THƠ LÝ BẠCH - BÀI 121, 122 VÀ 123
Thầy Dương Anh Sơn
THƠ CỦA LÝ BẠCH
Bài 121
SONG YẾN LY 雙燕離
Song yến phục song yến, 雙燕復雙燕,
Song phi linh nhân tiện. 雙飛令人羨。
Ngọc lâu châu các bất độc thê, 玉樓珠閣不獨棲,
Kim song tú hộ trường tương kiến. 金窗繡戶長相見。
Bách Lương thất hoả khứ, 柏梁失火去,
Nhân nhập Ngô Vương cung. 因入吳王宮。
Ngô cung hựu phần đãng, 吳宮又焚蕩,
Sồ tận, sào diệc không. 雛盡巢亦空。
Tiều tuỵ nhất thân tại, 憔悴㇐身在,
Sương thư ức cố hùng. 孀雌憶故雄。
Song phi nan tái đắc, 雙飛難再得,
Thương ngã thốn tâm trung. 傷我寸心中。
Dịch nghĩa:
Đôi chim én ra đi rồi trở lại, - Chim bay sóng đôi khiến người yêu thích! - Lầu ngọc hay gác châu vẫn không nghỉ lại một mình!, - Cửa sổ vàng hay màn thêu nơi cửa nhiều màu sắc,(luôn) thấy mặt nhau dài lâu. (c. 1-4)
Lâu đài Bách Lương lửa cháy thiêu rụi, - Nhân đó vào (ở) cung của Ngô Vương. - Cung vua Ngô lại bị cháy sạch , - Chim non mất đi, tổ lại không còn nữa! (c. 5-8)
Héo hon một thân mình còn lại! - Chim mái góa bụa nhớ chim trống đã mất. – Đôi chim khó được trở lại bay cùng nhau, - Trong tấc lòng, ta xót xa thương cảm (c. 9-12)
Tạm chuyển lục bát:
ĐÔI ÉN CHIA LY.
Lại về đôi én sóng đôi ,
Sóng đôi bay lượn khiến người thích sao!
Có đôi, lầu ngọc gác châu,
Cửa vàng thêu đẹp thấy nhau lâu dài.
Cháy thiêu hết Bách Lương đài !
Cung vua Ngô lại chốn này vào trong.
Cung Ngô lại cháy sạch trơn !
Tổ chim tan nát ,chim non chết rồi.
Thân còn héo hắt lẻ loi,
Con chim góa nhớ mãi hoài trống xưa.
Sóng đôi trở lại khó chưa!
Tấc lòng ta cũng nghe chua xót thầm .
Chú thích:
- linh nhân tiện 令人羨: khiến(linh) cho người yêu thích (tiện)....
- bất độc thê 不獨棲: không đậu lại nghỉ ngơi một mình...
- tú hộ: màn treo cửa (một cánh - hộ) được thêu ngũ sắc xinh đẹp (tú)...
- trường tương kiến 長相見: thấy mặt nhau, gặp nhau dài lâu...
- Ngô vương cung 吳王宮: cung điện của vua Ngô Phù Sai 吳夫差 bên Trung Hoa là vị vua thứ 25 của nước Ngô thời Đông Châu Liệt Quốc (trị vì khoảng 495 TCN-473 TCN) Ông đã cho xây cung điện to lớn tiếp tục công việc của vua cha là Ngô Hạp Lư cùng với đài Cô Tô. Sau trân thua cuối cùng năm 473 TCN, cung điện và đài Cô Tô đã bị quân của Việt vương Câu Tiễn thiêu rụi khi tiến quân trả thù hận bị giam giữ và làm nhục sau khi thua trận...
- hựu phần đãng 又焚蕩: lại bị (hựu) đốt cháy(phần) hết sạch (đãng)...
- sồ tận 雛盡: chim non (sồ) bị chết hết(tận)... [sồ: chim non, vịt con, gà con, dê con, trẻ con... v.v...]
- sào diệc không 巢亦空: tổ chim cũng không còn...
- tiều tụy 憔悴: héo hon, mòn mỏi, ốm oi, gầy mòn...
- sương thư 孀雌: con chim mái (thư) góa chồng(sương), mất con trống...
- cố hùng 故雄: con chim trống (hùng) đã quá cố, mất đi...
- thốn tâm trung 寸心中: tấc lòng, tấm lòng bên trong...
Bài 122
ĐẢO Y THIÊN 搗衣篇
Khuê lý giai nhân niên thập dư, 閨里佳人年十余,
Tần nga đối ảnh hận ly cư. 顰蛾對影恨離居。
Hốt phùng giang thượng xuân qui yến, 忽逢江上春歸燕,
Hàm đắc vân trung xích tố thư. 銜得雲中尺素書。
Ngọc thủ khai giam trường thán tức, 玉手開緘長嘆息,
Cuồng phu do thú Giao Hà bắc! 狂夫猶戍交河北。
Vạn lý Giao Hà thuỷ bắc lưu, 萬里交河水北流,
Nguyện vi song điểu phiếm trung châu. 愿為雙鳥泛中洲。
Quân biên vân ủng thanh ty kỵ, 君邊雲擁青絲騎,
Thiếp xứ đài sinh hồng phấn lâu. 妾處苔生紅粉樓。
Lâu thượng xuân phong nhật tương yết, 樓上春風日將歇,
Thùy năng lãm kính khan sầu phát? 誰能攬鏡看愁發。
Hiểu xuy vân quản tuỳ lạc hoa, 曉吹篔管隨落花,
Dạ đảo nhung y hướng minh nguyệt. 夜搗戎衣向明月。
Minh nguyệt cao cao khắc lậu trường, 明月高高刻漏長,
Chân châu liêm bạc yểm lan đường. 真珠簾箔掩蘭堂。
Hoành thùy bảo ác đồng tâm kết, 橫垂寶幄同心結,
Bán phất quỳnh diên tô hợp hương. 半拂瓊筵蘇合香。
Quỳnh diên, bảo ác liên chi cẩm, 瓊筵寶幄連枝錦,
Đăng chúc huỳnh huỳnh chiếu cô tẩm. 燈燭熒熒照孤寢。
Hữu sứ bằng tương kim tiễn đao, 有使憑將金剪刀,
Vị quân lưu hạ tương tư chẩm. 為君留下相思枕。
Trích tận đình lan bất kiến quân, 摘盡庭蘭不見君,
Hồng cân thức lệ sinh nhân uân. 紅巾拭淚生氤氳。
Minh niên cánh nhược chinh biên tái, 明年更若征邊塞,
Nguyện tác Dương Đài nhất đoạn vân. 愿作陽臺㇐段雲。
Dịch nghĩa:
Trong phòng khuê, người đẹp đã ở hơn mười năm, - Trước bóng chau mày giận phải sống cách biệt! – Bỗng gặp con chim én trên sông quay về với mùa xuân, - Trong mây ngậm bức thư trắng nhỏ. (c.1-4)
Tay ngọc mở phong bì thư thở dài than thở, - Ông chồng gàn vẫn còn làm lính thú ở phía bắc sông Giao. – Muôn dặm sông Giao nước chảy xuôi về bắc, - Ước mong làm đôi chim bay bồng bềnh rộng khắp vùng trung châu. (c.5-8)
Gần bên chàng, mây bao quanh những sợi tơ xanh của con ngựa cưỡi, – Nơi thiếp ở ,rêu mọc nơi lầu hồng (trang điểm) son phấn. – Gió mùa xuân thổi trên lầu,ngày cũng sắp tàn, - Ai là người có thể cầm chiếc gương soi chiếu để thấy nỗi sầu đang hiện ra ? (c.9-12)
Buổi sáng thổi ống sáo tre theo sự rơi rụng của loài hoa, - Tối đến giặt quần áo lính, hướng về vầng trăng sáng. – Trăng sáng cao vút , đồng hồ nhỏ giọt vẫn còn dài, - Bức rèm mỏng ngọc trai che chở cho gian nhà bày hoa lan. (c.13-16)
Màn trướng quý giá rủ ngang gắn bó chung lòng, - Phất phơ nửa chiếc chiếu quỳnh , hương của cây tía tô hợp lại. – Chiếu quỳnh, trướng quý (như) cây liền cành (gắn bó nhau), - Đèn đuốc lờ mờ chiếu chỗ nằm ngủ lẻ loi. (c.17-20)
Nếu có tin tức gửi đến,sẽ soạn lấy chiếc kéo vàng, - Vì chàng sẽ giữ lại chiếc gối “tương tư”. – Hái hết hoa lan ở sân trước vẫn không thấy chàng! – Khăn hồng lau nước mắt cứ tuôn ra mãi! (c.21-24)
Sang năm, nếu (chàng) đi xa hơn ra nơi biên giới, - (Thiếp) nguyện làm một đoạn mây ở chốn Dương Đài. (c.25,26)
Tạm chuyển lục bát:
BÀI THƠ GIẶT ÁO.
Mười năm người đẹp khuê phòng,
Chau mày trước bóng giận lòng chia ly.
Sông xuân chợt én quay về,
Ngậm thư trắng nhỏ lượn lờ trong mây.
Mở thư,tay ngọc than dài!
Sông Giao phía bắc đóng đây chồng gàn!
Sông Giao xuôi bắc dặm ngàn,
Xin làm chim lượn sóng hàng bãi sông.
Bên chàng cưỡi ngựa mây vần,
Lầu hồng chỗ thiếp rêu lần đầy nơi.
Lầu xuân ,gió lộng ngày vơi,
Soi gương ai thấy tóc khơi nỗi sầu!
Sáng hoa rụng, sáo theo sau,
Giặt đêm áo lính hướng vào trăng soi.
Lậu dài trăng tỏ cao vời,
Che giăng rèm ngọc, kín ngời nhà lan.
Chung lòng, trướng quý rủ ngang,
Chiếu quỳnh lơ lửng, tô tràn mùi hương.
“Liền cành”- màn chiếu vấn vương,
Mờ soi giấc ngủ cô đơn đuốc đèn!
Có tin gửi, soạn kéo vàng,
Luyến lưu giữ “gối nhớ thương” vì chàng!
Chàng đâu ,hái hết sân lan,
Khăn hồng lau lệ nhòa tràn mắt thôi!
Sang năm biên giới xa xôi,
Nguyện làm một đoạn mây nơi Dương Đài.
Chú thích:
- đảo y 搗衣: giặt, đập, dậm, nhồi áo...
- thiên 篇: phần, sách, thiên... VD: Sách Luận Ngữ của Khổng Tử có 20 thiên. Một bài thơ cũng gọi là thiên...
- tần 顰: chau mày, cau mày, nhíu mày, xịu mặt, dáng buồn rười rượi...
- nga 蛾: con ngài. Lông mày cong như con ngài (nga mi).
- xích 尺: nhỏ bé, nhỏ nhắn, thước (bằng 10 tấc).
- tố 素: trắng nỏn, tơ trắng, tơ còn thô, yếu tố căn bản, chất hay tính nền tảng, mộc mạc, thanh đạm, trong sạch (tố tâm)...
- khai giam 開緘: mở phong bì thơ...
- trường thán tức 長嘆息: thở dài, than dài...
- cuồng phu 狂夫: người chồng ngông cuồng, chồng gàn, ông chồng phóng đãng, không kể tiểu tiết, ông chồng xằng bậy... v.v... Đây cũng là cách nói của người vợ bên Trung Hoa tỏ vẻ thân thiết, ân cần, khiêm nhượng khi nói về chí nguyện của chồng...
- do thú 猶戍: do: còn, bởi, vẫn còn, con do (giống như con khỉ... Vẫn còn đang đi lính đóng đồn (thú)...
- nguyện 愿: cầu mong, mong muốn, ước mong, cầu nguyện...
- phiếm 泛: rộng khắp, trôi nổi, bồng bềnh, qua loa, không thiết thưc, tràn ngập, lật đổ...
- vân ủng 雲擁: mây che kín, mây bao quanh mây ôm lấy..
- thanh ti kỵ 青絲騎: sợi tơ xanh trên dây cương con ngựa cưỡi...
- thiếp xứ 妾處: nơi ở của thiếp...
- đài sinh 苔生: rêu xanh đã mọc lan...
- hồng phấn lâu 紅粉樓: lầu, gác của phụ nữ giành để trang điểm, sinh hoạt v v...Vẫn thường được gọi là lầu hồng..
- nhật tương yết 日將歇: ngày sắp hết, ngày sắp tàn ... (yết: nghỉ, ngừng, tháo ra, tiết ra, hết, vơi đi...; tương: sẽ, sắp sửa, sửa soạn, đem, đưa , cầm, lấy đem ra, tiễn đưa, bền mạnh, thoát ra, có thể, viên tướng chỉ huy...)
- thùy năng lãm kính 誰能攬鏡: ai là người(thùy) có thể (năng) cầm (lãm) chiếc gương soi...
- khan sầu phát 看愁發: nhìn nỗi sầu hiện ra, xem muộn sầu đang khởi phát...
- xuy vân quản 吹篔管: thổi sáo làm bằng tre hay trúc...
- tùy lạc hoa 隨落花: theo sau những bông hoa rơi rụng...
- đảo nhung y 搗戎衣: giặt giũ áo quần của lính mặc ra trận...
- khắc lậu trường 刻漏長: đồng hồ thời xưa trong bầu nước đục lổ để nước nhỏ xuống hầu tính thời gian dài ngắn...
- chân châu 真珠: ngọc trai thật, có khi gọi là trân châu (珍珠 -ngọc trai quý giá)
- liêm bạc 簾箔: màn mỏng,mành treo cửa...
- yểm lan đường 掩蘭堂: yểm: che khuất, che kín... Căn nhà trồng các loại lan được che chở (bởi mành ,trướng hay rèm mỏng)...
- hoành thùy 橫垂: buông rủ xuống nằm ngang.
- bảo ác 寶幄: ác: màn trướng có đầy đủ bốn mặt và trên dưới, nhà bạt của doanh trại quân đội. Loại màn trướng quý giá...
- bán phất 半拂: lơ lửng, phẩy qua phớt lại...
- quỳnh diên 瓊筵: chiếc chiếu nằm hay ngồi có đính ngọc quỳnh quý báu.... Đảo Hải Nam 海南 của Trung Hoa cũng có tên là đảo Quỳnh.
- tô hạp hương 蘇合香: tập hợp lại mùi hương của cây tía tô (tử tô)
- liên chi cẩm: cách nói trong tình cảm nam nữ về sự gắn bó bền chặt trong tình vợ chồng ,trai gái rất tươi đẹp rực rỡ (cẩm: gấm nhiều màu sắc, rực rỡ, đẹp đẽ...) và ví nhưcành lá nối nhau (liên chi). Trong bài thơ Trường Hận Ca 長恨歌 của Bạch Cư Dị 白居易 tự là Lạc Thiên 樂天(772-846), cuối bài thơ có những câu: “.... Dạ bán vô nhân tư ngữ thì. Tại thiên nguyện tác tỷ dực điểu,Tại địa nguyện vi liên lý chi. Thiên trường địa cửu hữu thì tận,Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ.... 夜半無人私語時.在天願作比翼鳥,在地願為連理枝.天長地久有時盡,此恨綿綿無絕期.Nghĩa là :.... Nửa đêm không có người. Trên trời nguyện làm chim liền cánh, Dưới đất nguyện làm cành cây liền với thớ cây bên trong. Trời đất lâu dài có lúc cũng hết, Mối hận này triền miên không hề nguôi!
Đó là lời thề thốt giữa Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi. Câu “Chim liền cánh, cây liền cành” đã là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà thơ về sau như Lý Bạch trong bài này. Ở nước ta, trong Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du cũng lấy lại ý của câu thơ này:
“Trong khi chắp cánh liền cành,Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên” (câu 515,516)
- huỳnh huỳnh 熒熒: ánh sáng ngọn lửa mù mờ, tù mù, thiếu ánh sáng, hoa mắt...
- cô tẩm 孤寢: giấc ngủ lẻ loi nằm ngủ một mình (tẩm: nằm ngủ, nằm dài, dáng nằm, tướng mạo, xấu xí, che giấu...; lăng tẩm, nơi chôn cất các vua chúa...)
- hữu sứ bằng 有使憑: có tin tức gửi đến (sứ: tin tức, sai khiến, đi sứ, khiến cho, giả sử...; bằng: gửi, gửi gắm, nương dựa, bằng cứ...)
- tương kim tiễn đao 將金剪刀: soạn ra (tương) kéo vàng để cắt (kim tiễn đao)...
- tương tư chẩm 相思枕: chiếc gối nằm ngủ(chẩm) mang đầy nỗi luyến lưu, nhớ nhung người chồng đi thú ở xa...
- thức lệ 拭淚: lau nước mắt...
- nhân uân 氤氳: dày dặc, đầy tràn, rất nhiều, mịt mù hơi khói ...
- cánh nhược chinh biên tái 更若征邊塞: nếu đi xa (chinh) hơn (cánh) nơi vùng biên giới xa (biên tái)...
- Dương Đài 陽臺: Thời Chiến Quốc bên Trung Hoa, vua nước Sở là Sở Tương vương thường đến vùng Cao Đường có núi vu Sơn và đầm Vân Mộng để ngoạn cảnh.Một lần vua đến chơi rồi mệt mỏi ngủ thiếp đi dưới chân Vu Sơn. Nhà vua nằm mộng thấy một thiếu nữ nhan sắc tuyệt trần đến trò chuyện và chăn gối cùng nhà vua. Nhà vua hỏi tông tích thì nàng thiếu nữ đã cho biết nàng là thần nữ Vu Sơn qua chơi đất Cao Đường vốn có tiền duyên với nhà vua nên cũng thỏa lòng mong ước. Nàng có nhiệm vụ sớm làm mây (triêu vân), chiều làm mưa ở chốn Dương Đài. Khi tỉnh giấc, nhà vua vẫn còn lưu
luyến giấc mộng với người đẹp nên sai người lập miếu thờ thần nữ gọi là miếu Triêu VânTriêu vân” 朝云. Chốn Dương Đài có lẽ chỉ chung cõi trần gian này....
Bài 123
Ô DẠ ĐỀ 烏夜啼
Hoàng vân thành biên ô dục thê, 黃雲城邊烏欲棲,
Quy phi nha nha chi thượng đề. 歸飛啞啞枝上啼。
Cơ trung chức cẩm Tần Xuyên nữ, 機中織錦秦川女,
Bích sa như yên cách song ngữ. 碧紗如煙隔窗語。
Đình thoa trướng nhiên ức viễn nhân, 停梭悵然憶遠人,
Độc túc cô phòng lệ như vũ. 獨宿孤房淚如雨。
Dịch nghĩa:
Đám mây vàng bên thành, đàn quạ muốn nghỉ lại đêm, - (Quạ) quay về kêu quang quác trên cành cây. – Cô gái vùng Tần Xuyên dệt gấm (ngồi) giữa khung cửi, - Tấm lụa mỏng màu xanh biếc tựa như hơi khói ngăn cách cửa sổ đang có tiếng nói chuyện thầm thì. – Dừng con thoi lại ,buồn bã nhớ người đi xa! – Một mình trú đêm nơi căn phòng lẻ loi , nước mắt (trào ra) như cơn mưa. (c.1-6)
Tạm chuyển lục bát:
QUẠ KÊU ĐÊM.
Mây vàng quạ nghỉ bên thành,
Bay về quang quác trên cành kêu vang!
Giữa khung cửi dệt, gái Tần,
Lụa như khói biếc, tiếng thầm cách song.
Người xa buồn nhớ,thoi dừng,
Một mình phòng vắng, mưa dầm lệ tuôn.
Chú thích:
- á á 啞啞: tiếng kêu quang quác của loài quạ.
- cơ trung 機中: ở giữa khung cửi. Đây là tư thế ngồi giữa phía đầu khung cửi của người dệt vải ngày xưa.
- chức cẩm 織錦: dệt gấm, một loại vải dày có nhiều màu sắc và dệt công phu.
- Tần Xuyên nữ 秦川女: đất Tần Xuyên thuộc Trường An, vùng Thiểm tây, Trung Hoa. Đây để nói về nàng Tô Huệ, vợ của Đậu Thao.
- bích sa 碧紗: loại lụa mỏng, còn gọi là vải the màu xanh biếc để may mặc khi trời nóng cho thoáng mát.
- ngữ 語: lời nói nhỏ, lời nói, ngôn ngữ, bàn luận, nói chuyện, câu, lời...
- trướng nhiên 悵然: buồn bã, buồn nhớ...
(Lần đến: THƠ CỦA LÝ BẠCH – Bài 124, 125 và 126)
Dương Anh Sơn

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét