Tập 3 : BẮC HÀNH TẠP LỤC
Bài 41
TƯƠNG ĐÀM ĐIẾU 湘潭弔三閭大夫
TAM LƯ ĐẠI PHU (KỲ NHỊ) (其二)
Sở quốc oan hồn táng thử trung, 楚國冤魂葬此中,
Yên ba nhất vọng diểu hà cùng. 煙波㇐望渺何窮。
Trực giao hiến lệnh hành thiên hạ, 直交憲令行天下,
Hà hữu Ly Tao kế Quốc phong? 何有離騷繼國風。
Thiên cổ thùy nhân liên độc tỉnh? 千古誰人憐獨醒,
Tứ phương hà xứ thác cô trung? 四方何處托孤忠。
Cận thời mỗi hiếu vi kỳ phục, 近時每好為奇服,
Sở bội tiêu lan cánh bất đồng. 所揹椒蘭竟不同。
Dịch nghĩa:
Giữa dòng sông này là nơi chôn oan hồn người nước Sở, - Một lần nhìn khói sóng dòng sông xa xa, đâu là chỗ tận cùng? – Nếu như pháp lệnh được thi hành dưới cõi trời, - Làm sao có được bài thơ Ly Tao tiếp nối với những vần thơ Quốc Phong? (c.1-4)
Ngàn đời sau, ai là người thương xót cho người “riêng tỉnh” ? – Bốn
phương trời nào là nơi gởi gắm tấm lòng của người tôi trung đơn độc? – Gần đây có người thích ăn mặc lạ lùng (như ông), - Họ đeo hoa tiêu, hoa lan nhưng không giống (như ông)!! (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
VIẾNG TAM LƯ ĐẠI PHU
Ở TƯƠNG ĐÀM (Bài 2)
Táng đây người Sở hồn oan,
Trông vời khói sóng ngút ngàn xa xa.
Dưới trời “hiến lệnh” ban ra,
“Quốc Phong” nối tiếp có là “Ly Tao”?
Thương người “riêng tỉnh” ai nào!?
Bốn phương đâu chốn gửi vào lòng trung!
Thời này thích mặc lạ lùng,
Đeo tiêu lan ấy càng không giống rồi!!
Chú thích:
Tiếp nối bài 1, với bài thơ thứ 2 cùng đề tài này, Tố Như tiên sinh đi sâu hơn để cho thấy phẩm cách và tài năng của Khuất Nguyên 屈原(340-278 TCN), còn gọi là Tam Lư Đại Phu từ vụ “hiến lệnh” được Sở Hoài vương Trung Hoa ban hành rồi lại nghe lời của bọn nịnh thần dèm pha không cho thi hành và giáng chức đày ông đi Giang Nam.
Chính trong con đường lưu đày này đã để lại một tuyệt phẩm thơ ca là bài thơ Ly Tao trong Sở Từ được xếp ngang hàng và có phần hơn đối với thiên Quốc Phong trong Kinh Thi, cuốn thơ được xếp hàng đầu trong thơ ca của Trung Hoa. Đồng thời, nhà thơ cũng nhìn lại “cận thời” tức là thời gần đây, thời bây giờ nhiều kẻ giả mạo cốt cách ăn mặc đeo hoa lan nhược,hoa tiêu... v.v... như Khuất Nguyên nhưng rất khác xa. Bọn họ có thể nhận ra trong chốn triều đình nhà Nguyễn là cách Tố Như muốn nói đến!
- yên ba nhất vọng 煙波㇐望: một lần nhìn khói sóng trên sông...
- diểu 渺: xa xăm, xa tít, xa không thấy rõ... Có khi đọc là “miểu”...
- hiến lệnh 憲令: xem chú thích bài 1 trước.
- câu 4: Hà hữu Ly Tao kế Quốc Phong 何有離騷繼國風: tác phẩm Ly Tao 離騷 có nối tiếp được Quốc Phong 國風 không? Hay nói khác hơn, Nguyễn Du muốn so sánh thiên Ly Tao, kiệt tác và tiêu biểu nhất trong Sở Từ 楚辭 của Khuất Nguyên 屈原 và thiên Quốc Phong trong Kinh Thi 詩經 [là bộ thi ca tổng hợp cổ xưa của Trung Hoa trong đó Quốc Phong là thiên đầu tiên quan trọng nhất gồm 160 bài ca dao,tục ngữ phản ảnh phong tục, tình cảm cùng tiếng nói người dân các nước chư hầu thời nhà Chu...]. Nguyễn Du của nước Việt cũng như rất nhiều nhà thơ lớn của Trung Hoa đều công nhận thiên Ly Tao trong Sở Từ là tác phẩm nối tiếp (kề) truyền thống của Quốc Phong trong Kinh Thi. Nói khác hơn, ông đã đặt Ly Tao của Khuất Nguyên lên đỉnh cao của thơ ca Trung Hoa không kém gì Kinh Thi dầu không viết ra là khẳng định. Đó không chỉ là sự ngưỡng vọng văn tài xuất chúng của Khuất Nguyên mà cả cuộc đời trong sáng và thanh cao của ông nữa .
- Câu 5: Thiên cổ thùy nhân liên độc tỉnh 千古誰人憐獨醒: Ngàn đời, ai là kẻ xót thương cho người một mình tỉnh táo (giữa cuộc đời say)?. Câu thơ này lấy ý có nguồn gốc trong chính Sở Từ của Khuất Nguyên ở thiên “Ngư phủ 漁甫 “. Khuất Nguyên kể chuyện khi ông trên đường bị lưu đày, ông đã gặp người đánh cá bên bờ sông hỏi ông sao lại lâm vào cảnh khốn cùng. Khuất Nguyên đã nói ông chài: “Cử thế giai trọc ngã độc thanh, chúng nhân giai túy ngã độc tỉnh 舉世皆濁我獨清,眾人皆醉我獨醒 “ (nghĩa là: Cả đời đều đục, chỉ mình ta trong; mọi người đều say, chỉ mình ta tỉnh.). Khuất Nguyên đã mượn hình ảnh anh chài cùng đối đáp trong câu chuyện để trút ra những mối tâm sự u uất trong lòng dẫn đến hành động tự trầm trên dòng Mịch La. Đồng thời, khi Tố Như viết “thùy nhân liên 誰人憐” (ai là người sẽ thương xót...) cho thấy nỗi cô độc tận cùng của Khuất Nguyên vì cả triều đình không ai thấu hiểu và cảm thông cho ông! Đó là người cô trung hay người tôi trung thành thất thế trước cả một triều đình hèn nhát, thiếu sáng suốt dẫn đến cái chết của Khuất Nguyên và cả Sở Hoài vương 楚懷王(328-299 TCN). Khi Khuất Nguyên còn trong triều, từng yêu cầu vua giết Trương Nghi để khỏi hậu họa. Sau này, nước Tần lớn mạnh đã buộc Sở Hoài vương sang Tần chầu rồi bị giam giữ đến chết!
- hiếu vi kỳ phục 好為奇服: thích cách ăn mặc lạ lùng. Nguyễn Du trong câu thơ này chỉ cách Khuất Nguyên nói về cách ăn mặc tươm tất với ”gươm dài, mũ cao” khác với cách bắt chước của nhiều kẻ muốn theo đòi giống như ông nhưng nhân cách và đạo đức làm sao sánh được như ông!
- tiêu, lan 椒蘭: loài cây có hương thơm mà Khuất Nguyên thường đeo để nói lên sự trong sạch củ mình...
Bài 42
PHẢN CHIÊU HỒN 反招魂
Hồn hề! Hồn hề! Hồ bất quy? 魂兮!魂兮!胡不歸,
Đông tây nam bắc vô sở y. 東西南北無所依。
Thướng thiên há địa giai bất khả, 上天下地皆不可,
Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi? 鄢郢城中來何為。
Thành quách do thị, nhân dân phi, 城郭猶是人民非,
Trần ai cổn cổn ô nhân y. 塵埃滾滾汙人衣。
Xuất giả khu xa, nhập cứ toạ, 出者驅車入踞坐,
Toạ đàm lập nghị giai Cao, Quỳ. 坐談立議皆皋夔。
Bất lộ trảo nha dữ giác độc, 不露爪牙與角毒,
Giảo tước nhân nhục cam như di! 咬嚼人肉甘如飴。
Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu, 君不見湖南數百州,
Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì. 只有瘦瘠無充肥。
Hồn hề! hồn hề! suất thử đạo 魂兮!魂兮!率此道,
Tam Hoàng chi hậu phi kỳ thì. 三皇之後非其時。
Tảo liễm tinh thần phản thái cực, 早斂精神返太極,
Thận vật tái phản linh nhân xi, 慎勿再返令人嗤。
Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan 後世人人皆上官,
Đại địa xứ xứ giai Mịch La, 大地處處皆汨羅。
Ngư long bất thực, sài hổ thực, 魚龍不食豺虎食,
Hồn hề! hồn hề! nại hồn hà? 魂兮!魂兮!奈魂何。
Dịch nghĩa:
Hồn ơi! hồn ơi! Sao không quay về! – Đông, tây, nam, bắc không nơi nào có chỗ để nương náu! – Lên trời, xuống đất đều không thể nào được rồi! – Còn đi đến thành Yên, thành Dĩnh để làm gì! (c.1-4)
Thành quách vẫn thế, nhưng người dân đã khác trước, - Bụi bặm bay cuồn cuộn dây bẩn vào áo người. – Khi đi ra ngoài thì rong ruổi xe cộ, vào nhà thì dáng bộ xoạc chân ngồi vênh váo! – Lúc ngồi để bàn bạc hay đứng lên đều giống cách ông Cao, ông Quì! (c.5-8)
(Bọn người này) chẳng lộ nanh vuốt cùng mũi giáo độc! – Họ gặm xương hoặc nhai thịt người ngon ngọt như kẹo đường! – Anh có thấy chăng Hồ Nam mấy trăm châu, - Chỉ có những người gầy nhom, chẳng có ai béo tốt đầy đủ! (c.9-12)
Hồn ơi! Hồn hỡi! Men theo con đường này, - Từ đời Tam Hoàng về sau, không còn hợp với thời thế nữa! – Hãy sớm thu tinh thần lại quay về với cõi nguyên sơ! – Chớ quay trở lại làm gì để người ta cười
cợt! (c.13-16)
Đời sau ai ai đều là Thượng Quan (gian nịnh). – Mặt đất rộng lớn nơi nơi cũng đều là dòng sông Mịch La! – Cá rồng không ăn (nhục cốt của ông), chó sói hay hổ cũng nuốt thôi! – Hồn ơi! Hồn ơi! Biết làm sao đây hỡi hồn! (c.17-20)
Tạm chuyển lục bát:
CHỐNG VIỆC GỌI HỒN VỀ.
Chẳng về! Hồn hỡi! Hồn ơi!
Đông tây nam bắc không nơi nương vào!
Lên trời xuống đất được sao!
Dĩnh, Yên về lại thành nao làm gì?
Thành còn, người đã khác đi,
Cuốn bay bụi bặm, bẩn dây áo người.
Ruổi xe, vênh váo dáng ngồi,
Ngồi bàn, đứng nói giống thôi Cao, Quỳ.
Chẳng bày nanh vuốt độc chi,
Thịt người xương gặm nhai gì ngọt tan!
Thấy trăm châu ở Hồ Nam,
Chẳng ai béo tốt, gầy nhom xấu người.
Men theo đường ấy hồn ơi!
Tam Hoàng chẳng được hợp thời về sau!
Thu thần thái cực sớm vào,
Chớ về lại nữa khiến bao kẻ cười!
Thượng Quan đều ở khắp nơi!
Mịch La đất rộng nơi nơi khắp cùng!
Cá rồng chẳng nuốt, sói hùm,
Biết làm sao được hỡi hồn! Hồn ơi!
Chú thích:
Nguyễn Du làm bài thơ này nối tiếp với hai bài thơ trên để tưởng nhớ và luận bàn về cuộc đời Khuất Nguyên 屈原 và thế sự. Bài từ mang tên “Chiêu Hồn 招魂”( Gọi hồn trở về) là của Tống Ngọc 宋玉, người cùng thời với Khuất Nguyên. Tống Ngọc trong bài từ này đã tỏ ra thương tiếc cái chết của ông và làm bài từ cầu mong cho vong hồn Tam Lư đại phu quay về dương thế để sống lâu hơn! Tuy nhiên, khi đọc bài này và nhìn vào con người và cuộc sống chung quanh, nhất là ở các triều chính dù là của Trung Hoa hay nước Việt đều đầy rẫy kẻ gian ác, xiểm nịnh và nơi đâu cũng có những dòng Mịch La chờ đón. Nhà thơ nước Việt khi đi sứ Trung Hoa đã làm bài từ này với ý nghĩa hồn vía Khuất Nguyên đừng bao giờ trở về cõi trần gian đầy hiểm họa này!
Cũng nên lưu ý “Chiêu hồn 招魂” của Tống Ngọc thuộc lối truyền thống của Sở Từ 楚辭 có dạng thể tương tự của Sở Từ hay “từ phú 詞賦” khác với thể từ theo thể loại “từ khúc 詞曲”, một lối thơ hay văn có thể hát theo làn điệu đời Đường hay Tống bên Trung Hoa. Còn “Phản chiêu hồn” của Nguyễn Du trong Bắc Hành Tạp Lục có hình thức của thơ cổ thể mang âm hưởng Sở Từ nhưng không phải là “từ khúc” dầu theo niêm luật và có làn điệu. (Xem thêm SỞ TỪ và KINH THI)
- Yên, Dĩnh 鄢郢: Yên là vùng đất thuộc nước Sở xưa kia, nay là Hồ Bắc, Trung Hoa. Dĩnh cũng là đất nước Sở thời Chiến Quốc chọn làm kinh đô, nay là vùng Giang Lăng, Hồ Bắc.
- cổn cổn 滾滾: tuôn chảy, chảy cuồn cuộn....
- ô nhân y 汙人衣: ô: vấy bẩn, dây bẩn, thấp kém. Làm vấy bẩn áo của người
- khu xa 驅車: ngồi xe do ngựa kéo đi, ruổi xe ngựa chạy nhanh...
- cứ tọa 踞坐: ngồi xoạc chân với dáng vẻ vênh váo, nghênh ngang tự đắc...
- Cao, Quỳ 皋夔: hai vị quan hiền và giỏi thời vua Nghiêu và vua Thuấn bên Trung Hoa...
- lộ trảo nha 露爪牙: lộ ra,bày ra (lộ) móng vuốt sắc nhọn...
- giác độc 角毒: sừng nhọn độc hại...
- giảo tước 咬嚼: gặm xương hay nhấm nháp với dáng vẻ thích thú...
- di 飴: ngọt ngào, ngọt xớt, ngọt như đường mạch nha...
- Câu 11 và 12: với hình ảnh “sấu tích 瘦瘠” ( gầy ốm, xấu xí...) và “sung phì 充肥” (đầy đủ, béo mập và tươi tốt...), Nguyễn Du đã cho chúng ta thấy được cuộc sống của người dân Trung Hoa ở Hồ Nam thời nhà Thanh khi ông đi sứ nói riêng và rất nhiều nơi ông đi qua. Đó là cuộc sống của nhiều tầng lớp dân chúng sống trong nghèo đói thiếu thốn thể hiện qua vóc dáng của họ. Và tầng lớp trên đầy những bọn quan gian ác, tham lam và tàn bạo (câu 9 và 10). Bọn này không phải chỉ có ở thời Khuất Nguyên xa xưa mà còn mãi đến tận bây giờ không chỉ ở Trung Hoa mà cả ở nước ta. Tố Như không đề cập đến nước ta nhưng những câu thơ trên rõ ràng có ngụ ý sâu sắc!
- suất 率: đi theo, men theo, lưới bẫy chim...
- Tam Hoàng 三皇: truyền thuyết bên Trung Hoa đều cho rằng ba vị vua thời cổ đại của họ là Phục Hi, Thần Nông và Hoàng Đế là những ông vua hiền đã dạy dân chúng lễ nghĩa, cày cấy và nhiều nghề nghiệp khác. Đó là thời kỳ được xem là tốt đẹp nhất trong lịch sử Trung Hoa...
tảo liễm 早斂: sớm (tảo) thu lại , cất, ẩn dấu, gom lại, thu thuế...
- tinh thần 精神: phần tinh anh tinh túy dẫn dắt con người trong mọi suy nghĩ và hành động...
- thái cực 太極: theo triết thuyết của đạo Lão bên Trung Hoa, đây là thời kỳ còn hỗn mang, nguyên sơ chưa phân định trời đất và con người sống hồn nhiên...
- thận vật 慎勿: dè chừng, chớ nên, đừng làm...
- xi 嗤: cười cợt, cười chê...
- Thượng Quan 上官: tức Thượng Quan Ngân Thượng, đại thần nước Sở luôn tìm mọi cách dèm pha Khuất nguyên khiến vua Sở không còn tín nhiệm và bị đi đày dẫn đến chỗ ông uất ức chọn dòng sông Mịch La ở phía bắc huyện Tương Âm 湘陰, Hồ Nam 湖南 để tự trầm...
- nại hồn hà 奈魂何: làm sao đây hỡi hốn, biết làm sao hỡi hồn...
Dương Anh Sơn
Saigon, 2003
(Lần đến: BẮC HÀNH TẠP LỤC CỦA NGUYỄN DU – Bài 43, 44 và 45)