ỨC TRAI THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI - BÀI 97, 98 VÀ 99
Thầy Dương Anh Sơn
ỨC TRAI THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI
Bài 97
THIỀU CHÂU TỨC SỰ 韶州即事
Xuân đình hoa lạc vũ sam sam, 春庭花落雨毿毿,
Thiên khí Thanh Minh tam nguyệt tam. 天氣清明三月三.
Thủy thượng hành nhân môn ngoại liễu, 水上行人門外柳,
Sổ thanh đề điểu tự Giang Nam. 數聲啼鳥似江南.
Dịch nghĩa:
Sân xuân hoa rụng, mưa dai dẳng, - Trời vào tiết Thanh Minh ngày mồng ba tháng ba. – Người đi trên sông nước, ngoài cửa là hàng liễu, - Vài tiếng chim kêu giống như ở đất Giang Nam.
Tạm chuyển lục bát:
TỨC CẢNH THIỀU CHÂU.
Sân xuân mưa mãi. hoa rơi,
Thanh Minh vào tiết khí trời tháng ba.
Trên sông cửa liễu người xa,
Chim kêu vài tiếng giống là Giang Nam.
Chú thích:
Đây cũng là một trong những bài thơ của Ức trai tiên sinh được xếp vào hàng tồn nghi. Như đã viết trong các bài thơ trước, khoảng 15 bài thơ trong Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trãi đề cập đến các địa danh Trung Hoa nhưng chưa có bằng chứng lịch sử nào hiện nay cho thấy ông từng đi qua bên ấy! Dầu vậy, khi chưa có một bằng chứng cụ thể trong lịch sử, chúng ta vẫn tạm thời xem đây là thơ của Nguyễn Trãi. Vụ án “Lệ Chi Viên” và cái án“tru di tam tộc” đã làm tan nát dòng họ của ông và làm thất lạc rất nhiều tác phẩm của Ức Trai tiên sinh. Cho nên, chúng ta vẫn đem ra tìm hiểu theo những bản văn còn lại được sắp xếp đưa vào tập thơ này dù chưa dám khẳng định vì đây là di cảo quý hiếm cần tìm hiểu! Nguyễn Trãi có đi sang Trung Hoa hay không chiếu theo các địa danh của 15 bài thơ sau cùng này là một vấn đề hy vọng những nhà nghiên cứu lịch sử và thơ văn sẽ làm sáng tỏ sau này khi xác thực được về hoàn cảnh sáng tác của các bài thơ từng được cất dấu và mãi đến đời vua Lê Thánh Tôn mới được sưu tập dần dần. Đó là một tư liệu quý giá về một nhà thơ lớn, một nhà chính trị tài ba lỗi lạc của thời nhà Lê và của nước chúng ta. Cần phải nói thêm, các tư liệu về Nguyễn Trãi gọi chung là ỨC TRAI TẬP, trong đó có Ức Trai Thi Tập được nhiều nhà sưu tập thời vua Lê Thánh Tôn tìm kiếm sau vụ án “Tru di tam tộc”. Tập ƯTTT do Trần Khắc Kiệm sưu tầm và viết lời tựa năm 1480 . Từ đó, các nhà sưu tập đời sau lần lượt bổ sung thêm vào để cùng xem xét xác định. Đến thế kỷ 19, Dương Bá Cung đã biên soạn lại những văn thơ mà ông và các bạn cho là của Nguyễn Trãi để phổ biến sau khi gạn lọc. Ở miền nam trước 1975, Ủy Ban Dịch Thuật Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc trách Văn Hóa ở Saigon cũng đã cho sưu tập với tựa đề ỨC TRAI TẬP (Saigon, 1972, (tập thượng và tập hạ) với bản dịch của Hoàng Khôi theo bản của Phúc Khê [Phúc Khê nguyên bản(đời vua Tự Đức, năm Mậu thìn)] bao gồm Ức Trai Thi tập, Quốc Âm Thi Tập và nhiều “phú”,“chiếu” và “biểu” soạn trong thời nhà Lê. Đây là tài liệu tương đối chính xác do nhóm Dương Bá Cung biên tập với Nguyễn Định bình duyệt và Ngô Thế Vinh khảo chính. Bài tựa của Dương Bá Cung đề năm Tự Đức 21 (1868). Còn bài tựa của Ngô Thế Vinh đề trước đó vào năm Minh Mạng thứ 6 (1825)
- Thiều Châu 韶州: là địa danh ở miền bắc tỉnh Quảng Đông ngày nay bên Trung Hoa vẫn thường được gọi là vùng Lĩnh Nam, nơi có nhiều đường giao thông bằng đường bộ và đường thủy nối các vùng phía nam và phía bắc Trung Hoa.Còn địa danh Giang Nam 江南 trong câu thơ cuối là vùng đất phía nam hạ lưu Trường Giang. Dầu vậy, hai địa danh có đề cập trong bài thơ mang dấu ấn của Trung Hoa nhưng chúng ta vẫn cần đến những bằng chứng lịch sử xác thực hơn về thời điểm và niên đại Nguyễn Trãi từng đi đến các địa danh ấy hay không ! Việc sưu tập các bài thơ của ỨC Trai Thi tập là một công phu của nhiều người sau này khi vua Lê Thánh Tông cho phục hồi danh dự phong cho ông chức danh “Vinh Lộc Đại Phu”, tước “Tế Văn Hầu” và cho tìm kiếm các tác phẩm của ông...
- Xuân đình hoa lạc vũ sam sam 春庭花落雨毿毿: sân xuân hoa rơi rụng cùng cơn mưa dai dẳng, không dứt (sam sam) tạo nên khung cảnh mùa xuân mang vẻ u buồn trong tiếng mưa rơi cùng những bông hoa bị lung lay rơi rụng. Bản của Đào Duy Anh lại dịch là “tham tham” (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1969, tái bản năm 1976
- Thiên khí Thanh Minh tam nguyệt tam 天氣清明三月三: khung cảnh mùa xuân ấy được tác giả chỉ rõ vào ngày mồng 3 tháng ba của tiết Thanh Minh không rực rỡ như:” Thanh Minh trong tiết tháng ba” (câu 43) trong Đoạn Trường tân Thanh của Nguyễn Du. Câu 1 liền mạch với câu 2 với không khí Thanh Minh ít nhiều mang vẻ ảm đạm của cảnh mưa hoài, mưa mãi...
- Thủy thượng hành nhân môn ngoại liễu 水上行人門外柳: trên sông là một hành nhân nghĩa là người đi nhưng với không gian và cảnh quan, câu thơ cho thấy người ra đi ấy đang đi xa hoặc được quan sát từ một nơi xa lạ về dòng sông và hàng dương liễu bên ngoài...
- Sổ thanh đề điểu tự Giang Nam 數聲啼鳥似江南: vài tiếng chim kêu ở Thiều Châu khiến tác giả liên tưởng hay nhớ đến một vùng đất giống như đất Giang Nam của Lĩnh Nam. Tâm trạng và địa danh ấy của người đi xa không có nghĩa là của chính Nguyễn Trãi từng ghé qua khi chưa xác thực được hoàn cảnh sáng tác! Đồng thời, vài tiếng chim kêu trong sân xuân (sổ thanh đề điểu) với tiếng mưa không dứt cũng cho thấy nỗi cô đơn lẻ loi của người mang tâm trạng xa quê hương....
Bài 98
THIỀU CHÂU 韶 州
VĂN HIẾN MIẾU 文憲廟
Phản trạng đương niên biện Yết nhi, 反狀當年辨羯兒,
Chí minh tiên kiến nhược thi quy. 至明先見若蓍龜。
Tế thời nho thuật sinh bình hữu, 濟時儒術生平有,
Gián chúa trung ngôn tử hậu tri. 諫主忠言死後知。
Vạn cổ bất ma Kim Giám Lục, 萬古不磨金鑑錄,
Thiên niên do hưởng Khúc Giang từ. 千年猶享曲江祠。
Cao phong truy tưởng hồn như tạc, 高風追想渾如昨,
Thủ phất thanh đài nhận thạch bi. 手拂青苔認石碑。
Dịch nghĩa:
Năm xưa nào,(ông )đã vạch rõ tội phản trắc của Yết Nhi, - Rất sáng suốt thấy rõ như đoán việc từ cỏ thi và bói mu rùa. – Đạo lý nhà Nho vẫn thường giúp cho đời, - Lời người bề tôi trung trực can ngăn chúa, khi chết rồi mới biết. (c.1-4)
Muôn đời không mờ phai sách ghi nơi Kim Giám, - Ngàn năm còn được hưởng sự thờ cúng nơi miếu thờ Khúc Giang. – Phong cách cao quý hồi tưởng lại như mới hôm qua, - Lấy tay chùi lớp rêu xanh để nhận rõ tám bia đá (c.5-8).
Tạm chuyển lục bát:
MIẾU THỜ VĂN HIẾN Ở THIỀU CHÂU
Năm nào luận phản Yết Nhi,
Xem rùa sáng rõ, cỏ thi thấy người!
Đạo Nho thường vẫn giúp đời,
Lời trung can chúa, chết rồi mới hay!
Muôn đời Kim Giám chẳng phai!
Khúc Giang vẫn hưởng đền này ngàn xưa.
Vẻ cao quý tưởng hôm qua,
Rêu lan phủi sạch, đá bia rõ ràng.
Chú thích:
Nhân vật được Ức Trai Tiên sinh ca ngợi trong bài thơ này là Trương Cửu Linh (678-740) là một thừa tướng và là một nhà thơ đời Đường. Quê ông ở Khúc Giang thuộc vùng Thiều Châu. Theo các điển tích và các bản chú giải được ghi lại, khi An Lộc Sơn viên tướng, người gốc Tây Vực còn được gọi là Yết Nhi, đã thất bại trong việc đánh người Khất Đan hùng mạnh.
Trương Cửu Linh đã nhận ra ngay mối hiểm họa từ viên tướng đang giữ chức Tiết độ sứ coi 15 vạn binh mã lại là người dân tộc gốc Đột Quyết vùng Tây Vực nhưng sống ở Doanh Châu 營州 (nay là Triều Dương, Liêu Ninh). Trương Cửu Linh làm cuốn sách tên là Thiên thu Kim Giám Lục dâng vua nhânsinh nhật và khuyên vua Đường Huyền tông 唐玄宗 đề phòng và trừng trị những kẻ có thể là đang mưu toan làm phản! Nhà vua mê đắm Dương Quý Phi nên thiếu sáng suốt không nghe lời tấu trong cuốn sách. Một thời gian sau, An Lộc Sơn nổi loạn (An Sử chi loạn 安史之亂) đem quân bản bộ chiếm vùng kinh đô Trường An buộc triều đình phải di tản sang Thành Đô.
Việc Nguyễn Trãi có sang Trung Hoa hay không chúng ta đã bàn bạc ở nhiều bài trên.
Riêng trong bài này, Nguyễn Trãi làm bài thơ vịnh di tích là miếu cổ thờ Trương Cửu Linh (với thụy hiệu sau khi mất là Văn Hiến 文憲, dùng đặt tên cho ngôi miếu thờ ông). Nguyễn Trãi đã bày tỏ lòng kính trọng đối với một bậc trung thần và suy ngẫm về đạo làm tôi cũng như trách nhiệm của một nhà Nho trước vận mệnh đất nước. Ít nhiều, chúng ta cũng nhận thấy tâm trạng của Nguyễn Trãi tiên sinh khi ông làm quan trong triều nhà Lê với nhiều kẻ không xuất thân từ nho sĩ hoặc không học hỏi nhiều về tư cách nhà nho nên thường ganh ghét dèm pha....
- Câu 1 và 2: Phản trạng đương niên biện Yết nhi 反狀當年辨羯兒, Chí minh tiên kiến nhược thi quy 至明先見若蓍龜: Đương thời, ông đã nhận ra dấu hiệu của mưu toan phản nghịch của Yết nhi tức An Lộc Sơn. Ông rất sáng suốt dự kiến trước (điều này) giống như việc đoán bằng cỏ thi hay mai rùa. Nguyễn Trãi đã ca ngợi sự tiên liệu, thấy xa trông rộng của Trương Cửu Linh xưa trước để cảnh báo cho nhà vua về mối hiểm họasắp xảy ra...
+ phản trạng: dấu hiệu hay tình trang, mưa mô phản nghịch...
+ Yết nhi: chỉ An Lộc Sơn, giữ chức Tiết độ sứ sau này làm phản gây loạn thời Đường Huyền tông...Yết là tên một dân tộc thiểu số bên Trung Hoa, là một chi phái của người Hung Nô 匈奴 thường ở vùng Sơn Tây và thường bị người Hoa gọi là Yết Hồ 羯胡 với sự khinh miệt các rợ,các dân tộc họ xem là kém văn minh . “Trẻ con người Yết” hay Yết nhi là cách Nguyễn Trãi gọi theo lối gọi của người Trung Hoa xưa về An Lộc Sơn...
+ thi quy: thi là cỏ thi và quy chỉ mai con rùa. Thời cổ xưa bên Trung Hoa thường dùng hai vật dụng này để đoán định công việc hay dò xét người đời . Nguyễn Trãi dùng hình ảnh này để ca ngợi sự sáng suốt, tầm nhìn xa về chính trị, thế sự của Trương Cửu Linh...
- Câu 3 và 4: Tế thời nho thuật sinh bình hữu 濟時儒術生平有, Gián chúa trung ngôn tử hậu tri 諫主忠言死後知: Đạo Nho vẫn thường có mặt để giúp đời, lời người tôi trung chân thành can ngăn vua, khi chết đi mới biết được. Nước Trung Hoa từ ngàn xưa cho đến thời Cách mạng Tân Hợi vẫn lấy đạo nho hay học thuật của Nho giáo làm mực thước để giáo dục xã hội .Nước ta kể từ khi dành độc lập thoát khỏi sự cai trị của Trung Hoa vào thời Ngô Quyền và đến giữa nhà Nguyễn vẫn lấy đạo nho để làm kỷ cương trong triều đình cho đến xã hội bên dưới. Dầu thế nào đi chăng nữa, với nền quân chủ phong kiến, Nho giáo cũng giúp ích cho việc cai trị và giáo dục con người khi chưa tiếp xúc được với những quan điểm mới về dân chủ, tự do sau này... Đồng thời, Kim Giám Lục dâng lên vua nhưng không biết là vua có đọc và nhận ra mối hiểm họa của An Lộc Sơn hay không . Chỉ khi sự việc xảy ra và nhìn lại mới thấy tầm nhìn sáng suốt của Trương Cửu Linh dẫu đã khuất!
+ tế thời: giúp đỡ, gánh vác, cứu giúp đời trong các thời kỳ...
+ nho thuật: học thuật, đạo lý, phương pháp giáo dục lấy đạo Nho do Khổng Tử xướng xuất để cai trị và giáo hóa con người trong xã hội. Đạo Nho đã ảnh hưởng sâu đậm không chỉ ở Trung Hoa là nơi phát sinh mà còn lan sang Triều Tiên, Nhật Bản, Đại Việt và các nước khác hơn ngàn năm nay trước khi văn minh và văn hóa phương Tây tràn vào làm cho nó lung lay.... Với Nguyễn Trãi, giá trị của hoc thuật của đạo Nho phải được áp dụng trong cuộc sống để giúp đời và giúp vua giữ vững đạo lý của xã hội. Điều này chúng ta vẫn đọc thấy rải rác trong toàn bộ thơ văn của Nguyễn Trãi....
+ gián chúa: lời can gián hay can ngăn của bề tôi với vua chúa bên trên ...
+ trung ngôn: lời chân thành của người tôi trung đề đạt lên vua giúp cai trị đất nước xưa kia...
+ tử hậu tri : chết đi về sau mới biết được...
- Câu 5 và 6: Vạn cổ bất ma Kim Giám Lục 萬古不磨金鑑錄, Thiên niên do hưởng Khúc Giang từ 千年猶享曲江祠: Muôn đời không làm mờ nhạt Kim Giám Lục, ngàn năm vẫn còn hưởng được sự thờ cúng kính trọng ở ngôi miếu của dòng sông Khúc... Với Nguyễn Trãi, đó không chỉ sự trường tồn muôn đời của cuốn sách sáng ngời những lời trung mà còn đây nữa là miếu thờ bày tỏ lòng kính trọng ngàn năm của người đời đối với một con người trung chính và nghĩa khí....
+ bất ma: không bị bào mòn, không bị phai mờ...
+ Kim Giám Lục: đây là cách nói ngắn gọn về cuốn sách dâng vua của Trương Cửu Linh tên là “Thiên Thu Kim Giám Lục 千秋金鑑錄” để bàn về chính trị, mưu kế giúp vua giữ vững đất nước. Kim Giám Lục nghĩa chính của nó là ghi chép (lục) những lời vàng (kim) để soi gương , xem xét sửa sang mình (giám). Cuốn sách này thuở trước được nhiều triều đình Trung Hoa và các nước chung quanh tìm hiểu trong việc trị nước an dân...
+ do hưởng: vẫn còn được hưởng thụ....
- Câu 7 và 8: Cao phong truy tưởng hồn như tạc 高風追想渾如昨, Thủ phất thanh đài nhận thạch bi 手拂青苔認石碑: Dáng vẻ, phong cách cao quý hồi tưởng lại vẫn còn như mới hôm qua, Dùng tay phủi sạch rêu xanh để nhận ra bia đá (ghi công trạng).
Chúng ta thấy giữa Nguyễn Trãi đời nay và với Trương Cửu Linh mấy trăm năm trước như không có khoảng cách về thời gian! Nhà Đường ở thế kỷ thứ 7 và Nguyễn Trãi ở thế kỷ 15 không hề xa cách. Đứng trước bia đá nơi miếu thờ, nhà thơ như thấy được con người và áng văn sáng ngời kia của Trương Cửu Linh. Cả hai người đều là công thần giúp vua tận tình và luôn đề cao giá trị của đạo Nho khi “xử kỷ tiếp vật 處己燮物”. Cả hai luôn sáng ngời nhân cách sống với vua, với bạn bè và đất nước! Khoảng cách không gian và thời gian như được nối liền nhau với hai nhà nho đáng kính ấy! Rêu phong của thời gian chỉ cần phủi đi và nhìn lại sẽ thấy rõ hình ảnh và nhân cách sáng ngời của Trương Cửu Linh...
+ cao phong: dáng vẻ ,phong cách cao quý....
+ truy tưởng: hồi tưởng hay nhớ lại ....
+ hồn như tạc: vẫn còn (hồn) như mới xảy ra hôm qua (tạc)
Bài 99
TẦM CHÂU 潯州
Tầm Châu thành hạ cổ bề thanh, 潯州城下鼓鼙聲,
Khách lộ hoàn yêm sổ nguyệt trình. 客路還淹數月程。
Khê động hữu manh sơn bát vạn, 溪洞有氓山八萬,
Thú lâu xuy giốc nguyệt tam canh. 戍樓吹角月三更。
Ngạn hoàng sắt sắt bi phong khởi, 岸篁瑟瑟悲風起,
Giang thuỷ du du lữ mộng thanh. 江水悠悠旅夢清。
Lão ngã thế đồ gian hiểm thục, 老我世途艱險熟,
Trung tiêu bất mị độc thương tình. 中宵不寐獨傷情。
Dịch nghĩa:
Dưới thành Tầm Châu, tiếng trống trận vang lên, - Đường đi của khách còn phải lưu lại vài tháng nữa! – Khe động có dân cư, núi non tám vạn hòn! – Nơi vọng gác tiếng tù-và thổi, vầng trăng đang ở canh ba. (c.1-4)
Tiếng xào xạc ở hàng tre bên bờ sông, cơn gió buồn sầu đang nổi lên! - Dòng sông con nước chảy miên man, người đi xa giấc mộng trong lắng nhẹ nhàng. – Ta đã già, quen với những khó khăn hay hiểm trở của đường đời! – Giữa đêm không ngủ được, một mình mang nỗi buồn thương trong lòng. (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
TẦM CHÂU
Dưới thành, trống trận Tầm Châu,
Khách còn mấy tháng dừng lâu trên đường.
Núi, khe tám vạn, dân thường,
Canh ba vọng gác còi tuôn trăng ngời.
Tre bờ xào xạc gió vời,
Người đi, sông nước xa xôi mơ màng.
Đường đời già với hiểm gian,
Giữa đêm chẳng ngủ riêng mang xót lòng!
Chú thích:
- Câu 1: Tầm Châu thành hạ cổ bề thanh 潯州城下鼓鼙聲: Bài thơ mở đầu bằng âm thanh của tiếng trống trận đang vang lên (thanh) dưới thành Tầm Châu, nơi được canh phòng nghiêm chỉnh với cuộc sống y như thời chiến. Nhà thơ không chú ý hình ảnh của Tầm Châu mà chỉ chú ý tiếng trống trân đang vang vọng. Âm thanh của tiếng trống trận cũng là nỗi lo âu của khách trọ phương xa (lữ) với việc phòng vệ thành làm cho nếp sinh hoạt ở vùng này không yên ổn...
+ Tầm Châu: tên một thành cổ xưa cũng là tên vùng Tầm Châu nằm ở vùng Quảng Tây, Trung Hoa
+ cổ bề: cái trống trận nhỏ nhằm thúc dục quân sĩ tiến lên hay thu quân trở về. Ở đây, tiếng trống trận vang lên dưới thành mang một ý nghĩa khác: con dân không được sống yên ổn!
- Câu 2: Khách lộ hoàn yêm sổ nguyệt trình 客路還淹數月程: Người khách trên con đường đi phải còn ở lâu vài tháng nữa. Việc ở lại lâu hơn vài tháng này do trong vùng đang xảy ra tình hình bất ổn. Tiếng trống trận vang lên trong câu 1 là một dấu hiệu nhắc nhở nhà thơ và tình hình bất ổn làm cản trở hành trình của người khách phương xa. Nhà thơ không nói đến lụt lội hay tuyết rơi ngập đường làm chậm cuộc hành trình. Ngay câu đầu tiên dã cho chúng ta thấy rõ nỗi lo âu, nỗi bất an của nhà thơ bị đặt trong một hoàn cảnh không do mình định đoạt...
+ khách lộ: đường đi của khách ở quê người...
+ hoàn: vẫn còn, lại còn...
+ yêm: lưu lại, làm cho chậm trễ, giữ lại lâu hơn...
+ sổ nguyệt trình : chặng đường đi tính bằng vài tháng...
- Câu 3: Khê động hữu manh sơn bát vạn 溪洞有氓山八萬: Nơi khe suối hay hang động ở chốn “tám vạn núi non” cách trở vẫn có thường dân sinh sống....
Nhà thơ dùng chữ “bát vạn” là cách nói phóng đại để cho thấy núi non trùng điệp và rộng khắp. Con người có mặt nhiều nơi kể cả núi rừng mênh mông... Từ đó, liên kết các câu thơ bên dưới để thấy được nỗi cô đơn của người khách phương xa trước núi non dàn trải khắp chốn...
+ khê động: khe và suối cùng hang động trong chốn núi non hiểm trở ...
+ manh: dân thường, dân chúng, dân miền thảo dã hay núi rừng xa xôi...
+ sơn bát đại: hình ảnh núi non nhiều vô kể, núi non chồng chất trùng điêp.
Đây là cách nói quá lời mà chúng ta gọi là phóng đại để hình dung khoảng không gian núi non rộng lớn...
- Câu 4: Thú lâu xuy giác nguyệt tam canh 戍樓吹角月三更: Lầu canh phòng thổi vang tiếng tù-và, vầng trăng đã sang canh ba. Trên vọng canh, tiếng tù-và hay tiếng kèn điểm canh mỗi đêm đang thổi giữa không gian khuya khoắt vắng lặng và hình ảnh vầng trăng vào canh ba cho thấy nỗi cô đơn của người khách xa không ngủ được lại nghe rõ tiếng đổi canh trong đêm sâu. Đó là sự bất an ở một vùng phải đi qua và bị tình thế giữ chân lại! Hình ảnh vầng trăng sáng trong đêm khuya cũng là nỗi cô đơn buồn sầu của người viễn xứ!
+ thú lâu: thú: là người bị gọi đi lính để canh giữ thành trì hay quan ải mà chúng ta vẫn gọi là lính thú. Thú lâu : chỉ lầu canh gác hay vọng gác để người lính ở trên cao nhìn xuống cho dễ bề quan sát...
+ xuy giác : thổi (xuy) chiếc tù-và làm bằng sừng trâu, sừng bò để điểm canh mỗi đêm...
+ tam canh: ngày xưa, mỗi đêm có 5 canh. Canh ba khoảng giữa đêm ....
- Câu 5: Ngạn hoàng sắt sắt bi phong khởi 岸篁瑟瑟悲風起: Hàng tre (hoàng) ở bờ sông (ngạn) xào xạc, rì rào theo cơn gió buồn sầu nổi lên. Giữa đêm khuya ấy, âm thanh của tiếng còi ở lầu canh của thành như cùng hòa với tiếng lá tre xào xạc liên hồi của cơn gió buồn sầu. Đó cũng là cách nhân hóa tiếng vọng của lòng người buồn sầu ở chốn tha hương....
+ ngạn: bờ sông...
+ hoàng: cây tre hay cây trúc...
+ sắt sắt: tiếng xào xạc hay rì rào va chạm vào nhau của cây lá......
+ bi phong khởi: cơn gió buồn nổi lên...
- Câu 6: Giang thuỷ du du lữ mộng thanh 江水悠悠旅夢清: Sông và nước trôi chảy không dừng, người đi xa dần chìm vào giấc mộng trong lắng, nhẹ nhàng... Chỉ khi nghe tiếng con nước đang xuôi chảy liên miên, nhà thơ mới thả hồn vào giấc mộng nhẹ nhàng, lặng lẽ... Cảnh vật và con nước đang trôi chảy giúp nhà thơ hay người đang là khách trọ phương xa có được giấc mộng sâu lắng hơn để lại bên ngoài những chuyển động khác của cảnh vật, thiên nhiên và vũ trụ...
+ giang thủy: nước sông; cũng có khi chỉ chung dòng sông hay con nước đang tuôn chảy...
+ du du: liên miên, liên tục, dài lâu, bất tận, miên man không dứt, xa xôi, nhiều, thong dong, lo lắng, phiền muộn...
+ lữ mộng : giấc mộng của người đang ở một phương trời xa: giấc mộng của khách phải đi xa...
+ thanh : trong lắng, thanh vắng, nhẹ nhàng, thanh thản...
- Câu 7: Lão ngã thế đồ gian hiểm thục 老我世途艱險熟: Ta đã già từng quen với nhiều khó khăn và hiểm nguy trên đường đời. Nguyễn Trãi đứng trước khoảng không gian vắng lặng của đêm khuya đã nhìn lại đường đời đã đi qua với nhiều gian nan, nhiều mối hiểm nguy! Ông đã cho rằng mình đã “quen”, đã từng trải qua và nhiều lần va chạm với khó khăn và cả sự hung hiểm từng gặp phải. Đó không phải là câu nói suông khi ông từng thoát khỏi Thăng long để vào Thanh Hóa giúp Lê Lợi kháng chiến quân nhà Minh, Trung Hoa xâm lăng nước ta gặp biết bao nhiêu gian khổ và nguy hiểm. Sau này, khi Lê Lợi bình định xong giặc Minh, ông làm quan lớn nhưng những sự ganh ghét, thù hằn hay những mưu toan nguy hiểm vẫn rình rập trong chốn triều đình vẫn còn đó. Sau này, sự đố kỵ ấy đã đưa đến cái chết oan nghiệt của một bậc nho sĩ từng góp công lớn với đất nước...
+ lão ngã: ta nay đã già, ta già rồi...
+ thế đồ: đường đời, chặng đường đã đi qua trong đời...
+ gian hiểm: sự gian nan, khó khăn hay những hiểm nguy, hiểm họa, sự hung hiểm...
+ thục: quen thuộc, nấu chín, xong xuôi, kỹ càng...
- Câu 8: Trung tiêu bất mị độc thương tình 中宵不寐獨傷情: Giữa đêm khuya không ngủ được, một mình với nỗi lòng thương đau... Nhà thơ làm quan, bạn bè thân thiết và đồng cảm cũng có như ta đã thấy trong nhiều bài thơ trước đây. Nhưng những gì ông từng trải qua trong cuộc đời từ lúc trẻ cho đến nay đã là ông già vẫn thấy từ sâu thẳm trong lòng nỗi cô đơn, lẻ loi thấm thía và tình cảm đau thương chất chứa chỉ riêng mình ông mới thấu hiểu và không thể chia sẻ cùng ai. Rất nhiều bài thơ của ông đã cho thấy điều này. Con đường theo Lê Lợi chống quân Minh xâm lăng là con đường của người yêu nước, chung lo chống giặc cướp nước. Nhưng về sau, con đường công danh, ra làm quan khiến ông phải gặp rất nhiều hệ lụy của sự đố kỵ, ganh ghét của nhiều loại quan xuất thân võ biền không có được cái cốt cách được đào luyện từ đạo lý nhà Nho gây ra thảm cảnh về sau cho dòng tộc của Ức Trai tiên sinh!
* *
*
Đọc những vần thơ trên và nhìn lại cuộc đời của Nguyễn Trãi, chúng ta như đã hình dung được “thế đồ nan hiểm” mà nhà thơ hay nhà chính trị yêu nước xuất chúng của nước Việt từng trải qua giữa biết bao sự hung hiểm, từ cái ác của những con người hay thế lực luôn mưu toan làm hại nhau vì quyền lợi, sự nhỏ nhen, ganh tỵ hay tự ti trên con đường danh lợi đầy chông gai trong mọi xã hội. Chỉ mong rằng chúng ta cần học hỏi nơi Nguyễn Trãi tinh thần “ Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy đức nhân để thay cường bạo”(Bình Ngô Đại Cáo: ”Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, Dĩ chí nhân nhi dị cường bạo” 以大義而勝兇殘, 以至仁而易彊暴), rông hơn là lấy giáo dục và xây dựng con người để họ có thể “sống sao cho ra con người” mới mong vực dậy lòng yêu thương từ trong mỗi con người chúng ta trước đồng loại!
Dương Anh Sơn
(31/12/2008)
(Lần đến: ỨC TRAI THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI- Bài 100, 101 và 102)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét