Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du - Tập 3: Bắc Hành Tạp Lục - Bài 35 Đến 38

 


THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU - TẬP 3: BẮC HÀNH TẠP LỤC - BÀI 35 ĐẾN 38
Thầy Dương Anh Sơn

THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU
TẬP 3: BẮC HÀNH TẠP LỤC

Bài 35

VĨNH CHÂU LIỄU TỬ HẬU                                                   永州柳子厚
CỐ TRẠCH                                                                                故宅

Hành Lĩnh phù vân Tiêu Thuỷ ba,                                             衡嶺浮雲瀟水波,
Liễu Châu cố trạch thử phi da ?                                                 柳州故宅此非耶。
Nhất thân xích trục lục thiên lý,                                                 ㇐身斥逐六千里,
Thiên cổ văn chương bát đại gia.                                               千古文章八大家。
Huyết chỉ hãn nhan thành khổ hỹ,                                             血指汗顏誠苦矣,
Thanh khê gia mộc nại Ngu Hà.                                                清溪嘉木奈愚 河。
Tráng niên ngã diệc vi tài giả,                                                    壯年我亦為材者,
Bạch phát thu phong không tự ta!                                              白髮秋風空自嗟。

Dịch nghĩa:

Đám mây trôi nơi ngọn núi Hành Lĩnh và sóng gợn nơi dòng Tiêu Thủy, - Đây chẳng phải là nhà cũ của Liễu Châu đó sao? – Một đời bị biếm đày đi xa sáu ngàn dặm, - Ngàn đời văn chương của ông đứng vào hàng tám nhà văn lớn. (c.1-4)
Tay bầm máu, mồ hôi ướt sủng mặt mày của những người (bị đi đày) chịu nhiều khổ nhọc! – Suối trong trẻo, cây cối đẹp đẽ như thế sao lại gọi là suối “Ngu”(Ngu Hà!)? – Thời trai trẻ, ta cũng là người có tài năng! – Mái đầu giờ đã bạc, trước ngọn gió thu vắng lặng chỉ mình ta than thở thôi!

Tam chuyển lục bát:

NHÀ CŨ Ở VĨNH CHÂU
CỦA LIỄU TỬ HẬU.

Sóng Tiêu, Hành Lĩnh mây trôi!
Liễu Châu nhà cũ phải nơi chốn này??
Sáu ngàn dặm chịu thân đày,
Muôn đời vào hạng văn hay tám người!
“Tay bầm,mặt rịn” khổ đời,
Cây xinh, dòng suối trong ngời: Ngu sao?!
Trẻ trai ta cũng tài cao!
Gió thu mình chỉ than đầu bạc phai!

Chú thích:

** Đây là bài thơ làm ra nhân dịp Tố Như tiên sinh viếng nhà cũ của Liễu Liễu Hậu hay Liễu Tông Nguyên, qua đó, bày tỏ nỗi niềm và tâm sự của mình...
- Vĩnh Châu 永州: một vùng rộng lớn thuộc tỉnh Hồ Nam 湖南, Trung Hoa.
- Liễu Châu 柳州: là tên vùng đất bị biếm trích của Liễu Tôn Nguyên nên người đương thời vẫn gọi là Liễu Liễu Châu 柳柳州 tức Liễu Tôn Nguyên 柳宗元(783-819), tự là Tử Hậu 子厚 người thời Trung Đường (Đường Đại Tôn, Đường Hiếu Tông. Ông sớm thi đậu tiến sĩ ( năm 20, tuổi 793) và khoa Bác học hoằng từ, từng giữ chức giám sát ngự sử. Thời Đường Thuận Tông, ông cùng các bạn đồng chí hướng như Vương Thúc Văn ra sức cải cách các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, luật lệ nôi cung...v.v... đang bị bọn hoạn quan thao túng. Công cuộc cải cách thất bại nên cả nhóm bị bức hại. Ông bị biếm trích làm quan tư mã ở Vĩnh Châu (Hồ Nam 湖南), rồi năm 815, thời Đường Hiến Tông, ông làm thứ sử Liễu Châu (Quảng Tây 廣西). Bốn năm sau, ông mất tại đây thọ 47 tuổi.
Ông được người đương thời xếp vào “Đường Tống Bát đại gia 唐宋八大家” gồm: Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên, Âu Dương Tu, Tô Tuân, Tô Thức (Tô Đông Pha), Tô Triệt, Tăng Củng và Vương An Thạch.Ông để lại văn tập có tên là Liễu Hà Đông Tập (Tập thơ văn của họ Liễu ở Hà Đông) gồm 45 quyển. trong đó có hai quyển Cổ Kim Thi gồm 140 bài thơ.
- Hành Lĩnh 衡嶺: tức Nam Nhạc Hành Sơn 南嶽衡山, một trong năm ngọn núi lớn (Ngũ Nhac 五嶽) của Trung Hoa nằm ở tỉnh Hồ Nam...
- Tiêu Thủy 瀟水: con sông lớn ở Hồ Nam chảy qua vùng Vĩnh Châu rồi hợp lưu với Tương Giang. Văn học cổ trung Hoa thường dùng hình ảnh Tiêu Tương 瀟湘 của vùng Hồ Nam để chỉ nỗi u sầu của sự chia ly...
- thử phi da 此非耶: đây chẳng phải là? (Da: trợ từ chỉ nghi vấn như phải chăng? có hay chăng? phải không?)...
- huyết chỉ hãn nhan 血指汗顏: là câu chữ trong bài “Tế Liễu Tử Hậu” của Hàn Dũ: “ Ví như người thợ vụng về,tay bầm máu, mặt đổ mồ hôi, bọn nịnh thần được thảo chiếu vua; còn tài giỏi như ông phải đứng khoanh tay!”...
- thành khổ hỹ 誠苦矣: thật khổ quá thay!
- câu 5: Nguyễn Du vừa nói đến nỗi khổ tận cùng của người đi đày và cũng để chỉ sự vất vả của những kẻ phải làm ra thơ. Mặt khác, thơ cũng thành hình từ hiện thực gian truân của những người bị biếm trích hay phải chịu tội oan uổng...
- Ngu Hà: 愚: con sông Ngu. Điều cần lưu ý ở đây, đầu câu 6 Nguyễn Du đã dùng chữ “thanh khê” (dòng suối trong trẻo) nên ngầm hiểu chữ “Ngu Hà” là “Ngu Khê 愚溪” Mặt khác, cuối câu 1, Nguyễn Du đã gieo vần âm “a” (Tiêu thủy ba) nên tạm dùng chữ ”hà” (Ngu Hà) ở câu này cho điệp vận. “Hà” chỉ dòng sông chứ không phải con suối. Đó là chữ tạm dùng thay thế cho hợp vần! Chính Liễu Tôn Nguyên đã gọi dòng suối đó là “Ngu Khê”. [ Ngu Khê là con suối gần nơi ở của Liễu Tôn Nguyên khi bị biếm trích ở Vĩnh Châu. Ông đã có thiên tản văn nổi tiếng là Ngu Khê thi tự 愚溪詩字 có viết: ”Cây cối đẹp đẽ, dòng suối nước trong phải được người giỏi giang yêu mến ; gán cho khe nước ấy là “ngu” vì cớ gì đây?” ]
- Hai câu 7 và 8: viếng nhà cũ của Liễu Tôn Nguyên, Nguyễn Du như ngắm lại hình ảnh của chính mình: có tài, có chí,nhưng thời thế không như ý mình: tuy được bổ đi sứ nhà Thanh nhưng triều đình nhà Nguyễn có khác đâu thời nhà Đường của Liễu Tử Hậu với bọn tham quan bất tài do thời thế mà nên....

Bài 36

Nhị thủ                                                                                          二首
SƠ THU CẢM HỨNG                                                              初秋感興

Kỳ nhất                                                                                        其一

Tiêu tiêu mộc lạc Sở Giang không,                                            蕭蕭木落楚江空,
Vô hạn thương tâm nhất dạ trung.                                             無限傷心㇐夜中。
Bạch phát sinh tăng Ban Định Viễn,                                          白髮生憎班定遠,
Ngọc Môn Quan ngoại lão thu phong.                                       玉門關外老秋風。

Kỳ nhị                                                                                         其二
Giang thượng tây phong mộc diệp hy,                                       江上西風木葉稀,
Hàn thiền chung nhật táo cao chi.                                              寒蟬終日噪高枝。
Kỳ trung tự hữu thanh thương điệu,                                           其中自有清商調,
Bất thị sầu nhân bất hứa tri.                                                       不是愁人不許知。

Dịch nghĩa:

Bài 1

Gió thổi hiu hắt, cây rụng lá, dòng sông Sở trống vắng mênh mang! –
Nỗi buồn sầu vô hạn dâng trào trong một đêm. – Tóc bạc mọc ra khiến (ta) ghét bỏ Ban Định Viễn! – Ngoài cửa ải Ngọc Môn, cơn gió thu già cỗi vẫn thổi mãi!

Bài 2

Trên sông, ngọn gió tây thổi, lá cây thưa dần, - Trong cái lạnh, những con ve vẫn rả rích trên cành cây cao suốt cả ngày! – Bên trong, có âm thanh buồn bã, - Không phải là người mang sầu muộn, khó có thể hiểu được!

Tạm chuyển lục bát:

ĐẦU THU CẢM HỨNG (Hai bài)

Bài 1

Mênh mang sông Sở trụi cây,
Lòng đau không xiết cho đầy đêm thâu!
Ghét Ban, tóc bạc mái đầu,
Gió già ải Ngọc, thổi vào mùa thu.

Bài 2

Trên sông thưa lá - gió tây,
Cành cao ve lạnh suốt ngày kêu vang.
Điệu thu trong tiếng buồn than!
Người không sầu thảm, chẳng màng biết nghe!

Chú thích:

Bài 1

Đây là một bài thơ tứ tuyệt Nguyễn Du đã cảm hứng làm ra trên con đường đi sứ bên Trung Hoa. Trong cơn gió lạnh của mùa thu, nhà thơ như cảm nhận sự mênh mông,sự trống vắng của thiên nhiên và dấu chân thời gian đang đi qua với mùa thu trước mắt ! Khi đi trên sông Sở, nhà thơ nẩy sinh nỗi buồn bã không xiết khi nghĩ đến câu chuyện về Ban Siêu 班超(32-102 SCN) tức Ban Định Viễn 班定遠, một danh tướng thời Đông Hán có công đi đánh các nước Tây Vực 西域 và trấn ải Ngọc Môn ở biên giới phía tây ba mươi năm trời cho đến khi tóc bạc phơ mới được trở về nhà. Ông được ban tước Định Viễn Hầu 定遠侯. Nhà thơ cũng ví mình như Ban Siêu, phải chịu nhiều nỗi khó khăn khi đi sứ xa và chợt nhận ra con người mình đang đổi thay với thời gian với làn tóc bạc, tuổi tác lại thêm lên. Nhưng tóc bạc chưa phải là già mà là “cơn gió thu già cỗi” (lão thu phong) mỗi năm đi qua mới là dấu hiệu của thời gian đang dần dà hủy hoại tất cả bất chấp nỗi buồn hay công danh sự nghiệp. Ban Siêu dù là danh tướng trấn ải nhưng cũng không thoát được cơn gió của thời gian, của vô thường như bao con người....
- Sở Giang 楚江: tức con sông Tương (Tương Giang) bên Trung Hoa
- tiêu tiêu 蕭蕭: tiếng gió thổi vù vù, không gian hiu hắt, trống vắng, lạnh lùng..
- mộc lạc 木落: lá cây rơi rụng nhiều làm cho cây trơ trụi...
- không 空: trống trải, trống vắng, không có gì, mênh mông....
- vô hạn thương tâm 無限傷心: đau lòng không thế xiết, đau đớn trong lòng tột cùng, đau lòng không giới hạn....
- tăng 憎: chán ghét, chán ngán, ghét bỏ, không thích...
- Ngoc Môn Quan 玉門關: cửa ải quan trọng phía tây nước Trung Hoa được Hán Vũ đế Lưu Triệt 劉徹(156-87 TCN) cho xây dựng nhằm ngăn chặn các bộ tộc ở các khu vực phía tây (Tây Vực) bên ngoài tràn vào Trung nguyên cướp phá. Nay thuộc xã Sa Châu, huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc
- lão thu phong 老秋風: cơn gió mùa thu làm cho già cỗi đi mọi thứ, trong đó có con người như Ban Siêu và quân lính đi trấn ải biên thùy. Rộng hơn, đó là cơn gió của thời gian đang đi qua đời người, qua các thời đại hưng phế... Nó cuốn trôi tất cả hư danh, sự nghiệp. Nguyễn Du nhìn cuộc đời của Ban Siêu với sự nghiệp, công danh phải trả giá cho cái già cỗi ngoài chốn biên thùy.
Nhà thơ nghĩ sâu hơn về “lão thu phong” cơn gió thu làm già lão mọi thứ không riêng ai. Đó là hình ảnh của sự vô thường trong mọi góc cạnh của cuộc sống...

Bài 2

Trong bài thơ thứ hai này, Nguyễn Du đã lắng nghe sự chuyển động của thiên nhiên qua cơn gió tây, qua tiếng ve râm rang suốt ngày...v.v... bằng tâm trạng buồn sầu của mình trước cảnh vật. Nhà thơ đã xác tín: chỉ những ai trải qua nỗi sầu buồn mới có thể hiểu được cái buồn của cảnh vật bên ngoài... (Có câu nói tương tự khi bậc tiền bối không rõ tên nào đó đã đánh giá Đoạn Trường Tân Thanhp của Nguyễn Du : “ Kể bao xiết nỗi thảm sầu, Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!”) *Từ đó, các hiện tượng của thiên nhiên đang biến đổi trong cả hai bài thơ đều mang dấu ấn của đạo Phật mà một người như Nguyễn Du từng đọc Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật trên một ngàn lần ( xem bài 106 về sau của B.H.T.L. : ”Lương Chiêu Minh thái tử Phân kinh thạch đài”) chắc chắn hiểu và thấy rõ “chư hành vô thường 諸行無常” các hành đều vô thường, cuộc sống và con người cũng trong sự vận hành này...
- mộc diệp hi 木葉稀: cây và lá thưa thớt, lưa thưa, ít ỏi...
- táo 噪: tiếng râm rang, tiếng rả rích hay ra rả liên tiếp nhau...
- thanh thương điệu 清商調: điệu nhạc cổ mang âm hưởng bi ai, sầu thảm... - bất thị sầu nhân 不是愁人: người (nhân) không có nỗi sầu...
- bất hứa tri 不許知 :( hứa 許: có thể, cho phép, trông chờ, rất, lắm...) không thể biết được..

*Câu này vẫn còn là nghi vấn, có thể là dị bản. Bản Truyện Kiều hay Đoạn Trường Tân Thanh của Liễu Văn Đường, Kiều Oánh Mậu, bản khảo đính của Đào Duy Anh hay bản của Nguyễn Quảng Tuân...v..v.. câu 1681 và 1682 đều viết :” Thương càng nghĩ, nghĩ càng đau- Dễ ai rấp thảm quạt sầu cho khuây”. Cho nên, tạm thời nên đặt câu trích dẫn trên vào loại tồn nghi để tìm hiểu thêm về nguồn gốc của nó!

Bài 37

SỞ VỌNG                                                                                  楚望

Kinh, Tương thiên lý cổ danh đô,                                              荊襄千里古名都,
Nhất bán khâm giang nhất đới hồ.                                             ㇐半襟江㇐帶湖。
Thiên giá phú cường cung bách chiến,                                      天假富彊供百戰,
Địa lưu khuyết hãm hạn Tam Ngô.                                            地留缺陷限三吳。
Thu phong lạc nhật giai hương vọng,                                        秋風落日皆鄉望,
Lưu thuỷ phù vân thất bá đồ.                                                     流水浮雲失霸圖。
Tôn sách Lưu phân hà xứ tại,                                                     孫索劉分何處在,
Thương nhiên nhất vọng tẫn bình vu.                                        蒼然㇐望盡平蕪。

Dịch nghĩa:

Vùng Kinh Châu,Tương Dương trải ngàn dặm đã có tiếng tăm từ xưa là nơi đô hội, - Một nửa ôm lấy con sông lớn, mội dải các hồ rộng. – Trời ban cho sự giàu mạnh nên vùng này đã cung ứng cho cả trăm trận đánh! – Đất đai lại thấp trủng lồi lõm ngăn giữ vùng Tam Ngô.(c.1-4)
Chiều tàn, gió mùa thu thổi đến, khiến ai nấy đều ngóng về quê nhà, -
Nước chảy, mây trôi cơ đồ bá nghiệp đều mất hết! – Chốn nào là nơi Tôn Quyền ra yêu sách đòi hỏi và chốn nào là nơi Lưu Bị phân chia đất đai? – Dõi nhìn xa xa chỉ thấy vùng cỏ hoang xanh rì phẳng tắp thả sức mọc!

Tạm chuyển lục bát:

NGÓNG VỀ ĐẤT SỞ.

Kinh, Tương ngàn dặm tiếng tăm,
Quanh hồ một dải, nửa nằm ôm sông!
Mạnh, giàu đánh trận trăm lần,
Tam Ngô đất trủng, giữ ngăn chia vùng.
Gió thu, chiều ngóng quê hương,
Mây trôi, nước chảy bá vương mất rồi!
Chốn nào Lưu cắt, Tôn đòi?!
Nhìn toàn cỏ dại xanh ngời phẳng phiu!

Chú thích:

** Đây là bài thơ mang cảm hứng từ lịch sử khi Tố Như tiên sinh khi đến vùng đất Sở xa xưa của thời Xuân Thu và Chiến Quốc khi trên đường đi sứ ngang qua đây. Nơi này từng xảy ra những cuộc tranh chấp, những trận đánh giành giựt đất đai lãnh thổ làm cho dân chúng điêu linh, thanh niên trai tráng phải chết chóc... v.v... để gầy dựng và bảo vệ cơ đồ của ba dòng họ. Thời Tam Quốc ba nhân vật lịch sử nổi bật, làm chủ ba vùng lãnh thổ là Tôn Quyền 孫權, Lưu Bị 劉備 và Tào Tháo 曹. Trong câu thơ cuối cùng của bài này, Nguyễn Du bằng con mắt thấu rõ sự biến dịch và vô thường đã cho chúng ta thấy rõ mọi nỗ lực tranh giành thế lực, đất đai, cơ đồ, vương nghiệp chỉ còn là môt bãi cỏ phẳng phiu xanh rì của con nước thời gian . Đó là lẽ vô thường mà rất nhiều bài thơ của Nguyễn Du đã nói đến cho thấy sự hiểu thấu của ông về bản chất của sự vật: “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh” mà thôi!
- Sở 楚: một vùng đất bên Trung Hoa trước kia thuộc nước Sở thời Chiến Quốc còn gọi là Kinh Sở trải dọc theo Trường Giang ở phía nam và nằm quanh hồ Động Đình và Thương Ngô( nay là tỉnh Hồ Nam,Trung Hoa)
- Kinh, Tương 荊襄: tức vùng Kinh Châu 荊州 và Tương Dương 襄陽 xưa kia, nay thuộc Hồ Nam- T.H). Đó là vùng đất quan trọng có nhiều di tích lịch sử của Trung Hoa.
- khâm giang 襟江: ôm lấy con sông như ôm vạt áo trước ngực (khâm).
- nhất đới hồ ㇐帶湖: một dải hồ nối nhau. Đây chỉ các hồ nhỏ của chuổi quanh hồ Động Đình bên Trung Hoa...
- thiên giá 天假: trời ban cho, trời giúp cho hay phú cho... (Âm của “giả” là “giá”: thưởng, ban cho...)
- cung 供: cung cấp, cung ứng, bày ra...
- địa lưu 地留: đất giữ lại, đất chừa lại...
- khuyết hãm 缺陷: nơi nhiều sông hồ hay đất trủng, hầm hố lồi lõm (hãm; hầm hố, hố vưc, hãm hại, vùi lấp, bẫy...)
- hạn 限: giới hạn, phạm vi, ngăn chia...
- Tam Ngô 三吳: vùng đất Giang Nam xưa kia là ba vùng đất nước Ngô của Tôn Quyền thời Tam Quốc là Ngô Hưng 吳興, Ngô Quận 吳郡 và Cối Kê 會稽 (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc -T.H)
- giai hương vọng 皆鄉望: đều (giai) trông ngóng về quê nhà. Đây chỉ đoàn đi sứ của Nguyễn Du và các người đi theo phục dịch nhìn về quê hương..
- thất bá đồ 失霸圖: mất hết cơ đồ và nghiệp bá vương, mất hết giấc mộng làm nên nghiệp bá, tranh giành một vùng đất để làm bá vương một cõi...
- sách : yêu sách, đòi hòi, sách nhiễu, gây khó khăn để đòi hỏi một vấn đề nào đó. Nhiều sách vở lại ghi là Tôn Sách có lẽ nhầm lẫn. Nhân vật họ Tôn trong bài thơ này là Tôn Quyền, Tôn Sách là anh của Tôn Quyền chỉ là người đặt nền tảng cho Tôn Quyền về sau khi chiếm được Giang Đông. Khi Tôn Sách bị Hứa Cống ám sát vào năm 200, Tôn Quyền 孫權(182-252 SCN) mới chỉ 18 tuổi, được lời trối trăng của Tôn Sách trước khi mất giao cho cơ đồ làm lãnh chúa một vùng lớn ở đông nam Trung Hoa. Sau này, Tôn Quyền nhờ sự giúp rập của các cận thần tài giỏi đã cùng Lưu Bị và Tào Tháo chia nhau ba vùng cát cứ tranh giành lẫn nhau ,sử gọi là thời Tam Quốc. Đó là ba nhân vật lịch sử chính của thời bấy giờ!
Về sau, khi thế lực và lãnh thổ mở rộng, ông xưng là Ngô Đại đế 吴大帝 chiếm giữ vùng Tam Ngô! Mặt khác, khi Nguyễn Du dùng chữ “sách” (Tôn sách 孫策) đối trọng với “phân” (Lưu phân 劉分) nối nhau đã cho thấy ý nghĩa đã rõ ràng: Tôn Quyền ra yêu sách đòi hỏi lãnh thổ này nọ, còn Lưu Bị cũng đòi hỏi phân chia đất đai theo thế lực đôi bên....
- thương nhiên 蒼然: màu xanh thẳm mênh mông...
- tẫn bình vu 盡平蕪: hết cả là vùng cỏ hoang vu, bằng phẳng...

Bài 38

VỌNG TƯƠNG SƠN TỰ                                                         望湘山寺

Cổ Phật vô lường Đường thế nhân,                                           古佛無量唐世人,
Tương Sơn tự lý hữu chân thân.                                                湘山寺裡有真身。
Chân thân nhất dạ tẫn viêm hoả,                                                真身㇐夜燼炎火,
Cổ tự thiên niên không mộ vân.                                                 古寺千年空暮雲。
Ngũ Lĩnh phong loan đa khí sắc,                                               五嶺峰巒多氣色,
Toàn Châu thành quách tại phong trần.                                     全州城郭在風塵。
Cô chu giang thượng bằng lan xứ,                                             孤舟江上憑欄處,
Nhất đái tùng sam bán tịch huân.                                               ㇐帶松杉半夕曛。

Dịch nghĩa:

Chư Phật xưa từ thời nhà Đường không tính được! – Bên trong chùa còn nhục thân của bậc cao tăng. – Nhưng nhục thân ấy trong một đêm đã bị lửa thiêu rụi, còn lại tro tàn! – Ngôi chùa xưa ngàn năm ấy chỉ có mây chiều vắng lặng. (c1-4)
Núi non Ngũ Lĩnh vẫn còn nhiều khí tỏa và màu sắc! – Thành quách Toàn Châu vẫn ở trong cơn gió bụi bặm! – Tựa vào lan can của chiếc thuyền lẻ loi, - Một dải tùng sam còn mang nửa ánh chiều tà le lói. (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

NHÌN CHÙA TƯƠNG SAN TỪ XA.

Thời Đường vô lượng Phật xưa,
Nhục thân còn đó trong chùa Tương San.
Nhục thân một tối cháy tàn,
Chùa xưa lặng lẽ mây ngàn đời trôi.
Khí giăng Ngũ Lĩnh sắc vời,
Toàn Châu thành quách gió khơi bụi lồng.
Lan can thuyền tựa trên sông,
Ánh chiều le lói nửa vùng tùng sam.

Chú thích :

Đây là một trong những bài thơ ghi nhận và mô tả cảnh sắc nước Trung Hoa trên đường đi sứ, lại vừa gửi gắm tâm tư của Nguyễn Du. Bài thơ không dừng lại những nỗi niềm riêng tư về cuộc đời của mình. Qua bài thơ, ông đã cho thấy rất rõ nét bản chất của mọi sự đều mang dấu ấn vô thường của muôn vật phù hợp với tinh thần của những lời đức Phật thuyết giảng . Ngôi chùa với pho tượng Phật và nhục thân của bậc cao tăng dù giác ngộ rồi cũng bị cháy tàn,tiêu vong ra tro bụi như Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật mà Tố Như đã đọc trên ngàn lần (xem bài 106/ BHTL- Lương Chiêu Minh thái tử Phân kinh thạch đài) cho thấy : sắc tức thị không, không tức thị sắc...hay Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh... Màu sắc đạo Phật là một trong những tố chất vẫn thường gặp trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du...
- cổ Phật 古佛: đây chỉ pho tượng Phật cổ xưa được thờ tự trong chùa trong đó có Huyền Trang 玄奘 ,vị sư đã vượt ngàn dặm qua Tây Vực và đến Ấn Độ để thỉnh kinh được tôn là bậc giác ngộ chánh quả. Cổ Phật cũng dùng để chỉ các bậc tu hành đã giác ngộ thành chánh quả như đức Phật Thích Ca và các vị Bồ Tát từ thời xa xưa.
- vô lường (lượng): không lường được, không tính hay đếm được. Chỉ công đức dùng giáo pháp để giáo hóa con người rất lớn lao không nói hết được.
- Tương San (Sơn) tự 湘山寺: chùa núi nằm gần Ngũ Lĩnh vùng Quảng Tây 
- chân thân 真身: bậc cao tăng đời nhà Đường khi liễu đạo viên tịch còn gọi là nhục thân 肉身, nghĩa là phần xương thịt thường vẫn giữ được sắc thân tựa như còn sống, không bị tiêu hoại hoàn toàn nên được thờ trong bảo tháp của chùa...
- tẫn viêm hỏa 燼炎火: lửa nóng đã đốt cháy, đã thiêu rụi (viêm hỏa) chỉ còn lại tro tàn (tẫn).
- không mộ vân 空暮雲: mây chiều vắng lặng, trống không. Tuy nhiên chữ “không” ở đây còn mang ý nghĩa về ”tánh không” trong đạo Phật thường gặp trong phái Đại thừa: “Vạn sự giai không 萬事皆空”, muôn việc đều là KHÔNG.
Dĩ nhiên chữ “không” rất rộng nghĩa trong Phật giáo như trong Kinh Kim Cang. Riêng trong bài thơ, Nguyễn Du đã cho chúng ta thấy những biểu tượng tưởng như bất diệt vẫn bị hoại diệt như “chân thân” của bậc cao tăng và ngôi chùa ngàn năm giờ chỉ còn đám mây chiều trống trơ...
- Ngũ Lĩnh 五嶺: giản thể viết: 五岭 (xem bài 35 trên với nghĩa Hành Lĩnh 衡嶺) chỉ năm ngọn núi lớn của Trung Hoa hay còn gọi là Ngũ Nhạc 五 嶾 nằm ở các vùng ranh giới của Hồ Nam, Giang Nam, quảng Đông, Quảng Tây, của nước Trung Hoa gồm Việt Thành Lĩnh 越城岭, Đô Bàng Lĩnh 都庞岭, Manh Chử Lĩnh 萌渚岭, Kỵ Điền Lĩnh 骑田岭 và Đại Dữu Lĩnh 大庾岭. Phía nam các dãy núi này là các vùng Lĩnh Nam 嶺南 xưa kia thuộc các bộ tộc Bách Việt, trong đó có tổ tiên của Âu Việt và Lạc Việt của chúng ta.
- Toàn Châu 全州: vùng gần chùa Tương San, gần Ngũ Lĩnh, nay thuộc Quảng Tây, Trung Hoa. Nguyễn Du đi sứ ngang qua đây vào ngày 18 tháng 7 năm Quý Dậu (1813), trên đường đi tỉnh Trường Sa (Hồ Nam)
- sam 杉: một loại thông như loại tùng hay bách...
- huân 曛: ánh sáng le lói còn lại trong ánh trời chiều. Tịch huân 夕曛: nắng tà dương, nắng quái, nắng le lói lúc trời chiều.

Soạn 2003, Dương Anh Sơn

(Lần đến: THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU -

Tập 3: Bắc Hành Tạp Lục - Bài: 39 ,40 và 41)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét