴 霧: khí rừng núi chướng độc và sương mù...
- băng cơ 冰肌: da thịt, da dẻ (cơ) trong trẻo trắng nuốt tựa như băng
tuyết(băng).....
- thời 時: thời gian, bấy giờ, lúc ấy...
- thám phương tòng (tùng) 探 芳 叢: tìm đến, tìm kiếm (thám) hương thơm ngát đang tập họp lại rất nhiều. (tòng: hợp lại, rậm rạp, nhiều...)
- đảo quải 倒 掛: quay ngược và treo lên.
- lục y 倒 掛: y như màu xanh lục...
- yêu phượng 幺鳳: con chim phượng bé nhỏ (yêu). Tên một loài chim thường tụ họp trên cây ngô đồng khi trổ bông nên có tên là” đồng hoa phượng” (tư liệu: Tuệ Sỹ, Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng, NXB Văn Hóa Saigon tái bản 2008, tr.33)
- tố diện 素 面: tố: tơ sống, trắng nỏn... Gương mặt trắng đẹp xinh xắn...
- hiềm phấn uyển 嫌 粉 婉: ghét bỏ trang điểm phấn son (hiềm phấn) cho thành cái đẹp do việc trang điểm son phấn khéo léo. (uyển: xinh đẹp, khéo léo, hòa thuận...)
- bất thốn tàn hồng 不褪 殘 紅: không có sắc hồng của sự tàn phai cần trang điểm (thốn: việc gì suy giảm hay kém đi gọi là thốn)...
- cao tình 高 情: những tình cảm cao đẹp, mối tình cao thượng...
- vân không 雲空: mây trời (không: không gian, bầu trời, trống rỗng...).
- lê hoa 棃花: hoa của cây lê có màu trắng như hoa mai trắng (Bạch Cư Dị, nhà thơ người Trung Hoa, trong “Trường Hận Ca” có câu: “Lê hoa nhất chi xuân đái vũ” nghĩa là: Một cành cây lê có hoa thắm đẫm mưa xuân). Nguyễn Du trong ĐTTT cũng có câu: ”Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”( câu 41 và 42)
(Lần đến: Thơ của Tô Đông Pha - Bài 47, 48, 49)
Dương Anh Sơn

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét