Thứ Ba, 27 tháng 10, 2026

Sinh Nhật Cháu Ngoại

 


SINH NHẬT CHÁU NGOẠI 
Đỗ Công Luận 

Trân trọng 
NHHN 

Thơ Phổ Nhạc: Cái Nón Sắt Và Người Lính

 


THƠ PHỔ NHẠC: CÁI NÓN SẮT VÀ NGƯỜI LÍNH 
Nguyễn Thị Thanh Dương

Thân kính mời quý thân hữu thưởng thức :

 

CÁI NÓN SẮT VÀ  NGƯỜI LÍNH

 

Cái nón sắt cùng anh vào đời lính,

Như hai người bạn luôn ở bên nhau,

Người lính đóng quân hay đi nơi đâu,

Cái nón sắt chở che anh mưa nắng.

 

Giữa bom đạn khi anh vào cuộc chiến,

Bảo vệ anh từng giây phút tử sinh,

Tầm đạn xa hay có lúc thật gần,

Mong anh được mọi bình yên may mắn.

 

Đường dài hành quân nếu anh thấm mệt,

Cái nón sắt sẽ là chiếc ghế ngồi,

Chia sẻ cùng anh lúc được nghỉ ngơi,

Có tình nào mà thân thương đến thế.

 

Bên anh đời thường, đời lính gian khổ,

Cái nón sắt múc nước để anh dùng,

Qua suối qua sông rửa sạch bụi đường,

Cái nón sắt nấu cơm canh dã chiến.

 

Chung vui với anh niềm vui trận mạc,

Mừng chiến thắng đoàn quân đã trở về,

Người lính trên đầu nón sắt cài hoa,

Cánh hoa rừng vươn lên từ khói lửa.

 

Góp công với anh, như người chiến sĩ

Cái nón sắt là đồng đội âm thầm,

Đỡ đạn cho anh khó bị sát thương,

Nón sắt hứng chịu tên bay đạn réo.

 

Lìa xa  nhau không một lời trăn trối,

Người lính hi sinh tay súng buông xuôi,

Cây súng đau khi thất lạc tay người,

Cái nón sắt ngậm ngùi thương tri kỷ.

 

Nón treo đầu súng tiễn hồn tử sĩ,

Vật dụng của người lính chiến còn đây,

Xông pha với anh ngày lại từng ngày,

Cái nón sắt giờ đây không có chủ. 

 

Nguyễn Thị Thanh Dương.

+

Thơ phổ nhạc CÁI NÓN SẮT VÀ  NGƯỜI LÍNH - Thơ Nguyễn Thị Thanh Dương – Thực hiện Lâm Hoài Vũ


 https://www.youtube.com/watch?v=aK6CYEBak84


Trân trọng 

NHHN 


Kính mời quý vị thưởng thức 


-


Truyện Ngắn: Hối Tiếc

 


Truyện Ngắn: HỐI TIẾC
Bùi Phạm Thành

Trong hành trình của cuộc đời, đôi khi những nỗi hối tiếc sâu sắc nhất lại không đến từ những gì chúng ta đã làm, mà từ chính những điều ta chưa từng cho phép bản thân thực hiện. Chúng ta thường đi theo những lối mòn quen thuộc, hoàn thành nhiệm vụ và xây dựng cuộc sống xoay quanh các trách nhiệm, với niềm tin rằng rồi sẽ có một ngày khác để theo đuổi những ước mơ ta từng tạm gác lại. Thế nhưng, thời gian vẫn lặng lẽ trôi đi, và những cánh cửa mà ta từng có cơ hội mở ra không phải lúc nào cũng còn nằm trong tầm tay.


Đặc San Lâm Viên mời quý vị đọc “Hối Tiếc” được Bùi Phạm Thành kể lại theo truyện ngắn “Regret” của nữ tác giả Kate Chopin viết năm 1894. Câu chuyện đặt ra một vấn đề vượt xa khỏi khuôn khổ của những quan niệm thông thường: “Liệu ta có thể hối tiếc về một cuộc đời mà mình chưa từng sống, ngay cả khi ta từng tin rằng mình đã chọn lựa một cách sáng suốt? Có lẽ nỗi buồn lớn nhất trong đời không nằm ở việc ta đưa ra những lựa chọn sai lầm, mà nằm ở chỗ đôi khi ta chỉ nhận ra giá trị của một kinh nghiệm khi nó đã vượt xa khỏi tầm tay.”


http://www.dslamvien.com/2026/10/hoi-tiec.html


"Hối Tiếc - Regret" (1894) là câu chuyện đầy day dứt nội tâm của Mamzelle Aurélie — một người phụ nữ năm mươi tuổi, vô cùng độc lập và hoàn toàn hài lòng với cuộc sống đơn độc tại một trang trại ở Louisiana. Thế rồi, khi tình cờ, phải chăm nom bốn đứa con của người hàng xóm có chuyện gia đình khẩn cấp, thì mọi điều bà từng nghĩ rằng đã biết về bản thân bắt đầu thay đổi.


Mamzelle Aurélie là một phụ nữ trung niên có vóc dáng khỏe mạnh, đôi má ửng hồng, mái tóc đang chuyển từ màu nâu sang màu xám, cùng ánh mắt đầy cương nghị. Khi làm việc trong trang trại, bà thường đội một chiếc mũ kiểu nam giới; những lúc trời lạnh, bà khoác thêm chiếc áo khoác quân đội cũ màu xanh, đôi khi còn đi cả giày cao cổ.

Mamzelle Aurélie chưa bao giờ nghĩ đến chuyện kết hôn. Bà cũng chưa từng biết yêu là gì. Năm hai mươi tuổi, bà từng nhận được một lời cầu hôn nhưng đã thẳng thừng từ chối; và đến tận năm mươi tuổi, bà vẫn chưa một lần cảm thấy hối hận về quyết định đó.

Vì vậy, bà sống hoàn toàn đơn độc trên cõi đời này, chỉ có chú chó Ponto bầu bạn, cùng những người da đen, làm công việc đồng áng, sống trong các túp lều trên đất của bà; bên cạnh đó là đàn gia súc, vài con bò, đôi con la, khẩu súng (thứ bà dùng để bắn hạ lũ diều hâu chuyên bắt gà) và lòng tin tôn giáo theo sự suy nghĩ của riêng bà.

Một buổi sáng nọ, bà Mamzelle Aurélie đứng trong một gian phòng của mình, khoanh tay nhìn một nhóm trẻ nhỏ, những đứa trẻ mà, theo ý định và mục đích, có thể đã rơi từ trên mây xuống, vì sự xuất hiện của chúng thật bất ngờ, và thật sự không được chào đón. Chúng là con của người hàng xóm của bà, Odile, người không phải là người hàng xóm gần gũi nhất.

Người phụ nữ trẻ đó, Odile, vừa mới xuất hiện trước cửa nhà bà cách đây năm phút, cùng với bốn đứa trẻ. Trên tay bà ta bế bé Elodie; một tay khác nắm lấy Ti Nomme – đứa trẻ đang miễn cưỡng bước theo; trong khi Marcéline và Marcélette thì theo sau với những bước chân ngập ngừng.

Gương mặt bà ta đỏ bừng, biến dạng vì nước mắt và sự xúc động mạnh. Bà vừa nhận được tin mẹ của bà đang lâm bệnh nặng ở một giáo xứ lân cận; chồng bà thì đang ở tận Texas – nơi mà đối với bà, xa xôi tựa như cách cả triệu dặm; còn Valsin, người làm công điều khiển xe ngựa, thì đang đợi sẵn để đưa bà ta ra nhà ga.

“Tôi không còn cách nào khác, bà Aurélie à; xin bà giúp tôi giữ bọn trẻ này đến khi tôi quay lại nhé. Trời đất đều biết là tôi chẳng muốn làm phiền bà đâu, nếu tôi còn có một sự lựa chọn nào khác! Bà cứ nghiêm khắc với chúng, đừng nương tay. Tôi thì đang phát điên lên đây: vừa phải lo cho lũ trẻ, chồng tôi là Léon thì không có nhà, mà biết khi nào mới về, mẹ tôi… có khi chẳng còn sống đến lúc ấy nữa!”  Một viễn cảnh đau lòng khiến Odile vội vã nói lời từ biệt đầy xúc động và gấp gáp về hoàn cảnh buồn bã của gia đình bà.

Bà Odile để bốn đứa trẻ đứng bên nhau trong dải bóng râm hẹp trên hiên của ngôi nhà dài và thấp; ánh nắng chói chang đang chiếu lên những tấm ván cũ trắng xóa; vài con gà đang cào cỏ dưới chân bậc thang, và một con đã bạo dạn nhảy lên lưng con ngựa, đang bước những bước nặng nề, chậm chạm và vu vơ qua hành lang. Trong không khí có mùi hoa hồng dễ chịu và tiếng cười của những người da đen vang vọng khắp cánh đồng trồng bông vải đang nở hoa.

Bà Aurélie đứng lặng, chăm chú quan sát lũ trẻ. Bà nhìn Marcéline bằng ánh mắt dò xét; cô bé đang loạng choạng dưới sức nặng của bé Elodie bụ bẫm. Với vẻ cân nhắc tương tự, bà dõi theo Marcélette – cô bé đang lặng lẽ rơi lệ, hòa lẫn những giọt nước mắt ấy vào tiếng khóc than đầy vẻ không hài lòng của Ti Nomme. Trong khoảnh khắc trầm tư đó, bà chuẩn bị lại tinh thần, xác định một cách hành động mà bà coi là bổn phận của mình. Việc đầu tiên bà làm là cho chúng ăn.

Nếu trách nhiệm của bà Aurélie chỉ dừng lại ở đó thì mọi chuyện đã chẳng có gì đáng bận tâm; bởi lẽ tủ thức ăn của bà luôn đầy ắp, sẵn sàng cho những tình huống khẩn cấp kiểu này. Thế nhưng, trẻ nhỏ đâu phải là những chú lợn con: chúng đòi hỏi và cần được chăm sóc theo những cách mà bà Aurélie hoàn toàn không ngờ tới, và bà cũng chẳng hề chuẩn bị tinh thần để đáp ứng những nhu cầu đó.

Quả thực, trong vài ngày đầu, bà ta tỏ ra rất lúng túng khi chăm sóc các đứa con của Odile. Làm sao bà ấy có thể biết được rằng Marcélette luôn bật khóc mỗi khi có ai đó nói với giọng lớn và có vẻ ra lệnh? Đó là một đặc điểm riêng của con bé. Còn với Ti Nomme, bà chỉ nhận ra niềm đam mê hoa cỏ của cậu bé khi thấy cậu đã hái sạch những bông hoa đẹp nhất trong vườn — có lẽ là để… nghiên cứu kỹ lưỡng cấu trúc thực vật của chúng.

“Chưa đủ đâu, bác Aurélie à,” Marcéline dặn dò, “bác phải trói nó vào ghế cơ. Mẹ cháu lúc nào cũng làm thế mỗi khi nó hư: mẹ cháu trói nó vào ghế.” Chiếc ghế mà bà Aurélie dùng để trói thằng bé Ti Nomme thì khá rộng rãi và thoải mái; nhân tiện buổi chiều trời lại ấm áp, cậu bé liền chợp mắt làm một giấc ngay trên đó.

Đến đêm, khi bà ra lệnh cho tất cả bọn trẻ đi ngủ — hệt như cách bà lùa đàn gà vào chuồng — chúng cứ đứng ngẩn ngơ trước mặt bà, chẳng hiểu gì cả. Thế còn những chiếc áo ngủ trắng tinh, vốn được cất trong vỏ gối mang theo, cần phải được một bàn tay khỏe khoắn giũ mạnh cho đến khi phát ra tiếng kêu đanh gọn như tiếng roi quất bò thì sao? Còn chậu nước phải mang đặt giữa sàn nhà, nơi những đôi bàn chân nhỏ bé, mệt mỏi, lấm lem bụi bặm và rám nắng cần được kỳ cọ cho sạch sẽ, thơm tho thì sao? Ý nghĩ mà bà Mamzelle Aurélie tin, dù chỉ một thoáng, rằng thằng bé Ti Nomme sẽ chịu chợp mắt mà không cần được nghe kể chuyện về ông kẹ Croque-mitaine hay con ma sói Loup-garou — hoặc cả hai — đã khiến Marcéline và Marcélette bật cười khúc khích; cũng như việc cho rằng Elodie có thể ngủ được mà không cần ai đưa võng hay hát ru cho nghe, thì thật là nực cười.

“Ruby này,” bà Mamzelle Aurélie tâm sự với chị đầu bếp, “thà tôi phải trông nom cả chục đồn điền còn hơn là phải trông bốn đứa trẻ. Thật là kinh khủng! Lạy Trời! Đừng có nhắc chuyện trẻ con với tôi nữa!”

“Tôi không nghĩ rằng bà biết gì về trẻ con cả, bà Aurélie ạ. Hôm qua, khi thấy đứa trẻ đó chơi với giỏ chìa khóa của bà, tôi đã nhận ra điều đó. Bà không biết rằng để trẻ con chơi với chìa khóa sẽ khiến chúng lớn lên trở nên bướng bỉnh hay sao? Cũng giống như việc để trẻ con thường xuyên nhìn vào gương sẽ làm hư răng của chúng. Đó là những điều bà cần phải biết khi chăm nom và dạy dỗ trẻ nhỏ.” (1)

Bà Mamzelle Aurélie chắc chắn không giả vờ hay mong muốn có được cái vốn hiểu biết tinh tế và sâu rộng về vấn đề này như Ruby – người từng, trong đời, “nuôi năm đứa trẻ và tiễn đưa sáu đứa khác về cõi vĩnh hằng”. Bà chỉ thấy vui khi học được vài bí quyết làm mẹ nho nhỏ để xoay xở cho những nhu cầu trước mắt.

Những ngón tay dính nham nháp của cậu bé Ti Nomme khiến bà phải lục tìm lại những chiếc tạp dề trắng đã cất kỹ từ nhiều năm nay; bà cũng dần quen với những nụ hôn ẩm ướt của cậu bé — biểu hiện của một bản tính trìu mến và đầy tình cảm. Bà lấy chiếc giỏ khâu vá — thứ mà vốn chẳng mấy khi được đụng đến — từ ngăn trên cùng của tủ quần áo xuống, đặt vào nơi thuận tay để sẵn sàng khâu vá những tà áo rách hay những chiếc áo thiếu cúc. Phải mất vài ngày, bà mới dần quen với những tiếng cười, tiếng khóc, tiếng trò chuyện rôm rả vang vọng khắp trong và ngoài ngôi nhà suốt cả ngày dài. Và cũng chẳng phải ngay đêm đầu hay đêm thứ hai, bà đã có thể ngủ ngon giấc khi cơ thể mũm mĩm, nóng hổi của bé Elodie ép sát vào người bà, và hơi thở ấm áp của cô bé cứ phả nhẹ lên má bà, tựa như nhịp vỗ cánh của con chim nhỏ.

Nhưng sau hai tuần, bà Aurélie đã hoàn toàn quen với những chuyện này và không còn than phiền gì nữa.

Cũng vào cuối hai tuần đó, một buổi tối nọ, khi đang nhìn về phía máng ăn cho gia súc, bà Aurélie trông thấy chiếc xe ngựa màu xanh của Valsin đang rẽ vào khúc quanh trên đường. Odile ngồi cạnh người đánh xe, dáng vẻ thẳng thắn và tỉnh táo. Khi họ tiến lại gần, gương mặt rạng rỡ của người phụ nữ trẻ cho thấy chuyến trở về thăm mẹ nhà của bà ta là một niềm hạnh phúc.

Nhưng sự xuất hiện bất ngờ, không báo trước này đã khiến bà Mamzelle Aurélie xốn xang, gần như rơi vào trạng thái bồn chồn. Bọn trẻ cần phải được tập hợp lại. Ti Nomme đâu rồi? Cậu bé đang ở ngoài nhà kho, mài con dao trên phiến đá. Còn Marcéline và Marcélette thì sao? Hai cô bé đang cắt và may quần áo cho búp bê ở một góc hiên nhà. Riêng bé Elodie thì đang được Mamzelle Aurélie bế an toàn trên tay; cô bé reo lên sung sướng khi nhìn thấy chiếc xe kéo màu xanh quen thuộc đang đưa mẹ trở về với nó.

Sự náo nhiệt đã qua đi, và những đứa trẻ đã rời khỏi nơi đây, và không gian bỗng trở nên tĩnh lặng đến nhường nào! Bà Mamzelle Aurélie đứng trên hiên nhà, dõi mắt nhìn và lắng tai nghe. Bà không còn thấy chiếc xe đâu nữa; ánh hoàng hôn đỏ rực hòa cùng sắc xám xanh của buổi chạng vạng đã phủ một lớp sương tím lên những cánh đồng và con đường, che khuất tầm nhìn của bà. Bà cũng chẳng còn nghe thấy tiếng bánh xe kẽo kẹt, rít lên từng hồi. Thế nhưng, bà vẫn còn loáng thoáng nghe được những giọng nói trong trẻo, vui tươi của lũ trẻ.

Bà bước vào nhà. Rất nhiều việc đang chờ bà, bởi lũ trẻ đã để lại một khung cảnh bừa bộn đến não lòng; thế nhưng bà chẳng hề bắt tay vào việc dọn dẹp ngay. Bà Mamzelle Aurélie ngồi xuống bên chiếc bàn. Bà chậm rãi đưa mắt nhìn quanh căn phòng, nơi những bóng chiều đang dần lan tỏa, bao trùm lấy dáng hình đơn độc của bà. Bà gục đầu lên cánh tay đang gập lại, rồi bật khóc. Ôi, bà khóc! Chẳng phải khóc thút thít, dịu dàng như cách phụ nữ thường làm; bà khóc như một người đàn ông, với những tiếng nấc nghẹn như thể đang xé toạc cả tâm hồn mình. Bà chẳng hề hay biết chú chó Ponto đang liếm bàn tay mình.

Bùi Phạm Thành

Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du - Bài 41 Và 42

 


THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU - BÀI 41 VÀ 42
Thầy Dương Anh Sơn 

THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU
Tập 3 : BẮC HÀNH TẠP LỤC

Bài 41

TƯƠNG ĐÀM ĐIẾU                                                                湘潭弔三閭大夫
TAM LƯ ĐẠI PHU (KỲ NHỊ)                                                  (其二)

Sở quốc oan hồn táng thử trung,                                                楚國冤魂葬此中,
Yên ba nhất vọng diểu hà cùng.                                                 煙波㇐望渺何窮。
Trực giao hiến lệnh hành thiên hạ,                                             直交憲令行天下,
Hà hữu Ly Tao kế Quốc phong?                                                何有離騷繼國風。
Thiên cổ thùy nhân liên độc tỉnh?                                              千古誰人憐獨醒,
Tứ phương hà xứ thác cô trung?                                                四方何處托孤忠。
Cận thời mỗi hiếu vi kỳ phục,                                                    近時每好為奇服,
Sở bội tiêu lan cánh bất đồng.                                                    所揹椒蘭竟不同。

Dịch nghĩa:

Giữa dòng sông này là nơi chôn oan hồn người nước Sở, - Một lần nhìn khói sóng dòng sông xa xa, đâu là chỗ tận cùng? – Nếu như pháp lệnh được thi hành dưới cõi trời, - Làm sao có được bài thơ Ly Tao tiếp nối với những vần thơ Quốc Phong? (c.1-4)
Ngàn đời sau, ai là người thương xót cho người “riêng tỉnh” ? – Bốn
phương trời nào là nơi gởi gắm tấm lòng của người tôi trung đơn độc? – Gần đây có người thích ăn mặc lạ lùng (như ông), - Họ đeo hoa tiêu, hoa lan nhưng không giống (như ông)!! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

VIẾNG TAM LƯ ĐẠI PHU
Ở TƯƠNG ĐÀM (Bài 2)

Táng đây người Sở hồn oan,
Trông vời khói sóng ngút ngàn xa xa.
Dưới trời “hiến lệnh” ban ra,
“Quốc Phong” nối tiếp có là “Ly Tao”?
Thương người “riêng tỉnh” ai nào!?
Bốn phương đâu chốn gửi vào lòng trung!
Thời này thích mặc lạ lùng,
Đeo tiêu lan ấy càng không giống rồi!!

Chú thích:

Tiếp nối bài 1, với bài thơ thứ 2 cùng đề tài này, Tố Như tiên sinh đi sâu hơn để cho thấy phẩm cách và tài năng của Khuất Nguyên 屈原(340-278 TCN), còn gọi là Tam Lư Đại Phu từ vụ “hiến lệnh” được Sở Hoài vương Trung Hoa ban hành rồi lại nghe lời của bọn nịnh thần dèm pha không cho thi hành và giáng chức đày ông đi Giang Nam.
Chính trong con đường lưu đày này đã để lại một tuyệt phẩm thơ ca là bài thơ Ly Tao trong Sở Từ được xếp ngang hàng và có phần hơn đối với thiên Quốc Phong trong Kinh Thi, cuốn thơ được xếp hàng đầu trong thơ ca của Trung Hoa. Đồng thời, nhà thơ cũng nhìn lại “cận thời” tức là thời gần đây, thời bây giờ nhiều kẻ giả mạo cốt cách ăn mặc đeo hoa lan nhược,hoa tiêu... v.v... như Khuất Nguyên nhưng rất khác xa. Bọn họ có thể nhận ra trong chốn triều đình nhà Nguyễn là cách Tố Như muốn nói đến!
- yên ba nhất vọng 煙波㇐望: một lần nhìn khói sóng trên sông...
- diểu 渺: xa xăm, xa tít, xa không thấy rõ... Có khi đọc là “miểu”...
- hiến lệnh 憲令: xem chú thích bài 1 trước.
- câu 4: Hà hữu Ly Tao kế Quốc Phong 何有離騷繼國風: tác phẩm Ly Tao 離騷 có nối tiếp được Quốc Phong 國風 không? Hay nói khác hơn, Nguyễn Du muốn so sánh thiên Ly Tao, kiệt tác và tiêu biểu nhất trong Sở Từ 楚辭 của Khuất Nguyên 屈原 và thiên Quốc Phong trong Kinh Thi 詩經 [là bộ thi ca tổng hợp cổ xưa của Trung Hoa trong đó Quốc Phong là thiên đầu tiên quan trọng nhất gồm 160 bài ca dao,tục ngữ phản ảnh phong tục, tình cảm cùng tiếng nói người dân các nước chư hầu thời nhà Chu...]. Nguyễn Du của nước Việt cũng như rất nhiều nhà thơ lớn của Trung Hoa đều công nhận thiên Ly Tao trong Sở Từ là tác phẩm nối tiếp (kề) truyền thống của Quốc Phong trong Kinh Thi. Nói khác hơn, ông đã đặt Ly Tao của Khuất Nguyên lên đỉnh cao của thơ ca Trung Hoa không kém gì Kinh Thi dầu không viết ra là khẳng định. Đó không chỉ là sự ngưỡng vọng văn tài xuất chúng của Khuất Nguyên mà cả cuộc đời trong sáng và thanh cao của ông nữa .
- Câu 5: Thiên cổ thùy nhân liên độc tỉnh 千古誰人憐獨醒: Ngàn đời, ai là kẻ xót thương cho người một mình tỉnh táo (giữa cuộc đời say)?. Câu thơ này lấy ý có nguồn gốc trong chính Sở Từ của Khuất Nguyên ở thiên “Ngư phủ 漁甫 “. Khuất Nguyên kể chuyện khi ông trên đường bị lưu đày, ông đã gặp người đánh cá bên bờ sông hỏi ông sao lại lâm vào cảnh khốn cùng. Khuất Nguyên đã nói ông chài: “Cử thế giai trọc ngã độc thanh, chúng nhân giai túy ngã độc tỉnh 舉世皆濁我獨清,眾人皆醉我獨醒 “ (nghĩa là: Cả đời đều đục, chỉ mình ta trong; mọi người đều say, chỉ mình ta tỉnh.). Khuất Nguyên đã mượn hình ảnh anh chài cùng đối đáp trong câu chuyện để trút ra những mối tâm sự u uất trong lòng dẫn đến hành động tự trầm trên dòng Mịch La. Đồng thời, khi Tố Như viết “thùy nhân liên 誰人憐” (ai là người sẽ thương xót...) cho thấy nỗi cô độc tận cùng của Khuất Nguyên vì cả triều đình không ai thấu hiểu và cảm thông cho ông! Đó là người cô trung hay người tôi trung thành thất thế trước cả một triều đình hèn nhát, thiếu sáng suốt dẫn đến cái chết của Khuất Nguyên và cả Sở Hoài vương 楚懷王(328-299 TCN). Khi Khuất Nguyên còn trong triều, từng yêu cầu vua giết Trương Nghi để khỏi hậu họa. Sau này, nước Tần lớn mạnh đã buộc Sở Hoài vương sang Tần chầu rồi bị giam giữ đến chết!
- hiếu vi kỳ phục 好為奇服: thích cách ăn mặc lạ lùng. Nguyễn Du trong câu thơ này chỉ cách Khuất Nguyên nói về cách ăn mặc tươm tất với ”gươm dài, mũ cao” khác với cách bắt chước của nhiều kẻ muốn theo đòi giống như ông nhưng nhân cách và đạo đức làm sao sánh được như ông!
- tiêu, lan 椒蘭: loài cây có hương thơm mà Khuất Nguyên thường đeo để nói lên sự trong sạch củ mình...

Bài 42

PHẢN CHIÊU HỒN                                                                  反招魂

Hồn hề! Hồn hề! Hồ bất quy?                                                     魂兮!魂兮!胡不歸,
Đông tây nam bắc vô sở y.                                                         東西南北無所依。
Thướng thiên há địa giai bất khả,                                              上天下地皆不可,
Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi?                                                鄢郢城中來何為。
Thành quách do thị, nhân dân phi,                                             城郭猶是人民非,
Trần ai cổn cổn ô nhân y.                                                           塵埃滾滾汙人衣。
Xuất giả khu xa, nhập cứ toạ,                                                    出者驅車入踞坐,
Toạ đàm lập nghị giai Cao, Quỳ.                                               坐談立議皆皋夔。
Bất lộ trảo nha dữ giác độc,                                                       不露爪牙與角毒,
Giảo tước nhân nhục cam như di!                                              咬嚼人肉甘如飴。
Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu,                                        君不見湖南數百州,
Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì.                                                    只有瘦瘠無充肥。
Hồn hề! hồn hề! suất thử đạo                                                       魂兮!魂兮!率此道,
Tam Hoàng chi hậu phi kỳ thì.                                                   三皇之後非其時。
Tảo liễm tinh thần phản thái cực,                                               早斂精神返太極,
Thận vật tái phản linh nhân xi,                                                   慎勿再返令人嗤。
Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan                                       後世人人皆上官,
Đại địa xứ xứ giai Mịch La,                                                       大地處處皆汨羅。
Ngư long bất thực, sài hổ thực,                                                  魚龍不食豺虎食,
Hồn hề! hồn hề! nại hồn hà?                                                       魂兮!魂兮!奈魂何。

Dịch nghĩa:

Hồn ơi! hồn ơi! Sao không quay về! – Đông, tây, nam, bắc không nơi nào có chỗ để nương náu! – Lên trời, xuống đất đều không thể nào được rồi! – Còn đi đến thành Yên, thành Dĩnh để làm gì! (c.1-4)
Thành quách vẫn thế, nhưng người dân đã khác trước, - Bụi bặm bay cuồn cuộn dây bẩn vào áo người. – Khi đi ra ngoài thì rong ruổi xe cộ, vào nhà thì dáng bộ xoạc chân ngồi vênh váo! – Lúc ngồi để bàn bạc hay đứng lên đều giống cách ông Cao, ông Quì! (c.5-8)
(Bọn người này) chẳng lộ nanh vuốt cùng mũi giáo độc! – Họ gặm xương hoặc nhai thịt người ngon ngọt như kẹo đường! – Anh có thấy chăng Hồ Nam mấy trăm châu, - Chỉ có những người gầy nhom, chẳng có ai béo tốt đầy đủ! (c.9-12)
Hồn ơi! Hồn hỡi! Men theo con đường này, - Từ đời Tam Hoàng về sau, không còn hợp với thời thế nữa! – Hãy sớm thu tinh thần lại quay về với cõi nguyên sơ! – Chớ quay trở lại làm gì để người ta cười
cợt! (c.13-16)
Đời sau ai ai đều là Thượng Quan (gian nịnh). – Mặt đất rộng lớn nơi nơi cũng đều là dòng sông Mịch La! – Cá rồng không ăn (nhục cốt của ông), chó sói hay hổ cũng nuốt thôi! – Hồn ơi! Hồn ơi! Biết làm sao đây hỡi hồn! (c.17-20)

Tạm chuyển lục bát:

CHỐNG VIỆC GỌI HỒN VỀ.

Chẳng về! Hồn hỡi! Hồn ơi!
Đông tây nam bắc không nơi nương vào!
Lên trời xuống đất được sao!
Dĩnh, Yên về lại thành nao làm gì?
Thành còn, người đã khác đi,
Cuốn bay bụi bặm, bẩn dây áo người.
Ruổi xe, vênh váo dáng ngồi,
Ngồi bàn, đứng nói giống thôi Cao, Quỳ.
Chẳng bày nanh vuốt độc chi,
Thịt người xương gặm nhai gì ngọt tan!
Thấy trăm châu ở Hồ Nam,
Chẳng ai béo tốt, gầy nhom xấu người.
Men theo đường ấy hồn ơi!
Tam Hoàng chẳng được hợp thời về sau!
Thu thần thái cực sớm vào,
Chớ về lại nữa khiến bao kẻ cười!
Thượng Quan đều ở khắp nơi!
Mịch La đất rộng nơi nơi khắp cùng!
Cá rồng chẳng nuốt, sói hùm,
Biết làm sao được hỡi hồn! Hồn ơi!

Chú thích:

Nguyễn Du làm bài thơ này nối tiếp với hai bài thơ trên để tưởng nhớ và luận bàn về cuộc đời Khuất Nguyên 屈原 và thế sự. Bài từ mang tên “Chiêu Hồn 招魂”( Gọi hồn trở về) là của Tống Ngọc 宋玉, người cùng thời với Khuất Nguyên. Tống Ngọc trong bài từ này đã tỏ ra thương tiếc cái chết của ông và làm bài từ cầu mong cho vong hồn Tam Lư đại phu quay về dương thế để sống lâu hơn! Tuy nhiên, khi đọc bài này và nhìn vào con người và cuộc sống chung quanh, nhất là ở các triều chính dù là của Trung Hoa hay nước Việt đều đầy rẫy kẻ gian ác, xiểm nịnh và nơi đâu cũng có những dòng Mịch La chờ đón. Nhà thơ nước Việt khi đi sứ Trung Hoa đã làm bài từ này với ý nghĩa hồn vía Khuất Nguyên đừng bao giờ trở về cõi trần gian đầy hiểm họa này!
Cũng nên lưu ý “Chiêu hồn 招魂” của Tống Ngọc thuộc lối truyền thống của Sở Từ 楚辭 có dạng thể tương tự của Sở Từ hay “từ phú 詞賦” khác với thể từ theo thể loại “từ khúc 詞曲”, một lối thơ hay văn có thể hát theo làn điệu đời Đường hay Tống bên Trung Hoa. Còn “Phản chiêu hồn” của Nguyễn Du trong Bắc Hành Tạp Lục có hình thức của thơ cổ thể mang âm hưởng Sở Từ nhưng không phải là “từ khúc” dầu theo niêm luật và có làn điệu. (Xem thêm SỞ TỪ và KINH THI)
- Yên, Dĩnh 鄢郢: Yên là vùng đất thuộc nước Sở xưa kia, nay là Hồ Bắc, Trung Hoa. Dĩnh cũng là đất nước Sở thời Chiến Quốc chọn làm kinh đô, nay là vùng Giang Lăng, Hồ Bắc.
- cổn cổn 滾滾: tuôn chảy, chảy cuồn cuộn....
- ô nhân y 汙人衣: ô: vấy bẩn, dây bẩn, thấp kém. Làm vấy bẩn áo của người
- khu xa 驅車: ngồi xe do ngựa kéo đi, ruổi xe ngựa chạy nhanh...
- cứ tọa 踞坐: ngồi xoạc chân với dáng vẻ vênh váo, nghênh ngang tự đắc...
- Cao, Quỳ 皋夔: hai vị quan hiền và giỏi thời vua Nghiêu và vua Thuấn bên Trung Hoa...
- lộ trảo nha 露爪牙: lộ ra,bày ra (lộ) móng vuốt sắc nhọn...
- giác độc 角毒: sừng nhọn độc hại...
- giảo tước 咬嚼: gặm xương hay nhấm nháp với dáng vẻ thích thú...
- di 飴: ngọt ngào, ngọt xớt, ngọt như đường mạch nha...
- Câu 11 và 12: với hình ảnh “sấu tích 瘦瘠” ( gầy ốm, xấu xí...) và “sung phì 充肥” (đầy đủ, béo mập và tươi tốt...), Nguyễn Du đã cho chúng ta thấy được cuộc sống của người dân Trung Hoa ở Hồ Nam thời nhà Thanh khi ông đi sứ nói riêng và rất nhiều nơi ông đi qua. Đó là cuộc sống của nhiều tầng lớp dân chúng sống trong nghèo đói thiếu thốn thể hiện qua vóc dáng của họ. Và tầng lớp trên đầy những bọn quan gian ác, tham lam và tàn bạo (câu 9 và 10). Bọn này không phải chỉ có ở thời Khuất Nguyên xa xưa mà còn mãi đến tận bây giờ không chỉ ở Trung Hoa mà cả ở nước ta. Tố Như không đề cập đến nước ta nhưng những câu thơ trên rõ ràng có ngụ ý sâu sắc!
- suất 率: đi theo, men theo, lưới bẫy chim...
- Tam Hoàng 三皇: truyền thuyết bên Trung Hoa đều cho rằng ba vị vua thời cổ đại của họ là Phục Hi, Thần Nông và Hoàng Đế là những ông vua hiền đã dạy dân chúng lễ nghĩa, cày cấy và nhiều nghề nghiệp khác. Đó là thời kỳ được xem là tốt đẹp nhất trong lịch sử Trung Hoa...
tảo liễm 早斂: sớm (tảo) thu lại , cất, ẩn dấu, gom lại, thu thuế...
- tinh thần 精神: phần tinh anh tinh túy dẫn dắt con người trong mọi suy nghĩ và hành động...
- thái cực 太極: theo triết thuyết của đạo Lão bên Trung Hoa, đây là thời kỳ còn hỗn mang, nguyên sơ chưa phân định trời đất và con người sống hồn nhiên...
- thận vật 慎勿: dè chừng, chớ nên, đừng làm...
- xi 嗤: cười cợt, cười chê...
- Thượng Quan 上官: tức Thượng Quan Ngân Thượng, đại thần nước Sở luôn tìm mọi cách dèm pha Khuất nguyên khiến vua Sở không còn tín nhiệm và bị đi đày dẫn đến chỗ ông uất ức chọn dòng sông Mịch La ở phía bắc huyện Tương Âm 湘陰, Hồ Nam 湖南 để tự trầm...
- nại hồn hà 奈魂何: làm sao đây hỡi hốn, biết làm sao hỡi hồn...

Dương Anh Sơn
Saigon, 2003
(Lần đến: BẮC HÀNH TẠP LỤC CỦA NGUYỄN DU – Bài 43, 44 và 45)


Để Nhớ Một Thời Ta Đã Yêu

 


ĐỂ NHỚ MỘT THỜI TA ĐÃ YÊU 
Bến Nhạc Bolero

ĐỂ NHỚ MỘT THỜI TA ĐÃ YÊU - Phát Hiện Một Chất Giọng Lạ Hát Hay Đến
Mức NỔI DA GÀ - Tình Ca Phối Mới

https://www.youtube.com/watch?v=cLYNyIr02fc&list=PLDiPQ0v0Gd5Q&index=29

Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị thưởng thức 


Tâm Thư Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ

 


TÂM THƯ ĐẠI TÁ NGUYỄN HỮU DUỆ
Đại tá Nguyễn Hữu Duệ 

Tâm Thư Đại tá Nguyễn Hữu Duệ
Lời mở đầu
Tôi tin ở phúc đức và nhất là ở số tử vi. Ngày mới ra đời, ông cố nội cho cha tôi biết sau khi lấy lá số của tôi.
- Ta chắc sau này nước ta sẽ loạn, vì số thằng này phát võ. Kể cả mấy anh chị em của nó cũng phát võ, và chồng của con gái cũng là võ quan. Ngoài ra con nhà Mại (tên ông chú tôi) cũng đều phát võ cả, kể cả các con cái người làng ta cũng vậy.
- Con sau này lúc về già sẽ ở với thằng này. Số nó có tử vi cư Ngọ ở cung Thiên Di, tức là được ở gần những người lớn đứng đắn, không chừng được ở cạnh vua nữa.
Sau này được ở cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm để lo an ninh cho ông, tôi mới nhớ lại lời cha tôi kể.
Được ở gần vị Tổng Thống đức độ, nhân ái và yêu nước, tôi rất hãnh diện và đã trung thành với ông cho đến cuối đời ông, mặc dù bao nhiêu cám dỗ về tiền bạc và công danh, mà phía đảo chánh hứa dành cho tôi, nếu tôi phản bội ông.
Tôi viết bài này để tưởng nhớ tới người yêu nước thương dân.
Năm 1963, khi vụ Phật giáo bùng nổ, tôi thấy rõ Tổng Thống tỏ vẻ buồn rầu. Một cận vệ của Tổng Thống kể với tôi, có đêm lúc 2, 3 giờ sáng, ông bỏ phòng ngủ ra ngoài hành lang đi lại có vẻ nghĩ ngợi. Cận vệ phải đánh thức sĩ quan tùy viên và sĩ quan cận vệ để đi theo ông. Thấy đông người xung quanh, ông lại lững thững vào phòng.
Một chiều Chủ nhật khoảng 4 giờ, được Tham mưu Biệt bộ gọi điện thoại cho biết Tổng Thống muốn ra ngoài, đi thăm nhà Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ ở đường Chi Lăng, sau sẽ đến thăm nhà ông Nguyễn Lương, bộ trưởng Tài Chánh ở đường Trương Minh Ký. Tôi hỏi lại số nhà của hai ông để lo an ninh, sau đó lên dinh Gia Long tháp tùng Tổng Thống.
Vì đi bất thường nên thủ tục về an ninh không có gì phải lo nhiều. Nhưng tôi cũng phái một số binh sĩ của Lữ Đoàn Phòng Vệ đến trước những nơi đó để giữ an ninh. Tháp tùng Tổng Thống chỉ có cận vệ, hai xe Cảnh sát mở đường, và xe của tụi tôi mà thôi.
Khi đến nhà Phó Tổng Thống, vì được báo trước, ông đã ra đón sẵn ở cổng. Đó là ngôi nhà khá lớn, hai tầng lầu, trông đẹp và to nhất ở khu ấy.
Vì mới xây xong, trong nhà đồ đạc chưa có gì. Phó Tổng Thống mời Tổng Thống lên phòng khách ở lầu một. Cả phòng chỉ có một ghế bành để Tổng Thống ngồi, hai ông bà đứng hai bên. Thấy vậy, Tổng Thống không ngồi và ngỏ ý muốn đi xem vườn, vì nghe nói có người Nhật vẽ kiểu đẹp lắm.
Ông được hướng dẫn ra thăm vườn. Tôi thấy vườn khá đẹp, nhưng hơi nhỏ, có mấy tảng đá to, có nước chảy và mấy cây thông, cây liễu khá lớn v.v… Tổng Thống cũng khen là xếp đặt khéo, nhưng nhà to mà vườn quá nhỏ, trông không xứng.
Rồi hai vị đi quanh sân, chỉ trỏ ngôi nhà, bàn về kiến trúc khá lâu. Sau ông được mời lên lại phòng khách để uống trà, nhưng ông từ chối và ra xe lên thăm nhà ông Nguyễn Lương ở đường Trương Minh Ký. Cũng là ngôi nhà mới xây xong, và hình như không có người ở nhà, vì cổng khóa. Tổng Thống chỉ ngừng xe nhìn vào nhà khá to và cũng đẹp nhất khu này, nhưng vườn phía trước nhà quá nhỏ và chả có gì đặc biệt.
Thay vì về lại dinh Gia Long, ông đổi ý, muốn đi thăm nhà ông chủ tịch Quốc Hội Trương Vĩnh Lễ, và nhà ông bộ trưởng Nội Vụ, ở khu làng đại học Thủ Đức.
Vì không được báo trước, cả hai ông đều đi vắng, Tổng Thống chỉ xuống xe xem phía ngoài. Những nhà này đều xây khá lâu rồi nên nhà nào cũng có cây to bóng mát vườn rộng nhà ông Trương Vĩnh Lễ có cả hồ bơi. Ông có vẻ thích thú, khen khu này xa thành phố, rộng rãi và yên tĩnh.
Ít lâu sau, khi lên Đà Lạt nghỉ cuối tuần, sáng Chủ Nhật ông đòi đi xem nhà của ông bà Nhu mới mua (tôi nhớ hình như ở đường Bùi Thị Xuân). Nhà của cả hai vợ chồng ông Nhu, nhưng ai cũng gọi là “biệt thự bà Nhu”.
Khi đến ông đi thăm vườn trước – vườn này đang sửa lại, có hai người làm và cũng do một người Nhật vẽ kiểu. Cây cối còn nhỏ và chưa có hoa nên chả có gì đặc biệt. Chỉ có hai cây tùng bút khá lớn ở ngay trước cửa nhà là ông khen đẹp mà thôi.
Nhà trệt, có bốn phòng ngủ khá lớn và hai phòng ngủ nhỏ. So với các nhà ông đã xem ở Sài Gòn và Thủ Đức, cùng các biệt thự đẹp ở Đà Lạt thì ngôi nhà này kém xa. Ông chê: Thế mà bảo đẹp, ngó chả ra chi! (sau đảo chánh ai cũng nói nhà to, đẹp, và rất lộng lẫy. Còn mở cửa cho dân chúng vào xem. Sau nghe nói chỉ có một số người đến coi rồi chả ai đến nữa, vì chẳng có gì đáng coi).
Cụ Lại Mấn (thân sinh của cụ Lại Tư, phó chủ tịch Quốc Hội), là nghị viên tỉnh Thái Bình, bạn thân của ba tôi (cũng là nghị viên của tỉnh Hưng Yên cùng thời với cụ), kể cho ba tôi nghe.
- Đây là ngôi nhà đầu tiên của vợ chồng ông Nhu, xưa nay ông bà chưa có cái nhà nào, suốt đời đi ở nhờ. Ngày ở ngoài Bắc thì ở nhờ nhà ông bà Trần Văn Chương là cha mẹ của bà Nhu. Tại Huế thì ở nhà ông bà Cả Lễ, anh rể và chị ruột của ông Nhu. Vào Sài Gòn thì ở nhờ nhà của địa phận Vĩnh Long mà Đức Cha Thục làm Giám mục. Có một thời ở Đà Lạt thì ở nhờ nhà bác sĩ Đôn, là thân phụ của Trung Tướng Trần Văn Đôn. Ông Nhu thời Pháp làm cũng khá lương, nhưng không đủ tiền mua nhà, và cũng đổi chỗ ở nhiều lần.
Vì cụ Lại Mấn là nhà thầu nên bà Nhu nhờ cụ mua hộ một số vật liệu để sửa nhà. Nhờ thế, cụ biết rõ ông bà Nhu không có tiền nhiều, và bà rất dè sẻn trong việc mua bán.
Sau khi thăm nhà ông bà Nhu, Tổng Thống lại đi thăm khu đất của ông Đức Âm (một nhà kim hoàn giầu có nổi tiếng ở Sài Gòn). Ông định mua lại khu đất này để làm ký túc xá sinh viên cho học sinh các trường Quốc Gia Nghĩa Tử và Thiếu Sinh Quân, sau khi tốt nghiệp trung học muốn học đại học thì ở đó. Vì khu này gần viện đại học Đà Lạt. Ông thích khu này lắm vì đất rộng gần đường và rất đẹp. Ông nói khi về hưu thì lên Đà Lạt nghỉ ở đó với sinh viên.
Mấy tuần sau, ông lại đi thăm ngôi vườn ở Gia Định. Nơi này, ông đặt tên là vườn Phượng Hoàng. Vườn tọa lạc giáp ranh tỉnh Gia Định và Bình Dương, gần sông Vàm Cỏ. Lần này có kiến trúc sư Ngô Viết Thụ và Thiếu Tá Nguyễn Đức Xích, tỉnh trưởng Gia Định tháp tùng. Vườn này hình con phượng hoàng, có khu trồng hoa rộng, có hồ thả cá trồng sen, có nhà nguyện, trường học và một khu khá lớn đã làm xong một số nhà cấp cho gia đình tử sĩ ở. Một khu ở cạnh nhà nguyện đã được dành sẵn để làm nhà cho ông ở khi về hưu.
Lần đầu tiên trong mấy tháng nay, tôi thấy ông vui vẻ và thoải mái. Sau khi cầu nguyện độ 15 phút ở nhà nguyện (tuy nhỏ nhưng kiểu đẹp lắm, do ông Ngô Viết Thụ vẽ), ông ra ngoài nói chuyện với các bà sơ và một số em nhỏ đứng quây quần quanh ông. Lúc ấy, khu vườn chưa làm xong nhưng đã xây được nhiều phòng học và các sơ đã bắt đầu dậy cho các em nhỏ ở khu gia đình tử sĩ mới dọn đến. Ý của ông là lúc đầu dựng độ chừng 100 nhà cho gia đình tử sĩ ở, sau sẽ xây dựng thêm để thành một làng tử sĩ. Khi về hưu, ông sẽ ở tại đây để trông nom các gia đình này và vui cùng các con em tử sĩ. (Tôi nghe nói ở Vĩnh Long cũng có một làng Tử Sĩ rồi nhưng chưa được đi xem).
Sau đó, ông Ngô Viết Thụ trình ông xem họa đồ vẽ ngôi nhà ông sẽ ở. Nhà làm bằng gỗ có ba phòng ngủ và một phòng đọc sách. Ông muốn lợp tranh thật dầy cho mát và có một giàn hoa trước nhà. Tôi thấy họa đồ rất sơ sài, giống kiểu nhà ánh sáng như báo Ngày Nay đã vẽ mà tôi được đi xem khi còn nhỏ. Sau khi nghe ông nói muốn lợp tranh thật dầy, tôi nói nhỏ với một sĩ quan cận vệ đứng cạnh là nếu lợp bằng ngói đỏ cũng đẹp và mát lắm chứ. Chắc ông nghe được, ngẩng đầu nhìn tôi:
- Thôi, việc lợp tranh hay ngói sẽ tính sau.
Tôi thầm nghĩ chắc ông sẽ so sánh giá cả, rồi quyết định sau. Ở gần ông, tôi biết tính ông không muốn phung phí về tiền bạc, nhất là những gì cho ông.
Ngày phá dinh Độc Lập để xây lại sau khi bị bỏ bom. Giá ước tính của Bộ Công Chánh chắc ông nghĩ là quá cao nên nhờ Nha Công Binh tính lại. Tôi được đứng gần ông nghe Thiếu Tá Nguyễn Văn Chức thuyết trình về ước lượng thời gian và kinh phí để phá hủy của Nha Công Binh, chỉ bằng 60% giá Bộ Công Chánh ước lượng, và thời gian ngắn hơn. Ông tỏ vẻ vui mừng và khen ngợi Thiếu Tá Chức.
Tôi cũng nhớ một hôm ở Đà Lạt, ông bảo tôi cho gọi Đại Úy Đẳng lên cho ông nhờ một việc. Đại Úy Đẳng là sĩ quan Quân cụ ở Sài Gòn theo lên Đà Lạt để bảo trì những khẩu súng săn của cựu hoàng Bảo Đại. Khi gặp Đại Úy Đẳng, ông móc túi lấy hộp thuốc lá ông dùng hằng ngày, và hỏi:
- Anh xem có thể sửa cái hộp thuốc này được không, sao nó không đóng lại được.
Tôi ngạc nhiên nhìn vào cái hộp thuốc đã quá cũ và sây sát nhiều. Ông nhìn tôi như nói cho tôi hiểu:
-Tôi thích cái hộp thuốc này vì nó nhẹ và dùng nó đã lâu, tôi còn mấy cái nữa, đẹp hơn nhưng tôi không thích. Bây giờ nhớ lại những lời ông nói tôi vẫn còn thấy xúc động.
Nhớ ngày ông đến khánh thành trường Quốc Gia Nghĩa Tử ở Sài Gòn do Đại Tá bác sĩ Trương Khuê Quan làm giám đốc. Trường lớn và đẹp vô cùng, cũng do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ.
Ông nói với Đại Tá Quan:
- Trong cuộc chiến này chỉ có con của tử sĩ là thiệt thòi nhất vì vậy tôi chọn cái tên Quốc Gia Nghĩa Tử để nhớ là quốc gia phải có bổn phận với họ. Tôi sẽ lo cho các tỉnh đều phải có trường Quốc Gia Nghĩa Tử và sau khi tốt nghiệp sẽ là các cán bộ trung thành của Quốc Gia. Ngoài ra tôi sẽ lập các ký túc xá ở gần các trường đại học cho các học sinh giỏi ở để học đại học.
Xem họa đồ căn nhà ông dự định sẽ ở khi về hưu ở vườn Phượng Hoàng, so sánh với nhà của Phó Tổng Thống và các ông bộ trưởng, tôi nghĩ mà thương ông. Sau ngày đảo chánh, gặp ông Võ Văn Hải là chánh văn phòng và cũng là người lo giữ tiền bạc của cải cho ông, tôi hỏi ông Hải:
- Thế cụ định hết nhiệm kỳ này thì nghỉ, phải không?
- Đúng, ông cũng mệt quá rồi, nhất là sau vụ Phật giáo xảy ra.
- Thế cụ định khi về hưu thì ở đâu? Ở cái nhà tại vườn Phượng Hoàng đâu có được. Ai lo cho cụ.
- Không, cụ có tâm sự với tôi là sẽ về Huế ở với bà cụ cố. Nếu cụ cố chết sẽ vào tu ở Dòng Chúa Cứu Thế.
Vì vậy, lương và phụ cấp của cụ đều gửi cho Cha Toán là quản lý của nhà Dòng. Còn vườn Phượng Hoàng, là chỗ ông cụ tính sẽ lên nghỉ và vui với các con tử sĩ.
- Thế lương và phụ cấp tất cả gửi Cha Toán được bao nhiêu?
- Hai triệu tám trăm ngàn (hay ba triệu vì lâu quá tôi không nhớ), số tiền này sau đảo chánh “hội đồng cách mạng” cho Trung Tướng Trần Văn Minh đến gặp Cha Toán để lấy về vì Trung Tướng Minh là người công giáo và cũng quen Cha Toán (Cha Toán sau khi giao số tiền này cho “hội đồng cách mạng” thì phải trốn sang Pháp vì sợ các tướng lãnh nghĩ ông còn giữ nhiều hơn. Khi cha trốn sang Pháp ông đi qua ngả Cao Miên, do chính tôi cho hạ sĩ Tiến tài xế của tôi lấy xe Peugeot đưa cha lên Tây Ninh. Năm 1983, tôi sang Pháp có gặp Cha và lúc ấy Cha vẫn mạnh khỏe).
- Sao họ biết là tiền gửi cho Cha Toán?
- Họ hỏi, tôi khai ra. Mà không khai cũng không được.
- Thế ông có bị đe dọa hay tra khảo gì không?
- Không, tôi và ông Dương Văn Minh khá thân. Sau đảo chánh, ông vẫn mời tôi đi đánh tennis với ông.
- Ngoài ra, ông nghĩ cụ có tiền gửi ngoại quốc không?
- Làm gì có, ông có để ý gì tới tiền bạc đâu, mà lấy tiền đâu mà gửi đi ngoại quốc. Có lần ông hỏi tôi gửi tiền ở nhà dòng được bao nhiêu, tôi thưa gần 3 triệu. Ông ngạc nhiên là sao để dành được nhiều thế? Đó là lần duy nhất ông hỏi tôi về tiền bạc.
Tôi hỏi thêm ông Hải:
- Thế ông có biết số tiền của Tổng Thống họ dùng vào việc gì không?
- Chắc họ chia nhau chứ không thấy công bố.
- Ngoài ra họ có bắt ông khai những bí mật gì của Tổng Thống không?
- Cụ chả có gì bí mật. Mà có thì tôi cũng chả nói vì đã gọi là bí mật mà (ông cười).
- Thế cụ có viết những gì về mình không. Chẳng hạn như nhật ký và những hoạt động của cụ từ trước tới nay v.v…
- À cái này, tôi không trả lời ông được, nhưng sau này những người viết sử sẽ lo.
- Ông có biết cụ và ông Hồ có liên lạc với nhau sau này không?
- Tôi không trả lời được câu này.
- Sao ông không viết cho người ta rõ sự hy sinh của cụ, để trả lời những xuyên tạc về cụ?
- Tôi có viết nhưng không thể phổ biến. Lúc này, mấy ai tin những người viết không đứng đắn và không có bằng cớ xác thực. Thời gian sẽ trả lời, anh tin đi, rồi sẽ có nhiều sử gia sẽ viết một cách đứng đắn về cụ.
Ông Hải sau ngày mất nước bị kẹt ở lại và bị đi tù “cải tạo”, sau đó chết. Nhưng bà Hải còn sống, hy vọng những gì viết về Tổng Thống hãy còn lại.
Sau này nhiều tin đồn là “Tổng Thống và ông cố vấn Nhu còn sống và đang ở Tây Ninh”. Nhưng tôi không tin. Đức Cha Nguyễn Văn Thuận là cháu của Tổng Thống có lần đến mượn xe tôi để đi Tây Ninh hai ngày, không biết có phải để tìm tin tức của Tổng Thống, hay ngài đi về việc khác.
Đại tá Nguyễn Hữu Duệ
(Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm)
Sưu tầm. 
Source : facebook

HQ TTN
post